Văn nhân và nội tướng (Nhân đọc bài thơ Thơ về người vợ của nhà văn Phùng Văn Khai) – Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng

Văn nhân và nội tướng (Nhân đọc bài thơ Thơ về người vợ của nhà văn Phùng Văn Khai) - Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng

Từ trái sang: Nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà thơ Nguyễn Thị Hồng và nhà thơ Nguyễn Quang thiều.

Văn nhân xưa và nay đều rất “có hiếu” với người bạn trăm năm tức người vợ của mình. Chả thế mà Tú Xương đã tri ân bà vợ tảo tần của mình trong bài Thương vợ: Quanh năm buôn bán ở mom sông/ nuôi đủ năm con với một chồng/ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo xèo mặt nước buổi đò đông.

Còn Tản Đà, thi sĩ lãng tử nhất nhì làng thơ Việt thì tự thú: Giời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thì có cửa nhà thì không/ Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông/ Bạn bè sum họp vợ chồng biệt ly.

Tác giả bài viết : Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng

Nguyễn Bính còn cay đắng hơn, tự thú sâu cay hơn với bản thân mình, với thân phận thi sĩ nghiệt ngã của mình khi ông thốt ra lời dặn con gái khi được tin người tình sinh con gái: Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ/ Nghèo lắm con ơi, bạc lắm con.

Đó là các văn nhân xưa, còn các văn nhân nay thì sao? Đơn cử hai văn nhân đã đi qua cuộc chiến tranh và sống trong giai đoạn hậu chiến mà cái ăn cái mặc là nỗi lo toan thường nhật trong mỗi gia đình. Đó là Nguyễn Duy và Văn Lê.

pvk1Nhà văn Hoàng Quốc Hải phát biểu tại buổi ra mắt tập “Thơ viết cho mình” của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

Trong bài Vợ ốm, Nguyễn Duy đã cho thấy vai trò của người vợ đảm của ông khi bà khỏe mạnh lo toan mọi việc: Một nhà là sáu mồm ăn…/ Nghìn tay nghìn việc không tên/ Mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng… Và khi người vợ đảm của ông bị ốm nằm đấy, nhà thơ phải vào vai của bà thì: Cha con Chúa Chổm loanh quanh/ Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia/ Việc thiên việc địa việc nhà/ Một mình anh vãi cả ba linh hồn.

Còn Văn Lê, thơ ông viết cho vợ trong giai đoạn gạo châu củi quế này không có vẻ trào lộng như thơ Nguyễn Duy mà nó là hiện thực sỗ sàng và cay nghiệt: Tết đến ta về em lo lắm…/ Ta cứ xót xa cái nỗi chồng. Tết chồng được nghỉ phép về sum họp gia đình lẽ ra phải vui, cái vui nhân hai chứ, vừa là Tết, vừa là sum họp mà. Nhưng vợ ông không vui được. Vì cái nhu cầu tối thiểu cũng thiếu, đó là gạo. Và rồi ngẫm nhân tình thế thái, người lính đã phải đánh đổi cả máu, thậm chí đồng đội ông đánh đổi cả sinh mạng để có hòa bình, mà nay thực tế quá khắc nghiệt khiến ông chỉ còn biết thương vợ trong bế tắc: Ta là nhà lính, em nhà giáo/ Sống khổ ừ thì phải vậy thôi/ Ta thương em đến bầm gan ruột/ Nước mắt trào ra khóe miệng cười.

pvk2Nhà văn Hoàng Quốc Hải và vợ chồng nhà văn Phùng Văn Khai tại buổi ra mắt tập “Thơ viết cho mình”.

Bài thơ Thơ về người vợ của văn nhân Phùng Văn Khai ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam đã khác rất nhiều so với những bài thơ trên của các văn nhân trên. Nước nổi bèo nổi. Dù gì đã mấy chục năm đi qua, thậm chí so với giai đoạn Tản Đà thì đã ngót nghét thế kỷ đi qua, xã hội Việt Nam đã chuyển mình, đời sống người dân được nâng lên đáng kể, trong đó có đời sống của các văn nhân. Vẫn là nỗi lo cơm áo gạo tiền nhưng không còn nỗi lo thiếu gạo hay chữ “nghèo” như định mệnh của Nguyễn Bính nữa.

Văn nhân và vợ trong bài thơ Thơ về người vợ đã nắm tay nhau bước vào cuộc trăm năm thật đẹp mà ngay câu mở đầu bài thơ ta đã hình dung ra cái vẻ thanh xuân thuần khiết của đôi trẻ này, của cuộc sống phơi phới tương lai nhưng cũng thuần hậu vẻ đẹp Việt này: Cánh đồng làng xanh từ lâu lắm.

pvk3Nhà văn Hoàng Quốc Hải (bìa trái) và Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

Đúng là thương vợ từ thuở bơ vơ mới về:

Đôi mình từ lúc em mười chín
Ai nào tính trước được đục – trong
Thân gái đường xa tròn bóng nắng
Cha mẹ thương con cũng để lòng.

Văn nhân và vợ trong bài thơ này đã thuận vợ thuận chồng, biển Đông tát cạn. Họ cũng khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng, cũng cùng nhau vượt qua những thác ghềnh để gây dựng cuộc sống gia đình từ buổi đầu tiên đến hạnh phúc đủ đầy:

Cứ thế lam làm mê mải sống
Bàn tay ta cầm lấy tay mình
Nhớ sao hết mùa đông thăm thẳm
Càng chẳng trách gì những nổi nênh…

Chao ôi suy nghĩ đơn giản lắm
Hai bàn tay năm ngón hoa cười
Mà lên cha mẹ vừa nếp tẻ
Tay nâng niu cháu nội em cười.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai và vợ.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai và vợ.

Nhưng. Lại một chữ nhưng. Nhưng cái nòi văn nhân thi sĩ nó là thế. Đã từng có giai thoại (hay là chuyện thực) rằng  nhà thơ Phùng Quán một chiều nọ nói với vợ là ông đi ra phố mua… gói mì tôm chẳng hạn. Thế là ông đi biệt một năm.

Văn nhân Phùng Văn Khai cũng một chút hay nhiều chút thế chăng trong lời tự bạch hay tự thú trong khổ thơ sau:

Mà quên mất người chồng thói tật
Văn chương bia rượu ngút mây trời
Tài hoa dâng hết cho thiên hạ
Tàn canh sực nhớ đến niêu nồi.

vợ chồng phùng văn khai 2Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai và vợ.

Ôi chao. Thưa các ngài văn nhân lãng tử ạ. Thật đúng với câu ai đó đã nói, đằng sau sự thành công của người đàn ông, đều có bóng dáng của người phụ nữ. Các ngài thành công nhiều ít đều có người phụ nữ – người vợ – người bạn trăm năm lo toan, gồng gánh mọi công việc trong ngoài nội ngoại để các ngài được tự do thoải mái với bạn bè, văn chương là thế.

Nhưng những khổ thơ sau của văn nhân kể như cũng đã thấu hiểu tâm tư của Người vợ có chồng là văn nhân ấy. Thôi thì Không được miếng thịt miếng xôi/ Cũng được lời nói cho tôi vừa lòng như dân ca nói; hoặc như thi hào Nguyễn Du đã nói về người tri âm tri kỷ là nàng Kiều: Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung ngàn tứ cũng là có nhau. Cho nên, người vợ nhẫn chịu, che chắn và bao dung hết cho văn nhân:

Còn biết làm sao đành im lặng
Đến khi giông bão ắt trở về
Năm năm tháng tháng đều như vậy
Biển yên rồi lại bước chân đi.

Chân kia hăm hở chân trời rộng
Công danh những tưởng vững tay cầm
Thùng rỗng kêu to vàng buông bỏ
Cho đến ngày kia một số không.

Người vợ từ lâu rồi đã biết
Nhưng trước chồng biết nói sao đây?
Đâu dễ buông ra lời áo gấm
Đành âm thầm nhặt cỏ bông may.

vợ chồng phùng văn khai 3

Đúng là giận thì giận mà thương thì thương cho cả hai, vì Thương ai mang kiếp nhân sinh/ Quả tìm càng bỏng chữ tình càng xa (thơ Nguyễn Thị Hồng).

Và người vợ như chiếc neo giữa biển cả mênh mông để văn nhân không mất phương hướng (hoặc giả có đôi lần mất phương hướng thì đã có “neo” kéo về. Ôi người vợ của các văn nhân Việt Nam từ xưa và đến nay vẫn vậy. Họ thật vĩ đại:

Mà vẫn vẹn nguyên tròn nội ngoại
Cháo hành cơm bữa nấu cho ta
Mà vẫn trong ngoài vui thơm thảo
Ấm bếp lửa gần chắn bão xa.

Ta có vợ ta điều rất thật
Bằng xương bằng thịt ở trong nhà
Sao ta mãi kiếp con tàu ấy
Mê mải chân trời mặc sân ga.

vợ chồng phùng văn khai 4

Ôi văn nhân ơi! Cái câu hỏi này khó quá, tôi chắc chỉ ông trời mới trả lời được thôi, chịu!

Bài thơ Thơ về người vợ của văn nhân Phùng Văn Khai thực chất là một lời tự sự mà tác giả muốn gửi đến người vợ tào khang của mình như một lời tri ân, một lời sám hối đủ để người vợ hiểu được tấm lòng của người chồng đã thấu hiểu được tấm lòng son của vợ mình.

vợ chồng phùng văn khai 5 vợ chồng phùng văn khai 6

Với một sự trung thực cầu thị và hơi “hạ mình” như vậy (Thùng rỗng kêu to vàng buông bỏ/ Cho đến ngày kia một số không), thì hẳn người vợ nào cũng sẽ bao dung mà cho qua những “bốc đồng” của người chồng. Thực chất thì tác giả, văn nhân Phùng Văn Khai cũng đã sống hết lòng và rất có trách nhiệm với gia đình và với văn chương, sự nghiệp anh cũng lao động hết mình và có vị trí, cống hiến nhất định trên văn đàn.  Đó mới là nền tảng cho người vợ dù gì cũng hết lòng tận tụy với chồng và luôn kề vai sát cánh với nhau trên đường đời.

N.T.H

 

 

 

     


     

Bài trướcKhánh Hòa hướng tới trở thành trung tâm du lịch biển quốc tế vào 2030
Bài tiếp theoHà Nội: Gắn quy hoạch đất lâm nghiệp với sinh kế bền vững

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây