CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI
DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT
(Kỳ thứ tám)
Lời người dịch: Càng dịch thơ đức Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, tôi càng cảm nhận sâu sắc sự ưu thời mẫn thế và nhất là tài học của đức ngài vô cùng cao rộng, không hổ danh là học trò xuất sắc nhất của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phùng Khắc Khoan còn tỏ rõ sự độc lập và tinh thần thực hành kiến thức với đời rất rõ ràng. Đây là điểm khác biệt cũng là tầm vóc lớn lao của đức Trạng Bùng. Người dịch như càng trưởng thành hơn sau mỗi kỳ dịch thơ của cụ.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
題 發 庵 寺
山 上 樓 臺 起
壺 中 世 界 藏
春 常 千 古 在
花 有 四 時 香
地 少 塵 埃 敻
天 多 日 月 長
登 仙 應 有 路
何 必 問 劉 郎
Phiên âm:
ĐỀ PHÁT AM TỰ
Sơn thượng lâu đài khởi,
Hồ trung thế giới tàng.
Xuân thường thiên cổ tại,
Hoa hữu tứ thời hương.
Địa thiểu trần ai quýnh,
Thiên đa nhật nguyệt trường.
Đăng tiên ưng hữu lộ,
Hà tất vấn Lưu lang?
Dịch nghĩa:
ĐỀ CHÙA PHÁT AM
Lâu đài đứng sừng sững trên núi,
Trong bầu( 1) cất giữ cả một thế giới.
Xuân vẫn còn mãi ngàn năm,
Bốn mùa đều có hoa tỏa hương thơm.
Đất ít, bụi bặm xa hẳn,
Trời rộng, ngày tháng dài.
(Nơi đây) chắc có lối lên tiên,
Hà tất phải hỏi chàng Lưu(2 ) làm gì?
Dịch thơ:
ĐỀ CHÙA PHÁT AM
Lâu đài sừng sững núi mây
Bầu riêng gom thế giới này như không
Xuân kia còn mãi ngàn năm
Bốn mùa thơm mát hoa trăng lửa đèn
Bụi trần xa bước chân quen
Trời kia càng rộng ngày thêm càng dài
Hẳn đây lối đến tiên đài
Lưu Thần xem mặc hỏi ai làm gì?
Phùng Văn Khai dịch
——————
(1 ) Theo điển Thu Tồn người nước Lỗ học được phép thần tiên. Ông chỉ treo một cái bầu mà trong đó có cả thế giới, tối đến ông lại chui vào bầu mà nghỉ.
( 2) Chàng Lưu: chỉ Lưu Thần người thời Đông Hán. Lưu Thần cùng Nguyễn Triệu lên núi hái thuốc lạc vào cảnh tiên, ở đó nửa năm, khi về con cháu đã sang đời thứ bảy rồi. Hai ông muốn trở lại thế giới thần tiên nhưng không được nữa.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (áo đen) và nhà nghiên cứu tuệ Nhã.
元 旦
時 蓋 癸 丑 二 十 六 歲 也
癸 丑 如 今 又 上 旬
乾 坤 光 景 喜 重 新
盃 浮 綠 蟻 迎 佳 節
門 帖 金 雞 送 惡 神
造 化 機 緘 終 復 始
吾 儒 事 業 屈 還 伸
人 生 莫 歎 隙 駒 過
聊 賀 今 朝 第 一 春
Phiên âm:
NGUYÊN ĐÁN
(Thời cái Quý Sửu chi nhị thập lục tuế dã)
Quý Sửu như kim hựu thượng tuần,
Kiền khôn quang cảnh hỷ trùng tân.
Bôi phù lục nghị nghênh giai tiết,
Môn thiếp kim kê tống ác thần.
Tạo hóa cơ giam chung phục thủy,
Ngô nho sự nghiệp khuất hoàn thân.
Nhân sinh mạc thán khích câu quá,
Liêu hạ kim triêu đệ nhất xuân.
Dịch nghĩa:
MỒNG MỘT TẾT
(Bấy giờ là năm Quý Sửu [1553], tôi 26 tuổi)
Nay là năm Quý Sửu, lại là ngày thượng tuần,
Quang cảnh trời đất mừng lại được một phen mới.
Rót chén rượu ngon(3 ) đến đón tết tốt,
Ngoài cửa dán tranh kim kê( 4) để đuổi ác thần.
Cơ giam(5 ) tạo hóa, đến cùng lại quay lại,
Sự nghiệp nhà Nho ta có co tất có duỗi.
Đời người chớ than thở trôi đi nhanh quá(6 ),
Hãy mừng sớm nay là sớm đầu tiên của mùa xuân.
Dịch thơ:
MỒNG MỘT TẾT
Thượng tuần Quý Sửu ngày xuân
Phong quang trời đất chim mừng ríu ran
Rượu ngon ngày Tết rót tràn
Kim kê dán cửa ác gian chớ gần
Cơ quan tạo hóa xoay vần
Nghiệp Nho càng sáng cơ thần danh gia
Trách chi thời cuộc mau qua
Hãy mừng xuân đến la đà cùng xuân.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
( 3) Chén rượu ngon: nguyên văn là “bôi phù lục nghị”, tức chén rượu ngon rót nổi tăm như kiến nổi.
(4 ) Tranh kim kê: theo tục xưa, tết đến người ta cắt hình con gà bằng giấy hay lụa vàng treo ở cửa để đuổi tà ma, tránh dữ gặp lành.
( 5) Cơ giam: cơ là máy, giam là dây bao. Cái lý huyền diệu của tạo hóa như cái máy để khép mở được, cái dây để gói mở được.
( 6) Nguyên văn: “Khích câu quá”, tức “bạch câu quá khích” (ngựa câu màu trắng loáng qua khe vách), ở đây chỉ thời gian trôi quá nhanh.
元 旦 壽 父 親
兹 當 運 屬 牛 年 節 逢 雞 旦 東 風 日 暖 香 浮 柏 葉 之 樽 南 極 星 高 敬 祝 椿 堂 之 壽 遐 算 欲 齊 龜 鶴 數 新詞 再 唱 鷓 鴣 天
戲 綵 堂 前 展 壽 筵
虔 鳴 賀 臆 祝 椿 年
名 留 天 上 長 生 籙
世 羡 人 間 不 老 仙
充 閭 慶
子 孫 賢
好 將 衣 钵 作 家 傳
年 年 春 到 今 朝 節
輸 獻 風 流 第 一 篇
Phiên âm:
NGUYÊN ĐÁN THỌ PHỤ THÂN
(Tư đương vận thuộc Ngưu niên, tiết phùng Kê đán. Đông phong nhật noãn, hương phù bách diệp chi tôn; Nam cực tinh cao, kính chúc xuân đường chi thọ. Hà toán dục tề quy hạc số, tân từ tái xướng Giá cô thiên)
Hý thái đường tiền triển thọ diên,
Kiền minh hạ ức chúc xuân niên.
Danh lưu thiên thượng trường sinh lục,
Thế tiễn nhân gian bất lão tiên.
Sung lư khánh,
Tử tôn hiền,
Hảo tương y bát tác gia truyền.
Niên niên xuân đáo kim triêu tiết,
Thâu hiến phong lưu đệ nhất thiên.
Dịch nghĩa:
MỒNG MỘT TẾT CHÚC THỌ PHỤ THÂN
(Nay đương lúc vận thuộc năm Sửu, tiết gặp ngày Nguyên đán(7 ). Gió xuân đầm ấm, chén rượu bách tỏa hương(8 ); Sao Nam cực cao, kính chúc tuổi thọ phụ thân. Tuổi thọ mong được như số tuổi quy hạc(9 ), lời từ mới gọi là có, xin xướng điệu Giá cô thiên(10 )):
Trong nhà hý thái(11 ) mở tiệc thọ,
Kính tỏ lòng vui mừng, chúc tuổi thọ phụ thân.
Tên (phụ thân) mãi mãi lưu trong sổ trường sinh ở trên trời,
Đời ngưỡng mộ (phụ thân) là tiên bất lão dưới trần thế.
Nhà ta thêm nhiều phúc,
(Vì có) con cháu tài đức( 12).
Hãy đem y bát(13 ) làm thứ gia truyền,
Hàng năm xuân về, đến tết nguyên đán như hôm nay,
Lại trộm dâng một bài phong lưu bậc nhất.
Dịch thơ:
MỒNG MỘT TẾT CHÚC THỌ PHỤ THÂN
Đầu xuân nhà mở tiệc mừng
Hoa dâng kính tuổi phụ thân dồi dào
Tên người in sổ trời cao
Xóm giềng kính vọng vái chào lão tiên
Nhà thêm phúc đức dày thêm
Cháu con hiển đạt lưu truyền còn đây
Dâng lên y bát thẳng ngay
Lời thơ Nguyên đán như mây sáng trời.
Phùng Văn Khai dịch
——————
( 7) Năm Sửu: dịch nghĩa “Ngưu niên” (năm con trâu), năm Sửu là năm cầm tinh con trâu. Ngày Nguyên đán: dịch chữ “Kê đán”, tức “Kê nhật”, chỉ ngày mồng một tháng Giêng âm lịch.
(8 ) Rượu bách: loại rượu ngâm với lá cây bách, rất thơm.
(9 ) Quy hạc: chỉ con rùa và chim hạc, tương truyền hai loài động vật này sống lâu ngàn tuổi.
(10 ) Giá cô thiên: tên một điệu từ khúc: mở đầu là 4 câu, 7 chữ, 3 vần; tiếp theo là 2 câu 3 chữ 1 vần, rồi đến 1 câu 7 chữ 1 vần, kết thúc là 2 câu 7 chữ 1 vần.
( 11) Nhà hý thái: chỉ nhà của song thân. Xưa Lão Lai Tử tuổi đã 70 mà song thân vẫn còn. Để làm cho song thân vui vẻ quên tuổi già, ông mặc áo màu sắc sặc sỡ, chơi đùa như trẻ con, lại còn giả bộ té ngã khóc oa oa như đứa trẻ trước mặt bố mẹ.
( 12) Hai câu này nguyên bản chữ Hán ghép gộp làm một câu có thêm chữ “hữu”, tức: Sung lư khánh hữu tử tôn hiền. Chúng tôi ngờ rằng đã in chép thừa chữ “hữu”, bởi vì điệu từ Giá cô thiên chỉ có 3 chữ một câu. Chúng tôi đã bỏ chữ “hữu” và ngắt như trên cho hợp điệu Giá cô thiên.
(13 ) Y bát: áo cà sa và bát ăn cơm: đồ dùng tu hành của nhà sư truyền thừa cho nhau. Ở đây chỉ truyền đạo hay kế nghiệp.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) tặng cuốn sách “Phùng Khắc Khoan hợp tuyển thơ văn”.
學 舍 新 成
敻 塵 地 闢 兩 三 篙
學 舍 弘 開 淑 士 曹
竹 幾 風 來 濃 道 味
梅 窗 月 霽 玩 羲 爻
魚 知 硯 洗 窺 清 沼
兔 喜 詩 成 躍 白 毫
會 見 人 才 成 也 易
升 堂 總 是 冠 時 髦
Phiên âm:
HỌC XÁ TÂN THÀNH
Quýnh trần địa tịch lưỡng tam cao,
Học xá hoằng khai thục sĩ tào.
Trúc kỷ phong lai nùng đạo vị,
Mai song nguyệt tễ ngoạn Hy hào.
Ngư tri nghiễn tẩy khuy thanh chiểu,
Thố hỷ thi thành dược bạch hào.
Hội kiến nhân tài thành dã dị,
Thăng đường tổng thị quán thời mao.
Dịch nghĩa:
NHÀ HỌC MỚI LÀM XONG
Mở mang vài ba sào đất cao ráo xa trần tục,
Dựng một ngôi nhà học để đào luyện đám học trò.
Ghế bằng trúc, gió mát thoảng qua nồng đậm mùi đạo lý,
Cửa sổ mai, trăng sáng soi tới, ngồi ngẫm nghĩ quái hào Phục Hy(14 ).
Rửa nghiên, cá biết, trộm tìm chỗ nước trong,
Thơ thành, thỏ mừng dựng lông trắng.
Sẽ thấy nhân tài được tác thành cũng dễ,
Học hành tấn tới, đều là những người tuấn tú hơn đời.
Dịch thơ:
NHÀ HỌC MỚI LÀM XONG
Mở mang đất mới dăm sào
Tôn nền nhà học am cao luyệt trò
Ghế mây ngọn gió nô đùa
Trăng vàng soi sáng cơ đồ Phục Hy
Thau nghiên cá tự bơi về
Thỏ lông trắng đợi thơ đề hôm mai
Bút nghiên mài luyện nhân tài
Môn sinh biển rộng sông dài phong quang.
Phùng Văn Khai dịch
————–
(14 ) Quái hào Phục Hy – từng hào ở bát quái tương truyền do Phục Hy vạch ra.
感 興
眼 看 世 事 幾 浮 沉
反 為 春 光 著 意 深
藏 器 待 時 曾 有 志
安 常 守 分 豈 其 心
一 毫 榮 辱 都 餘 事
數 卷 圖 書 值 萬 金
終 日 以 思 常 在 學
豈 徒 飽 食 費 光 陰
Phiên âm:
CẢM HỨNG
Nhãn khan thế sự kỷ phù trầm,
Phản vị xuân quang trước ý thâm.
Tàng khí đãi thời tằng hữu chí,
An thường thủ phận khởi kỳ tâm.
Nhất hào vinh nhục đô dư sự,
Sổ quyển đồ thư trị vạn câm (kim).
Chung nhật dĩ tư thường tại học,
Khởi đồ bão thực phí quang âm.
Dịch nghĩa:
CẢM HỨNG
Mắt nhìn cuộc đời mấy phen chìm nổi,
Lại càng để ý nhiều đến tuổi xuân xanh.
Từng có chí chứa đạo ở thân để đợi thời(15 ),
Nào phải chủ tâm an phận thủ thường.
Mảy may vinh nhục đều là việc không đáng kể,
Mấy quyển sách đáng giá hơn ngàn vàng.
Suốt ngày luôn tập trung tâm tưởng vào việc học,
Đâu phải chỉ biết ăn no làm phí thời giờ(16 ).
Dịch thơ:
CẢM HỨNG
Ta xem thời cuộc nổi chìm
Càng thêm tin tưởng tuổi mình xuân xanh
Thân ôm chính đạo đợi hành
Tuyệt không biếng nhác thu thanh sắc trời
Nhục vinh sá kể việc đời
Thư phòng trữ sách mặc nơi ngàn vàng
Xưa nay đạo học phong quang
Những phường giá áo túi cơm chấp gì.
Phùng Văn Khai dịch
———————
(15 ) Câu này dụng ngữ trong Kinh dịch, phần Hệ từ, nguyên văn là “Quân tử tàng khí ư thân, đãi thời nhi động”, nghĩa là: quân tử tích chứa đạo ở thân, đợi đắc thời mới hành động.
(16 ) Ăn no làm phí thời giờ: sách Luận ngữ có câu: “Bão thực chung nhật, vô sở dụng tâm”, nghĩa là: suốt ngày ăn no mà không phải suy nghĩ gì.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải).
聞 杜 鵑 偶 成
四 時 緘 默 寂 無 聲
纔 到 炎 天 便 大 鳴
誰 謂 怨 啼 無 用 處
一 聲 挽 得 六 陽 亨
Phiên âm:
VĂN ĐỖ QUYÊN NGẪU THÀNH
Tứ thời giam mặc tịch vô thanh,
Tài đáo viêm thiên tiện đại minh.
Thùy vị oán đề vô dụng xứ,
Nhất thanh vãn đắc lục dương hanh.
Dịch nghĩa:
NGHE ĐỖ QUYÊN( 17) KÊU, BẤT CHỢT THÀNH THƠ
Suốt bốn mùa ngậm miệng lặng im không kêu tiếng nào,
Mùa hè nóng bức vừa tới liền kêu to ngay.
Ai bảo tiếng kêu ai oán ấy là vô dụng,
Một tiếng kêu mà có thể kéo được sáu tháng dương hanh thông(18 ).
Dịch thơ:
NGHE ĐỖ QUYÊN KÊU
Bốn mùa tịch mịch thinh không
Hè vừa sang đã vang lừng tiếng kêu
Mặc người vô dụng phong rêu
Lòng riêng báo quốc nhiễu điều giá gương.
Phùng Văn Khai dịch
——————
(17 ) Đỗ quyên: dân gian gọi là chim quốc, quốc thường kêu đầu hè.
(18 ) Sáu tháng dương, tức tháng 11, 12, 1, 2, 3, 4; tháng 5 bắt đầu là tháng âm.
詠 嫩 梅
生 成 氣 質 自 天 全
骨 格 清 癯 顏 色 鮮
挺 挺 豐 姿 鍾 秀 異
凌 凌 素 節 抱 貞 堅
三 春 占 榜 魁 元 志
五 鼎 調 羹 宰 相 權
顧 我 早 知 功 用 大
肯 教 凡 卉 混 芳 妍
Phiên âm:
VỊNH NỘN MAI
Sinh thành khí chất tự thiên tuyền (toàn),
Cốt cách thanh cù, nhan sắc tiên.
Đĩnh đĩnh phong tư chung tú dị,
Lăng lăng tố tiết bão trinh kiên.
Tam xuân chiếm bảng khôi nguyên chí,
Ngũ đỉnh điều canh tể tướng quyền.
Cố ngã tảo tri công dụng đại,
Khẳng giao phàm hủy hỗn phương nghiên.
Dịch nghĩa:
VỊNH CÂY MAI NON
Cây mai sinh ra đã được trời phú cho khí chất toàn vẹn,
Cốt cách thanh mảnh, nhan sắc thì tươi.
Phong tư đĩnh đạc, chung đúc những khí tốt lạ,
Khí tiết tố chất bền vững, ấp ủ nết kiên trinh.
Hoa mai nở đầu ba xuân, có chí chiếm khôi nguyên(19 ),
Quả mai điều hòa vị canh trong năm đỉnh, quyền như tể tướng(20 ).
Riêng ta sớm biết công dụng cây mai rất lớn,
Chẳng chịu để cho cây cỏ tầm thường hỗn tạp với cây mai thơm tươi.
Dịch thơ:
VỊNH CÂY MAI NON
Trời sinh khí chất vẹn toàn
Tốt tươi, thanh thoát lo toan cùng người
Phong tư đĩnh đạc dưới trời
Thong dong đức sáng thanh thơi lá cành
Đứng đầu khoa bảng công danh
Tướng quyền góp với trời xanh yên bình
Từ xưa đã tự biết mình
Vượt lên tất thảy mà xanh muôn trùng.
Phùng Văn Khai dịch
—————
(19 ) Hoa mai nở đầu tiên báo hiệu ba tháng xuân được ví như người chiếm ngôi đầu bảng trong khoa cử.
( 20) Xưa quan đại phu tế dùng 5 cái đỉnh đựng đồ canh và các đồ khác để cúng tế, trong đó quả mai được coi là vị chủ điều hòa các vị khác. Điều hòa canh trong vạc cũng có ý chỉ người điều hành chính sự.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]
![Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8] Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/03/ky-thu-8-tho-Phung-Khac-Khoan-do-PhungVan-Khai-dich-696x921.jpg)






















