Anh sợ điều gì ư? Đó không phải là nỗi sợ hãi hay sự kinh hoàng; đó là một khoảng trống không, một Hư Vô mà anh đã biết quá rõ. Tất cả chỉ là một cõi hư vô, và con người cũng là một hư vô mà thôi. Chỉ có thế, và ánh sáng là tất cả những gì cần đến, cùng với một sự sạch sẽ và trật tự nhất định. Có những người sống trong đó mà không bao giờ cảm nhận được, nhưng anh biết rằng mọi thứ đều là hư vô, rồi lại hư vô, rồi lại hư vô, rồi lại hư vô. Lạy Hư Vô của chúng con ở nơi Hư Vô, nguyện danh Hư Vô cả sáng, vương quốc Hư Vô trị đến, ý Hư Vô thể hiện trong Hư Vô cũng như ngoài Hư Vô. Xin ban cho chúng con Hư Vô này, Hư Vô hằng ngày của chúng con, và tha Hư Vô cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ có Hư Vô với chúng con, xin chớ để chúng con sa vào Hư Vô, nhưng cứu chúng con cho khỏi Hư Vô; vì Hư Vô. Kính chào Cái Không đầy tràn Cái Không, Cái Không ở cùng ngươi.
BBT
MỘT NƠI SẠCH SẼ, SÁNG SỦA
Đêm đã về khuya và mọi người đã rời quán cà phê, chỉ còn một ông lão ngồi trong bóng râm mà tán cây đổ xuống dưới ánh đèn điện. Ban ngày, con phố đầy bụi bặm, nhưng ban đêm sương xuống làm bụi lắng lại. Ông lão thích ngồi tận khuya vì ông bị điếc; ban đêm yên tĩnh và ông cảm nhận được sự khác biệt. Hai người phục vụ bên trong quán biết ông lão đã chếnh choáng hơi men, và dù ông là một vị khách lịch sự, họ cũng biết rằng nếu say quá ông sẽ bỏ đi mà không trả tiền, nên họ vẫn luôn để mắt đến ông.
“Tuần trước lão tự tử đấy,” một người phục vụ nói.
“Vì sao?”
“Lão tuyệt vọng.”
“Vì chuyện gì?”
“Chẳng vì chuyện gì cả.”
“Sao anh biết là không có chuyện gì?”
“Lão có rất nhiều tiền.”
Họ ngồi cạnh nhau ở một chiếc bàn kê sát tường gần cửa quán, nhìn ra phía hiên nơi các bàn đều trống trơn, ngoại trừ chỗ ông lão đang ngồi dưới bóng tán cây khẽ động trong gió. Một cô gái trẻ và một người lính đi ngang qua trên phố. Ánh đèn đường chiếu sáng số hiệu bằng đồng trên cổ áo người lính. Cô gái để đầu trần, hấp tấp bước đi cạnh anh ta.
“Lính tuần sẽ tóm anh ta đấy,” một người phục vụ nói.
“Có sao đâu, miễn là anh ta có được thứ mình muốn?”
“Anh ta nên rời khỏi phố ngay thì hơn. Lính tuần sẽ bắt anh ta mất. Bọn họ vừa đi qua đây năm phút trước.”
Ông lão ngồi trong bóng râm gõ nhẹ chiếc ly lên chiếc đĩa lót. Người phục vụ trẻ tuổi tiến lại gần ông.
“Ông cần gì ạ?”
Ông lão nhìn anh ta. “Thêm một ly brandy,” ông nói.
“Ông sẽ say mất thôi,” người phục vụ trẻ nói. Ông lão nhìn anh ta. Người phục vụ trẻ quay đi.
“Lão sẽ ở lỳ suốt đêm cho mà coi,” người phục vụ trẻ nói với bạn đồng nghiệp lớn tuổi. “Tôi buồn ngủ quá. Chẳng bao giờ tôi được đi ngủ trước ba giờ sáng. Lẽ ra lão nên tự tử chết quách từ tuần trước mới phải.”
Người phục vụ trẻ lấy chai rượu brandy và một chiếc đĩa nhỏ khác từ quầy bên trong quán rồi tiến thẳng ra bàn của ông lão. Anh ta đặt chiếc đĩa xuống và rót đầy ly rượu.
“Lẽ ra ông nên tự tử từ tuần trước cho rồi,” anh ta nói với ông lão bị điếc. Ông lão ra hiệu bằng ngón tay. “Thêm mấy giọt nữa,” ông nói. Người phục vụ trẻ rót tiếp vào ly, nhiều đến mức rượu brandy tràn ra, chảy xuống chân ly và thấm vào chiếc đĩa lót trên cùng của chồng đĩa. “Cảm ơn cậu,” ông lão nói. Người phục vụ trẻ mang chai rượu vào trong quán và ngồi xuống bàn với đồng nghiệp lớn tuổi của mình.
“Giờ thì lão say khướt rồi,” người phục vụ trẻ nói.
“Đêm nào lão chả say,” người phục vụ lớn tuổi đáp.
“Lão tự tử vì cớ gì nhỉ?”
“Làm sao tôi biết được?”
“Lão tự tử bằng cách nào?”
“Lão treo cổ.”
“Ai cắt dây hạ lão xuống?”
“Cháu gái lão.”
“Tại sao họ lại cứu lão nhỉ?”
“Họ sợ cho linh hồn của lão.”
“Lão có bao nhiêu tiền?”
“Lão có nhiều tiền lắm.”
“Lão chắc phải tám mươi tuổi rồi.”
“Ừ, tôi đoán lão chừng tám mươi.”
“Ước gì lão đi về nhà cho rồi,” người phục vụ trẻ nói. “Chẳng bao giờ tôi được đi ngủ trước ba giờ sáng cả. Giờ giấc ngủ nghê kiểu gì không biết!”
“Lão thức khuya vì lão thích thế,” người phục vụ lớn tuổi bảo.
“Lão cô đơn. Còn tôi thì không. Tôi có vợ đang đợi trên giường.”
“Lão cũng từng có vợ.”
“Vợ lão bây giờ cũng chẳng giúp ích gì được cho lão nữa.”
“Biết đâu đấy. Có khi có vợ lão lại sống tốt hơn.”
“Cháu gái lão chăm sóc lão mà. Anh bảo chính cô ta cắt dây hạ lão xuống mà.”
“Tôi biết.”
“Tôi không muốn mình già đến thế,” người phục vụ trẻ nói. “Người già trông thật gớm ghiếc.”
“Không phải lúc nào cũng vậy,” người phục vụ lớn tuổi ôn tồn. “Ông lão này rất sạch sẽ. Ông ấy uống mà không làm đổ giọt nào. Ngay cả bây giờ, khi đã say. Nhìn ông ấy kìa.”
“Tôi không muốn nhìn ông ta,” người phục vụ trẻ hằn học. “Tôi muốn ông ta về nhà. Ông ta chẳng biết nghĩ cho những người phải lao động gì cả.”
Ông lão ngẩng đầu lên khỏi ly rượu, nhìn qua quảng trường, rồi nhìn về phía hai người phục vụ.
“Thêm một ly brandy nữa,” ông nói, vừa chỉ vào ly của mình.
Người phục vụ trẻ vội vã tiến lại gần. “Hết rồi,” anh ta nói, kiểu nói cộc lốc, thiếu chủ vị mà những kẻ ngốc nghếch hay dùng khi nói chuyện với người say rượu hoặc người nước ngoài. “Tối nay không gọi thêm gì nữa. Quán đóng cửa.”
“Thêm một ly nữa,” ông lão khăng khăng.
“Không. Hết rồi.” Người phục vụ trẻ lấy khăn lau mép bàn và lắc đầu.
Ông lão đứng dậy, chậm rãi đếm những chiếc đĩa lót, lấy một chiếc ví da từ trong túi áo ra và trả tiền đồ uống, để lại nửa peseta tiền boa. Hai người phục vụ nhìn theo ông lão bước đi xuống phố, một ông lão bước đi loạng choạng nhưng vẫn đầy vẻ trang nghiêm.
“Sao anh không để ông ấy ở lại uống tiếp?” người phục vụ lớn tuổi hỏi. Họ đang đóng cửa chớp. “Đã đến hai giờ rưỡi đâu.”
“Tôi muốn về nhà đi ngủ.”
“Một tiếng đồng hồ thì bõ bèn gì?”
“Với tôi thì nhiều hơn với lão.”
“Một giờ thì ở đâu chẳng như nhau.”
“Anh nói chuyện cứ như ông già vậy,” người phục vụ trẻ cự lại. “Lão hoàn toàn có thể mua một chai rượu về nhà uống cơ mà.”
“Không giống nhau đâu.”
“Đúng vậy, không giống nhau,” người phục vụ trẻ đã lập gia đình đồng ý. Anh ta không có ý bất công. Anh ta chỉ đang vội. “Còn anh? Anh không sợ về nhà trước giờ giấc thường lệ sao?”
“Anh đang cố xúc phạm tôi đấy à?” người phục vụ lớn tuổi hỏi.
“Không mà, ông anh, chỉ đùa chút thôi.”
“Không,” người phục vụ trẻ vội nói, đứng dậy sau khi hạ cửa cuốn kim loại xuống. “Tôi tự tin. Tôi có đầy sự tự tin.”
“Anh có tuổi trẻ, sự tự tin và một công việc,” người phục vụ lớn tuổi nói. “Anh có tất cả mọi thứ.”
“Còn anh thiếu gì?”
“Mọi thứ, trừ một công việc.”
“Anh có mọi thứ tôi có mà.”
“Không. Tôi chưa bao giờ có sự tự tin, và tôi cũng không còn trẻ nữa.”
“Thôi nào. Đừng nói linh tinh nữa và khóa cửa lại đi.”
“Tôi thuộc kiểu người thích ở lại quán cà phê muộn,” người phục vụ lớn tuổi nói. “Giống như tất cả những người không muốn đi ngủ. Giống như tất cả những người cần một ngọn đèn cho ban đêm.”
“Tôi thì muốn về nhà và lên giường ngủ,” người phục vụ trẻ đáp.
“Chúng ta là hai kiểu người khác nhau,” người phục vụ lớn tuổi nói. Lúc này anh đã mặc quần áo chỉnh tề để về nhà. “Không chỉ là vấn đề tuổi trẻ và sự tự tin, mặc dù những điều đó rất đẹp đẽ. Đêm nào tôi cũng lưỡng tự không muốn đóng cửa quán vì biết đâu có ai đó đang cần một quán cà phê.”
“Ông anh ơi, thiếu gì tiệm rượu mở cửa suốt đêm,” người phục vụ trẻ cằn nhằn.
“Anh không hiểu rồi. Đây là một quán cà phê sạch sẽ và dễ chịu. Nó được chiếu sáng tốt. Ánh sáng ở đây rất tốt, và hơn nữa, giờ đây còn có cả bóng râm của tán cây.”
“Chúc ngủ ngon,” người phục vụ trẻ nói.
“Chúc ngủ ngon,” người phục vụ lớn tuổi đáp.
Sau khi tắt đèn điện, người phục vụ lớn tuổi tiếp tục cuộc trò chuyện với chính mình. Tất nhiên là vì ánh sáng, nhưng nơi này cũng cần phải sạch sẽ và dễ chịu. Người ta không cần âm nhạc. Chắc chắn là không cần âm nhạc. Người ta cũng không thể đứng trước một quầy bar với vẻ đường hoàng, dù đó là tất cả những gì được cung cấp vào những giờ này. Anh sợ điều gì ư? Đó không phải là nỗi sợ hãi hay sự kinh hoàng; đó là một khoảng trống không, một Hư Vô mà anh đã biết quá rõ. Tất cả chỉ là một cõi hư vô, và con người cũng là một hư vô mà thôi. Chỉ có thế, và ánh sáng là tất cả những gì cần đến, cùng với một sự sạch sẽ và trật tự nhất định. Có những người sống trong đó mà không bao giờ cảm nhận được, nhưng anh biết rằng mọi thứ đều là hư vô, rồi lại hư vô, rồi lại hư vô, rồi lại hư vô. Lạy Hư Vô của chúng con ở nơi Hư Vô, nguyện danh Hư Vô cả sáng, vương quốc Hư Vô trị đến, ý Hư Vô thể hiện trong Hư Vô cũng như ngoài Hư Vô. Xin ban cho chúng con Hư Vô này, Hư Vô hằng ngày của chúng con, và tha Hư Vô cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ có Hư Vô với chúng con, xin chớ để chúng con sa vào Hư Vô, nhưng cứu chúng con cho khỏi Hư Vô; vì Hư Vô. Kính chào Cái Không đầy tràn Cái Không, Cái Không ở cùng ngươi. Anh mỉm cười và đứng trước một quầy bar, nơi có chiếc máy pha cà phê bằng hơi nước sáng bóng.
“Dùng gì hả anh?” gã pha chế hỏi.
“Hư vô.”
“Lại thêm một lão điên nữa,” gã pha chế càu nhàu rồi quay đi.
“Cho một tách nhỏ,” người phục vụ lớn tuổi nói.
Gã pha chế rót cho anh.
“Ánh sáng ở đây rất sáng và dễ chịu, nhưng quầy bar lại không được lau bóng,” người phục vụ lớn tuổi nhận xét.
Gã pha chế nhìn anh nhưng không trả lời. Đêm đã quá muộn để trò chuyện.
“Anh có muốn dùng thêm một ly nữa không?” gã pha chế hỏi.
“Không, cảm ơn,” người phục vụ lớn tuổi đáp rồi bước ra ngoài.
Anh ghét những quầy bar và tiệm rượu. Một quán cà phê sạch sẽ, sáng sủa là một chuyện hoàn toàn khác. Giờ đây, không suy nghĩ gì thêm nữa, anh sẽ quay về phòng mình. Anh sẽ nằm xuống giường và cuối cùng, khi trời sáng, anh sẽ ngủ thiếp đi. Suy cho cùng, anh tự nhủ, có lẽ đây chỉ là chứng mất ngủ thôi. Thiếu gì người cũng bị như vậy.
Đà Nẵng, mùa hoa sim 2026
Bìa sách Một nơi sạch sẽ, sáng sủa/ A Clean Well-Lighted Place
của Ernest Hemingway (1933).
A Clean, Well-Lighted Place
It was very late and everyone had left the cafe except an old man who sat in the shadow the leaves of the tree made against the electric light. In the day time the street was dusty, but at night the dew settled the dust and the old man liked to sit late because he was deaf and now at night it was quiet and he felt the difference. The two waiters inside the cafe knew that the old man was a little drunk, and while he was a good client they knew that if he became too drunk he would leave without paying, so they kept watch on him.
“Last week he tried to commit suicide,” one waiter said.
“Why?”
“He was in despair.”
“What about?”
“Nothing.”
“How do you know it was nothing?”
“He has plenty of money.”
They sat together at a table that was close against the wall near the door of the cafe and looked at the terrace where the tables were all empty except where the old man sat in the shadow of the leaves of the tree that moved slightly in the wind. A girl and a soldier went by in the street. The street light shone on the brass number on his collar. The girl wore no head covering and hurried beside him.
“The guard will pick him up,” one waiter said.
“What does it matter if he gets what he’s after?”
“He had better get off the street now. The guard will get him. They went by five minutes ago.”
The old man sitting in the shadow rapped on his saucer with his glass. The younger waiter went over to him.
“What do you want?”
The old man looked at him. “Another brandy,” he said.
“You’ll be drunk,” the waiter said. The old man looked at him. The waiter went away.
“He’ll stay all night,” he said to his colleague. “I’m sleepy now. I never get into bed before three o’clock. He should have killed himself last week.”
The waiter took the brandy bottle and another saucer from the counter inside the cafe and marched out to the old man’s table. He put down the saucer and poured the glass full of brandy.
“You should have killed yourself last week,” he said to the deaf man. The old man motioned with his finger. “A little more,” he said. The waiter poured on into the glass so that the brandy slopped over and ran down the stem into the top saucer of the pile. “Thank you,” the old man said. The waiter took the bottle back inside the cafe. He sat down at the table with his colleague again.
“He’s drunk now,” he said.
“He’s drunk every night.”
“What did he want to kill himself for?”
“How should I know.”
“How did he do it?”
“He hung himself with a rope.”
“Who cut him down?”
“His niece.”
“Why did they do it?”
“Fear for his soul.”
“How much money has he got?” “He’s got plenty.”
“He must be eighty years old.”
“Anyway I should say he was eighty.”
“I wish he would go home. I never get to bed before three o’clock. What kind of hour is that to go to bed?”
“He stays up because he likes it.”
“He’s lonely. I’m not lonely. I have a wife waiting in bed for me.”
“He had a wife once too.”
“A wife would be no good to him now.”
“You can’t tell. He might be better with a wife.”
“His niece looks after him. You said she cut him down.”
“I know.” “I wouldn’t want to be that old. An old man is a nasty thing.”
“Not always. This old man is clean. He drinks without spilling. Even now, drunk. Look at him.”
“I don’t want to look at him. I wish he would go home. He has no regard for those who must work.”
The old man looked from his glass across the square, then over at the waiters.
“Another brandy,” he said, pointing to his glass. The waiter who was in a hurry came over.
“Finished,” he said, speaking with that omission of syntax stupid people employ when talking to drunken people or foreigners. “No more tonight. Close now.”
“Another,” said the old man.
“No. Finished.” The waiter wiped the edge of the table with a towel and shook his head.
The old man stood up, slowly counted the saucers, took a leather coin purse from his pocket and paid for the drinks, leaving half a peseta tip. The waiter watched him go down the street, a very old man walking unsteadily but with dignity.
“Why didn’t you let him stay and drink?” the unhurried waiter asked. They were putting up the shutters. “It is not half-past two.”
“I want to go home to bed.”
“What is an hour?”
“More to me than to him.”
“An hour is the same.”
“You talk like an old man yourself. He can buy a bottle and drink at home.”
“It’s not the same.”
“No, it is not,” agreed the waiter with a wife. He did not wish to be unjust. He was only in a hurry.
“And you? You have no fear of going home before your usual hour?”
“Are you trying to insult me?”
“No, hombre, only to make a joke.”
“No,” the waiter who was in a hurry said, rising from pulling down the metal shutters. “I have confidence. I am all confidence.”
“You have youth, confidence, and a job,” the older waiter said. “You have everything.”
“And what do you lack?”
“Everything but work.”
“You have everything I have.”
“No. I have never had confidence and I am not young.”
“Come on. Stop talking nonsense and lock up.”
“I am of those who like to stay late at the cafe,” the older waiter said.
“With all those who do not want to go to bed. With all those who need a light for the night.”
“I want to go home and into bed.”
“We are of two different kinds,” the older waiter said. He was now dressed to go home. “It is not only a question of youth and confidence although those things are very beautiful. Each night I am reluctant to close up because there may be some one who needs the cafe.”
“Hombre, there are bodegas open all night long.”
“You do not understand. This is a clean and pleasant cafe. It is well lighted. The light is very good and also, now, there are shadows of the leaves.”
“Good night,” said the younger waiter.
“Good night,” the other said. Turning off the electric light he continued the conversation with himself, It was the light of course but it is necessary that the place be clean and pleasant. You do not want music. Certainly you do not want music. Nor can you stand before a bar with dignity although that is all that is provided for these hours. What did he fear? It was not a fear or dread, It was a nothing that he knew too well. It was all a nothing and a man was a nothing too. It was only that and light was all it needed and a certain cleanness and order. Some lived in it and never felt it but he knew it all was nada y pues nada y nada y pues nada. Our nada who art in nada, nada be thy name thy kingdom nada thy will be nada in nada as it is in nada. Give us this nada our daily nada and nada us our nada as we nada our nadas and nada us not into nada but deliver us from nada; pues nada. Hail nothing full of nothing, nothing is with thee. He smiled and stood before a bar with a shining steam pressure coffee machine.
“What’s yours?” asked the barman.
“Nada.”
“Otro loco mas,” said the barman and turned away.
“A little cup,” said the waiter.
The barman poured it for him.
“The light is very bright and pleasant but the bar is unpolished,” the waiter said.
The barman looked at him but did not answer. It was too late at night for conversation.
“You want another copita?” the barman asked.
“No, thank you,” said the waiter and went out. He disliked bars and bodegas. A clean, well-lighted cafe was a very different thing. Now, without thinking further, he would go home to his room. He would lie in the bed and finally, with daylight, he would go to sleep. After all, he said to himself, it’s probably only insomnia. Many must have it.
Nguồn: https://yale.learningu.org
![Truyện ngắn song ngữ: Một nơi sạch sẽ, sáng sủa [Tác giả: Ernest Hemingway] - Người dịch: Bùi Xuân Truyện ngắn song ngữ: Một nơi sạch sẽ, sáng sủa [Tác giả: Ernest Hemingway] - Người dịch: Bùi Xuân](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Nha-van-Ernest-Hemingway.jpg)




















