Nhàn đàm Phi Thiên Bí Lục – Tác giả: Nhà nghiên cứu Trúc Lan Thiện Trí

Nhàn đàm Phi Thiên Bí Lục - Tác giả: Nhà nghiên cứu Trúc Lan Thiện Trí
Nhà nghiên cứu Trúc Lan Thiện Trí

Tác phẩm Phi Thiên Bí Lục của tác giả Thu Viễn, là thể loại tiểu thuyết dã sử võ hiệp có bối cảnh là cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông của vương triều Trần ở thế kỷ thứ 13 – đây là một sự kiện có thật trong lịch sử Việt Nam.Tác phẩm Phi Thiên Bí Lục của tác giả Thu Viễn, là thể loại tiểu thuyết dã sử võ hiệp có bối cảnh là cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông của vương triều Trần ở thế kỷ thứ 13 – đây là một sự kiện có thật trong lịch sử Việt Nam.

Lời tục có câu “văn dĩ tải đạo, cổ nhân ngôn chi”, song đạo ấy không thuần ở việc trình giảng lời răn ngôn giáo mà còn là chí khí lưu truyền nơi trang giấy, phong cốt ẩn tàng giữa lời văn. Bởi vậy từ thuở trời Nam mở cõi, bút mực kẻ sĩ đã chẳng hề ngơi nghỉ, kẻ đề sử người chép kinh đều mong gởi chút tấc lòng thành vào thời cuộc mà lấy chữ nghĩa chống lại cường quyền, lấy văn tâm trấn giữ linh hồn dân tộc.

Trên dưới ngàn năm trong cõi trời Nam, lật giở muôn thiên cổ lục từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Vân Đài Loại Ngữ, Hý Trường Phả Lục… thấy bao nhiêu chánh sử đề tên người quyền quý mà bao bậc anh hùng vô danh lại chìm vào quên lãng. Cảm hoài ấy, kẻ hậu sanh nơi thế tục lắm khi nghĩ tới mà không khỏi nặng lòng. Có người ngửa mặt hỏi trời, có kẻ cúi đầu cầm bút trút bầu tâm sự kết thành lời, dệt thành truyện. Thiên dã sử Phi Thiên Bí Lục mới được ra mắt gần đây, có lẽ cùng là một tác phẩm ra đời trong tâm cảnh như vậy. Thoạt xem qua tựa truyện dã đàm, hư viễn. Song càng đọc càng nghe như trống trận giục vang, cờ lộng gió bay, bụi mù chiến địa, bóng nhân ảnh phảng phất giữa cõi thi thư giao đấu, xen lẫn tiếng thở dài tịch mịch của kẻ vô danh vọng về từ u linh.

Phi Thiên Bí Lục -h2

Nay kẻ hậu học xin dùng chút ý thô, văn tạm mà tỏ chút lời gan ruột cùng thiên dã sử này của tác giả Thu Viễn. Không vì văn tài mà khen, không vì xu thời mà chê. Chỉ mong từ áng văn chương này sẽ thấy được đôi phần khí cốt của ông cha, hay chỉ là chút ánh lửa tàng của người xưa từng bước trong trường dạ mịt mùng.

Mới chỉ ngân nga ở những chương đầu của tác phẩm, khéo khen tác giả vận bút tinh tường, hoà chất dã sử nhuốm màu kỳ ảo võ hiệp tinh vi. Từ Thiên Lý Trà Lâu đến những kiếm khách ba phần thực bảy phần như, vừa mang hơi hướng truyền kỳ, lại tựa điển lục thất truyền. Tác phẩm dụng lối chương hồi cổ pháp, gợi nhớ đến những trường thiên danh tác như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thuỷ Hử, Tây Du Ký ở bên Trung Hoa vốn đã quá thân quen với văn mạch Á Đông. Song từng hồi từng đoạn, Thu Viễn lại dụng tâm hiện đại, chỉnh ngôn cẩn ngữ mà giữ được nhịp điểu cổ xưa, lại không ngăn dòng cảm thức mới lạ trào dâng. Đó cũng là điều mà kẻ hậu học xin buông lời cảm khái: Văn Tự Như Kiếm.

VĂN TỰ NHƯ KIẾM

Thoạt nghĩ văn đạo và kiếm đạo trước nay phân minh rõ rệt, văn cư đài các, kiếm ứng sa trường. Song đến hồi loạn lạc, văn chương chẳng thuần là thứ trang trí của kẻ sĩ mà hóa thân thành thần binh lợi khí, giống như xưa kia Nam Quốc Sơn Hà vang lên giữa dòng Như Nguyệt khiến quân Tống kinh hoàng bạt vía dẫn tới chiến cục toàn bại dưới quân dân nước Nam. Tư tưởng văn kiếm bất phân ấy lẩn khuất trong từng dòng Phi Thiên Bí Lục. Lấy bối cảnh kháng quân Mông Thát, khoác áo kiếm hiệp, truyện tưởng là dã sử mà thực là tấc lòng ưu thời mẫn thế, là khối huyết lệ dâng lên những linh hồn vô danh đã từng dựng thân làm nên thành luỹ cho xã tắc.

Lược khái bên cạnh các nhân vậy chánh sử như Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Khoái, Lê Thị Liên, An Tư còn có Phạm Quân, Viên Viên, Dạ Trạch Sơn Quân, Giả Bà Bà, Giang Thiên Hiểu, Nhất Dạ Đăng Trình,… danh xưng như gió mộng giang hồ, mà kỳ thực là ẩn dụ thời loạn, giả trá xen lẫn chân tình, thế cuộc phân tranh khó lường đâu thực đâu giả. Trận đồ tâm lý nhân vật như cửu cung bát quái, khó đoán kẻ ngay người giả, dẫn dắt người đọc qua mê lộ võ học với những chiêu danh như Thiết Kích Đoạn Hồn, Thiên Nhật Lôi Đình, Ám Độ Liên Hoàn Cước… Vừa tưởng tượng, vừa khai quật lớp phù sa lịch sử đang bị thời gian phủ kín. Một chiêu Phụng Hiểu Bình Chiêm gợi lại danh tướng Lê Phụng Hiểu thuở Lý triều, người từng dẫn quân dẹp loạn Tam Vương, lập lại trật tự giữa cơn binh đao biến loạn giữa hai nước Đại Việt và Chiêm Thành hồi năm 1044. Ấy là khi chiêu thức trở thành sử lược, khi võ học đi cùng huyền sử. Lại như Quan Lang Đả Hổ, đâu chỉ là danh chiêu võ lâm, mà là hình ảnh Quan Lang Phùng Hưng đất Đường Lâm thuở tay không vật hổ, lấy nghĩa trượng phu khơi nguồn độc lập mảnh đất trời Nam. Trong văn pháp Thu Viễn, mỗi cú đánh, mỗi chiêu thức đều khéo gợi lại tích xưa. Như cuộc tế lễ âm thầm, như cách giữ gìn huyết mạch, như một phương pháp trùng tu dĩ vãng bằng gân cốt tinh thần thượng võ của tiền nhân. Ấy là văn hóa lấy thân xác quá khứ đấp nền cho tương lai dân tộc vậy.

Phi Thiên Bí Lục -h3

Chư bang hội như Thần Ngư Bang, Thập Phương Hội, Hoang Sơn Ngũ Quái, Đông Tây Song Ngạc… danh xưng tựa huyễn mộng. Từ thực lại phản chiếu muôn mặt thế gian, là ảnh hiện của xã hội phân tranh, muôn hình vạn trạng. Đó cũng là nơi hương dân tụ nghĩa, kết tình, bồi đắp cương thường giữa chốn nhiễu nhương. Ngoài thiên chánh sử ghi chép nơi triều đình, vẫn còn hương ước làng xã truyền nối dân tâm. Nhãn giới ấy chẳng nông cạn ở bề mặt mà cắm sâu chiếc rễ trong địa tầng văn hóa Đại Việt vốn từ lâu lấy dân làm gốc, lấy nhân nghĩa làm nền. Văn tự khi đi vào mạch ấy liền hóa thành sợi dây nối liền trời đất, kết nối nhân tâm hôm nay với huyết lệ của bao đời đã khuất.

Võ học trong thiên tiểu thuyết này cũng vậy, có chút phô trương quyền thuật nhưng đủ nội lực gợi nên linh khí sơn hà. Những chiêu thức như Bạt Sơn Quyền, Phiêu Phong Chưởng, Yên Hà Vân Vụ Cước, Thiên Nhật Lôi Đình vừa có uy lực trấn sơn xuyên thuỷ, lại hữu tình như khói sóng giăng bờ. Ẩn trong tên chiêu là linh khí non sông, Thái Thượng sơn vực, Yên Hà giang bãi, Lôi Phong tịch địa… tựa địa linh khí tụ kết hình trong từng thức động. Mỗi một chiêu Cuồng Phong Tảo Địa, Giả Thị Cửu Trùng Đao vừa thoáng qua đã thấy trời đất biến sắc, khiến kẻ đọc chưa ra trận đã cảm được khí tượng thời đại Sát Thát lẫm liệt, dũng khí dân tộc bốc lên như vân vụ giữa can qua. Văn chương ấy đâu chỉ là truyện võ hiệp tiêu dao mà còn là cõi giới chữ nghĩa được luyện đúc từ tâm huyết, hạo khí và cả ngạo khí. Thời chẳng phải lời tán suông mà chính tâm pháp người viết đã tỏ rõ nơi trang sách, lấy bút làm gươm, lấy đạo làm mạch, viết ra mà như rạch sông khai suối vậy.

Lại nghĩ, văn muốn nên đạo kiếm, câu chữ muốn hóa thiết lĩnh đoạt hồn thì chẳng thể thiếu sinh khí nội giới làm linh cốt. Luồng khí ấy từ đâu mà phát, nếu chẳng phải là hồi ức nông sâu của tác giả? Khi thì ngao du bốn bể phong sương, khi lại cúi mặt nhỏ lệ giữa đêm dài bên ánh lửa cô phòng? Hồi ức, nếu chỉ là truyện cá nhân đơn thuần, ắt chẳng thể kết khí. Nhưng hồi ức ấy một khi được thấu cảm bởi đại tâm kẻ sĩ sẽ không còn tạp niệm cá nhân mà trở nên đại khí cộng đồng. Khí trong Phi Thiên Bí Lục là của cả một tập thể dân tộc khi đã luyện trong lửa tâm can, chưng cất bởi nỗi bi hoài của đất nước mấy ngàn năm lặn ngập trong khói lửa can qua thì sẽ thành khí mạch vô hình, chẳng những lẩn khuất giữa các hồi văn, mà còn âm ỉ trong từng chiêu thức, từng tiếng thở, từng bước chân của người xưa hiện về. Bởi vậy, đọc truyện chẳng khác nào bước vào đạo trường của ký ức đã hóa thành “chính khí”, kẻ hậu học xin tạm gọi: Hồi Ức Như Khí là vậy.

Phi Thiên Bí Lục -h4

HỒI ỨC NHƯ KHÍ

Theo cổ đạo Đông phương, khí vốn vô thanh mà hiện diện, vô sắc mà hữu thể, không hình mà sinh hóa vạn vật. Trời đất có khí, nhân tâm có khí, đạo học có khí. Trong Đạo là Thái Hoà, trong Y là Nguyên Thần, trong binh pháp trận đồ là Nhuệ Khí, Sát Khí. Nhưng khí cũng có thể là một hơi thở vọng từ quá vãng, một thanh âm trầm mặc của tiền nhân còn phảng phất chốn hồng trần.

Trong sách Sáng Thế Ký, chương thứ nhì, câu thứ bảy có ghi rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một loài sanh linh”. Ấy là lời thánh kinh mà cũng là lẽ đạo về chỗ khởi sanh của linh tính. Khi cầm bút dựng nên Phi Thiên Bí Lục, có lẽ tác giả Thu Viễn cũng đã “hà sanh khí” vào những huyền tích dân gian, khiến những con người như danh y Lê Thị Liên, Nguyễn Khoái, Nguyễn Đại Phạp, Trần Bình Trọng, Trần Quang Xưởng vốn ít được biết đến, nay bỗng chốc hiển hiện khiến người đọc thêm phần rung động.

Ở tầng thứ nhất, hồi ức hiện lên như khí huyết của sử mệnh. Những tuyệt chiêu như Thiết Kích Đoạn Hồn, Cuồng Phong Tảo Địa, Lôi Phong Tàn, tuy là sản phẩm của trí tưởng mà thành nhưng khí tượng trong đó lại khiến người nghe như thấy gươm đao loáng sáng, binh khí va chạm như ngửi được mùi khói súng nơi trận Chương Dương, sông Như Nguyệt, bến Vạn Kiếp, Bạch Đằng. Từng thế võ, từng chiêu thức trở thành một cách nhớ, nhớ lấy chiến khí của cha ông, nhớ lấy đau thương của một dân tộc ba lần đạp tan vó ngựa Mông Nguyên.

Ở tầng thứ hai, hồi ức hóa thành chính khí quốc gia. Nhân vật được nhắc tới trong thiên tiểu thuyết, dẫu là sử nhân như Quan Lang Phùng Hưng, Phật hoàng Trần Nhân Tông, Lý triều tướng quân Lê Phụng Hiểu, hay sáng tạo như Dạ Trạch Sơn Quân, Nhất Dạ Đăng Trình, Giả Kỳ Bà Bà, Giang Thiên Hiểu, Phạm Quân, Viên Viên,… đều tượng trưng cho ẩn khí dân tộc. Có những tên người sinh ra từ sáng tạo, nhưng họ là hiện thân cho tầng lớp vô danh đã rơi vào quên lãng. Ở ngòi bút Thu Viễn, họ chẳng có chiếu chỉ ban phong, chẳng công văn bổ nhiệm, nhưng lại là những kẻ gánh vận nước trong hồi nguy biến. Đây là sự kiến tạo của bản thể tầng lớp vô danh được đặt song hành với tầng lớp quyền quý.

Để thấy rõ chính khí của người cầm bút, ta bước thêm một tầng nữa. Men theo lối nhỏ ven sử đạo, Thu Viễn dừng chân trước một ngôi miếu hoang, mái đổ rêu phong, bia đá chẳng còn nét khắc, tượng thờ như đá lỡ ven đường. Miếu chẳng khắc danh, tượng chẳng ghi hiệu. Song, có lẽ vô danh mà làm nên bài vị vạn kẻ vô danh. Ông lặng lẽ quỳ xuống, hai tay dâng ba nén hương trần. Làn khói quyện lên trời như dòng ký ức vươn về quá khứ. Trong tịch lặng vô ngôn, người đọc có thể nghe thấy tiếng ngựa hí Vạn Kiếp, Chương Dương, Hàm Tử. Tựa một nghi lễ cô liêu, nơi người viết làm lễ truy điệu cho những vong linh ngã xuống mà chưa một lần được khấn gọi tên. Mỗi dòng chữ tựa một nén nhang, mỗi trang sách tựa thềm đá lên miếu xưa, mỗi nhân vật hư cấu là một hồn phách được rước về an vị trong “đại miếu vô danh” của lịch sử dân tộc. Ấy là đạo của bút, là tâm pháp của kẻ làm văn tế sử. Do vậy, kẻ hậu học xin gọi là: Thần Tướng Vô Danh.

Phi Thiên Bí Lục -h5

THẦN TƯỚNG VÔ DANH

Lại thêm, trong Phi Thiên Bí Lục, bóng dáng Phật hoàng Trần Nhân Tông hiện ra như bóng trúc nghêng về am cũ, vừa là đế vương hoàng triều, vừa là khách hành hương giữa cõi đời. Về sự trị quốc, Ngài dùng mắt đạo soi quyền như ảnh, lấy trí huệ thiền quán cân đo thế sự. Trong hồi Cam Chua Cam Ngọt, Ngài từng nói: “Đôi lúc vì đại cuộc tồn vong của giang sơn, cam ngọt hay chua chua ngọt ngọt, thậm chí cả cam chua ta cũng phải dùng, miễn sao cho thành đại sự”. Thoạt như đàm đạo thường nhật, kỳ thực ẩn cả triết lý dụng nhân, trị quốc thâm sâu. Bậc đế vương vượt ngoài vòng danh lợi, không theo “hiền – ngu”, chẳng vì “trung – nịnh” mà tuỳ thời, tuỳ cảnh, tuỳ tâm dụng pháp. Trị quốc như hành đạo, cần đủ từ bi để thương dân, đủ trí lực để nhìn xa, và đủ dũng khí để dùng cả cam chua cam ngọt.

Còn trận đấu giữa Phạm Quân và kẻ áo trắng bịt mặt, sau này mới rõ là ai, xin giữ lại quý danh cho bạn đọc tìm tòi. Trận đấu ấy mới thực là một cuộc giao phong không chỉ bằng quyền cước mà còn cả tâm pháp và bản thể. Phạm Quân tuy nắm trong tay bí lục phi thiên, chiêu thức tinh xảo nhưng tâm chưa thuần, ý chưa tịnh, mỗi đòn tung ra tựa có hình mà thiếu hồn. Trái lại, kẻ áo trắng ra chiêu như nước ngầm thấm đá, không bộc lộ dữ dội nhưng có sức xuyên thấu đến tận gốc rễ. Một bên là thế lộ, một bên là khí tàng. Hai người cùng tuyệt học nhưng nội lực có phần khác nhau, hóa thành cuộc đối thoại thầm lặng giữa hai nửa của một truyền thừa. Thử hỏi, quyền và lực chẳng phải cũng huyễn hóa như thế hay sao!

Song, nếu chỉ nói qua vài lời táng tụng dễ sinh thiên lệch. Nhân lúc vừa đọc hết chương vãn hồi, kẻ hậu học xin dâng đôi dòng thiển kiến. Rất mong tác giả và bạn đọc thịnh tình chỉ biểu cho, hầu soi sáng điều u mê còn chưa được tỏ tường.

Xét về mặt kháng chiến, giang hồ, nhân tâm và chánh trị, Phi Thiên Bí Lục quả là một trước tác tụ hội được linh khí của dã sử, phát tiết được hạo nhiên chí khí. Tuy nhiên, giữa tầng tầng lớp lớp của nhân thế vẫn còn cần một tầng sâu lắng là đất – khí – thần – mệnh, nơi văn học dã sử hoà nhập cùng phong thổ làm nên địa linh trong văn chương, thiên cảm trong cốt chuyện. Tiểu thuyết đặt vào thời Đại Việt kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên, ấy là đặt vào lúc trời đất giao hội, sơn xuyên cảm động, tướng tài dấy khởi như rồng cuộn nước sông, như sao rơi giữa trời. Ấy là khi Hưng Đạo Vương dâng Hịch Tướng Sĩ, là khi đại cuộc quốc gia không chỉ treo nơi mũi kiếm mà còn ứng với thiên văn dị tượng. Tựa như lòng sông nước lặng, đỉnh núi mây vần, sao sáng rơi rụng… bày tỏ điềm trời. Người xưa biết vận nước chẳng chỉ xuất phát nơi lòng người mà còn khởi lên từ thiên cảm, ứng với thần linh, hoà với sơn hà xã tắc.

Song, trong thiên dã sử này chưa thấy đất cất lời, trời lên tiếng. Nhân vật dẫu có hành hiệp nam bắc, song bước chân chưa in nổi dấu địa linh, chưa cảm được khí mạch đất thiêng. Trận chiến đã qua, song chẳng ai tế vọng hà thần, sơn thánh. Để địa điểm trở thành địa linh, ắt thành Thăng Long cần có tiếng rồng trỗi dậy, sóng Bạch Đằng rùng mình chảy ngược, cửa Thiên Trường cất tiếng tổ tông… Truyện đã có “nhân” nhưng chưa có “thiên – địa” tương ứng. Xem như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư mà mỗi một biến cố trọng đại đều kèm theo thiên văn, khí tượng, điềm triệu như: “năm ấy nhật thực, dân loạn”, “mưa sao rơi, giặc đến”, “có hạc bay về phương Nam, thái bình”… Ấy là vì người xưa tin vào đất trời không đứng yên làm nền mà còn đi vào chủ cuộc. Văn chương nếu muốn chạm tới cõi thiêng lương tri của dân tộc, chẳng thể bỏ quên tiếng nói non sông. Thiển nghĩ, đây là điều tác giả có thể cân nhắc thêm.

Ở hồi Đà Mạc Hừng Đông, hàng loạt các nhân vật võ lâm ra đi như Trại Tri Tiết Mã Tân, Thiêm Vạn Cô, Yên Công Hoán hay trước cái chết của nhiều danh sĩ võ lâm trước Đãng Ma Điện trong khi truy sát Lục Nhâm Thanh Đồng cũng vậy. Kỳ thực, đó chẳng phải việc riêng của bang hội giang hồ mà còn can dự đến quốc chính đại sự. Do vậy, sự ra đi của những người ấy nếu chỉ kết bằng vạt áo bụi mờ thì e chưa đủ lời cho lòng người. Kẻ hậu học nguyện xin dâng chút lời tâm sự, rằng hồi kết có thể thêm một lễ đoạn văn tế dâng lên hương hồn những người đã khuất. Lễ ấy tuy hư văn mà hữu cảm, không chỉ để kết mạch truyện mà còn để kết nối nhân tâm. Ấy là biểu hiện của triều đại biết cúi mình trước xương máu vô danh, là dấu hiệu của hoàng triều nhân nghĩa. Như vậy người đọc thêm lòng cảm niệm trước thời đại Trần Nhân Tông, mới thấu được đạo nghĩa thâm sâu của một giai đoạn lịch sử không chỉ lấy chiến công dựng quốc mà còn lấy nhân tâm trấn quốc an dân.

Đến hồi sắp vãn, đến khi thấy Lý Vệ hiện thân như kẻ u linh giữa đêm trường lịch sử, chúng tôi chẳng khỏi khâm phục trước tâm ý sâu kín của tác giả. Quả thực, xây dựng nhân vật có nội lực thâm hậu, cơ mưu kín mật như vậy không dễ. Song, chính vì như thế lại càng tiếc thay, khi khí chất tiềm tàng ấy chưa kịp toả ra trọn vẹn đã vội lìa thần giữa hồi trống trận. Xét đến chỗ sâu, Lý Vệ không còn là một nhân vật phàm tình mà là phản chiếu của tâm linh lịch sử, là tiếng thở dài của những giấc mộng chưa thành, là vết thương không tên mà sử xanh chưa kịp ghi. Ông tượng trưng cho những người mang hoài bão lớn, từng đi qua gió tanh mưa máu nhưng không tìm được tiếng nói với chính mình.

Giá như tác giả để ông thêm đối diện với lương tri. Một đời nung nấu phục hưng cố triều, tưởng mình là kẻ được mang thiên mạng trong tay nhưng đến khi thế cục sắp ngả chiều mới chợt nhận ra lòng mình cũng đậm mùi tham vọng. Cuộc phục hưng ấy, kỳ thực chẳng phải vì Lý thất mà là để chính mình leo lên đỉnh cao quyền lực, tự đặt mình vào thế quốc chủ. Khi ấy Lý Vệ phải đối đầu giữa chân ngã và vọng niệm, giữa chí lớn vì dân và tham vọng vì mình. Đó cũng chính là bi kịch thâm trầm nhất của nhân sinh, kẻ có chí mà không ai hiểu, kẻ có lòng mà không ai tin. Và từ nơi đáy vực ấy, hình tượng Lý Vệ sẽ thăng hoa bằng những nỗi đau chưa kịp gọi tên. Kết cục ấy cũng là tấm gương cho những ai từng tự nhận thiên mệnh mà không soi lại lòng mình, cho những kẻ đội vương miệng trong mộng mà chẳng dám bước xuống làm người.

Phi Thiên Bí Lục -h6

Sau cùng mà ngẫm, Phi Thiên Bí Lục không chỉ là một truyện thuật giang hồ biến hóa hay ghi chép một phen sóng gió hoàng triều, mà chính là nơi người hậu thế dốc lòng khơi dậy khúc u ca của non sông, gắng dựng nên bóng hình những kẻ dở dang trong trang sử. Tác giả Thu Viễn dẫu tuổi chưa nhiều mà văn bút cứng cáp, chữ nghĩa có phong khí. Đôi dòng còn lộ vẻ non tơ, nhưng là cái non của mầm cây vươn lên đá tảng, sau ắt sẽ thành bóng lớn. Lại có chỗ dụng công sâu kín, gợi được nhiều lớp nghĩ cho người đọc. Chỉ mong mai sau trong dòng chữ của tác giả sẽ có thêm đất nói trời linh, có thêm tiếng đá hồn sông để cho cái bi nhân thế không chỉ là nỗi u hoài của một người, mà là tiếng vang vọng của cả một thời đại đã qua và “đang … đến”.

Đã lâu rồi trong dòng chảy văn học Việt Nam vắng bóng những trang viết về tiểu thuyết lịch sử dạng võ hiệp, nay đọc truyện này mà cảm khái xin mạo muội góp đôi hàng luận bàn. Dẫu lời chưa đủ, ý chưa tường, sợ sẽ làm ảnh hưởng đến cảm hứng đọc của quý bạn. Dầu vậy, đây cũng là chút tấm chân thành gởi về phía người viết, mong tác giả giữ vững lửa ngòi bút, tiếp tục dõi theo vết chân tiền nhân. Cốt làm sao văn chương chẳng chỉ làm đẹp lòng người mà còn làm sâu thêm lòng ái quốc.

Xin chân thành cảm ơn!

T.L.T.T

 

 

     


     

Bài trướcLễ ra mắt: Trao tặng cuốn sách “Họ Trịnh trong tiến trình lịch sử Việt Nam” – Nhận diện, tôn vinh một dòng họ trong tiến trình lịch sử dân tộc
Bài tiếp theoIndonesia: 38 người thiệt mạng và hàng chục người mất tích trong vụ sạt lở

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây