Tiểu thuyết lịch sử “Ngô Vương” của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (NXB Hội Nhà văn, 2019).
Tiến sĩ Hà Thanh Vân – Tác giả bài viết.
Phùng Văn Khai, sinh ngày 1 tháng 10 năm 1973 tại Như Quỳnh, Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, là nhà văn trưởng thành trong môi trường quân đội và hiện nay đang giữ cương vị Đại tá, Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Anh nhập ngũ năm 1994, từng công tác tại cơ quan Bộ Tư lệnh Tăng Thiết giáp và Truyền hình Quân đội nhân dân, tốt nghiệp khóa VI Trường Viết văn Nguyễn Du, trước khi chuyển về công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội từ năm 2006. Phùng Văn Khai là cây bút có phạm vi hoạt động khá rộng, sáng tác ở nhiều thể loại như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, chân dung văn học, kịch bản phim tài liệu và phê bình văn học; tuy nhiên, dấu ấn nổi bật nhất trong hành trình sáng tạo của anh là mảng tiểu thuyết lịch sử. Từ những tác phẩm như Phùng Vương, Ngô Vương, Nam Đế Vạn Xuân, Triệu Vương phục quốc, Lý Đào Lang Vương, Lý Phật Tử định quốc đến bộ tiểu thuyết Trưng Nữ Vương, nhà văn Phùng Văn Khai đã kiên trì khảo sát những giai đoạn lịch sử xa xưa, đặc biệt là thời kỳ đấu tranh chống Bắc thuộc và hình thành nền độc lập, tự chủ của người Việt. Tiểu thuyết lịch sử của Phùng Văn Khai thường được triển khai theo kết cấu chương hồi, lấy các nhân vật và sự kiện lịch sử làm trục tự sự, đồng thời mở rộng chính sử bằng huyền tích dân gian, ký ức dòng họ, văn hóa địa phương và những yếu tố tâm linh, kỳ ảo. Quan niệm sáng tác nhất quán của anh là tôn trọng những sự kiện cơ bản của lịch sử nhưng không tuyệt đối hóa sử liệu, bởi theo anh hư cấu nghệ thuật cần được sử dụng để lấp đầy những khoảng trống của chính sử, phục dựng đời sống thường nhật và làm hiện lên con người lịch sử trong những quan hệ gia đình, cộng đồng, văn hóa và môi trường chính trị cụ thể. Với sự lựa chọn bền bỉ ấy, Phùng Văn Khai đã góp phần phục sinh hình thức tiểu thuyết chương hồi trong văn học đương đại, đồng thời kiến tạo một thế giới nghệ thuật đặc thù, tập trung làm nổi bật sức sống văn hóa, ý thức tự chủ và sự tiếp nối lâu dài của quốc thống dân tộc.
Ngô Vương của Phùng Văn Khai là một tiểu thuyết lịch sử có quy mô lớn, tái hiện một giai đoạn chuyển tiếp có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử dân tộc, đó là từ sự nghiệp tự chủ của họ Khúc, cuộc khởi binh của Dương Đình Nghệ, biến cố Kiều Công Tiễn đến chiến thắng Bạch Đằng và việc Ngô Quyền xưng vương, định đô ở Cổ Loa. Tuy nhiên, giá trị của tác phẩm không chỉ nằm ở việc phục dựng những sự kiện và nhân vật lịch sử. Thông qua hệ thống dòng họ, địa danh, truyền thuyết, đền miếu, lễ hội, nghi thức suy tôn và những lời kể về quá khứ chống ngoại xâm, nhà văn đã kiến tạo nên một cấu trúc ký ức văn hóa, trong đó chiến thắng của Ngô Quyền được đặt vào tiến trình phục hồi lâu dài của “quốc thống” phương Nam.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai – Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội (mặc quân phục) nhận hoa chúc mừng tại buổi tọa đàm giới thiệu tác phẩm Tiểu thuyết lịch sử “Ngô Vương”.
Trong lịch sử Việt Nam, thế kỷ X là một thời đại vừa gần vừa xa. Gần, bởi những tên tuổi như Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng đã trở thành những biểu tượng quen thuộc trong nhận thức lịch sử của nhiều thế hệ. Xa, bởi tư liệu trực tiếp về đời sống xã hội, con người, phong tục, quan hệ dòng họ và những chuyển động tinh thần của thời kỳ ấy còn tương đối thưa vắng. Chính khoảng cách giữa một số sự kiện lớn đã được ghi nhận với những khoảng trống mênh mông của đời sống quá khứ đã tạo nên một vùng đất đặc biệt dành cho tiểu thuyết lịch sử có thể khai thác.
Nhà văn viết lịch sử không thể chỉ chép lại những điều sử sách đã ghi. Nếu chỉ đổi văn xuôi biên niên thành những đoạn hội thoại, thêm một vài cuộc chiến, vài điều hư cấu và phủ lên cho nhân vật lịch sử lớp áo giáp sáng loáng, thì tác phẩm khó vượt ra ngoài một thứ “sử diễn nghĩa”. Công việc của một tiểu thuyết gia thực thụ về lịch sử phức tạp hơn vì họ phải làm cho những con người chỉ còn vài dòng ghi chép trong chính sử có dáng đi, giọng nói, quan hệ gia đình, khát vọng, lo âu và những giới hạn cá nhân; phải tái tạo không gian vật chất và không gian tinh thần của một thời đại; đồng thời phải tìm ra hình thức tự sự đủ sức liên kết các sự kiện rời rạc thành một chỉnh thể nội dung và nghệ thuật có ý nghĩa.
Tiểu thuyết Ngô Vương cho thấy rõ tham vọng ấy. Tác phẩm gồm mười tám hồi, trải qua một trường đoạn lịch sử rộng, từ thời điểm quân Nam Hán tiến chiếm Giao Châu, bắt Khúc Thừa Mỹ, cho đến khi Ngô Quyền chiến thắng trên sông Bạch Đằng, được các lực lượng trong nước suy tôn và chuẩn bị thiết lập triều chính ở Cổ Loa. Tác phẩm không chỉ tập trung vào trận Bạch Đằng diễn ra năm 938, mà còn dựng lên cả một quá trình vận động, trong đó những lực lượng tự chủ ở các vùng Ái Châu, Đằng Châu, Phong Châu, Đường Lâm, Đại Hoàng, cửa biển Hải Triều và thành Đại La dần kết nối với nhau. Ngô Quyền không xuất hiện như một người anh hùng bất ngờ bước ra từ màn sương lịch sử. Ông được chuẩn bị bởi gia tộc, quê hương, sự giáo dưỡng của người cha, quan hệ với Dương Đình Nghệ, những kinh nghiệm quân sự, mạng lưới hào trưởng địa phương và cả những bài học thành bại của các cuộc khởi nghĩa trước đó.
Tiểu thuyết Ngô Vương xoay quanh nhân vật chính Ngô Quyền và tái hiện giai đoạn lịch sử từ khoảng năm 923 đến 939. Tác phẩm nằm trong mạch sáng tác tiểu thuyết lịch sử khá bền bỉ của nhà văn Phùng Văn Khai, bên cạnh các tác phẩm như Phùng Vương, Nam Đế Vạn Xuân, Triệu Vương phục quốc và một số tiểu thuyết khác về lịch sử dân tộc. Nhưng sự tiếp cận một tác phẩm cụ thể không nên chỉ dừng ở việc xếp nó vào một chuỗi sáng tác. Câu hỏi quan trọng hơn là tiểu thuyết Ngô Vương đã hình dung lịch sử như thế nào? Nhà văn lựa chọn điểm nhìn nào để kể về thời kỳ này? Bằng cơ chế nghệ thuật nào Ngô Quyền được chuyển hóa từ một nhân vật lịch sử thành một biểu tượng văn hóa? Và phía sau các trận đánh, lời hịch, cuộc liên minh, sự phản bội, sự suy tôn và dời đô là quan niệm gì về quốc gia, cộng đồng và quyền tự chủ?
Một trong những từ khóa được nhắc đi nhắc lại trong tác phẩm Ngô Vương là “quốc thống”. Khái niệm ấy không chỉ có nghĩa là một triều đại hay một thiết chế quyền lực. Trong thế giới nghệ thuật của tiểu thuyết Ngô Vương, quốc thống là dòng chảy nối tiếp của các vua Hùng, An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, họ Khúc, Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền. Quốc thống được lưu giữ trong ký ức các dòng họ, trong các địa danh, đền miếu, lời kể của các bô lão, phong tục, nghi lễ và cả trong ý thức “đất nào chủ nấy”. Vì vậy, chiến thắng trên sông Bạch Đằng không chỉ là một chiến công quân sự. Đó là thời điểm một cộng đồng nhận ra lịch sử của mình, tập hợp các ký ức phân tán và biến chúng thành ý thức chính trị.
Đọc tiểu thuyết Ngô Vương từ lý thuyết ký ức văn hóa vì thế cho phép nhận diện một tầng sâu hơn của tác phẩm. Nhà văn không chỉ kể về cái đã xảy ra, mà còn tái tạo cách một cộng đồng nhớ về quá khứ để tự định nghĩa mình trong hiện tại. Kết hợp hướng tiếp cận ấy với thi pháp tiểu thuyết lịch sử và phân tích diễn ngôn chủ quyền, có thể thấy tiểu thuyết Ngô Vương là một cuộc kiến tạo kép, vừa kiến tạo hình tượng nhân vật Ngô Quyền, vừa kiến tạo một câu chuyện về sự phục hồi quốc thống.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai – Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội (mặc quân phục) phát biểu tại buổi tọa đàm giới thiệu tác phẩm Tiểu thuyết lịch sử “Ngô Vương”.
Vận dụng lý thuyết ký ức tập thể của Maurice Halbwachs, ký ức văn hóa của Jan Assmann, “nơi chốn ký ức” của Pierre Nora, lý thuyết tiểu thuyết lịch sử của Georg Lukács, quan niệm “cốt truyện hóa” lịch sử của Hayden White, khái niệm “cộng đồng được hình dung” của Benedict Anderson và một số gợi ý từ phê bình diễn ngôn, có thể thấy tiểu thuyết Ngô Vương đã chuyển hóa sử liệu thành tự sự nghệ thuật, xây dựng nhân vật Ngô Quyền như điểm hội tụ của ký ức cộng đồng, tri thức bản địa và khát vọng tự chủ như thế nào. Cũng có thể nhận diện những đặc điểm thi pháp nổi bật của tác phẩm như kết cấu chương hồi, giọng kể sử thi, nghệ thuật tổ chức không gian lịch sử và hệ thống diễn ngôn đối lập giữa “thiên triều” với “đất có chủ”. Trong tiểu thuyết Ngô Vương, còn có thể thấy xu hướng lý tưởng hóa nhân vật, sự phân cực chính nghĩa – phi nghĩa, mức độ lấn át của lời bình luận của tác giả và hiện tượng phản chiếu ý niệm quốc gia thời hiện đại trở lại quá khứ.
Ngô Vương có thể xem như một tiểu thuyết về quyền được nhớ và quyền được kể
Ở tầng sâu, xung đột trong tác phẩm Ngô Vương không chỉ là xung đột lãnh thổ. Đó còn là xung đột giữa hai chế độ. Triều đình Nam Hán muốn ghi Giao Châu vào lịch sử của mình như một phiên trấn. Những người chống lại bị gọi là giặc. Các chiến dịch xâm lược được ghi thành công trạng của tướng lĩnh. Sự khác biệt của cộng đồng bản địa bị thu nhỏ thành dấu hiệu của man di. Nhưng tác phẩm của Phùng Văn Khai đảo ngược trật tự ấy. Những người bị gọi là “giặc cỏ” trở thành anh hùng bảo vệ quê hương. “Thiên triều” hiện ra như một quyền lực cát cứ đang tìm cách mở rộng. “Phản loạn” trở thành tự chủ. “Phiên trấn” trở thành đất có chủ. Đó là lý do việc kể lại lịch sử có ý nghĩa chính trị. Người kể chuyện có thể quyết định ai là nhân vật trung tâm, ai là nhân vật ngoại vi, ai là anh hùng, ai là kẻ phản nghịch. Ở đây tác phẩm Ngô Vương giành lại quyền kể từ điểm nhìn cộng đồng phương Nam. Ở những phần viết thành công nhất, nhà văn Phùng Văn Khai đưa người đọc vào đời sống cụ thể của giai đoạn lịch sử thời đó như lo lương thảo, đóng thuyền, đắp thành, nuôi voi, tổ chức làng nghề, trông nom đền miếu, dạy con và mở hội. Nhờ đó, “người phương Nam” không chỉ là khái niệm chính trị. Họ là những con người sống trong một hệ sinh thái, văn hóa và ký ức cụ thể. Và cộng đồng dân tộc không nhớ bằng một trí óc siêu hình. Nó được nhớ qua những nhóm người, địa điểm và quan hệ. Đường Lâm nhớ Phùng Hưng qua đền thờ và dòng họ. Phong Châu nhớ các vua Hùng qua địa thế và phong tục. Cổ Loa nhớ An Dương Vương qua thành cổ. Bạch Đằng nhớ chiến thắng qua bãi cọc, dòng nước và những người hy sinh. Ngô Quyền là người đi qua, tập hợp và tái kích hoạt những ký ức ấy, thông qua tiểu thuyết Ngô Vương.
Bởi vậy, có thể nói hành trình của nhân vật không chỉ là hành trình từ một vị tướng trẻ đến ngôi vương. Đó là hành trình từ ký ức gia đình đến ký ức quốc gia: Từ người con họ Ngô đến người kế tục Phùng Hưng; từ con rể Dương Đình Nghệ đến người bảo vệ cơ nghiệp họ Khúc; từ chủ tướng quân Ái Châu đến người thống lĩnh các vùng đất; từ người chiến thắng Bạch Đằng đến người lựa chọn Cổ Loa; từ cá nhân lịch sử đến biểu tượng văn hóa. Ở chiều ngược lại, cộng đồng cũng đi qua một hành trình: Từ các dòng họ phân tán đến liên minh; từ ký ức địa phương đến câu chuyện chung; từ phản ứng chống ngoại xâm đến thiết lập nhà nước; từ cộng đồng chiến đấu đến cộng đồng đời sống. Hai hành trình cùng gặp nhau trong hình tượng “Ngô Vương”. Danh xưng ấy không chỉ nói về một người được làm vua. Nó còn biểu thị thời điểm cộng đồng tìm thấy một hình thức chính trị cho ký ức lịch sử của mình.
Nhà sử học kiêm nhà lý luận văn hóa người Mỹ Hayden White (1928-2018) nhấn mạnh rằng sự kiện trong thực tế không tự đến với chúng ta trong hình thức một câu chuyện hoàn chỉnh. Trong công trình “The Content of the Form: Narrative Discourse and Historical Representation” (Nội dung của hình thức: Diễn ngôn tự sự và sự biểu hiện lịch sử) xuất bản năm 1987, ông viết: “Real events do not offer themselves as stories” (các sự kiện có thật không tự trình hiện như những câu chuyện). Có nghĩa là muốn kể về lịch sử, người viết phải lựa chọn điểm mở đầu, kết thúc, xác lập quan hệ nguyên nhân, tạo nhịp điệu, phân bố vai trò nhân vật và gắn chuỗi sự kiện trong tác phẩm với một mô hình ý nghĩa.
Hayden White đưa ra khái niệm “emplotment”, có thể dịch là cốt truyện hóa, giúp phân tích cách một chuỗi sự kiện được biến thành loại câu chuyện nhất định trong tiểu thuyết lịch sử. Chẳng hạn khi những sự kiện được tổ chức như một bi kịch, chúng tạo một ý nghĩa khác với khi được tổ chức như một câu chuyện chiến thắng hay phục sinh. Theo Hayden White, cốt truyện hóa không phải việc trang trí bên ngoài. Nó là một phương thức giải thích quá khứ trong tiểu thuyết lịch sử. Nhà văn vì thế không chỉ kể “cái gì đã xảy ra”, mà còn phải giải thích những sự kiện ấy có ý nghĩa gì đối với lịch sử dân tộc.
Tiểu thuyết Ngô Vương tổ chức giai đoạn lịch sử thế kỷ X theo mô hình phục hồi quốc thống. Điểm khởi đầu là trạng thái đứt gãy: họ Khúc thất bại, Khúc Thừa Mỹ bị bắt, Giao Châu một lần nữa rơi vào sự thống thuộc của nhà Nam Hán. Tiếp theo là quá trình tập hợp lực lượng dưới quyền Dương Đình Nghệ, chiến thắng, rồi khủng hoảng nội bộ do Kiều Công Tiễn phản bội. Cuộc khủng hoảng ấy mở đường cho Ngô Quyền đứng vào trung tâm lịch sử. Trận chiến thắng trên sông Bạch Đằng là đỉnh điểm, còn việc xưng vương và định đô Cổ Loa là sự hoàn tất có tính biểu tượng. Câu chuyện vì thế không chỉ dừng ở chiến thắng quân sự, mà còn kết thúc bằng sự tái lập trật tự chính trị và văn hóa.
Một lựa chọn đáng chú ý của Phùng Văn Khai là không mở đầu tiểu thuyết Ngô Vương bằng chiến thắng Bạch Đằng, tuổi thơ Ngô Quyền hay một điềm lạ báo hiệu người anh hùng ra đời như sự lựa chọn thường thấy ở nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử khác. Tác phẩm bắt đầu bằng bối cảnh suy vong của nhà Đường, sự hình thành các vương triều cát cứ ở phương Bắc, quá trình họ Khúc gây dựng nền tự chủ và cuộc tiến công của Nam Hán xuống Giao Châu. Cách mở đầu ấy đặt số phận đất nước trong một trường lịch sử khu vực. Nhà văn cho thấy sự biến động ở đất Giao Châu liên quan chặt chẽ đến cuộc khủng hoảng quyền lực tại Trung Nguyên. Khi nhà Đường suy yếu, các lực lượng bản địa có điều kiện giành lại quyền tự quản; nhà khi Nam Hán củng cố thế lực và nuôi tham vọng mở rộng, Giao Châu lại trở thành mục tiêu xâm lược. Nhờ đó, lịch sử trong tác phẩm Ngô Vương không phải chuỗi phản ứng tự phát giữa người tốt và kẻ xấu, mà là sự va chạm giữa những cấu trúc quyền lực.
Tuy nhiên, người kể chuyện không giữ thái độ trung tính. Ngay từ trang đầu tiên tác phẩm Ngô Vương đã xác định dã tâm của triều đình phương Bắc và ý thức khác biệt của cộng đồng phương Nam. Khúc Thừa Dụ được miêu tả là người hiểu rằng “phong tục tập quán, đường ăn nết ở, huyết mạch cội nguồn của người phương Nam đều là khác xa với Bắc quốc”. Câu văn không chỉ thuật lại nhận thức của nhân vật. Nó còn thiết lập tiền đề tư tưởng cho toàn bộ tiểu thuyết Ngô Vương. Đó là sự tự chủ của nước Nam là kết quả tự nhiên của khác biệt lịch sử, văn hóa và cộng đồng. Trong cách kể này, sự sụp đổ của họ Khúc trở thành tình trạng đứt gãy cần được khắc phục. Khúc Thừa Mỹ bị đóng cũi đưa về Phiên Ngung thành không chỉ là bi kịch của một cá nhân hay dòng họ, mà đó là hình ảnh quốc thống bị xúc phạm và quyền lực bị bỏ trống. Chính từ khoảng trống quyền lực ấy, Dương Đình Nghệ và các lực lượng thổ hào địa phương phải lựa chọn hành động.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai – Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội và các bạn văn.
Dương Đình Nghệ là nhân vật giữ vị trí đặc biệt trong cấu trúc tiểu thuyết Ngô Vương. Nếu Ngô Quyền là người hoàn tất tiến trình tự chủ thì Dương Đình Nghệ là người chuẩn bị nền móng chính trị, quân sự và đạo đức cho tiến trình này cũng là người chủ trương duy trì quốc thống qua lời tuyên bố: “Ta vẫn nhớ ngày còn tại thế, chủ công họ Khúc trước sau đều căn dặn ta rằng các vùng đất Giao Châu, Ái Châu, Hoan Châu đều là của người phương Nam, đều là có nền quốc thống từ thời Hồng Bàng, Hùng Vương, tuy ngôi nước có lúc lung lay, quốc thống nhiều khi đứt đoạn nhưng từ cội nguồn gốc rễ chưa bao giờ thần phục phương Bắc. Nay binh tướng ta quyết đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc để làm chủ đất mình phải có đại kế lâu dài mới được.” Tác phẩm Ngô Vương dành một dung lượng lớn khắc họa đất Ái Châu dưới sự cai quản của họ Dương với dân cư đông đúc, thóc lúa đầy kho, nghề nông phát triển, binh lính thủy bộ được huấn luyện, các hào trưởng và môn khách quy tụ. Nhà văn Phùng Văn Khai không chỉ miêu tả Dương Đình Nghệ như một tướng giỏi. Ông còn hiện lên với tư cách người biết “chăm dân mở cõi”, lắng nghe những bô lão, kết giao các hào trưởng và tổ chức đời sống kinh tế. Tư tưởng trị nước của nhân vật thể hiện qua việc coi sức dân là nền tảng. Ngay cả khi chuẩn bị đánh giặc, các cuộc nghị bàn không chỉ tập trung vào trận pháp, mà còn nói đến lương thảo, sản xuất, giao thông, nghề nghiệp và khả năng chịu đựng kháng chiến lâu dài của cộng đồng.
Khi chiếm lại thành Đại La, Dương Đình Nghệ không vội tuyệt đối hóa quyền lực. Ông tìm cách duy trì quan hệ với các hào trưởng địa phương, cho phép các vùng đất giữ phong tục và khuyến khích đền miếu, lễ hội. Tác phẩm kể rằng Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ giao cho các châu mục quyền kiêm quản, chú trọng “khai mở phong tục”, cho phép xây dựng đình đền và trùng tu chùa Trấn Quốc. Đây là một chi tiết đáng chú ý vì chính quyền tự chủ không chỉ được hình dung như một bộ máy quân sự, chính trị thuần túy, mà còn là ở khả năng bảo vệ không gian văn hóa vật chất và tinh thần của cộng đồng. Nhân vật Dương Đình Nghệ vì vậy mang vai trò nhân vật bản lề. Ông kết nối họ Khúc với Ngô Quyền, Ái Châu với Đại La, sức mạnh địa phương với ý thức quốc thống. Tấn bi kịch ông bị Kiều Công Tiễn sát hại không chỉ tạo ra bước ngoặt của cốt truyện. Nó còn là sự đổ vỡ của một mô hình liên minh dựa trên sự tín nghĩa, chính trực và lòng khoan dung.
Nếu cuộc xung đột với nhà Nam Hán tương đối rõ ràng về ranh giới giữa ngoại xâm và tự vệ, thì câu chuyện Kiều Công Tiễn có sự phức tạp hơn. Tác phẩm dành nhiều trang viết để miêu tả quá trình phản bội. Kiều Công Tiễn không xuất hiện ngay từ đầu như một kẻ thủ ác đơn giản. Ông là con của Kiều công đất Phong Châu, được Dương Đình Nghệ nhận làm nghĩa tử, từng tham gia liên minh chống quân Nam Hán và có trong tay một lực lượng đáng kể. Chính vì được đặt trong quan hệ ân nghĩa ấy, hành động sát hại Dương Đình Nghệ mang tính bi kịch. Trước khi biến cố xảy ra, Kiều Công Tiễn từng quỳ trước Dương Đình Nghệ, nói rằng nếu chủ tướng muốn giết mình để yên lòng quân thì ông cũng cam chịu. Dương Đình Nghệ đáp rằng hai gia đình là chỗ “huynh đệ cật ruột”, không thể không tin nhau. Cuộc đối thoại làm nổi bật hai tâm thế là lòng khoan dung gần như tuyệt đối của Dương Đình Nghệ và nỗi bất an đang chuyển thành tham vọng của Kiều Công Tiễn.
Nhà văn Phùng Văn Khai lý giải sự phản bội này bằng nhiều yếu tố, từ truyền thống quyền lực của họ Kiều, sức mạnh riêng của đất Phong Châu, đến sự nghi kỵ giữa các nhóm tướng lĩnh, tham vọng cá nhân và những lời xúi giục mưu mô từ phương Bắc. Điều đó cho thấy kẻ thù của quốc thống không chỉ đến từ bên ngoài. Một cộng đồng đang hình thành có thể bị phá vỡ bởi quyền lực địa phương, lòng đố kỵ và sự tranh giành vị trí trung tâm. Sau khi nhận tin Dương Đình Nghệ bị giết, Ngô Quyền tuyên bố phải “bắt sống Kiều Công Tiễn tế vong hồn chúa công”. Đây vừa là phản ứng của người con rể, vừa là lời xác lập chính nghĩa chính trị. Việc thảo phạt Kiều Công Tiễn được đặt vào hệ thống đạo lý trung – phản, nghĩa – bất nghĩa. Nhưng tác phẩm không dừng lại ở sự báo thù riêng. Bởi khi Kiều Công Tiễn cầu cứu Nam Hán, hành động phản bội nội bộ lập tức mở cửa cho ngoại xâm. Từ đó, thảo phạt phản thần và chống quân Nam Hán trở thành hai mặt của cùng một nhiệm vụ là khôi phục trật tự đạo lý và bảo vệ chủ quyền đất nước.
Nhìn từ lý thuyết cốt truyện hóa của Hayden White, tiểu thuyết Ngô Vương được tổ chức theo một mô hình tương đối rõ, đó là cấu trúc “mất – tụ – tan – hợp – thắng – lập”. Mất là họ Khúc thất bại, Giao Châu bị Nam Hán chiếm. Tụ là Dương Đình Nghệ liên kết các lực lượng địa phương. Thắng bước đầu khi quân Nam Hán bị đánh đuổi khỏi Đại La. Tan khi Kiều Công Tiễn phản bội, liên minh nội bộ bị phá vỡ. Hợp lại khi Ngô Quyền tập hợp quân đội, trừng trị phản thần và chuẩn bị chống xâm lược. Đại thắng là quân Nam Hán bị tiêu diệt ở Bạch Đằng. Lập là Ngô Quyền được suy tôn, chuẩn bị dời đô về Cổ Loa và xây dựng triều chính. Mô hình này làm cho lịch sử trong tiểu thuyết Ngô Vương mang hình thức một câu chuyện phục sinh. Ý nghĩa của nó là quốc thống có thể bị gián đoạn nhưng không bị hủy diệt. Mỗi thất bại lại tạo ra sự thức tỉnh mới; mỗi thế hệ lại tiếp nhận kinh nghiệm của thế hệ trước; người anh hùng cuối cùng không sáng tạo quốc gia từ hư vô, mà là nối lại dòng chảy lịch sử đã nhiều lần bị cắt đứt.
Chính ở điểm này, tiểu thuyết Ngô Vương mang màu sắc sử thi. Số phận của nhân vật trung tâm gắn với số phận cộng đồng. Chiến thắng của cá nhân chỉ có giá trị khi đưa cộng đồng từ tình trạng phân tán đến tự chủ. Cái kết không phải hạnh phúc riêng của người anh hùng, mà là sự yên ổn của làng xóm, mùa màng, lễ hội, triều chính và đời sống dân chúng. Hayden White cho rằng khi người viết biến các sự kiện thành câu chuyện, họ thường đặt chúng vào một trật tự ý nghĩa và đạo lý. Những sự kiện được lựa chọn không chỉ vì chúng xảy ra, mà còn vì chúng được xem là đáng nhớ, có khả năng chứng minh một giá trị hay một quan niệm về đời sống. Ở trong tiểu thuyết Ngô Vương thì đây là sự tái tạo và kết nối lại quốc thống dài lâu của đất nước.
Một đặc điểm nổi bật, đồng thời có thể gây tranh luận trong tiểu thuyết Ngô Vương, là nhà văn Phùng Văn Khai thường xuyên truy nguyên các dòng họ lớn về thời Hùng Vương hoặc những cuộc khởi nghĩa trước đó. Họ Ngô, họ Đinh, họ Phạm, họ Dương, họ Đoàn và họ Kiều đều được đặt vào trong những phả hệ dài. Các nhân vật không phải những cá nhân không có nguồn gốc, mà là mắt xích của những dòng tộc nối nhiều thế hệ.
Ở cấp độ hiện thực sử liệu, những phả hệ kéo dài qua hàng trăm năm như vậy cần được xem xét thận trọng. Không phải mọi chi tiết đều có thể kiểm chứng bằng chính sử. Nhưng trong thi pháp của tác phẩm văn chương, chức năng của chúng lại khá rõ ràng, nhà văn muốn chuyển các dòng họ địa phương thành những thiết chế lưu giữ lịch sử. Gia phả trở thành một loại văn bản ký ức; dòng máu trở thành ẩn dụ cho sự liên tục của cộng đồng. Ngay từ phần đầu tác phẩm, họ Ngô được giới thiệu như một dòng dõi lâu đời ở Đường Lâm, có quan hệ với thời Hùng Vương. Họ Đinh ở Đại Hoàng cũng được gắn với bộ Chu Diên và truyền thống các cuộc khởi nghĩa. Những đoạn kể ấy có thể làm cho nhịp tiểu thuyết chậm lại, nhưng chúng cho thấy ý đồ xây dựng một phả hệ chung. Mỗi dòng họ giữ một mảnh của quốc thống và khi các dòng họ liên kết với nhau, những mảnh ký ức địa phương được ghép thành ký ức cộng đồng rộng lớn hơn.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai – Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội (mặc quân phục) tặng sách tại văn phòng làm việc.
Maurice Halbwachs (1877–1945) là nhà xã hội học người Pháp và là người đặt nền móng cho lý thuyết hiện đại về ký ức tập thể (collective memory/mémoire collective). Ông phản bác quan niệm xem ký ức là kho chứa hoàn toàn riêng tư nằm trong ý thức cá nhân. Maurice Halbwachs từng viết: “It is in society that people normally acquire their memories”. Có thể dịch là: con người thông thường tiếp nhận ký ức của mình trong xã hội. Đóng góp quan trọng của Maurice Halbwachs nằm ở luận điểm cho rằng con người không nhớ quá khứ trong trạng thái cô lập. Ký ức cá nhân luôn được khơi gợi, tổ chức và định vị trong những khuôn khổ xã hội như gia đình, dòng họ, tôn giáo, giai cấp, cộng đồng cư trú, ngôn ngữ, phong tục và không gian sống… Có thể khái quát luận đề trung tâm của Maurice Halbwachs là ký ức con người chỉ có thể vận hành trong một bối cảnh tập thể; nhưng ký ức tập thể có tính chọn lọc và các nhóm người khác nhau có thể lưu giữ những phiên bản về quá khứ khác nhau. Điều này không có nghĩa là tồn tại một bộ não tập thể chung nằm bên ngoài con người. Người nhớ vẫn chỉ là từng cá nhân, nhưng là cá nhân nhớ với tư cách thành viên của một hay nhiều cộng đồng. Gia đình gợi cho một người nhớ về tổ tiên; làng xã giúp người ấy định vị ký ức trong đình, đền, bến nước và lễ hội; quốc gia gợi nhớ ký ức qua các nhân vật lịch sử, chiến thắng, nghi lễ và những địa danh biểu tượng. Điều đó cũng không có nghĩa là cá nhân không có ký ức riêng, mà có nghĩa là ngay cả những hồi ức riêng tư nhất cũng được tổ chức bởi ngôn ngữ, biểu tượng, giá trị và những quan hệ xã hội mà cá nhân thuộc về. Một người nhớ về người cha trong khuôn khổ gia đình; nhớ về quê hương qua tên đất, phong tục và những câu chuyện lưu truyền; nhớ về chiến tranh qua diễn ngôn của cộng đồng, các nghi thức tưởng niệm và những địa điểm ghi dấu sự kiện. Ký ức vì vậy không phải là hình ảnh được cất nguyên vẹn trong tâm trí. Nó là một quá trình tái tạo quá khứ từ nhu cầu, vị trí và hệ giá trị của hiện tại.
Vận dụng vào tiểu thuyết Ngô Vương, có thể thấy ký ức của Ngô Quyền và các nhân vật không hề tách khỏi dòng họ, làng xóm, quê hương và những cộng đồng chính trị mà họ tham gia. Ngô Quyền nhớ về Phùng Hưng không chỉ như nhớ một nhân vật xa xưa, mà còn bởi mẹ ông thuộc họ Phùng, Đường Lâm là vùng đất phát tích của Bố Cái Đại vương và đền thờ Phùng Hưng là trung tâm tinh thần của cả cộng đồng. Dương Đình Nghệ nhớ họ Khúc trong tư cách một nha tướng chịu ân huệ của chủ cũ. Phạm Bạch Hổ, Đinh Công Trứ, Đoàn Thành, Kiều Công Tiễn đều tự nhận thức mình trong phả hệ của dòng họ và địa phương. Những ký ức ấy vừa định hướng hành vi, vừa tạo nên mối dây liên kết hoặc xung đột giữa các nhân vật.
Tiểu thuyết Ngô Vương nhiều lần đặt nhân vật vào những cuộc hội nghị có sự hiện diện của các bô lão, hào trưởng, văn thần, võ tướng. Đây không chỉ là thủ pháp tạo không khí cổ xưa mà còn là những không gian nhằm sản xuất ký ức tập thể. Quá khứ được gọi lại trong những lời nói; công lao và lỗi lầm được cộng đồng đánh giá; một sự kiện được đưa vào hệ thống đạo lý; người sống được đặt trước ánh nhìn của tổ tiên và hậu thế. Ngô Quyền thường không quyết định hoàn toàn đơn độc. Ông hỏi ý kiến các bô lão, triệu tập tướng lĩnh, xem lại các bài học lịch sử và rồi từ đó đưa ra các phương lược. Mỗi quyết định cá nhân vì thế là kết quả kết tinh của nhiều tiếng nói cộng đồng.
Tác phẩm Ngô Vương nhiều lần nhấn mạnh quan hệ hôn nhân và nghĩa phụ tử. Ngô Quyền là con của Ngô Mân, con rể Dương Đình Nghệ; Kiều Công Tiễn là nghĩa tử của họ Dương; Dương Tam Kha là em vợ Ngô Quyền; các dòng họ Phạm, Đinh, Kiều, Dương, Ngô giao kết qua tình huynh đệ và liên minh. Ở đây, gia đình không phải là miền riêng tư tách khỏi chính trị mà nó là hình thức tổ chức quyền lực và ký ức. Sự gắn bó giữa quan hệ huyết thống với vận mệnh đất nước có hai tác dụng. Một mặt, nó làm lịch sử trở nên gần gũi, cụ thể. Những người làm nên chiến thắng không chỉ là những chức danh chính trị trong biên niên sử, mà còn là cha, con, nhạc phụ, con rể, anh em. Mặt khác, nó cho thấy những nguy cơ của kiểu chính trị dòng họ. Lòng trung thành có thể được củng cố bởi ân nghĩa gia đình, nhưng tham vọng dòng họ cũng có thể dẫn đến sự phản bội như trường hợp Kiều Công Tiễn.
Tiến sĩ Hà Thanh Vân – Tác giả bài viết.
Jan Assmann (1938–2024) là nhà Ai Cập học, nhà nghiên cứu lịch sử tôn giáo và lý thuyết văn hóa người Đức. Cùng với vợ là học giả Aleida Assmann, ông xây dựng hệ thống hóa lý thuyết ký ức văn hóa (cultural memory), là một trong những mô hình có ảnh hưởng rộng trong nghiên cứu văn hóa, lịch sử, tôn giáo và văn học từ cuối thế kỷ XX. Nếu Maurice Halbwachs chứng minh ký ức cá nhân luôn được hình thành trong những khuôn khổ xã hội, thì Jan Assmann phát triển vấn đề này theo chiều dài lịch sử. Ông quan tâm đến câu hỏi: Một cộng đồng duy trì ký ức về những biến cố đã xảy ra cách hiện tại hàng trăm hoặc hàng nghìn năm bằng cách nào? Câu trả lời của Jan Assmann là: Ký ức có thể vượt khỏi giới hạn đời sống của những người trực tiếp chứng kiến nhờ được khách thể hóa và thể chế hóa trong văn bản, hình ảnh, nghi lễ, đền miếu, tượng đài, kiến trúc, lễ hội, huyền thoại, phong tục và các thiết chế truyền dạy. Chính các phương tiện ấy giúp cộng đồng lưu giữ một hình ảnh về quá khứ, đồng thời định nghĩa mình là ai trong hiện tại. Theo Jan Assmann, ký ức văn hóa hoạt động bằng cách lựa chọn những hình ảnh quá khứ có khả năng được tái sử dụng trong hiện tại. Nói một cách khác, ký ức văn hóa không phải toàn bộ những gì một cộng đồng từng trải qua, mà đó là những phần quá khứ được lựa chọn, biểu tượng hóa, tổ chức và lặp lại. Một chiến thắng có thể trở thành lễ hội. Một nhân vật có thể trở thành vị thần được thờ phụng. Một địa điểm có thể trở thành không gian thiêng liêng. Một câu chuyện có thể được kể đi kể lại để xác định điều cộng đồng xem là nguồn gốc, danh dự và nghĩa vụ của mình. Trong tiểu thuyết Ngô Vương, ký ức về các vua Hùng, An Dương Vương, Lý Nam Đế, Phùng Hưng và họ Khúc không tồn tại như những thông tin lịch sử lạnh lùng. Chúng được tái hiện thông qua đền thờ, gia phả, nghi lễ, lời truyền, hội xuân, sự phân phong của tổ tiên và những câu chuyện về thần linh hiển ứng.
(HẾT KỲ 1)
![Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 1] - Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Tien-si-Ha-Thanh-Van.jpg)

![Truyện ngắn song ngữ: Một nơi sạch sẽ, sáng sủa [Tác giả: Ernest Hemingway] – Người dịch: Bùi Xuân Truyện ngắn song ngữ: Một nơi sạch sẽ, sáng sủa [Tác giả: Ernest Hemingway] - Người dịch: Bùi Xuân](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Nha-van-Ernest-Hemingway-218x150.jpg)


















