Trải qua một hành trình 80 năm đầy biến động, Mỹ thuật Việt Nam đã phản chiếu sinh động lịch sử dân tộc – từ khói lửa chiến tranh đến thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng.
Ngày 2/9/1945, khi bản Tuyên ngôn Độc lập vang vọng tại Quảng trường Ba Đình, không chỉ vận mạnh dân tộc mà cả nền mỹ thuật Việt Nam cũng bước vào một chương mới. Tạm biệt vẻ đẹp phố phường thủ đô, tạm xa cái lãng mạn thanh tao ngôi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nhiều nghệ sĩ của trường đã khoác lên mình sứ mệnh mới. Sáng tạo vì độc lập dân tộc. Rồi từ chiến khu Việt Bắc đến đường phố Hà Nội, mỹ thuật đã trở thành một vũ khí tinh thần sắc bén phục vụ kháng chiến, phản ánh hiện thực một cách trực tiếp, mạnh mẽ và đầy xúc cảm.
80 năm qua là một hành trình kỳ diệu, từ những kí họa chì than, tranh cổ động, minh họa sách báo đến chất liệu truyền thống như sơn mài, lụa được tôi luyện trong lửa đạn, để bùng nổ trong sự đa dạng của thời kỳ hội nhập. Mỹ thuật Việt Nam không chỉ là một lát cắt văn hóa, mà là tấm gương sống động ghi dấu mọi bước chuyển mình của lịch sử cách mạng, từ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, đến những thử nghiệm táo bạo của nghệ thuật đương đại. Có thể chia làm mấy giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1945 – 1975; mỹ thuật Việt Nam bị chi phối mạnh mẽ bởi nhiệm vụ chính trị và tư tưởng hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nghệ thuật phải phục vụ quần chúng, cổ vũ kháng chiến và xây dựng cuộc sống mới. Chủ đề nổi bật nhất là hình ảnh người lính và dân công với tinh thần kiên cường, lạc quan. Hàng loạt họa sĩ tên tuổi như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Sáng, Trần Văn Cẩn, Huỳnh Văn Thuận, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm, Lê Lam, Phan Kế An…đã tham gia trực tiếp vào cuộc kháng chiến, mang theo giấy bút, mang theo hành trang người họa sĩ chiến sĩ, ghi lại mọi khoảnh khắc lịch sử.
Tranh của họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng (Nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ).
Chất liệu phổ biến nhất bấy giờ, bút chì, than trên giấy dó ghi lại không khí chiến trường, trở thành tư liệu vô giá cho những chất liệu truyền thống được đẩy lên một tầm cao mới. Các tác phẩm sơn mài kinh điển của Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Văn Cẩn không chỉ đạt đến đỉnh cao kỹ thuật mà còn thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc. nó mang vẻ đẹp vừa trang trọng, vừa hào hùng, khúc triết. Khác biệt hoàn toàn với sơn mài trước đó, trở thành những bảo vật quốc gia sau này…
Giai đoạn hội tụ 1975 – 1986; sau năm 1975, đất nước thống nhất, mỹ thuật cũng bước vào giai đoạn mới. Các họa sĩ từ hai miền Nam – Bắc gặp gỡ, tạo nên một sự giao thoa và thống nhất về xu hướng nghệ thuật. Lớp họa sĩ tên tuổi miền Bắc được đào tạo bài bản từ trường Mỹ thuật Đông Dương, miền Nam tiêu biểu có Nguyễn Trung, Bửu chỉ, Võ Lăng, Nguyễn Lâm…
Tuy nhiên, lúc này bối cảnh kinh tế bao cấp sau chiến tranh vẫn còn nhiều khó khăn, khiến hoạt động sáng tác chưa có những đột phá về hình thức. Các chủ đề vẫn xoay quanh công cuộc xây dựng cuộc sống mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng…
Giai đoạn 1986 – 2025 (kỉ nguyên đổi mới)
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 mở ra cánh cửa đổi mới, mang lại sự tự do và hội nhập chưa từng có cho giới văn nghệ sĩ. Đây là giai đoạn mỹ thuật Việt Nam rũ bỏ dần những ràng buộc về đề tài và phong cách, bước vào thời kỳ đa dạng và thử nghiệm (Pluralism). Chính sách đổi mới 1986 mở ra làn gió mới cho đời sống sáng tạo. Người nghệ sĩ được tự do biểu đạt cái tôi, đề tài được mở rộng, phong cách đa dạng hơn.
Các tên tuổi như: Lê Bá Đảng, Trần Lưu Hậu, Nguyễn Gia Trí, Đỗ Quang Em, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Trung, Thành Chương… đã góp phần đưa mỹ thuật Việt Nam hội nhập với dòng chảy thế giới, đồng thời khẳng định bản sắc dân tộc qua chất liệu và ngôn ngữ tạo hình. Nếu trước đổi mới, nghệ thuật là tiếng nói tập thể, thì sau đổi mới, cái tôi cá nhân lên ngôi. Các nghệ sĩ không còn chỉ vẽ về những đề tài vĩ mô mà đi sâu vào cả thân phận con người, vấn đề xã hội, văn hóa truyền thống. Tìm lại nguồn cội với góc nhìn mới. Đặc biệt Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện và phát triển của các loại hình nghệ thuật đương đại Contemporary Art (trừu tượng và biểu hiện), Installation Art (Sắp đặt) và Performance Art (trình diễn): Nhiều nghệ sĩ đã mạnh dạn sử dụng không gian và cơ thể như những chất liệu sáng tác, biểu đạt tạo ra những tác phẩm mang tính khái niệm và biểu đạt cao.( Đặng Thị Khuê, Vương Văn Thạo, Đào Anh Khánh, Trần Hậu Anh, Nguyễn Minh Thành…)
Sự hình thành của thị trường nghệ thuật và các Gallery tư nhân cũng là một dấu mốc quan trọng, giúp mỹ thuật Việt Nam vươn ra thế giới, được giới sưu tập quốc tế chú ý.
Có thể nói từ nét cọ nhuốm màu sử thi của chiến tranh, đến nghệ thuật trình diễn táo bạo trong lòng đô thị. Mỹ thuật Việt Nam trong 80 năm đã hoàn thành sứ mệnh của mình là chứng nhân và kiến tạo văn hóa.
Ngày nay, thế hệ nghệ sĩ trẻ Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên số (Digital Art, Video Art), tiếp tục tìm kiếm những chân trời mới. Tuy nhiên, họ vẫn phải đối diện với thách thức và thiếu hụt không gian thể nghiệm chuyên nghiệp và một thị trường nghệ thuật chưa thực sự có chỗ đứng.
Vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay, các ngành văn học nghệ thuật nói chung, mỹ thuật nói riêng, nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Chỉ thị của Ban Bí thư tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về công tác văn học, nghệ thuật trong tình hình mới; Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới… và Nghị quyết Đại hội lần thứ IX Hội Mỹ thuật Việt Nam. Ngành Mỹ thuật và giới nghệ sỹ tạo hình Việt Nam đã có nhiều nỗ lực, sáng tạo và đạt nhiều thành tựu quan trọng.
Tranh của họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng (Nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ).
Từ năm 1995, giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, tôn vinh giới văn nghệ sĩ được tổ chức. Trong đó có nhiều họa sĩ, nhà điêu khắc của Hội Mỹ thuật Việt Nam được tặng giải thưởng cao quí này. Từ năm 1999, Nhà nước đã cấp kinh phí hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật tạo điều kiện để các hội tổ chức cho hội viên đi thực tế, dự trại sáng tác, tài trợ sáng tạo tác phẩm…
Nhiều tác phẩm, công trình mỹ thuật có chất lượng ra đời; đội ngũ họa sĩ, nhà điêu khắc phát triển cả về số lượng và chất lượng, kế thừa và phát huy giá trị truyền thống, tiếp thu tinh hoa thế giới. Mỹ thuật Việt Nam đã ngày càng khẳng định vị trí, uy tín trong khu vực và quốc tế. Các hoạt động chuyên môn do Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức đã tạo sự lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và thẩm mỹ của nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được Mỹ thuật Việt Nam vẫn bộc lộ những hạn chế như:
Còn ít những tác phẩm đỉnh cao phản ánh về các sự kiện trọng đại của đất nước, các cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc, về công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Còn nghiêng về xu hướng thương mại hóa mỹ thuật, chạy theo đề tài ăn khách, nặng tính giải trí, xem nhẹ chức năng giáo dục truyền thống, giáo dục thẩm mỹ…
Mỹ thuật ứng dụng chưa phát triển tương xứng, để trở thành những sản phẩm công nghiệp văn hóa, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
Hoạt động nghiên cứu lý luận, phê bình mỹ thuật chưa theo kịp với thực tiễn phát triển đa dạng của mỹ thuật, còn cảm tính, dễ dãi, chưa thật sự khách quan, khoa học .
Công tác quản lý nhà nước về mỹ thuật còn chậm đổi mới, chưa đáp ứng với thực tiễn sôi động của mỹ thuật. Nạn sao chép tác phẩm, vi phạm bản quyền tác giả còn diễn ra ở nhiều nơi…
Dù vậy, với lịch sử phong phú, chất liệu truyền thống độc đáo và bẳn sắc văn hóa dân tộc, cùng tinh thần sáng tạo không ngừng nghỉ, mỹ thuật Việt Nam hứa hẹn sẽ tiếp tục là một điểm sáng trên bản đồ nghệ thuật thế giới, bằng những câu chuyện đầy bản lĩnh, bằng những phiên đấu giá tranh Việt lên đến cả trăm triệu USD… Và nếu như có giải Nobel Mỹ thuật, thiết nghĩ mỹ thuật Việt Nam chắc chắn sẽ có những đề cử sáng giá.
Đánh giá chặng đường phát triển của Mỹ thuật Việt Nam 80 năm qua, không thể không nhắc đến Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Được thành lập năm 1966, Bảo tàng là nơi lưu giữ, trưng bày và nghiên cứu mỹ thuật lớn nhất cả nước. Nơi đây bảo tồn hàng chục nghìn hiện vật tiêu biểu của mỹ thuật dân tộc từ thời tiền sử đến hiện đại. Phản chiếu những chặng đường phát triển của mỹ thuật nước nhà.
Hiện nay, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam lưu giữ kho di sản văn hóa với hơn 20.000 hiện vật, trong đó có 09 bảo vật quốc gia. Các hiện vật này là minh chứng sống của lịch sử mỹ thuật Việt Nam, trong đó có nhiều tác phẩm tiêu biểu là niềm tự hào trong sự nghiệp của các thế hệ họa sĩ, nhà điêu khắc Việt Nam.
Qua gần 60 năm mở cửa đón khách. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cũng dần có những bước chuyển quan trọng, từ hình thức thuyết minh theo tuyến cố định sang thuyết minh theo chuyên đề, từ hoạt động giáo dục trải nghiệm đơn lẻ, theo sự kiện sang thường xuyên, làm sinh động, hấp dẫn hơn những trải nghiệm của khách tham quan, nghiên cứu.
Trước xu thế chuyển đổi số, bảo tàng hiện có website https://vnfam.vn – kênh truyền thông chính thức, giới thiệu, quảng bá hình ảnh và các hoạt động của mình. Ðây là một website được thiết kế hiện đại, thân thiện, tổ chức thông tin khoa học và dễ tiếp cận. Người xem có thể ngồi nhà chiêm ngưỡng hàng trăm hình ảnh, khám phá các bài viết về tác giả, tác phẩm, cập nhật thông tin, video clip về các triển lãm, sự kiện…
Từ năm 2019, bảo tàng sử dụng fanpage trên mạng xã hội Facebook, tạo thêm kênh thông tin, tương tác với công chúng.
Bên cạnh đó, bảo tàng đã và đang nỗ lực tăng cường nhận diện, làm mới hình ảnh và quan tâm hơn đến trải nghiệm của du khách, để từng bước đưa bảo tàng đến gần hơn nữa với công chúng, nhất là công chúng trẻ tuổi.
Vừa qua, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cũng tiên phong ra mắt iMuseum VFA – ứng dụng thuyết minh đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh, bài viết) với tám ngôn ngữ (Việt, Anh, Pháp, Trung, Nhật, Hàn, Ý và Tây Ban Nha), giúp người tham quan bảo tàng trực tuyến và trực tiếp. Ứng dụng nhanh chóng, nhận được nhiều phản hồi tích cực của khách tham quan, các chuyên gia, nghệ sĩ trong và ngoài nước.
Tranh của họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng (Nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ).
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam thực sự là “ngôi nhà của di sản nghệ thuật dân tộc”, góp phần giữ gìn, phát huy tinh hoa mỹ thuật Việt Nam, lan tỏa mỹ thuật Việt nam ra thế giới và giao lưu văn hóa quốc tế, đồng thời là địa chỉ nghiên cứu – giáo dục – sáng tạo của giới nghệ sĩ, học sinh, sinh viên và công chúng yêu nghệ thuật.
Ghi nhận những đóng góp của giới mỹ thuật Việt Nam. Trong suốt chặng đường cách mạng 80 năm đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đảng, Nhà nước đã trao tặng nhiều nghệ sỹ tạo hình giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước qua các kỳ xét giải. Đến nay, đã có 21 họa sĩ, nhà điêu khắc của Hội Mỹ thuật Việt Nam được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 77 giải thưởng Nhà nước ghi nhận sự cống hiến của các nghệ sĩ.
Giải thưởng Hồ Chí Minh:
Đợt 1-1996; có các tác giả: Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Sáng, Diệp Minh Châu (nghệ sĩ điêu khắc), Bùi Xuân Phái. Đợt 2 – 2000 : Hoàng Tích Chù, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Thị Kim (nghệ nhân/điêu khắc), Lê Quốc Lộc, Nguyễn Hải, Nguyễn Tiến Chung, Dương Bích Liên, Nguyễn Sỹ Ngọc, Huỳnh Văn Gấm, Nguyễn Khang. Đợt 4 – 2012 : Nguyễn Gia Trí. Đợt 6 – 2016 : Tạ Quang Bạo. Đợt 7-2022 : Bùi Trang Chước.
Giải thưởng Nhà nước:
Đợt 1- 2001; có các tác giả: Nguyễn Hiêm, Nguyễn Văn Bình, Thái Hà (Ng. Như Huân); Trần Huy Oánh, Lê Thị Kim Bạch, Phan Kế An, Tạ Quang Bạo, Tạ Thúc Bình, Đường Ngọc Cảnh, Đặng Đức Sinh, Đinh Trọng Khang, Huỳnh Văn Thuận, Hoàng Trầm, Lương Xuân Nhị, Lưu Công Nhân, Mai Văn Hiến, Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Thanh Châu, Nguyễn Thụ, Nguyễn Trọng Hợp, Nguyễn Trọng Kiệm, Nguyễn Văn Y, Phạm Văn Đôn, Quang Thọ, Trần Đình Thọ, Trần Lưu Hậu, Trần Thanh Ngọc, Văn Đa, Vũ Duy Nghĩa, Vũ Giáng Hương, Hứa Tử Hoài, Lê Công Thành. Năm 2007: Trần Khánh Chương, Nguyễn Trọng Đoan, Huỳnh Phương Đông, Đoàn Văn Nguyên, Quách Văn Phong (Nguyễn Anh Việt), Phạm Viết Song, Lê Huy Tiếp, Sĩ Tốt, Lê Anh Vân, Lê Liên, Lưu Danh Thanh, Lê Đình Quỳ (Minh Long); Hoàng Đình Tài, Đinh Rú, Nguyễn Thế Vinh, Lò An Quang, Năm 2012 : Nguyễn Phú Cường, Trần Hữu Chất, Nguyễn Nghĩa Duyện, Lê Thanh Đức, Hoa Bích Đào, Lê Huy Hòa, Phạm Hồng; Phạm Mười, Dương Hướng Minh, Lê Mai Khanh, Xun Man (Xu Dơn), Nguyễn Cao Thương, Nguyễn Vinh, Năm 2016: Bửi Chỉ; Cổ Tấn Long Châu, Đỗ Sơn, Lê Lam, Nguyễn Văn Quế, Nguyễn Bích, Phan Gia Hương. Năm 2022: Nguyễn Văn Chung, Trần Đông Lương, Nguyễn Tài Lương, Nguyễn Minh Mỹ, Nguyễn Văn Giáo, Hoàng Sùng, Đinh Gia Thắng, Trịnh Hoàng Tân, Nguyễn Đăng Sần.
Hội Mỹ thuật Việt Nam được thành lập vào năm 1957, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của nền mỹ thuật nước nhà. Từ đó đến nay, qua gần 70 năm xây dựng và trưởng thành, Hội đã không ngừng lớn mạnh, trở thành mái nhà chung của hàng nghìn họa sĩ, điêu khắc gia và nghệ sĩ thị giác trên khắp cả nước.
Trong giai đoạn 1957–1975, hoạt động mỹ thuật gắn liền với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhiều tác phẩm tiêu biểu ra đời, phản ánh tinh thần chiến đấu và niềm tin của dân tộc, như tranh cổ động, ký họa chiến trường, tượng đài chiến sĩ… Đây là thời kỳ nghệ thuật phục vụ cách mạng và nhân dân.
Từ sau năm 1975 đến đầu thế kỷ XXI, Hội tập trung vào công tác tổ chức sáng tác, triển lãm, phát triển hội viên, mở rộng hợp tác quốc tế… Nhiều trại sáng tác, giải thưởng và triển lãm khu vực được tổ chức thường niên, góp phần phát hiện, bồi dưỡng các tài năng mới. Mỹ thuật thời kỳ đổi mới (từ 1986) mang hơi thở tự do sáng tạo, phong phú về chất liệu và phong cách, phản ánh rõ nét sự chuyển mình của đất nước.
Hội khuyến khích sáng tạo cá nhân, đa dạng đề tài và tiếp cận phong cách nghệ thuật hiện đại.
Các triển lãm triển lãm theo chủ đề, triển lãm mỹ thuật khu vực được tổ chức định kỳ, tạo sân chơi cho hàng nghìn hội viên trên cả nước.
Hoạt động của Tạp chí Mỹ thuật, Nhà Xuất bản Mỹ thuật và Nhà Triển lãm 16 Ngô Quyền đã góp phần quan trọng thông tin lý luận, phê bình và tri thức mỹ thuật. Đặc biệt Nhà Triển lãm 16 Ngô Quyền đã tổ chức hàng ngàn cuộc triển lãm giới thiệu, quảng bá tác phẩm mỹ thuật mới tới công chúng, kích thích sự sáng tạo của các nghệ sỹ.
Đây cũng là thời kỳ Việt Nam bắt đầu hội nhập quốc tế, nhiều nghệ sĩ được Hội cử tham dự các triển lãm ở Liên Xô, Đông Âu, sau đó là các nước châu Á, khu vực và phương Tây…
Bước sang thế kỷ XXI, đặc biệt từ 2000 đến 2025, Hội Mỹ thuật Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm kết nối sáng tạo nghệ thuật. Các hoạt động như Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc định kì 5 năm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; giải thưởng Mỹ thuật Việt Nam, giải thưởng khu vục, Liên hoan- Festival mỹ thuật trẻ, cùng nhiều chương trình giao lưu quốc tế với ASEAN, UNESCO, Viện Goethe, Quỹ Nhật Bản…đã giúp mỹ thuật Việt Nam hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới.
Trong bối cảnh công nghệ phát triển, Hội cũng quan tâm đến mỹ thuật số, nghệ thuật sắp đặt, và nghệ thuật đương đại – tạo không gian khuyến khích cho thế hệ nghệ sĩ trẻ tìm tòi thể hiện tư duy mới lạ.
Tính đến nay, Hội Mỹ thuật Việt Nam đã có hơn hai ngàn hội viên ở 34 tỉnh, thành.
Trải qua gần 70 năm với nhiều biến động xã hội, Hội Mỹ thuật Việt Nam không chỉ là nhân chứng của lịch sử, mà còn là động lực cho sự phát triển bền vững của nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại, kiên định mục tiêu phục vụ tổ quốc, nhân dân, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa nghệ thuật nhân loại. Hội đã được tặng nhiều phần thưởng cao quí như Huân chương Lao động hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Hồ Chí Minh, và Huân chương Sao vàng. Hội Mỹ thuật Việt Nam cũng được Hội đồng Hòa bình thế giới tặng thưởng Huy chương Joliot Curie…
Triển lãm mỹ thuật toàn quốc, triển lãm định kì, triển lãm chuyên đề, triển lãm hàng năm và triển lãm khu vực do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Chính trị QĐND, Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức hàng năm nhằm tổng kết, đánh giá những chặng đường của mỹ thuật, giới thiệu kịp thời thành tựu sáng tạo mới của giới họa sĩ, điêu khắc gia trên cả nước. là diễn đàn quan trọng trong đời sống mỹ thuật nước nhà, góp phần khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của nền mỹ thuật Việt Nam.
- Ưu điểm:
Là sân chơi nghệ thuật lớn, giúp nghệ sĩ cả nước, các vùng miền giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm sáng tác.
Góp phần phát hiện và bồi dưỡng các tài năng trẻ, khuyến khích sự sáng tạo và tìm tòi phong cách thể hiện mới.
Thông qua triển lãm, công chúng có cơ hội tiếp cận và thưởng thức các tác phẩm mỹ thuật đương đại, giúp nâng cao nhận thức thẩm mỹ và tình yêu nghệ thuật.
Tranh của họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng (Nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ).
Các tác phẩm trưng bày phản ánh sinh động đời sống xã hội, con người và quê hương đất nước, thể hiện rõ bản sắc từng vùng miền.
- Hạn chế:
Một số triển lãm còn thiếu sức hút với công chúng, chủ yếu nội bộ trong giới mỹ thuật.
Chất lượng tác phẩm chưa đồng đều, nhiều triển lãm kém chất lượng tác phẩm, còn xuất hiện tình trạng hình thức, thiếu chiều sâu tư tưởng.
Công tác tuyên truyền, quảng bá và ứng dụng công nghệ trong triển lãm còn hạn chế, chưa bắt kịp xu hướng hiện đại. Hoạt động giao dịch tác phẩm còn nhỏ lẻ giũa nhà sưu tập với tác giả, tác phẩm .
Với triển lãm Mỹ thuật khu vực; nhìn lại chặng đường 29 năm, tổ chức triển lãm mỹ thuật ở các vùng miền cả nước. Chúng ta mới thấy quy mô, hình thức và chất lượng tác phẩm tham gia ngày càng cao, số lượng nhiều, đa dạng về chất liệu và phong cách sáng tác (sơn dầu, sơn mài, sơn khắc, lụa, khắc gỗ), điêu khắc, phù điêu (chất liệu: đồng, đá, đất, gốm, gỗ, Inoc, sát, thép…), cùng nhiều thể nghiệm mới như sắp đặt, biểu đạt…
Khuynh hướng nghệ thuật đa phong cách, lối thể hiện táo bạo, tạo nên một lớp họa sỹ trẻ tài năng có nhiều tìm tòi. Chính từ những hoạt động này đã tạo nên một không khí sáng tác mỹ thuật sôi động và đa dạng trong toàn quốc góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế.
Sự chênh lệch về trình độ, chất lượng nghệ thuật giữa các địa phương trong khu vực cũng dần được thu hẹp. Xuất hiện ngày càng nhiều các tác giả tài hoa, tác phẩm đẹp, nội dung đề tài phong phú, chú ý nhiều đến đề tài cách mạng lịch sử văn hóa, những vấn đề thời sự, phản ánh hơi thở cuộc sống. Có nhiều tác giả đạt giải thưởng cao, với những tác phẩm đẹp, cách nhìn mới lạ, trở thành những địa chỉ tin cậy của nhiều nhà sưu tập trong và ngoài nước .
Bên cạnh đó, Triển lãm mỹ thuật khu vực hàng năm còn là dịp để các họa sỹ nhất là các họa sỹ trẻ mới xuất hiện được gặp nhau, giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sáng tác. Đặc biệt được gặp gỡ, tiếp xúc với các tác giả tên tuổi ở Trung ương, trong Hội đồng nghệ thuật, kích thích sự sáng tạo với từng cá nhân nghệ sĩ. Vì vậy, có thể khẳng định: Triển lãm Mỹ thuật khu vực là một sáng kiến của Hội Mỹ thuật Việt Nam đúng với chủ trương của Đảng về: “Xây dựng và phát triển Văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới”. Đóng góp thiết thực vào sự phát triển của nền mỹ thuật Việt Nam đương đại.
Khu vực III (Tây Bắc – Việt Bắc) là địa bàn với 15 tỉnh miền núi phía Bắc trước đây và bây giờ sau sắp nhập còn 9 tỉnh, địa hình nhiều địa phương trong khu vực đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng hạn chế, xa trung tâm văn hóa của cả nước. Điều kiện kinh tế các tỉnh trong khu vực có khác nhau, kinh phí cho hoạt động văn học nghệ thuật trong đó có mỹ thuật còn hạn hẹp. Tuy vậy, những năm qua các địa phương đăng cai triễn lãm đã làm tốt công tác tổ chức. Đã có 14/15 tỉnh đăng cai tổ chức triển lãm thành công tốt đẹp, có tỉnh tổ chức tới 3-4 lần như Phú Thọ, Thái Nguyên.
Số lượng tác phẩm tham dự triển lãm ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng cao. Tuy số lượng hội viên ở khu vực Tây Bắc – Việt Bắc không nhiều như một số khu vực khác. Nhưng mỹ thuật khu vực III (Tây Bắc – Việt Bắc) được đánh giá là những phòng tranh đẹp, mang dấu ấn miền núi, vùng cao rõ nét. Đặc biệt thường chọn đủ được cơ cấu giải thưởng A, B, C, KK…
1. Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng nghệ sĩ. Cải tiến chương trình giảng dạy tại các trường mỹ thuật theo hướng gắn lý luận với thực hành nhiều hơn, cập nhật nhanh nhạy xu hướng quốc tế.
2. Xây dựng thị trường mỹ thuật chuyên nghiệp. Hình thành hệ thống sàn giao dịch, phòng tranh, nhà đấu giá mỹ thuật minh bạch, có kiểm định tác phẩm. Tăng cường quảng bá mỹ thuật Việt Nam ra thế giới thông qua hội chợ, triển lãm và hợp tác nghệ thuật, giao lưu quốc tế.
3. Phát huy vai trò của các bảo tàng và không gian nghệ thuật. Đầu tư nâng cấp Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, hoặc xây bảo tàng mới hiện đại cho tương xứng với sự phát triển mạnh mẽ của mỹ thuật và xu thế thời đại. Nghiên cứu xây dựng riêng một Bảo tàng Mỹ thuật hiện đại (như ở một số quốc gia phát triển). Sớm hình thành các bảo tàng mỹ thuật địa phương, vùng miền. Tạo thêm những không gian sáng tạo cho nghệ sĩ trẻ, đưa mỹ thuật đến gần công chúng hơn.
4. Có chính sách hỗ trợ nghệ sĩ tài năng, những dự án mỹ thuật táo bạo. Ban hành cơ chế hỗ trợ học bổng, giải thưởng cho các dự án nghệ thuật có giá trị. Cải thiện cơ chế bản quyền và bảo hộ tác phẩm mỹ thuật, thành lập quỹ phát triển nghệ thuật quốc tế…
5. đẩy mạnh giao lưu hội nhập quốc tế; tạo điều kiện cho nghệ sĩ tham gia các triển lãm quốc tế, tiếp cận các xu hướng thời đại mới. Xây dựng hình ảnh mỹ thuật Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, độc đáo, kết hợp truyền thống với hiện đại.
6. Ứng dụng công nghệ, số hóa các tác phẩm mỹ thuật, khuyến khích nghệ sĩ ứng dụng AI, VR, AR, NFT trong sáng tạo nghệ thuật.
– Về giải thưởng mỹ thuật
Giải thưởng là sự ghi nhận thành quả lao động sáng tạo của tác giả, động viên khích lệ nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm.
Tuy nhiên, trên thực tế số lượng giải thưởng mỹ thuật thường ít hơn so với các chuyên ngành khác. Mỗi năm tối đa chỉ có 1 giải A, 2 giải B, 3 giải C và một số giải KK cho cả khu vực Tây Bắc – Việt Bắc gồm 15 tỉnh.
Giải thưởng hàng năm của Hội Mỹ thuật Việt Nam cũng rất ít (tối đa là 5 giải, năm 2024 chỉ có 2 giải) Trong khi nhìn chuyên ngành Âm nhạc, Nhiếp ảnh thì Hội Nhạc sỹ Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam lại quá hào phóng trong việc trao giải. Mỗi triển lãm, liên hoan khu vực hay cả giải thưởng hàng năm của Hội thường có rất nhiều giải (Năm 2021 Hội Nhạc sỹ trao 78 giải, năm 2023 là 91 giải, năm 2024 là 67 giải) Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh (năm 2022,2023 trao 27 giải, 2024 trao 30 giải). Như vậy, lĩnh vực mỹ thuật xem ra thiệt thòi hơn so với các chuyên ngành này, nhìn lên giải thưởng Hồ Chí Minh, hay giải thưởng Nhà nước xét tương quan các chuyên ngành, lĩnh vực mỹ thuật cũng rất khiêm tốn. Nhiều họa sỹ mà theo tôi rất xứng đáng nhận giải thưởng Nhà nước mà lại chưa được? Phải chăng chúng ta đang khắt khe với chính mình?….
Chúng tôi hiểu giải thưởng càng ít thì giá trị giải càng danh giá. Thế nhưng vô tình đã tạo ra bất bình đẳng giữa các chuyên ngành, thiệt cho họa sĩ và đặc biệt làm khó cho các Hội địa phương khi xét đầu tư sáng tác, trao giải thưởng hàng năm. Nhất là khi xét giải thưởng 5 năm… Ví dụ Hội Phú thọ vừa qua xét tặng giải thưởng Hùng Vương và giải thưởng 5 năm về văn học nghệ thuật giai đoạn 2020-2025.
Căn cứ vào tiêu chí giải Hùng Vương thì tác phẩm đạt giải phải đã được giải chính thức (A,B,C) hàng năm của các Hội chuyên ngành Trung ương. Cuối cùng cả 5 giải Hùng Vương danh giá trong cơ cấu giải chỉ rơi vào chuyên ngành âm nhạc 3 giải và nhiếp ảnh 2 giải. Vì vậy, để không thiệt thòi cho lĩnh vực Mỹ thuật tôi đề nghị Hội Mỹ thuật Việt Nam, nghiên cứu có cơ chế giải thưởng linh hoạt đảm bảo tương quan với các chuyên ngành khác. Có thể chuyển tất cả các giải A, B khu vực thành giải C của Hội hàng năm… Cũng như nghiên cứu tăng thêm cơ cấu giải thưởng của Hội và giải triển lãm khu vực…
————-
* Nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Phú Thọ




















