Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng: Quê hương nguồn cội, bom đạn chiến trường và rung cảm trái tim đã góp phần nâng tầm người chiến sĩ

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng sinh năm 1949, nhập ngũ năm 1966, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn gay go, quyết liệt. Ông quê gốc xã Bình Ngọc, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Đoàn Sinh Hưởng nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1975 lúc 26 tuổi khi mang quân hàm Thiếu úy, Đại đội trưởng Đại đội xe tăng 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 273, Quân đoàn 3. Sau này, khi trải qua các cương vị khác nhau, nhất là khi đảm đương chức vụ Tư lệnh Binh chủng Tăng-Thiết giáp, Tư lệnh Quân khu 4 ông đều dành thời gian trò chuyện với các nhà văn Quân đội. Những câu chuyện chiến đấu, cuộc sống đời thường trong đó có những rung cảm trái tim rất chân thực, xúc động. Văn hóa quân sự (VHQS) kỳ này có cuộc trò chuyện với ông.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Kính thưa Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng! Sau khi nghỉ công tác, dường như ông luôn rất bận. Nhưng cũng dường như ông luôn dành nhiều thời gian, tình cảm đặc biệt cho quê hương nơi chôn nhau cắt rốn của mình? Xin ông hãy chia sẻ đôi điều với bạn đọc?

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng: Thôn Bốn, xã Bình Ngọc, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, nơi khởi đầu của đất đai Tổ quốc cũng là nơi tôi cất tiếng khóc chào đời. Tôi luôn đi về và hướng về nơi đây. Hôm nay dù cuộc sống đã rất khác, sôi động hơn, sầm uất trù phú hơn thì nó vẫn mang dáng dấp của một vùng biên viễn. Cái đặc thù của vùng địa đầu Tổ quốc đã đã ăn hằn vào trong tâm thức của người Việt từ rất xa xưa. Những địa danh: Bình Ngọc, Mang Nhai, Hải Sơn, Ka Long, Hải Yên, Vĩnh Thực, Lục Lầm, Pò Hèn… dường như đã nói lên dấu tích của vùng đất biên ải luôn phải chống chọi với kẻ thù đã hàng nghìn năm. Vùng đất hiên ngang khí phách với truyền thống quật cường của người Việt không biết cúi đầu. Ở vào thế hiểm, thế tiền đồn, là phên dậu quốc gia, Quảng Ninh nói chung và Móng Cái nói riêng trong dòng chảy lịch sử đã gắn liền những võ công từ thời khai thiên lập địa. Không hiểu sao, càng khi có tuổi, tôi lại càng hướng về và tự hào về lịch sử của dân tộc ta, nhất là nơi quê hương nguồn cội của tôi. Mỗi khi nghĩ về quê hương nguồn cội, về truyền thống lịch sử, tôi càng thấy cuộc đời người chiến sĩ của mình đúng là đã được trưởng thành, được nâng tầm từ nền tảng ấy.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Kể từ khi Cụ Hồ lập nước, cùng với bao người con trên cả nước, những người con họ Đoàn không kể già trẻ gái trai đều một mực theo Đảng, theo Bác Hồ, góp phần công sức của mình trong các cuộc kháng chiến trường chinh của dân tộc. Hàng ngàn con cháu họ Đoàn đã vì đất nước chiến đấu hy sinh trên các chiến trường. Nhiều người con tiêu biểu như Tiến sĩ Đoàn Trọng Truyến – Bộ trưởng Bộ Tài chính; Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đoàn Mạnh Giao; Đại tướng Đoàn Khuê – Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Đoàn Chương – Viện trưởng Viện chiến lược Quân sự Bộ Quốc phòng; Thiếu tướng Đoàn Huyên – Lãnh đạo quân chủng Phòng không Không quân… Điều này đã khích lệ và động viên ông như thế nào trong suốt chặng đường học tập, rèn luyện, chiến đấu và trưởng thành của mình? Và lời dặn nào mà ông nhớ nhất?

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng Trung tướng, Tiến sĩ Khoa học Quân sự, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Sinh Hưởng.

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng: Phải mãi tới sau này, khi đã ở các cương vị công tác chỉ huy Lữ đoàn, Sư đoàn, Binh chủng… tôi mới dần có ý thức thống kê và tự hào về những người con ưu tú họ Đoàn, còn ngày trên ghế nhà trường chỉ luôn cố gắng học hỏi và tự hào về lịch sử dân tộc. Tôi nhập ngũ ngày 28 tháng 9 năm 1966 và ngay lập tức được chọn làm Tiểu đội trưởng trong một đơn vị của Đại đoàn 308. Cuộc hành quân đầu tiên từ Móng Cái về Phú Thọ đã cho tôi hiểu chặng đường phía trước thật chẳng dễ dàng. Đường càng đi càng hun hút có lúc tưởng chừng không nhấc bước nổi. Khi ấy tôi nhớ lời bố tôi là Đoàn Quang Đa, vốn là một nông dân chất phác trong làng khi đi đã dặn: “Con nhớ lấy, ở đâu cũng phải biết yêu thương anh em, bè bạn như những người ruột thịt của mình. Sau này, nếu có là chỉ huy cũng phải biết san sẻ, gánh vác với anh em”… Điều giản dị ấy, tôi còn nhớ và thực hiện đúng cho tới hôm nay.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Cùng với những chiến sĩ trẻ tuổi quả cảm trên chiến trường, Đoàn Sinh Hưởng được phong dũng sĩ diệt Mỹ và được kết nạp Đảng ngay tại trận địa từ rất sớm, khi mới mười chín tuổi. Ông có còn nhớ trận đánh và chiến dịch đó?

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng: Đó là trận đánh Khe Sanh trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trận đó, lính thủy đánh bộ Mỹ tuyên bố sẽ cho bộ đội ta đo ván. Vốn dũng mãnh thiện chiến và có phần khát máu, lính thủy đánh bộ Mỹ lúc đó rất huênh hoang. Bộ đội ta quyết tâm dạy cho chúng một bài học. Trận đánh vô cùng ác liệt. Các chiến sĩ trong trung đội của tôi đều hiểu rõ sự sinh tử và danh dự phải chiến đấu trước kẻ thù cướp nước. Những cái bóng vằn vện của thủy quân lục chiến Mỹ đổ sầm sập trước những đường đạn, nhát lê của các chàng trai rực chí căm thù luôn là hình ảnh còn in đậm trong tôi tới bây giờ. Kẻ khát máu đã kinh hoàng tháo chạy để lại vô số xác chết. Những người lính quả cảm trong đó có không ít người đã ngã xuống. Mỗi khi nhớ đến trận đánh ấy, tôi không thể nào quên được những đồng đội đã hi sinh. Chính họ đã lặng thầm góp máu xương của mình tô thắm lá cờ Tổ quốc.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Khi vào chiến trường Tây Nguyên, Đoàn Sinh Hưởng có biệt danh “con sóc Tây Nguyên”. Rất gan dạ và lì lợm. Có một lần sau trận đánh, Đoàn Sinh Hưởng bị lạc. Một ngày. Nhiều ngày không thấy Đoàn Sinh Hưởng trở về. Mọi người không ai dám nói nhưng đều nghĩ rằng ông đã hy sinh. Đơn vị đang loay hoay tính cách báo lên trên thì ông đột ngột trở về. Vậy trận đánh nào ở Tây Nguyên ấn tượng nhất với ông?

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng: Vào Tây Nguyên, tôi đảm nhận cương vị Đại đội trưởng Đại đội 9 đã chỉ huy Đại đội Tăng đánh một trận mà tôi nhớ nhất – Trận Đắc Pét trên đường số 14. Trận này quả thật là một trận nhớ đời. Đội hình tăng ta gầm vang xung trận. Tiếng đạn pháo tăng át những tiếng nổ khác trong trận đánh đã tạo ra uy lực lớn để bộ đội xung phong làm chủ từng cụm cứ điểm. Trận này, quân ta tiêu diệt gọn Tiểu đoàn biệt động 88 ngụy thuộc cụm cứ điểm liên hoàn. Đây là trận đánh hợp đồng binh chủng xuất sắc và cũng là trận đầu tiên tôi chỉ huy Đại đội xe Tăng bắt sống tên thiếu tá Võ Đắc Di. Thắng lợi thì giòn giã nhưng tôi suýt bị kỷ luật vì một chuyện nghĩ bây giờ ai cũng phải bật cười. Đó là khi xông vào Sở chỉ huy địch, tôi nhảy khỏi xe chỉ huy tiêu diệt mấy tên địch đang chống cự thấy hai cái chảo nấu ăn bèn đem về cho anh em đại đội. Trên quyết định kỷ luật vì nguyên tắc Đại đội trưởng không được rời xe chỉ huy. Sau này có người nói vui: Đoàn Sinh Hưởng huân chương không nhận lại nhận hai cái chảo.

Đại đội xe tăng 9 chúng tôi đã tham gia nhiều trận đánh then chốt, tiêu biểu trong chiến dịch Buôn Mê Thuột. Cấp trên giao cho Đại đội 9 nhiệm vụ đánh thẳng vào trung tâm thị xã Buôn Mê Thuột. Trên đường thọc sâu vào thị xã, Đại đội 9 đã đánh tan quân địch ở kho Mai Hắc Đế, bắn cháy 2 chiếc M113, bắt sống Đại tá Luật, Phó tỉnh trưởng tỉnh Đắc Lắc, bắt sống hơn 100 tên địch, đánh khu truyền tin, khu Bộ tham mưu rồi đánh thẳng vào trung tâm chỉ huy Sư bộ 23 ngụy. Mười một giờ ba mươi ngày 11-3-1975, quân ta cắm lá cờ chiến thắng lên nóc Sư bộ 23 ngụy. Chiếc xe tăng 980 do tôi trực tiếp lái khét lẹt mùi thuốc súng.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Và trận chiến đấu nổi tiếng có hiệu suất cao nhất mà sau này đã khiến các giảng viên Liên Xô phải trầm trồ thán phục mà ông tham gia đã diễn ra như thế nào? Đó phải chăng chính là sự tất thắng của chính nghĩa? Sự quả cảm và dày dặn của bộ đội ta?

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng: Chiến trường thời điểm đó phát triển nhanh chóng. Địch tan rã từng mảng. Thất thủ Buôn Mê Thuột, địch hoảng loạn rút theo đường số 7 về Phú Yên. Đại đội 9 chúng tôi lập tức lên đường truy kích địch đã bắn cháy, bắt sống hàng trăm xe tăng, xe cơ giới địch. Đại đội 9 còn có sáng kiến sử dụng pháo tăng tiêu diệt, bắn cháy hai tàu chiến của địch ở trên biển Phú Yên.

Sau khi giải phóng Phú Yên, nhận mệnh lệnh quay về Buôn Mê Thuột để hành quân vào Sài Gòn theo đường số 14, lúc này Đại đội 9 chỉ còn năm chiếc xe tăng. Cả Đại đội xiết chặt đội hình hành quân nhằm hướng Sài Gòn. Xốc lại đội hình hành quân, khi phía trước là Cầu Bông, một đường vào cửa ngõ tây bắc Sài Gòn, bất ngờ Đại đội 9 gặp 24 xe tăng địch dàn đội hình tiến về phía ta. Lúc này Đại đội 9 chỉ còn 4 xe tăng. Tôi lập tức cho đội hình xe lùi lại ém sang hai bên đường. Khi đoàn xe tăng địch lọt vào tầm ngắm, tôi hạ mệnh lệnh bắn cháy chiếc đi đầu và chiếc cuối khiến đội hình địch hoảng loạn dạt xuống cánh đồng điên cuồng bắn trả. Với số xe ít hơn nhưng thiện chiến và quả cảm gấp bội bọn địch đang hoảng loạn, tôi bình tĩnh chỉ huy đại đội bắn tỉa từng xe địch. Khi cháy đến chiếc thứ mười hai thì địch hoảng loạn mất khả năng chiến đấu, chúng đầu hàng hoặc bị tiêu diệt. Trận đánh kết thúc, Đại đội 9 củng cố đội hình tiếp tục tiến đánh trại Quang Trung tại ngã tư Bảy Hiền, tôi xin mệnh lệnh cấp trên tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn. Tiếp đó Đại đội 9 đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu Ngụy. Đến mười giờ ngày 30 tháng 4, khi những người lính Đại đội 9 cùng các lực lượng chiếm được Bộ Tổng tham mưu cũng là lúc quân ta ào ạt tiến vào dinh Độc lập, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng.Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Mùa hè năm 1978, Đoàn Sinh Hưởng vinh dự có mặt trong Đoàn Đại biểu Thanh niên Việt Nam tham dự Festivan thanh niên thế giới tại Cu Ba. Trong đoàn có 12 anh hùng, dũng sĩ là: Phạm Tuân, Đinh Tía, Trịnh Tố Tâm, Bùi Quang Thận, Hoàng Kim Nông, Vũ Trung Thướng, Nguyễn Minh Chữ, Đoàn Ánh Tuyết, Phan Văn Quý, Võ Thị Thắng… Đó có phải là chuyến xuất ngoại đầu tiên của Đoàn Sinh Hưởng? Hẳn ông có rất nhiều kỷ niệm?

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng: Nhiều kỷ niệm trong chuyến đi ấy lắm! Một điều rất đặc biệt và thú vị là, mỗi khi giao lưu, ở các diễn đàn thường đông nghịt người hoan hô các anh hùng dũng sĩ Việt Nam. Khi ấy, ta vừa đánh thắng Mỹ nên dường như toàn thế giới hướng ánh mắt về những người Việt Nam nhỏ bé bằng xương bằng thịt đang hiện hữu. Những tiếng hô: Viva Việt Nam! Viva Hồ Chí Minh!… vang lên như sóng. Tôi bước lên sân khấu kể chuyện chiến đấu. Đến trận Cầu Bông, trận tôi chỉ huy bốn xe tăng đánh thắng và tiêu diệt 24 xe tăng, xe thiết giáp địch khiến bạn bè rất khâm phục. Xen lẫn tiếng hô, bạn bè Cu Ba trong đó có nhiều cô gái công kênh tôi tung lên. Huân huy chương tôi đeo trên người đều bị vặt sạch. Hết huân, huy chương, bạn xin mũ, xin bút, xin bất cứ thứ gì có thể và đặc biệt là xin chữ ký. Có một trường hợp rất oái oăm, một cô gái da màu cứ nằng nặc xin chữ ký của tôi. Khốn nỗi, cô ấy lại mặc bộ váy đen nên không sao ký được. Loay hoay một lúc, bất ngờ cô gái vạch bụng ra hiệu ký lên đó. Tôi đỏ mặt lúng túng. Đồng chí phiên dịch dịch rằng cô gái rất thiết tha đề nghị tôi ký. Cực chẳng đã, tôi nhắm mắt nhắm mũi cầm bút. Phải mất mấy phút mới ký xong.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Nhiều người, nhất là cánh nhà văn nhà báo sau này vẫn truyền nhau Đoàn Sinh Hưởng có một mối tình với cô gái Nga khi học tập bên đó. Câu chuyện hư thực thế nào? Liệu ông có chia sẻ được không?

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng (Tủm tìm cười và thật bất ngờ, ông xúc động nói): Mình có một mối tình rất đẹp ở nước Nga. Đến bây giờ vẫn còn xúc động. Câu chuyện đẹp lắm!

Chương trình học ở bên Nga của chúng tôi khi ấy rất nghiêm khắc. Cuối khóa học, tôi vinh dự được đại diện học viên các nước gặp mặt Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô – Nguyên soái Úttinốp. Trong bữa tiệc liên hoan, Nguyên soái bước tới chạm cốc của ông vào tấm huy hiệu anh hùng trên ngực áo của tôi và chúc tôi sẽ trở thành tướng lĩnh. Đó cũng là sự tinh tế của vị nguyên soái.

Trong những năm học, ngoài những cô giáo người Nga, một cô gái Nga rất dễ thương, có tên là Vragôvôi Natasa, tình cờ quen biết đã có một tình cảm rất sâu sắc với cá nhân tôi.

Ngày đó, vốn rất mê ảnh, tôi luôn tự mầy mò chụp và chơi ảnh. Tôi chụp ảnh khá có nghề, nổi tiếng trong những học viên cùng khóa. Tôi từng có ảnh đoạt giải tại một triển lãm nhỏ tại Mátxcơva, bức ảnh có tên Cô gái bên bờ biển. Một hôm, tôi cùng với chiếc máy ảnh Zênit quen thuộc chụp phong cảnh thì bắt gặp một cô gái Nga đang loay hoay với chiếc máy ảnh. Tôi tiến đến bên cô gái có nhã ý giúp đỡ. Cô bạo dạn hỏi tôi có còn phim dự trữ không. Nhìn chiếc máy ảnh Zênit trong tay người đẹp, tôi mỉm cười hào phóng đưa luôn cuốn phim dự trữ tặng cô gái. Cô chớp chớp mắt, cảm động trước sự ga lăng của chàng trai Việt và xin số điện thoại. Khi tôi vẫn còn bần thần trước sắc đẹp thì cô đã như cơn gió thoảng đi xa tự lúc nào.

Thật không ngờ, ngay đêm hôm đó, khi tôi đang hồi nhớ cuộc gặp gỡ bỗng có tiếng chuông điện thoại. Phía bên kia đầu dây, giọng rụt rè ấm áp của Natasa khẽ vang lên. Cũng từ ấy, chủ nhật, ngày nghỉ nào Natasa cũng đến ký túc xá rủ tôi đi chơi, hôm thì đi công viên, hôm vào rừng trượt tuyết. Khi ấy, Natasa đang học năm cuối phổ thông.

Vốn tính thẳng thắn, nhận biết tình cảm của Natasa dành cho mình, tôi nói thẳng đã có vợ con ở Việt Nam. Natasa im lặng. Tình yêu của những người con gái Nga đặc biệt lắm. Natasa cương quyết không tin.

Không thể làm tổn thương tình yêu của người con gái dành cho mình, tôi đưa ảnh vợ và con cho Natasa xem. Thật lạ kỳ, Natasa bảo cho dù thế vẫn cứ yêu. Biết như thế, tôi càng giữ mình, không cho phép đi quá giới hạn. Bố mẹ Natasa cũng biết chuyện của hai đứa và đặc biệt quý tôi. Ngày lễ, ngày tết, bố mẹ đều mời tôi đến nhà chơi. Bạn bè đồng đội cũng đã có người bàn tán Đoàn Sinh Hưởng rất có thể làm rể Liên Xô. Riêng tôi xác định phải kiên quyết nhưng cũng không thể quá phũ phàng, đột ngột. Khi lễ tốt nghiệp trang trọng vừa kết thúc, cả nhà Natasa đón tôi ở cổng Học viện mời về nhà để liên hoan. Nụ cười và nước mắt, cả những tình cảm nén chặt hôm ấy đã trào ra. Cuộc đời tôi đã có những kỷ niệm thật không thể nào quên đầy thử thách như thế.

Khi về nước, hàng năm Natasa và gia đình vẫn liên lạc với tôi. Sau này, khi đã là Tư lệnh bộ đội Tăng thiết giáp, trong những lần trở lại nước Nga, tôi tìm gặp thầy, cô giáo cũ và thăm gia đình Natasa. Sau cuộc ấy, Natasa đã có gia đình. Trước rất đông người, trong đó có cả chồng, Natasa vẫn thẳng thắn nói yêu tôi một cách xúc động. Phong tục Nga cho phép điều ấy. Đặc biệt, trái tim Natasa luôn vang lên tiếng nói ấy.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Quả là một mối tình vô cùng lãng mạn. Chính sự rung cảm từ trái tim người con gái Nga đã càng cho thấy vẻ đẹp tuyệt với, sự trong ngần vô tư của người Nga, đất nước Nga dành cho bộ đội Việt Nam, đất nước Việt Nam. Điều đó hẳn đã cho ông nhiều suy nghĩ trong cuộc sống?

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng: Quả thực tôi luôn suy nghĩ rất nhiều, không riêng gì mối tình của Natasa dành cho mình mà còn là những đúc rút khác trong suốt đời binh nghiệp. Đối với tôi, chính quê hương nguồn cội, khói lửa chiến trường và sự rung cảm của trái tim đã góp phần nâng tầm người chiến sĩ. Chúng ta, để có thể suốt đời chiến đấu và chiến thắng thì không thể nào thiếu đi điều giản dị ấy. Chính điều này đã cho thế hệ chúng tôi, chắc chắn cả thế hệ tiếp nối sau này sự trưởng thành và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao cũng như cuộc sống hạnh phúc của riêng mình.

Nhà văn Phùng Văn Khai: Để nói đôi điều ngắn gọn trong cuộc trò chuyện này, ông có tâm sự gì với bạn đọc?

Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng: Quê hương nghĩa nặng tình sâu, dòng tộc, gia đình, nghĩa mẹ, tình cha, đạo nghĩa thầy trò, tình cảm bạn bè… đã nuôi dưỡng tuổi thơ tôi, sớm tạo cho tôi tính cách, bản lĩnh để làm người chiến sĩ.

Thời quân ngũ, dù ở nơi hòn tên mũi đạn, hay những năm xây dựng quân đội trong hòa bình, mỗi miền đất, chiến trường tôi qua, từng đơn vị tôi chiến đấu và công tác đều để lại những kỷ niệm sâu sắc, đẹp đẽ. Ở đó, tôi đã được vịn vào vai đồng chí, đồng đội, biết tựa vào niềm tin yêu của mọi người để vượt qua mọi khó khăn, ác liệt của chiến tranh và thử thách trong cuộc sống, để phấn đấu, trưởng thành. Giờ đây, khi thôi việc quân, về với cuộc sống đời thường, biết bao kỷ niệm, bao gương mặt đồng chí, đồng đội, bạn bè thân thương một thuở lại hiện về.

Hơn bốn mươi năm quân ngũ, tôi đã chiến đấu, công tác ở nhiều đơn vị. Trong cuộc trường chinh chống Mỹ, tôi đã qua nhiều vùng đất, miền quê, nhiều chiến trường… Ở từng đơn vị tôi đã từng chiến đấu, công tác, học tập… có biết bao anh em, đồng chí, người mất, người còn, là một phần máu thịt của đời tôi. Trên mỗi vùng quê tôi qua, đều in đậm biết bao khuôn hình, câu chuyện không thể phai mờ trong ký ức…

Nhà văn Phùng Văn Khai: Xin trân trọng cảm ơn Trung tướng!

 

 

 

 

 

 

     


     

Bài trướcGiải cứu cá thể rùa biển quý hiếm trên vùng biển đảo Lý Sơn
Bài tiếp theoPhát hiện ra nguồn gốc gây bất ngờ của vàng và các kim loại nặng trên Trái Đất

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây