Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]

CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI

DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT

(Kỳ thứ chín)

Lời người dịch: Sau khi đăng tám kỳ dịch thơ Danh nhân văn hóa lịch sử Phùng Khắc Khoan ở thể lục bát, nhiều bạn đọc đã có ý kiến về các bài thơ, nhất là vấn đề ngôn ngữ, địa danh, tích truyện mà bài thơ thể hiện. Rất mừng là các ý kiến đều thống nhất việc dịch ra thể loại lục bát cần thoát ý, câu chữ phải thân gần, hiện đại song nhất định phải giữ được tinh thần của từng bài, của toàn thể thơ Phùng Khắc Khoan.

Điều đó thật khó lắm thay!

Người dịch thêm một lần kính cẩn dâng hương, càng thêm ý chí quyết tâm dịch toàn bộ thơ của Phùng Khắc Khoan ra thể lục bát với kiến văn của mình và tâm thế của thời đại hôm nay.

Rất mong tiếp tục nhận được nhiều ý kiến đóng góp!

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai

 

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai -h2

 

秋 夜 有 懷 三 首
其 一

對 與 秋 宵 刻 漏 遲
萬 般 心 事 有 誰 知
如 弓 新 月 窗 前 轉
似 箭 寒 風 帳 下 吹
濟 世 有 懷 頻 入 夢
讀 書 得 句 便 吟 詩
四 方 自 古 男 兒 志
肯 戀 重 衾 伴 女 兒

 

Phiên âm:

THU DẠ HỮU HOÀI
(TAM THỦ)

KỲ NHẤT

Đối dữ thu tiêu khắc lậu trì,
Vạn ban tâm sự hữu thùy tri?
Như cung tân nguyệt song tiền chuyển,
Tự tiễn hàn phong trướng hạ xuy.
Tế thế hữu hoài tần nhập mộng,
Độc thư đắc cú tiện ngâm thi.
Tứ phương tự cổ nam nhi chí,
Khẳng luyến trùng khâm bạn nữ nhi.

 

Dịch nghĩa:

NỖI LÒNG ĐÊM THU
(BA BÀI)

BÀI MỘT

Ngồi trước cái đồng hồ nhỏ giọt(1 ) chậm chạp trong đêm thu,
Muôn vàn nỗi lòng ngổn ngang, có ai hay biết?
Trăng lưỡi liềm buổi sáng trôi qua cửa sổ,
Gió lạnh sắc như mũi tên(2 ) thổi dưới màn.
Có lòng giúp đời, bao lần day dứt trong mộng,
Đọc sách được câu hay bèn ngâm nga.
Vùng vẫy tứ phương là chí nam nhi xưa nay,
Há chịu quyến luyến gối chăn làm bạn với nữ nhi hay sao?

 

Dịch thơ:

NỖI LÒNG ĐÊM THU

BÀI MỘT

Đêm thu đếm giọt đồng hồ
Ngổn ngang ngọn sóng cơ đồ mang mang
Trăng vàng hiên chếch trôi ngang
Gió như kiếm chích từng gian lạnh lùng
Nỗi đời ôm chứa mênh mông
Câu thần ngâm mãi thinh không trăng tà
Nam nhi lấy nước làm nhà
Há đâu chịu cảnh quần thoa trói mình.

Phùng Văn Khai dịch

——————–
(1 ) Đồng hồ nhỏ giọt: Đồng hồ xưa chế bằng một dụng cụ đựng nước, đáy có lỗ thủng cho nhỏ giọt, căn cứ vào mức nước rút xuống mà tính thời gian.
(2) Gió lạnh sắc như mũi tên: Dịch cụm từ “tự tiễn hàn phong”, nghĩa là gió lạnh thổi vào người buốt như mũi tên châm.

 

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai -h3

 

其 二

紛 紜 百 感 逐 時 生
何 況 秋 宵 不 動 情
憂 國 心 懷 千 萬 狀
愛 親 夢 繞 二 三 更
榻 頭 屢 覺 溫 公 枕
樓 外 時 聞 子 晉 笙
自 古 男 兒 俱 有 志
勉 將 事 業 企 前 程

 

Phiên âm:

KỲ NHỊ

Phân vân bách cảm trục thời sinh,
Hà huống thu tiêu bất động tình.
Ưu quốc tâm hoài thiên vạn trạng,
Ái thân mộng nhiễu nhị tam canh.
Tháp đầu lũ giác Ôn công chẩm,
Lâu ngoại thời văn Tử Tấn sinh (sênh).
Tự cổ nam nhi câu hữu chí,
Miễn tương sự nghiệp xí tiền trình.

 

Dịch nghĩa:

BÀI HAI

Ngổn ngang trăm mối cứ theo thời gian trôi qua mãi,
Huống chi lại là đêm thu, làm sao không xúc động.
Tấm lòng lo việc nước có ngàn vạn dáng vẻ,
Lòng thương yêu cha mẹ quẩn quanh trong mộng lúc canh hai canh ba.
Trước giường thường tỉnh thức vì gối Ôn công(3 ),
Ngoài lầu thoảng nghe thấy tiếng sênh của Tử Tấn(4 ).
Xưa nay nam nhi đều có chí cả,
Cố gắng sức theo đuổi sự nghiệp ở phía trước.

 

Dịch thơ:

NỖI LÒNG ĐÊM THU

BÀI HAI

Ngổn ngang trăm mối quan hoài
Càng thêm xao động đêm dài thu sang
Nỗi niềm dân nước mang mang
Công cha nghĩa mẹ như ngàn cây xanh
Ôn công tỉnh giấc đêm đêm
Tiếng sênh Tử Tấn bên thềm vang ngân
Xưa nay chí cả nam nhân
Đền từ đức độ huân công nếp nhà.

Phùng Văn Khai dịch

——————-
(3 ) Gối Ôn công: Ôn công chỉ Tư Mã Quang, người đời Tống. Đêm đêm ông thường gối đầu lên chiếc gối tròn để đọc sách, hễ buồn ngủ thiếp đi thì đầu ngã lăn ngay để lại thức học bài.
(4 ) Tiếng sênh của Tử Tấn: Tử Tấn tức Vương Tử Kiều, con vua Linh Vương nhà Chu. Tử Kiều thích thổi sênh, làm như tiếng phượng hoàng hót. Phùng Khắc Khoan dùng điển này để nói sự kỳ vọng một cơ hội tốt đẹp.

 

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai -h3

 

自 激 偶 成

丈 夫 生 要 千 箱 富
不 爾 榮 膺 萬 戶 封
安 有 磊 落 如 許 質
肯 為 中 士 與 中 農

 

Phiên âm:

TỰ KÍCH NGẪU THÀNH

Trượng phu sinh yếu thiên sương phú,
Bất nhĩ vinh ưng vạn hộ phong.
An hữu lỗi lạc như hử chất,
Khẳng vi trung sĩ dữ trung nông.

 

Dịch nghĩa:

TỰ KHÍCH LỆ MÌNH BẤT CHỢT THÀNH THƠ

Kẻ trượng phu sinh ở đời nên giàu có hàng ngàn hòm thóc,
Không thế thì cũng nên phấn đấu để có cái vinh được phong tước Vạn hộ hầu( 5).
Đâu có tư chất thông minh lỗi lạc như thế này,
Mà lại chịu làm hạng trung sĩ với hạng trung nông( 6).

 

Dịch thơ:

TỰ KHÍCH LỆ MÌNH

Trượng phu thóc chứa ngàn hòm
Vang danh bốn biển tiếng thơm lưu truyền
Càng thêm tư chất hiền minh
Cớ sao chịu khép phận mình trung nông.

Phùng Văn Khai dịch

—————-
(5 ) Vạn hộ hầu: tước hầu được phong có thái ấp vạn nhà để thu thuế hưởng lộc. Ý chỉ sự giàu sang.
(6 ) Trung sĩ, trung nông: chỉ chức quan nhỏ và người làm ruộng giàu có cỡ vừa.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai -h3

 

亂 世 自 嘆

爭 雄 舉 世 漫 滔 滔
誰 識 吾 儒 志 氣 豪
文 戰 不 崇 徒 武 戰
力 勞 自 逞 忽 心 勞
鴟 鴞 直 擬 同 鸞 鳳
松 柏 低 看 雜 李 桃
待 得 太 平 時 節 好
些 回 始 信 讀 書 高

 

Phiên âm:

LOẠN THẾ TỰ THÁN

Tranh hùng cử thế mạn thao thao,
Thùy thức ngô nho chí khí hào.
Văn chiến bất sùng đồ vũ chiến,
Lực lao tự sính hốt tâm lao.
Si hiêu trực nghĩ đồng loan phượng,
Tùng bách đê khan tạp lý đào.
Đãi đắc thái bình thời tiết hảo,
Ta hồi thủy tín độc thư cao.

 

Dịch nghĩa:

TỰ THAN ĐỜI LOẠN

Khắp nơi nhao nhao nổi lên tranh hùng,
Nào ai biết nhà Nho ta chí khí hào hùng.
Người ta không chuộng tranh nhau bằng văn chương mà chuộng tranh nhau bằng gươm đao,
Chỉ chuộng lao lực mà xem nhẹ lao tâm(7 ).
Loài cú vọ những muốn sánh cùng loan phượng,
Cây tùng cây bách hạ mình lẫn với mận đào.
Đợi đến thái bình, thời vận tốt,
Lúc ấy mới tin rằng đọc sách là cao quý.

 

Dịch thơ:

TỰ THAN ĐỜI LOẠN

Nhao nhao tranh đoạt hơn thua
Mấy người biết đến phong tư sách đèn
Gươm đao nhất loạt vung lên
Mà xem nhẹ đạo thánh hiền xưa nay
Cú diều cũng muốn múa may
Những là tùng bách lẫn ngay mận đào
Mai kia tỉnh giấc chiêm bao
Thái bình nghiệp học càng cao biển trời.

Phùng Văn Khai dịch

—————-
(7 ) Lao tâm, lao lực: chữ dùng của Mạnh Tử, chỉ người lao động trí óc và người lao động chân tay. Nhà Nho chuộng lao tâm xem thường lao lực.

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai -h6

 

秋 天 晚 眺 偶 成

淡 淡 長 空 點 點 雲
鴻 飛 燕 舞 總 紛 繽
望 來 最 愛 寒 潭 水
徹 底 渾 無 一 點 塵

 

Phiên âm:

THU THIÊN VÃN DIỂU NGẪU THÀNH

Đạm đạm trường không điểm điểm vân,
Hồng phi yến vũ tổng phân tân.
Vọng lai tối ái hàn đàm thủy,
Triệt để hồn vô nhất điểm trần.

 

Dịch nghĩa:

CHIỀU THU NGẮM CẢNH BẤT CHỢT THÀNH THƠ

Trời xa nhàn nhạt, mây từng đám từng đám lãng đãng trôi,
Chim hồng bay, chim én lượn, thật tơi bời tán loạn.
Trông lại chỗ đầm nước trong xanh thật là đáng yêu,
Trong suốt đến đáy, tuyệt nhiên không mảy bụi.

 

Dịch thơ:

CHIỀU THU NGẮM CẢNH

Từng không lãng đãng mây trời
Hồng trao, én liệng mắt người rối tinh
Kìa trông đầm nước trong xanh
Tuyệt không mảy bụi rêu lành soi gương.

Phùng Văn Khai dịch

西 行 途 詠
時 十 月 二 十 五 日 己 亥 行
登 途 偶 雨

客 程 一 發 便 生 春
得 雨 尤 加 著 步 勤
細 潤 天 衢 相 接 武
先 登 道 岸 好 論 文
潛 心 擬 副 為 霖 望
唾 手 期 成 取 日 勳
會 見 雲 霾 開 霽 了
同 時 得 路 上 青 雲

 

Phiên âm:

TÂY HÀNH ĐỒ VỊNH
(Thời thập nguyệt nhị thập ngũ nhật Kỷ Hợi hành)

ĐĂNG ĐỒ NGẪU VŨ

Khách trình nhất phát tiện sinh xuân,
Đắc vũ vưu gia trước bộ cần.
Tế nhuận thiên cù tương tiếp vũ,
Tiên đăng đạo ngạn hảo luân (luận) văn.
Tiềm tâm nghĩ phó vi lâm vọng,
Thóa thủ kỳ thành thủ nhật huân.
Hội kiến vân mai khai tễ liễu,
Đồng thời đắc lộ thướng thanh vân.

 

Dịch nghĩa:

NGÂM VỊNH TRÊN ĐƯỜNG ĐI VỀ PHÍA TÂY(8 )
(Bấy giờ là ngày Kỷ Hợi, 25 tháng 10)

LÊN ĐƯỜNG BẤT CHỢT GẶP MƯA

Lữ khách vừa lên đường, cũng là lúc xuân vừa chớm nảy,
Gặp được mưa lại càng phải mải miết bước hơn.
Đường trời rộng rãi, bằng phẳng, cùng nối gót nhau đi,
Trước hãy bước lên bờ đạo, rồi mới luận bàn văn chương.
Vẫn để tâm nghĩ, sao cho không phụ kỳ vọng làm mưa dầm( 9),
Như nhổ vào bàn tay, mong làm nên được công laolấy lại mặt trời(10 ).
Sẽ trông thấy ngay mây quang, bụi sạch trời tạnh ráo,
Đồng thời chúng ta sẽ đắc lộ, thênh thang trên đường công danh.

 

Dịch thơ:

LÊN ĐƯỜNG BẤT CHỢT GẶP MƯA

Kìa xem lữ khách trên đường
Mưa xuân bén gót chân dường bước mau
Đường dài sau trước theo nhau
Vững yên bờ đạo hãy đâu luận bàn
Khen tài Phó Duyệt an dân
Xưa kia Địch tướng bao lần phò vua
Trời phong quang hết mây mù
Công danh rộng mở thiên thu luận bàn.

Phùng Văn Khai dịch

—————-
(8 ) Tây hành đồ vịnh là một chùm thơ tác giả viết trên đường tìm vào Thanh Hoa tham gia cuộc Trung hưng của nhà Lê.
(9 ) Làm mưa dầm: Cao Tông nhà Ân khen bầy tôi tài ba Phó Duyệt là “Như trời làm đại hạn, ta dùng ngươi làm mưa dầm”, ở đây nói tài cứu đời.
(10 ) Lấy lại mặt trời: dịch chữ “thủ nhật”. Địch Nhân Kiệt cứu nguy cho cơ nghiệp nhà Đường, được Lã Ôn ca tụng là lấy lại được mặt trời sắp lặn. Đây dùng để nói tài phò tá vua.

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai -h7

 

西 行 入 青 華 遙 望 青 山

祖 鞭 快 著 重 行 行
望 外 山 光 入 眼 青
日 見 雲 牙 堆 綠 鬢
虹 收 雨 腳 列 銀 屏
澄 瞻 北 極 知 天 近
長 顧 南 邦 壯 地 靈
我 是 國 家 真 柱 石
區 區 何 必 問 岩 扃

 

Phiên âm:

TÂY HÀNH NHẬP THANH HOA
DAO VỌNG THANH SƠN

Tổ tiên khoái trước trụng hành hành,
Vọng ngoại sơn quang nhập nhãn thanh.
Nhật hiện vân nha đôi lục mấn,
Hồng thu vũ cước liệt ngân bình.
Trừng chiêm Bắc cực tri thiên cận,
Trường cố Nam bang tráng địa linh.
Ngã thị quốc gia chân trụ thạch,
Khu khu hà tất vấn nham quynh.

 

Dịch nghĩa:

ĐI VỀ PHÍA TÂY VÀO THANH HOA
XA TRÔNG NGỌN NÚI XANH

Mau mau quất cái roi của Tổ Địch(11 ) đi rồi lại đi mãi,
Trông xa ánh núi in vào mắt thấy xanh xanh.
Mặt trời hiện trên những rặng mây, như chồng chất mái tóc xanh,
Cầu vồng thu đám chân mưa, như giăng bày hàng bình phong bạc.
Lắng trông Bắc cực, biết rõ trời gần,
Nhìn mãi nước Nam, mạnh thế đất thiêng.
Ta chính là cột trụ chân chính của nước nhà,
Hà tất phải bo bo đi tìm hỏi nhà người ẩn dật trong núi.

 

Dịch thơ:

VÀO THANH HOA

Quất roi Tổ Địch dời kinh
Xa kia bóng núi in hình biếc xanh
Mây trời chừng cũng mong manh
Mưa thu đã sớm giăng mành bình phong
Trông cực Bắc, biết trời gần
Soi Nam quốc, thấy chúng dân mạnh giàu
Lòng ta trung chính trước sau
Tìm chi tiên thánh cơ cầu nữa đây.

Phùng Văn Khai dịch

————————-
(11 ) Roi của Tổ Địch: Tổ Địch là tướng tài người đời Tấn. Quất roi Tổ Địch ý nói đắc chí, gặp thời hành đạo.

 

 

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai -h8

 

林 麓 早 行

滄 海 烏 升 野 雉 號
林 間 早 早 快 登 高
迎 人 花 臉 含 唇 笑
排 岸 蘆 旗 望 日 高
草 木 知 名 生 喜 色
風 雲 入 思 動 吟 豪
些 行 志 在 顯 揚 遂
岩 險 溪 深 豈 憚 勞

 

Phiên âm:

LÂM LỘC TẢO HÀNH

Thương hải ô thăng dã trĩ hào,
Lâm gian tảo tảo khoái đăng cao.
Nghênh nhân hoa kiểm hàm thần tiếu,
Bài ngạn lô kỳ vọng nhật cao.
Thảo mộc tri danh sinh hỷ sắc,
Phong vân nhập tứ động ngâm hào.
Ta hành chí tại hiển dương toại,
Nham hiểm khê thâm khởi đạn lao.

 

Dịch nghĩa:

SÁNG SỚM ĐI Ở CHÂN RỪNG

Mặt trời nhô lên trên biển xanh, chim trĩ đồng kêu hót,
Trong rừng buổi sớm ta nhanh bước lên cao.
Hoa đón chào người, ngậm môi cười nụ,
Cờ lau sắp hàng bên núi, trông mặt trời lên.
Cỏ cây như biết tên ta, tỏ vẻ mừng,
Gió mây đi vào tâm tưởng, gợi hứng ngâm vịnh.
Chuyến đi này, ta mong thỏa chí dương danh hiển thân,
Cho nên có quản gì gian lao vượt vách hiểm khe sâu.

 

Dịch thơ:

SÁNG SỚM ĐI Ở CHÂN RỪNG

Mặt trời nhô sóng biển xanh
Trĩ đồng kêu hót ta nhanh bước nào
Hoa cười môi nụ xôn xao
Lau tăm tắp núi trời cao dần dần
Cỏ cây quấn quýt reo mừng
Mây trời sà xuống theo cùng ca ngâm
Đường trường “dương hiển danh thân”
Vượt trên ngàn vạn gian truân sá gì.

Phùng Văn Khai dịch

 

 

黃 昏 聞 笛

煙 凝 山 紫 鳥 歸 巢
樓 外 時 聞 玉 笛 敲
短 竹 聲 橫 風 暗 引
落 梅 曲 報 月 初 交
氣 增 戰 士 雄 威 銳
念 觸 行 人 俗 慮 拋
吹 若 有 情 能 卻 敵
也 應 上 荷 九 重 褒

 

Phiên âm:

HOÀNG HÔN VĂN ĐỊCH

Yên ngưng sơn tử điểu quy sào,
Lâu ngoại thời văn ngọc địch xao.
Đoản trúc thanh hoành phong ám dẫn,
Lạc mai khúc báo nguyệt sơ giao.
Khí tăng chiến sỹ hùng uy nhuệ,
Niệm xúc hành nhân tục lự phao.
Xuy nhược hữu tình năng khước địch,
Dã ưng thướng hạ cửu trùng bao.

 

Dịch nghĩa:

HOÀNG HÔN NGHE SÁO

Khói ngưng, núi sắc đỏ tía, chim về tổ,
Thỉnh thoảng nghe thấy tiếng sáo ở ngoài lầu.
Tiếng sáo trúc ngắn thổi ngang, gió ngầm đưa lại,
Khúc lạc mai(12 ) báo rằng trăng mới mọc.
Tiếng sáo làm tăng khí oai hùng của người tráng sĩ,
Tiếng sáo làm tan niềm trần tục của hành nhân.
Nếu tiếng sáo hữu tình ấy có thể lui được quân giặc,
Hãy nên dâng nó cho vua và thế nào cũng được ban thưởng.

 

Dịch thơ:

HOÀNG HÔN NGHE SÁO

Khói ngưng núi đỏ chim về
Chừng như tiếng sáo sơn khê ấm lòng
Trúc thanh ngân mảnh trăng trong
Gió vi vút gió mây lồng lộng mây
Hành nhân tục lụy cầm tay
Kìa người tráng sĩ mắt cay oai hùng
Kỳ thanh vua sáng tất dùng
Đuổi lui quân giặc muôn trùng biết đâu.

Phùng Văn Khai dịch

—————
(12 ) Khúc lạc mai: tên một khúc sáo cổ, tức “lạc mai hoa khúc”, khúc nhạc hoa mai rụng.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]

 

 

     


     

Bài trướcNgày Nước Thế giới 2026: Khi câu chuyện về nước gắn với bình đẳng giới
Bài tiếp theoMưa kèm dông lốc tàn phá hơn 800 ngôi nhà ở Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây