THANH QUẾ
TRUYỆN NGẮN
Nhà xuất bản Hội Nhà văn
MAI
Vào một buổi sáng mùa xuân, không nhớ rõ ngày nào, bà con ở Thanh Quýt thấy một ông già lạ mặt có dáng người cao to, khuôn mặt quắc thước từ trên một chiếc xe khách bước xuống, đi thẳng vào giữa làng. Mọi người rỉ tai nhau, có lẽ đó là một cán bộ của cơ quan nào đấy đến liên hệ công tác hoặc một người ở xa về tìm người thân. Nhưng một lúc sau họ mới vỡ lẽ: Ông là cán bộ người Đà Nẵng, đi tập kết, nay được trên cho nghỉ hưu. Bây giờ ông đến đây để tìm hài cốt của con gái. Biết được điều đó, mọi người cảm thấy ông trở nên gần gũi. Họ thân mật vây quanh ông. Một cô gái có khuôn mặt tròn trĩnh, đôi mắt đen láy rụt rè hỏi ông:
– Dạ thưa bác, con gái bác tên là gì?
– Nó tên là Mai.
Mai nào nhỉ? Mọi người đưa mắt hỏi nhau. Ở làng này có nhiều cô gái tên Mai đến công tác rồi hy sinh. Mỗi người gắn liền với tên một cơ quan: “Mai Tỉnh đội”, “Mai Công đoàn”, “Mai Thanh niên”, “Mai Giao vận”…
– Chị Mai con bác họ chi? Trước đây chị ấy làm công tác gì?-Cô gái lại hỏi.
– Con tôi là Phạm Thị Mai. Nó làm giao liên hợp pháp-ông già từ tốn đáp-Hồi còn ở miền Bắc, tôi may mắn nhận được một lá thư của nó, do một người bạn cùng cơ quan nó cầm ra. Tôi xa nó từ lúc nó còn nhỏ nên không biết sau này nó như thế nào. Tôi có hỏi anh bạn thì anh ấy nói nó người cao cao, tóc đen và dài lắm. Bà con có ai biết nó không?
Mọi người lại xì xào bàn tán. Vừa lúc ấy, một cụ già râu tóc bạc phơ lách đám đông đến cầm tay ông:
– Tui có biết con gái ông. Ồ, con nhỏ được đó. Sao mà ông sinh được đứa con gái hiền lành, lễ phép, ăn nói dễ thương vậy? Nó làm giao liên hợp pháp nhưng để che mắt giặc, nó giả làm con buôn gánh hàng đi bán. Tui là cơ sở của nó. Đi lên đi xuống, nó đều gánh hàng ghé vô nhà tui, mời tui uống một chai xá xị rồi một “dạ thưa bác”, hai “dạ thưa bác”, hỏi tui tình hình đường sá…
Cụ dừng lại nhìn người khách đăm đăm rồi tiếp:
– Bữa đó…tội quá. Nó từ dưới cánh Đông gánh hàng lên ghé vô nhà tui-cụ đưa tay chỉ về một ngôi nhà tranh gần đấy-biếu tôi một chai nước cam, hỏi tình hình rồi đi. Chiều đó, tui đang cuốc vườn thì nghe có tiếng súng nổ. Tui chạy ra đường thì thấy tụi cảnh sát trói quặt hai tay nó ra sau dẫn đi. Người nó dính đầy máu, áo quần xơ xác. Tui đứng sững nhìn nó. Nó lặng lẽ nhìn tôi, ý biểu tui cứ an tâm. Một thằng cảnh sát già già vừa nện báng súng vô đầu nó vừa nói: “Tao nghi mày từ lâu rồi. Mày buôn bán cái chó gì. Làm Cộng sản thì có…”
Cụ già nhìn thấy người khách rút khăn tay lau nước mắt. Tự nhiên giọng cụ nghẹn lại, đôi mắt đỏ hoe:
– Giữa lúc tui đang ngơ ngác chưa biết tính sao thì một chiếc xe jeep chạy đến. Thằng cảnh sát già già thúc báng súng đẩy con nhỏ lên xe. Trời ơi, con nhỏ bình tĩnh hết sức. Nó bước lên xe đàng hoàng như nó là chủ của chiếc xe vậy. Xe chạy đi. Tui đứng nhìn theo, thương đứt ruột.
Sáng hôm sau, tui lần mò vô nhà tù hỏi thăm tin tức nó. Tụi cảnh sát hỏi tui là gì? Tui nói tui là cha nó. Chúng cười hí hố rồi vào trong phòng bên cạnh mang xác nó ra ném trước mặt tui. Chẳng phải con tui mà tui khóc rú lên. Tụi cảnh sát hét: “Thằng già im đi. Con gái mày bướng bỉnh không chịu khai nên bị đánh chết đó. Tội nó đáng đem bêu lên cọc chớ chẳng phải để yên như vầy đâu”. Tôi lạy lục xin miết, tụi nó mới cho mang xác con Mai về chôn. Tui nghĩ, tui chẳng biết nó là con nhà ai, nó làm cách mạng tức thị là con mình rồi. Tui chôn nó xong, lập luôn một cái bàn thờ. Năm nào tới ngày nó chết tui cũng cúng. Tui mong cha mẹ nó đến tìm. Nhưng đã nhiều năm mà không thấy ai hỏi.
“Đúng là con mình rồi. Theo thư nó viết ra thì mẹ nó chết lúc ở tù. Mình thì ở miền Bắc. Bà con thân thuộc chẳng còn ai. Vậy thì làm sao có người đến nhận nó…” Ông nghĩ, cả người run lên:
– Mộ cháu nằm ở đâu hở cụ?
Cụ già nhìn ông ngạc nhiên:
– Ủa, cách đây vài tháng chú nó đến xin đưa nó về quê rồi. Ông ấy bảo với tui là cha nó còn đang ở miền Bắc, nhờ ổng…
Có một cái gì đó thật đau đớn giật thót giữa tim ông. Mặt ông tái dần. Ông gượng hỏi, giọng tắc nghẹn:
– Cụ có biết cháu người ở đâu không hở cụ?
Cụ già lắc đầu:
– Tui cũng không nhớ nữa. Hình như có lần nó nói quê nó ở Đại Lộc, Đà Nẵng hay mô mô đó…
Mọi vật chung quanh ông bỗng trở nên nhập nhòa. Ông lảo đảo ngồi phịch xuống đất, thở nặng nhọc.
Cụ già nhìn ông, vẻ mặt đầy thông cảm. Cụ đăm chiêu nghĩ ngợi một lúc rồi đến ngồi bên ông, khẽ vỗ vai:
– Này ông. Tui nhớ là hồi trước tui có gặp một con Mai người Đà Nẵng. Nó cũng làm giao liên hợp pháp. Người nó cao cao xinh lắm. Nó hy sinh ở làng Cẩm Sa cách đây một đỗi đường. Hay ông xuống đó hỏi thăm thử. Biết đâu đó là con ông.
Một tia hy vọng lại loé lên trong ông. Mặc dù đã trưa, mọi người mời ông ở lại ăn cơm, ông vẫn vội vã leo lên một chiếc xe lam. Ông không thể ngờ rằng phía sau ông, mọi người vẫn tiếp tục bàn luận câu chuyện về cô giao liên và người cha tội nghiệp đi tìm con gái…
Trong khi đó, ông già đi tìm con gái đã đến làng Cẩm Sa. Một bầy con nít, như những đứa con nít ta thường gặp ở những làng quê, bỏ những trò chơi, tò mò kéo theo sau ông, rồi khi biết ông cần gì, chúng ồn ào, tranh nhau chỉ dẫn. Tiếng ồn ào của bầy trẻ vọng vào những ngõ xóm, khiến cho những người lớn tuổi dừng công việc kiễng chân nhìn qua bờ rào, thì thào hỏi nhau về người khách lạ. Từ trong một ngôi nhà ngói gần đấy, một người đàn ông đứng tuổi, có khuôn mặt khắc khổ bước ra, đi về phía ông.
– Chào anh-ông già lên tiếng-tôi muốn hỏi Uỷ ban xã.
Người đứng tuổi mỉm cười:
– Thưa bác, bác đến Uỷ ban à. Cháu là Chủ tịch xã đây.
Ông già cầm tay anh, thì thầm nói chuyện. Anh Chủ tịch xã tự nhiên ôm chầm lấy ông:
– Trời ơi, bác là cha của cô Mai-cười à. Bác đừng ngạc nhiên, ở đây ai cũng gọi cô ấy như vậy. Hễ làm nhiệm vụ thì thôi, chớ về nhà là cô ấy lại khúc khích cười. Nghe chuyện vui cô ấy cũng cười, ăn cơm với muối cô ấy cũng cười. Cười hoài. Hồi đó cháu ở cùng tổ giao liên hợp pháp với cô ấy. Chúng cháu đứng ở vùng bàn đạp này. Nhiệm vụ của tụi cháu là chạy công văn giấy tờ, đưa khách từ bộ phận Thành uỷ đóng ở vùng Đông lên hậu cứ và ngược lại. Từ đây lên hậu cứ, do bọn con trai tụi cháu đảm nhiệm, đi bất hợp pháp vào ban đêm. Từ đây xuống vùng Đông, qua một con lộ, do nhóm con gái của cô Mai đảm nhiệm. Các cô thường đi hợp pháp vào ban ngày vì ban đêm địch hay phục hơn. Nếu chỉ có đưa công văn thôi thì chẳng nói gì. Các cô chỉ cần ăn mặc thật mốt, son phấn vào, cười đờ mi với tụi lính là qua được. Khó nhất là phải dẫn khách đi…
Người Chủ tịch xã dừng lại nhìn ông khách, giọng trầm hẳn xuống:
– Lần ấy, Mai phải đưa hai đồng chí cán bộ vượt đường giữa ban trưa. Trước khi đi, cô lấy quần áo, nón của các bạn gái trang bị cho hai anh. Thấy hai anh lóng ngóng trong bộ quần áo đàn bà, cô cứ cười mãi. Cô bắt các anh tập đi yểu điệu, quơ tay quơ chân cho đến lúc giống như hai cô gái mới thôi.
Mai đi trước các anh một đoạn. Theo giao hẹn nếu đường thông thì cô cứ đi thẳng. Nếu gặp địch, cô sẽ giơ nón “chào”, cười nói với chúng. Khi hai anh vừa ra khỏi làng, chỉ còn một đoạn nữa là tới con lộ, thì thấy Mai giơ nón ra “hế lô” ở phía trước. Các anh lùi lại, chạy thục mạng vào xóm. Tụi cháu đứng trên cây đa cảnh giới thấy tình hình này biết là nguy rồi. Chưa biết gỡ cách sao thì nghe có tiếng súng nổ. Một lúc sau, vọng đến tiếng xe tăng rù máy. Chiều đó, một số cơ sở được phân đi nắm tình hình về báo cáo là Mai bị một thằng xấu trong làng khai báo nên chúng bắn cô, kéo lê xác sau xe tăng, làm cho thân thể cô nát nhừ.
Ông già rưng rưng nước mắt. Ông thương con gái quá:
– Anh có thể dẫn tôi đến chỗ em nó nằm được không?
Người cán bộ cầm tay ông, giọng nghẹn ngào:
– Dạ, cô Mai không còn mộ. Sau khi bọn địch cột xác cô vào xe tăng để huỷ hoại thân thể, bà con đã đấu tranh mang về chôn. Nhưng năm sau, tụi nó cày ủi vùng này nên ngôi mộ cũng mất luôn…
Vậy là không còn cách gì để tìm lại những kỷ niệm của con gái. Ngực ông như chạm phải một tảng đá to, thật sắc, khiến ông khẽ rên lên. Ông run run hỏi anh chủ tịch xã:
– Anh có biết…có biết em nó họ gì không?
Anh Chủ tịch xã nhíu mày hồi lâu rồi mới đáp:
– Dạ không. Ở đây không ai biết họ của cô ấy cả. Hình như họ Nguyễn. Cũng có thể họ Phạm. Không, không, hình như…
Ông lặng người. Khuôn mặt tái mét. Môi run run mấp máy một điều gì đó…
Ông trở về căn phòng vắng vẻ, cảm thấy mệt mỏi vô cùng.
Suốt mấy tháng qua, sau khi được quyết định nghỉ hưu, ông đã từ Hà Nội về Đà Nẵng, vừa chạy vạy để lo một căn phòng để ở, vừa lo đi tìm mộ con gái. Công việc giao liên hợp pháp mà con gái ông đã làm trước lúc hy sinh, có rất nhiều cơ quan đảm trách: Giao bưu, Thành ủy, Quân đội, Công an…Ông đã đi hết cơ quan này đến cơ quan nọ, tìm đọc những bản danh sách liệt sĩ dài dằng dặc mới thấy con gái ông hy sinh ở làng Thanh Quýt. Vậy mà…Rồi đến việc ở Cẩm Sa nữa…khiến ông hết sức băn khoăn. Có thể một trong hai người chính là con gái ông. Cũng có thể cả hai đều không phải. Ông còn phải đi tìm nữa. Mọi chuyện đối với ông, có cái gì thật lạ lùng, tạo cho ông cảm giác nghi nghi hoặc hoặc, không làm sao hiểu nổi. Ông cảm thấy cái hy vọng tìm kiếm hài cốt của con mình thật mỏng manh. Bây giờ, trong tuổi già, ông chẳng biết lấy gì để tự an ủi nữa. Trong những năm mới xa quê, cái an ủi đầu tiên là sẽ có ngày thống nhất, ông trở về gặp lại vợ con. Khi được thư con gái báo tin vợ mất, ông thương vợ nhưng tự an ủi mình còn có một đứa con, dòng máu chung của cả hai người. Mình còn hạnh phúc hơn những người khác đã mất hết những người thân. Khi nghe tin con hy sinh ông đau đớn buồn rầu cho tuổi già mình chỉ còn một thân một bóng. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, ông tự an ủi là mình có thể về quê tìm được hài cốt của con, trong khi đó, biết bao người bằn bặt tin tức về con họ. Nhưng bây giờ chỉ còn nỗi cô độc của tuổi già, cái tuổi già ngày một ngày hai đưa ông dần về cõi chết. Ông bắt đầu cảm thấy khó ngủ. Nhiều đêm, ông lặng lẽ ngồi cho đến sáng, pha hết ấm trà đặc này đến ấm trà đặc khác, đầu mẩu thuốc lá tràn ra khỏi đĩa gạt tàn. Đấy cũng là một tật mới phát sinh. Trước đây, ông không bao giờ tốn tiền trà thuốc. Nếu trước đây ai đó từng biết ông vốn là người cao to, khuôn mặt quắc thước, tuy đã về hưu nhưng còn rất minh mẫn thì giờ đây họ sẽ lạ lùng khi gặp một ông già gầy xọp, đôi mắt quầng thâm, lúc nào đi đường cũng lẩm bẩm một câu: “có thể…không có thể…có thể”. Có những ngày ông lần mò đến các cơ quan mà ông đã tra tìm tên con gái, đọc đi đọc lại đến thuộc lòng những bản danh sách liệt sĩ. Cũng có lúc, người ta thấy ông chỉ lần tới cổng, lẩm bẩm đọc tấm biển tên cơ quan, bỏ đi, một lúc sau lại đến. Hầu như, những người gác các nghĩa trang đều quen mặt ông già tóc bạc trắng có dáng đi xiêu xiêu, thỉnh thoảng lại đến nghĩa trang khom mình đưa mắt đọc từng tấm bia, sau đó vừa bước ra vừa lẩm bẩm “có thể…không có thể…có thể”.
Một đêm, ông thấy đầu mình nhức như búa bổ, sống lưng như vừa bị ai dần, chân tay rã rời không nhúc nhắc được. Ông ngã ốm, cái ốm vốn có ở tuổi già, kèm theo nỗi buồn đau thất vọng. Ba ngày liền, ông nằm liệt, không dậy được. Có một lần, vào buổi trưa, ông thiếp đi trong cơn mê mê tỉnh tỉnh. Khi tỉnh dậy, ông thấy có một cô gái ngồi bên mép giường:
– Mạch bác đã đỡ. Bác suy nhược bởi vì lo nghĩ nhiều, lại bị cảm nữa. Cháu định đưa bác đi viện. Nhưng thôi…cháu sẽ mang thuốc đến. Bây giờ bác ăn tí cháo nghe.
Cô gái có gì giông giống như con gái ông. Ông định thần một lúc và nhớ ra, đó là cô bác sĩ ở nhà bên.
– Cháu biết bác tìm con nhưng chưa ra nên bác buồn. Cháu rất thông cảm với bác. Chuyện tìm kiếm hài cốt đâu có dễ. Cháu về trong này sớm, cháu biết các chị làm trong ngành giao liên hợp pháp luôn đổi họ, đổi tên. Có khi lại khai trệch cả năm sinh, tháng đẻ, cả quê quán nữa. Cốt để che mắt địch thôi. Nhưng bác đừng buồn, lo mà dưỡng sức cho hết bịnh. Cháu có quen một bác ở bưu điện, xưa phụ trách giao liên hợp pháp. Cháu sẽ nhờ bác ấy tìm hộ cho…
Một buổi sáng, ông thấy trong người đã khỏe ra. Nhưng vừa định trở dậy, chẳng hiểu vì lý do bí ẩn nào, một cơn buồn ngủ đến nhức cả mắt kéo ông nằm xuống. Ngay lập tức, một cơn mơ kỳ lạ đến với ông. Ông thấy hiện ra một rừng dương trên bãi biển quen thuộc, từ lâu rồi, ông không hề trở lại. Ông dắt tay con gái ông, lúc ấy chừng năm tuổi đi dạo mát. Tự nhiên, cô bé rụt khỏi tay ông, biến mất. Ông kêu lên, chạy ngược, chạy xuôi để tìm. Đâu đó quanh ông có tiếng cười rúc rích. Nhưng ông đến nơi, tiếng cười lại bặt đi. Một lúc sau, ông nghe tiếng nói của con ông:
– Con đây nè, con núp sau cây dương đây nè, ba không thấy sao?
Ông chạy đến bên cây dương đó, nhưng không thấy con ông, mà nghe tiếng cô bé réo ở cây dương bên cạnh:
– Con đây nè, ba dở lắm nè.
Cuộc đuổi tìm làm ông phát mệt. Ông toát mồ hôi, tỉnh giấc mơ. Vừa lúc ấy, ông nghe có tiếng gõ cửa. Tưởng cô bác sĩ nhà bên cạnh gọi, nhưng khi ông lần ra mở cửa thì thấy một ông già trạc tuổi ông mỉm cười:
– Chào anh. Tôi bận đi làm nên ghé lại một chút báo anh tin vui: Tôi đã tìm ra mộ con anh rồi.
Ông sửng sốt nhìn người lạ mặt:
– Ơ…ơ anh ở đâu? Sao anh biết tôi đi tìm mộ con gái?
Ông khách mỉm cười:
– Tôi là một người cha, anh cũng là một người cha. Anh có con hy sinh, tôi cũng có con hy sinh, sao tôi lại không biết.
– Mộ cháu ở đâu anh?
– Ở nghĩa trang Rừng Dương.
Người khách đi rồi, ông còn đứng sững bàng hoàng. Con người bí mật này có phải người mà cô bác sĩ nói là đang ở bưu điện? Hay cái ông mà khi ông đến các cơ quan để tìm con, lúc nào cũng thấy ông ta ở bên cạnh, vội vã cầm lấy những bản danh sách liệt sĩ mà ông vừa xem. Ông không biết nữa. Ông cảm thấy cái việc tìm ra mộ con gái ông của người này có điều gì thật bí ẩn, nó giông giống như trong giấc mơ vừa rồi. Có phải con gái ông đã báo mộng là cô đang ở dưới một rừng dương? Vốn từ xưa không hề mê tín, nhưng hôm nay, tự nhiên ông thấy trong người ông rạo rực, tai ông nóng bừng và chung quanh nhà ông lâu nay im ắng bỗng có một bầy chim lạ bay về chao hót…
Hôm sau, ông tìm đến nghĩa trang Rừng Dương. Dọc đường ông ghé vào một cái quán nhỏ mua một bó nhang.
Nghĩa trang nằm sát bờ biển, dưới một rừng dương xanh ngát, cảnh vật từa tựa như trong giấc mơ. Người gác nghĩa trang chừng năm mươi tuổi, cánh tay trái bị cụt đến tận khuỷu đưa ông đi qua những hàng mộ rồi chỉ vào một gốc dương:
– Mộ cô ấy nằm sát gốc dương kia kìa.
Ông bỗng cảm thấy tim mình như ngừng đập. Có lẽ cái điều giấc mơ báo trước đang đến với ông. Ông vội vã đến bên mộ, quỳ xuống, giương kính lên, cúi sát tấm bia. Bất ngờ, ông sửng sốt, làm rơi chiếc kính xuống cát: Cô gái có tên trong bia nhỏ hơn con ông tới năm tuổi. Ông lặng đi một lúc. Nhưng rồi như vừa nhớ ra điều gì, ông đăm đăm nhìn vào tấm bia để tìm quê quán của người đã khuất. Kỳ lạ thay, trong bia này không hề ghi quê quán…
Đấy có phải là con gái ông hay lại không phải? “Có thể là…có thể không phải là…”. Một trạng thái dao động cùng cực dần dần biến thành nỗi tuyệt vọng đè nặng lên trái tim ông. Ông cảm thấy đôi chân mình đang ngập dần, ngập dần vào lòng cát, không thể nào cất người đứng dậy được nữa. Ông ngã phịch xuống, bất tỉnh…
Người gác nghĩa trang đang đứng bên cạnh, sửng sốt nhìn ông rồi lật đật chạy đến đưa cánh tay còn lại nâng ông dậy. Một lúc sau, ông tỉnh lại, ngơ ngác nhìn quanh. Khi đã hiểu việc gì vừa xảy ra, ông gục đầu lên vai người gác nghĩa trang nấc khan một hồi lâu. Người gác nghĩa trang im lặng, đưa bàn tay lành vuốt lưng ông, dỗ ông như dỗ một đứa trẻ rồi nói nhỏ nhẹ:
– Bây giờ tui đưa bác vào phòng tui nghỉ nghe.
Ông lập cập đứng dậy, vịn vai người gác nghĩa trang định bước đi. Ngay lúc ấy, có một cái gì đó như một luồng sáng lướt nhanh qua đầu ông. Ông cất giọng khàn khàn:
– Anh có mang theo bật lửa không?
– Dạ có-Người gác nghĩa trang sốt sắng đưa bật lửa cho ông, vui mừng vì thấy ông đã tỉnh-có cả thuốc đây, bác hút cho tỉnh táo.
Ông già không trả lời. Ông run run xé bó nhang, rút ra ba cây, châm lửa, cúi xuống cắm lên mộ cô gái. Khi đứng dậy, ông bỗng thấy trên một tấm bia cách đó mấy bước có ghi: “Liệt sĩ Trần Thị Mai”. Ông lại bước đến thắp ba cây nhang nữa. Chợt nhớ tới lời cô bác sĩ nhà bên nói với ông hôm nọ, ông vội vàng đốt cả bó nhang, lần lượt cắm lên những ngôi mộ quanh đấy…
1985
DÌ ÚT
Tôi vẫn thường tự trách mình, chẳng rõ bận bịu thế nào mà cứ lần lữa, mãi nửa năm sau ngày miền Nam giải phóng mới tìm về thăm dì Út.
Có lẽ sau mẹ tôi, dì Út là người tôi yêu quý nhất. Hồi còn nhỏ, mỗi lần về quê ngoại, khi trước mắt tôi hiện ra một bờ rào bông bụt đỏ và thấp thoáng mái nhà tranh ấm áp, tôi đã chạy bổ nhào tới gọi mãi dì Út. Một người con gái dong dỏng cao, tóc dài đen mượt, da trắng hồng đã đứng chờ tôi ở đầu ngõ, miệng mỉm cười, đưa tay ngoắt ngoắt. Dì Út tôi đó. Tôi ngã vào lòng dì để được dì vuốt ve âu yếm, rồi theo dì ra vườn hái mãng cầu, hái ổi. Dì dắt tôi đi chơi mọi nơi. Mắt tôi gườm gườm tức giận khi thấy một anh con trai nào đó gật đầu chào dì, mỉm cười với dì. Thế mà một lần về ngoại, tôi không thấy dì đâu cả. Tôi dáo dác chạy bổ đi tìm. Các dì, các cậu tôi bảo dì bị “bắt cóc” rồi. Tôi ngã lăn ra đất, khóc oà lên. Mọi người dỗ tôi, bảo dì không sao đâu, chỉ đi chơi với dượng một lúc là về thôi. Dượng là ai á? Tôi hỏi, mọi người chỉ cười. Tôi lại gào lên, bắt mọi người kêu dì Út về, không cho đi với dượng nào cả. Ngày hôm sau thì tôi gặp ông dượng đó. Ông là một người cao lớn, khuôn mặt tròn đầy đặn và có đôi lông mày rậm. Ông đến nhà, dáng bẽn lẽn, dạ dạ thưa thưa, xưng em với các dì các cậu tôi rồi ngồi lại bên bàn đặt ở giữa nhà, uống nước nói chuyện với dì Út. Tôi ngồi trong lòng dì, ông mỉm cười với tôi, nhưng tôi quằm quặm nhìn ông.
Sau này tôi được biết, ông gặp dì tôi trong một chuyến qua sông…Lúc ấy, trời đã sắp tối. Dì tôi đang vội vã chống đò, chở lúa từ bên kia sông về nhà. Ông xin dì tôi cho đi nhờ để kịp giờ họp. Ông là cán bộ Thanh niên huyện. Dì tôi đâm ra lưỡng lự. Con đò nhỏ, ông qua thì phải bỏ lúa lại. Mà không cho ông qua thì ông không kịp dự họp. Dì bỏ bớt lúa lại. Ông ngồi trên đò, mắt không ngơi nhìn theo cánh tay mềm dẻo của dì tôi gạt nước, kể những câu chuyện vui, làm cho dì tôi luôn luôn mỉm cười, thỉnh thoảng lại đưa mắt liếc ông. Thế rồi, tự nhiên ông hỏi nhà dì ở đâu, cha mẹ anh em ra sao. Khi lên bờ chẳng rõ vô tình hay cố ý ông bỏ quên chiếc mũ nan lại trên đò. Ngày hôm sau, ông tìm đến xin lại, nói chuyện với dì tôi rất lâu. Rồi như có bàn tay sắp xếp của số phận, một tháng sau, dì tôi được Đoàn Thanh niên xã cử đi tham gia đắp đập Đồng Cam. Ông dượng tôi bấy giờ làm chỉ huy công trường. Chẳng rõ thế nào mà sau lần ấy hai người lại thường đến thăm nhau. Chả là cơ quan của ông đóng ở bên kia sông. Thế rồi, cuối năm ấy, dì tôi lấy chồng. Tôi nhớ, hôm ấy dì tôi mặc rất đẹp, áo trắng, quần đen, má luôn ửng đỏ. Tôi cứ đi theo dì để nhìn dì. Khi chiếc xe ngựa đậu ở cổng chở dì về nhà chồng, tôi đã chạy theo gào lên thảm thiết.
Từ đó, tôi không gặp dì nữa. Tôi ra Bắc học hành và công tác.
Lần này, sau bao nhiêu năm xa, tôi muốn gặp lại dì tôi. Tôi nghe má tôi nói dì đã già, lại hay đau yếu lắm. Hồi đánh Pháp, dì làm cán bộ xã, sau này, chồng đi tập kết nên bọn Mỹ ngụy bắt đi tù, đánh đập tra khảo luôn. Có lần hàng tháng trời, dì phải nằm liệt giường, không ra được tới sân. Đau hơn cả là đứa con gái duy nhất của dì, giọt máu của người chồng thân yêu để lại, đã chết vì bệnh trong lúc dì đang ở tù. Dì vẫn nuôi mẹ chồng, chờ chồng. Mẹ chồng dì mới mất năm ngoái, giờ dì phải sống một mình. Má tôi vừa kể vừa khóc. Chị em thương nhau, nhưng trước đây không dám đến thăm nhau. Đến làm gì, hai bà đều có chồng đi tập kết, mỗi lần chị em gặp nhau, bọn mật vụ lại tra tra khảo khảo có khi bắt bớ nữa chỉ khổ thêm. Giờ đây, đất nước yên hàn rồi, tự do rồi, mình lại già cả, đi lại vất vả, đi một ngày không bõ, đi vài ngày thì nhà cửa ai trông, ai nấu cơm cho con Út đi học, ai bế cháu cho thằng Cả đi làm. Thành ra, chị em ruột mà như người dưng nước lã. Má tự trách mình như vậy. Nên lần này, tôi vừa về tới nhà hôm trước, hôm sau má hối tôi đi thăm dì ngay, thăm hộ cho phần má luôn. Trước khi đi, má cứ tỉ tê hoài, hít hà hoài, dặn tôi đừng có kể lại cái chuyện “quá trời” của dượng tôi, mà tôi đã kể cho má nghe. Dì nghe dì sẽ đau khổ lắm. Tội nghiệp. Ở trong này, dì tôi thấy giải phóng rồi mong dượng về lắm. Dì khắc khoải, lo âu chạy chỗ này chỗ nọ hỏi tin. Vậy mà cái người chồng dì yêu thương một đời, hy vọng một đời, chờ đợi một đời vẫn biệt vô âm tín. Má dặn tôi:
– Con nói với dì là ba con còn bận công tác chưa về thăm dì được. Ba có nhắn dì là dượng con rất tốt, ra Bắc anh em đến thăm nhau luôn. Khi nào đến, dượng cũng nhắc tới dì, nhớ dì lắm. Nhưng, dượng bị đau, dượng mất rồi – Má nhìn tôi nói tiếp – Con cứ nói như vậy. Dượng mày chẳng dám về đâu. Đừng kể tỉ mỉ quá con Út nó buồn.
Tôi biết má tôi, gia đình ngoại tôi ai cũng thương dì Út. Hồi xưa cũng vậy mà bây giờ cũng vậy. Giàu con Út, khó con Út. Tưởng mong em lấy chồng khá giả, chẳng ngờ vớ trúng anh nghèo rớt mồng tơi, đi biền biệt, phải chờ phải đợi. Tới ngày sum họp lại chịu cảnh cô đơn. Thương lắm chứ. Ai lại làm cho em đau khổ thêm. Tôi biết vậy, nhưng vẫn hỏi má:
– Má ơi, nhưng lỡ dì con đã nghe ai kể chuyện ấy rồi thì làm sao hở má?
Má tôi thoáng hoảng hốt, nhưng một lúc sau lại điềm tĩnh lại:
– Làm gì biết được, mày không kể, tao không biết huống chi là nó. Trong nhà mình mới để ý nhau chớ người dưng nước lã ai quan tâm chi.
Tôi lên xe lam đi đến nhà dì vào buổi sáng. Nhà dì ở Bàn Thạch, cách nhà tôi khoảng sáu mươi cây số. Trên chiếc xe chật cứng người bán rau, bán cá, bán gạo, tôi co người lại, ngồi suy nghĩ. Tôi hình dung ra khi tôi đến, chắc dì thế nào cũng thăm hỏi, cũng truy tôi vì sao giải phóng đã lâu mà dượng tôi không về. Tôi vốn ít kín miệng. Rồi thế nào cũng lộ tuốt luốt ra, rồi lại làm dì tôi khổ. Từ bao năm nay, tôi đã căm tức ông dượng, liệu tôi có làm đúng như lời má dặn không?
Tôi nhớ hồi Tết năm 1956, tại Hà Nội, ba tôi dẫn tôi đến câu lạc bộ Thống Nhất. Đó là nơi anh chị em miền Nam gặp gỡ vui vẻ, tâm sự với nhau, động viên nhau, để đỡ nhớ nhà nhớ quê kiểng. Ở đây, mọi người được xem phim, xem kịch, đánh bài chòi hoặc chơi cờ tướng. Câu lạc bộ ở bên cạnh hồ Hoàn Kiếm mà một thời chúng tôi gọi là hồ Tìm Kiếm. Tìm kiếm bạn bè, anh em đồng hương đồng khói. Chúng tôi thường kéo ra bờ hồ ngồi chơi. Vào sáng mồng hai tết năm ấy, cha con tôi cũng ra bờ hồ, ngồi trên một chiếc ghế đá. Nước hồ rất xanh. Đỉnh tháp rùa có gắn ngôi sao được nối nhau bằng những hàng bóng điện, ban ngày vẫn được thắp sáng màu xanh màu đỏ. Quanh bờ hồ người đi lại rất đông, nhất là con gái. Các cô khoác tay nhau đi từng tốp, ăn vận đủ màu, cười nói vui vẻ. Cha con tôi đưa mắt nhìn theo. Tôi thấy nét mặt ba tôi thoáng buồn. Ngày ấy, ông chưa đầy bốn mươi tuổi.
Chính lúc ấy, tôi thấy một người đàn ông cao lớn, vận vét tông xám lách giữa những tốp con gái, vui vẻ bươn về phía cha con tôi. Ba tôi reo lên:
– Ủa, dượng Út. Nghe nói trên phân dượng ở lại miền Nam mà, làm sao dượng lại có mặt ở đây?
Dượng Út ngồi xuống bên tôi, vỗ vỗ má tôi nói chậm rãi:
– Anh ạ, lúc dầu ở trên phân như vậy. Nhưng khi các anh ra miền Bắc rồi, ở Phú Yên mình, tụi nó đánh phá cơ sở ghê quá. Tụi em hết luồn xã này lại lách sang xã khác để tránh những đợt tố cộng. Nhưng rồi chạy rã cả chân, cũng không thoát khỏi cái vòng vây của địch, em đành quay về xã, trú ở mấy hang núi đá. Nhà em lo lắng lắm. Chả là Út sợ em bị bắt mà. Út cứ muốn em tạt ra Quy Nhơn, lúc này vẫn còn cơ quan tập kết, xin đi, có lâu la gì đâu, cũng chỉ hai năm là lại gặp nhau thôi mà. Em ra đó, nói thiệt với anh, các tay ở cơ quan tập kết tỉnh vặn vẹo đủ trò, bảo sao không ở lại, thế là không làm tròn nhiệm vụ. Em cũng có cách của em, đã quyết đi là phải đi, quay về chỉ tổ làm mồi cho cọp. Anh nghĩ coi, em cần gì mấy chỉ vàng…
Dượng tôi dừng lại, nuốt nước bọt rồi tiếp:
– Em đi lọt cũng là nhờ Út đấy. Út chạy lên xã xin tụi nó cái giấy đi bán vải ở Cù Mông. Về nhà dựa vào cái con dấu thật kia, em lấy đế cao su khắc con dấu giả đóng vào cái giấy giả của mình. Út mua một gánh vải, bắt em gánh như kẻ làm thuê. Em lủi thủi, nón đội sụp xuống mặt, ăn mặc rách rưới, áo hở vai hở nách đi trước. Út đi sau ăn mặc sang trọng. Áo hoa, quần săng đầm láng o. Gặp bót nào Út cũng mỉm cười, đem thuốc Cô-tap mời bọn lính. Chúng em đi ngày, đêm lẻn đến một nhà hẻo lánh xin nghỉ. Tới ngày thứ ba thì tới chân đèo Cù Mông. Út bán hết vải, đưa tất cả tiền và một lạng vàng cho em dùng ăn đường và hộ thân. Bên kia đèo là vùng tập kết của ta. Trước khi lách vô rừng để vượt đèo, em đứng nhìn theo Út quay lại, vừa đi vừa khóc. Em không sao cầm lòng được, cũng khóc theo.
Dượng tôi rút khăn lau nước mắt. Ông nhớ dì tôi quá. Tôi lặng lẽ cầm tay dượng, dúi một miếng mứt gừng. Đó là tôi tỏ tình thương của tôi, một cậu bé mười một tuổi với dượng. Chúng tôi cùng nhìn ra mặt hồ, buồn nhớ người thân.
– Anh à – dượng lại tiếp – Út khá lắm. Từ một cô gái xinh đẹp, cả nhà chiều cưng, Út về nhà em chịu cực chịu khổ, nuôi mẹ già đau yếu để em đi công tác, mà vẫn tham gia phụ nữ xã. Bọn Diệm đến, em cứ trốn chui trốn nhủi, nó bắt Út lên đánh đập hoài, tra vặn hoài. Có lần gặp em, Út giơ cho xem cái lưng còn hằn những vết đòn bầm tím. Đêm đêm, Út còn mang cơm nước, tin tức ra hang cho em. Bây giờ em đi, Út lại thui thủi một mình nuôi mẹ, nuôi con. Út khổ quá, em biết lấy gì đền ơn. Anh nghĩ coi, ở đây em vui cái nỗi gì khi vợ con xa lắc? Em làm sao mà xứng đáng với một người vợ như Út anh ơi?
Dượng tôi khóc thành tiếng, dượng thương dì tôi thật sự. Tôi yêu dì nên rất thương dượng.
Thế nhưng mọi sự đều biến đổi theo ngày tháng. Tôi càng lớn, càng hiểu ra điều ấy. Những lần đến thăm cha con tôi của người dượng yêu quý ngày một thưa dần. Những lá thư thăm hỏi nhau cũng ngày một dần thưa.
Vào mùa hè năm 1957, tôi từ trường Học sinh miền Nam về thăm ba tôi. Một buổi trưa, khi cha con tôi đã lên giường sắp ngủ thì có một bác già làm thường trực ở cơ quan đến đưa cho ba tôi một lá thư. Ba tôi reo lên: Thư dượng Út. Ông nhanh nhảu xé phong bì đọc. Ông cảm động lắm. Tay cứ run run. Đọc một lúc, tự nhiên trán ông nhăn lại, mắt long lên dữ tợn. Ông nói to:
– Thằng hư đốn.
– Chuyện gì vậy ba? Tôi nhỏm dậy hỏi.
Ba tôi vừa đọc vừa nghiến răng:
– Con nghe đây. Nó viết vầy thì có lạ không: Anh ạ, em vừa nghe tin có người nói Út đã ly khai em, lấy một thằng ác ôn, rồi cùng làm việc với nó. Em thấy em vẫn thương Út. Dầu sao cũng tình nghĩa vợ chồng. Út còn trẻ, nếu tụi nó o ép quá, hoặc quên em rồi thì có thể bỏ em, đi lấy một người lương thiện. Tại sao lại lấy một thằng ác ôn. Em nghĩ, chắc do hoàn cảnh. Út thay đổi rồi, lập trường giai cấp mơ hồ quá rồi. Thương thì thương, yêu thì yêu giờ em biết làm sao đây…
Ba tôi bỏ thư xuống, rồi cầm lên, xem lướt qua rồi lại đọc to một đoạn mà ông cho là quan trọng:
– Hiện nay, ở cơ quan, em làm việc với một đồng chí lãnh đạo rất có uy tín. Ông rất tín nhiệm em, tin ở năng lực của em và giúp đỡ em. Em thường đến chỗ ông chơi. Ông có một cô con gái. Cô rất quý em. Cô không đẹp như Út, tuổi cũng quá ba mươi rồi. Nhưng cô có bằng kỹ sư và là một đảng viên tích cực…
Ba tôi dằn mạnh lá thư xuống. Trán ông lấm tấm mồ hôi nhăn lại hết sức căng thẳng:
– Em rất thương Út, nhưng Út đã vậy nên làm em suy nghĩ lắm. Nếu Út có chồng em cũng có thể có vợ. Em còn trẻ, đời con dài, anh đồng ý chớ, anh ủng hộ em chớ. Em viết thư này coi như báo cho anh, xin ý kiến anh, sau này có gì anh nói lại cho em một tiếng. Nhưng em nhắm tổ chức chưa chắc chịu vậy đâu. Họ cổ hủ lắm. Nhìn trong lý lịch em ghi có vợ là họ không gật rồi. Em có báo cái tin ấy nhưng họ đòi phải có người chứng. Vậy anh là anh em cột chèo, anh…
Nghe tới đó, tôi vùng dậy thét:
– Đừng chứng nhận ba à. Dì Út không có vậy đâu.
Ba tôi im lặng một lúc rồi nói:
– Nó muốn lấy vợ thì lấy, nó còn trẻ, có thể thông cảm được. Nhưng cái tin về dì Út mày chưa chắc đã đích xác, khéo lại nghĩ oan cho nó là không được. Bản thân ba…
– Ba đừng lấy vợ, ba đừng bỏ má con, ba.
Tôi lại thét lên và nằm vật xuống giường khóc rưng rức. Tôi thấy ba tôi cũng nằm xuống bên tôi và khóc như tôi. Tôi choàng tay ôm lưng ba tôi, khi tôi mơ ngủ, tay lơi ra, tôi thấy ba tôi cầm tay tôi đặt lên lưng mình như cũ.
Sau này, tôi nghe có người kể, khi ba tôi không chịu chứng nhận theo ý dượng, dượng tôi đã nhờ một người viết giả một lá thư mang tên người Bí thư xã ông ở miền Nam gửi ra (trớ trêu thay, sau này, tôi biết người Bí thư mà dượng tôi lấy tên để làm chứng ấy, đã chết trước cả ngày tháng ông đề trên thư) báo chính thức tin vợ ông như ông đã viết cho ba tôi. Ông đã lừa được tổ chức để lấy vợ. Nhờ nhà vợ, ông đang được lên chức và sống thong thả hơn.
Thế thì, giờ đây tôi phải làm sao, nói với dì Út thế nào cho phải lẽ, cho đúng tư cách của tôi?
Tôi đến làng dì Út vào lúc nửa buổi. Vì lạ nước lạ cái nên tôi cứ loanh quanh đi hỏi. Chẳng ai biết dì tôi cả. Tôi sợ má tôi già, lẫn rồi, nói nhầm làng nhầm xóm mất. Cuối cùng gặp một bà già, tôi mới tỉ tê lai lịch của dì tôi. Nghe xong, bà cụ cứ à à, miệng móm mém, toét cười. Bà cũng vui mừng cho tôi. Thì ra dì Út chẳng là ai xa lạ. Đó là bà Tư Hoàng, tên dượng tôi, cả làng ai cũng biết. Có cái gì thật nực cười, thật mỉa mai. Cái tên của một người mà cả nhà tôi coi như chết rồi sao lại còn sống ở nơi dì tôi? Cái tên đó suốt 20 năm đã đặt cho dì tôi niềm hy vọng. Cái tên suốt 20 năm nâng cho dì tôi vượt qua bao đau khổ, bất chấp kẻ thù, làm tròn nhiệm vụ một người vợ, một người con, một người mẹ, một người yêu nước. Cái tên ấy giờ đây như một mũi dao thọc vào tim dì. Dì đã mang theo giữa tâm hồn trong sáng của mình một cái bướu mà không sao gỡ ra được. Chính cái người có cái tên thật ấy, dượng tôi, đã gây ra mọi chuyện này. Tại ông ta cả.
Theo sau một chú bé chừng mười tuổi, ríu rít nhảy chân sáo, tôi đến ngõ nhà dì. Ngôi nhà nhỏ lợp tranh vá víu thêm những tấm giấy dầu. Bên phải và bên trái trồng đu đủ, mãng cầu. Sau nhà là một vườn chuối.
Tôi đứng ngơ ngẩn trước sân. Tim đập thình thịch. Hồi hộp quá. Tôi như thấy dì Út đang bước ra, trẻ trung, nhí nhảnh như ngày tôi còn nhỏ, vẫy tôi bước vào. Nhưng ngay lúc ấy tôi nghe có tiếng khóc trong nhà. Tiếng khóc nỉ non rầu rĩ của người già. Có chuyện gì vậy? Tôi đứng lặng, chẳng hiểu phải lên tiếng hay nên lùi ra một lúc. Vừa lúc ấy một ông già bước ra. Ông có dáng gầy gầy, tóc bạc xoá, gương mặt quen quen. Dì ở một mình sao lại có ông già này? Hay là khách đến chơi? Tôi thấy ông già đứng bên thềm, mặt đỏ bừng, có vẻ giận dữ. Một lúc, chợt nhận ra sự có mặt của tôi, ông hỏi gay gắt:
– Chú tìm ai?
Tôi lúng túng, giọng run run:
– Dạ con tìm dì Út con.
Ông già nhìn tôi trừng trừng. Thốt nhiên, mắt ông hấp háy, khuôn mặt đang giận dữ bỗng rạng rỡ hẳn ra:
– Thanh phải không con?
– Dạ!
Ông già cuống quýt, chạy đến chụp vai tôi:
– Trời, thằng cháu Thanh. Tao là cậu mày đây, cậu Hai của mày đây. Trời, không ngờ, sao mày không ghé thăm cậu?
Tôi ấp úng:
– Dạ, con mới về, định sang dì xong sẽ qua thăm cậu.
Cậu Hai quay vào nhà, giọng run run:
– Út, Út ơi, đừng khóc nữa. Cháu Thanh nó về đây này.
Dì Út tôi hiện ra, kéo khăn xéo trùm đầu xuống lau nước mắt rồi chạy bổ nhào đến gục vào ngực tôi khóc nức nở. Tôi đứng im một lúc cho dì nguôi rồi dìu dì vào nhà.
Tôi không nhớ mình có khóc không, nhưng nước mắt tràn đẫm mắt tôi. Tôi thấy dì tôi gầy gò, má hóp lại, trán nhăn nheo. Mái tóc dài mướt ngày xưa, giờ đã điểm bạc, ngắn cũn. Nhìn dì, con người vui tươi một thời đang ngồi sụt sịt, tôi thương quá. Ai mà chẳng có một thời già yếu. Huống chi tới tuổi già mà phải sống cô đơn buồn tủi như dì. Dì khóc vì gặp lại tôi sau bao nhiêu năm trời cách biệt, hay vì thấy tôi dì lại nhớ tới dượng, nhớ lại cả cái thời dì dượng mới thương nhau? Có lẽ vì cả hai lẽ. Tôi cầm tay dì lặng lẽ lắc lắc, mong dì đừng khóc nữa. Nhưng dì lại khóc to hơn làm cho tôi thêm lúng túng.
– Đi lấy chuối cho cháu nó ăn rồi nấu cơm, khóc làm gì, Út! – Cậu tôi nói, mà mắt cũng đỏ hoe.
Dì tôi lau nước mắt, bước đi như một cái bóng về phía buồng. Một lúc sau, mang ra một nải chuối tiêu vàng óng, trái múp míp. Tôi thấy bàn tay dì run run khi bẻ từng trái chuối đưa cho tôi. Tôi cầm là cầm vậy thôi. Cổ nghẹn lại làm sao ăn được. Đôi tay của dì xinh xắn, mạnh mẽ một thời đâu mất, giờ là đôi tay sần sùi, thô ráp, đôi tay làm lụng một đời. Với một đôi tay như thế này, người ta làm sao có thể vô ơn bạc nghĩa, có thể nhẫn tâm được. Tôi bỗng thấy khinh ghét vô cùng người dượng. Tôi muốn nói lên sự thật, nói tất cả. Nói để vạch mặt ông ta, để dì tôi thấy đó là một kẻ đáng tởm, đừng chờ đợi làm gì nữa, hãy cho ông ta chết luôn đi.
Trưa hôm ấy, sau khi ăn cơm xong, ba chúng tôi ngồi bên bàn uống nước. Không khí trong nhà tự nhiên vui vẻ hơn. Cậu tôi, dì tôi thay nhau hỏi về cảnh sắc, về đời sống ở miền Bắc. Ở miền Bắc nông dân làm ăn tập thể ra sao? Xây dựng thêm bao nhiêu nhà máy? Trong chiến tranh phá hoại chúng làm hại ta có nhiều không? Ta sửa lại chưa? Sao lại gọi là hồ Hoàn Kiếm? Nghe nói mấy năm mới ra Bắc anh em miền Nam hay gọi là hồ Tìm Kiếm, tại sao vậy? Nghĩa chi? Dì cậu tôi mong được ra thăm Hà Nội, thăm Cụ Hồ, một lần, một lần thôi rồi nhắm mắt cũng được. Câu chuyện đang trở nên vui vẻ, ấm áp, đột nhiên cậu tôi đặt cốc nước đánh cạch xuống bàn, mắt nhìn tôi chằm chằm:
– Bây giờ, Thanh à, cháu ở ngoài Bắc về, cháu hãy nói cho dì, cho cậu nghe chuyện dượng cháu nó ra làm sao. Cháu cứ nói đi, nói thật đi, đừng có giấu gì hết.
Tôi đưa mắt liếc dì tôi. Tôi thấy trên khuôn mặt nhăn nheo, xanh bủng của dì bỗng nổi lên những vệt ửng đỏ. Dì đưa một góc khăn xéo lên miệng, cắn chặt lấy. Tôi đâm lúng túng. Mới hồi nãy đây, tôi nghĩ là tôi sẽ nói hết mọi chuyện. Giờ đây cổ họng tôi như tắc lại. Không nói thật thì ra mình nói dối với cậu mình, dì mình. Còn nói thật thì dì tôi sẽ đau khổ bao nhiêu. Tôi bỗng nhớ lời má tôi dặn:
– Thưa cậu, thưa dì, ra đó, cháu có gặp dượng cháu mấy lần. Dượng đang công tác ở Quảng Ninh. Nghe nói dượng làm to lắm. Những lúc gặp cháu với ba cháu, dượng tỏ ra nhớ nhà, nhớ dì lắm. Cứ nhắc đến dì luôn. Chẳng may chỉ có hai năm sau khi ra Bắc, dượng bị ốm nặng…rồi dượng mất…
Cậu Hai tôi đang ngồi trên ghế, đứng bật dậy, gầm lên một tiếng, giận dữ đấm tay xuống bàn làm cho cốc chén rơi loảng xoảng:
– Thằng cháu tao nói dối. Mày che chở cho nó phải không? Mày không thật. Tại sao mày nỡ đối xử với cậu mày, dì mày như vậy? Mày được học hành, làm ông kia bà nọ sao mày không thật. Tao hỏi mày: mày nói dượng mày chết, tại sao hôm qua nó về đây. Nó lẻn về đây rồi đi ngay, giấu tao, nhưng người ta kể lại nên chuyện gì tao chẳng biết. Nó về đây, nó sụp dưới chân dì mày, con Út này, nói láo nói lếu rằng vì xa lâu quá, tin tức thất lạc, nghe dì mày đi lấy chồng, nó vẫn chờ, chờ mãi rồi sau mới xin phép ba mày, nó đi lấy vợ. Nó xin dì mày thông cảm cho nó, tất cả vì hoàn cảnh thôi. Dì mày cũng ề ề cho qua, hàng xóm người ta kể với tao, bữa nay tao mới sang trị đây – mắt ông long lên – Vậy thì mày bảo nó chết hồi nào hở Thanh?
Cậu tôi nói liền một thôi một hồi rồi giận dữ ngồi xuống, thở hổn hển. Chừng cậu tôi vẫn còn giận tôi lắm. Tại sao cậu tin tôi hỏi tôi để tìm ra sự thật, tôi lại đi dối trá? Tôi ngồi sững mà nghe những lời chất vấn đáng sợ như từng nhát búa giáng xuống đầu, khắp người nổi gai ốc, ớn lạnh tận xương sống. Trời ơi, ông dượng tôi lén lút về đây hồi nào mà tôi không biết, làm kế hoạch của má con tôi hỏng cả. Sao ổng đã chết rồi lại còn lù lù mọc lên thế này? Tôi trả lời như thế làm cậu tôi giận là phải. Cậu tôi vốn là một người trực tính và nóng nảy. Ông muốn phải trái phải phân minh. Đối với ông, người oan phải được cứu, kẻ trí trá phải bị trị. Ông chỉ muốn làm theo việc phải, nghe lời nói thật. Vì vậy mà đời ông nhiều lúc bị hiểu lầm, bị vu oan. Người ta kể rằng, hồi chống Pháp trong một lần đi dân công, ông hỏi một anh chỉ huy: cung đường phải đi mất mấy ngày. Anh này trả lời là ba ngày. Nhưng đi hết ngày thứ ba vẫn còn nửa đường nữa. Ông tức giận mắng anh kia, đòi không đi nữa. Ông làm thế cũng chẳng để chống phá gì, chung quy cái tánh ông ưa nói thật vậy thôi. Ông muốn người chỉ huy phải thật thà với mọi người. Có khổ nói khổ thật, có xa nói xa thật rồi người ta tự phấn đấu, tự cố gắng để làm tròn nhiệm vụ. Ông ghét cay ghét đắng những trò dối dụ con nít. Việc có vậy mà anh này cho ông là chống cách mạng. Hồi trào ngụy, ông đã thẳng tay tát một thằng dân vệ vì hắn ăn quỵt tiền của một cụ già. Cụ vào nhà tù thăm con, bữa đó anh đi làm cỏ vê, thấy hắn quen cụ gởi lại hai ngàn. Hắn cuỗm luôn và chối phắt rằng cụ không gởi. Ông lại bị hắn vu cho là thân Cộng. Ông là dân cày – ông nói – ông chẳng thân ai cả. Ông chẳng hiểu gì về những đoàn thể, những đảng phái. Suốt đời ông chỉ muốn cầm chắc tay cày, vạch những đường thật thẳng trên đất để gieo lúa gieo ngô. Chính vì vậy, tôi ngại ông lắm. Tôi len lét nhìn ông, thấy mặt ông đỏ rừ, trán lấm tấm mồ hôi. Ông vẫn chưa hết giận nhưng lời ông có dịu hơn:
– Nó là thằng đểu, sao cháu lại đi bênh nó?
Dì tôi từ nãy đến giờ vẫn thút thít khóc, mặt xanh xám giờ mới lí nhí:
-Anh Hai, anh đừng làm cho cháu nó buồn, nó cũng muốn tốt cho em thôi.
– Tốt à – Cậu tôi lại nổi giận trở lại – Cái thằng Tư Hoàng là cái thằng mất dạy. Mày còn bênh nó. Nó xa mày, nó còn trẻ, lâu quá, nó không chịu được thì nó đi lấy vợ . Lấy vợ là không thuỷ chung, là không ngon rồi, nhưng tao cho qua được. Nhưng sao nó dám bịa một cái thư giả của một người đã chết, nó vu oan cho mày, bêu xấu mày, em gái tao, nó lừa tổ chức? Nó làm bậy như vậy rồi mà còn được lên quan lên chức. Cái bụng nó xấu là ở chỗ đó. Mày nghĩ coi, nếu nó còn chút tư cách thì giải phóng rồi nó cũng phải về nói với mày một tiếng chớ. Đằng này, thậm chí mày tìm được địa chỉ nó, viết thư nài nỉ nó về thăm mồ mẹ, mồ con nó, mày hứa bỏ qua cho nó, nó mới chịu về. Vậy mà khi gặp mày, nó vẫn nói quanh nói quéo, đổ tại hoàn cảnh này nọ, dỗ ngon dỗ ngọt rằng nó vẫn còn thương mày, thậm chí còn quỳ xuống chân mày van vỉ mày bỏ qua cho nó. Ngu như mày mới bỏ qua cho nó. Ngu như mày mới tin lời giả nghèo giả khổ của nó, dốc đến lạng vàng cuối cùng để phòng thân cho nó. Nó cuỗm lấy rồi nó dông luôn. Bây giờ nó sắp đi làm Tùy này Tùy nọ ở tận đẩu tận đâu, nó chẳng nghĩ gì đến cái thân tàn của mày – Cậu tôi gầm lên – Nó vô ơn bạc nghĩa thế mà mày còn cùng với thằng cháu mày bênh nó. Tao sẽ viết thư vạch mặt nó trước cơ quan nó cho mày coi, nó không được đi nước ngoài làm ông Tùy này Tùy nọ như nó khoe với mày đâu. Tới mày mà nó còn trí trá huống chi ai.
Dì tôi gục mặt xuống đầu gối bật khóc rưng rức. Đôi vai dì rung lên bần bật. Đột nhiên, dì ngẩng mặt lên, đưa tay gạt nước mắt. Vốn xưa nay dì nhỏ nhẹ, nhún nhường với tất cả mọi người trong nhà, nhưng hôm nay tự nhiên dì xẵng giọng. Hình như dì cố nói át đi những sự thật ấy:
– Anh Hai đừng nói oan cho ảnh. Ảnh lấy vợ là vì hoàn cảnh thôi. Làm gì ảnh có làm thư giả nói xấu em, vu oan cho em và để lừa tổ chức, em biết chớ, em cũng hỏi nhiều người chớ. Anh nghe ở đâu vậy? Không đúng đâu anh Hai. Mình nói oan cho ảnh, hại uy tín ảnh lắm. Ảnh đang được tín nhiệm, sắp đi làm Tùy viên Kinh tế ở nước ngoài, mình phải bảo vệ thanh danh ảnh, không vì việc thỏn mỏn mà làm tan nát sự nghiệp của ảnh. Anh đừng viết thư cho cơ quan ảnh, người ta cười mình bộp chộp đó. Nếu anh cứ quyết làm thì em cũng viết thư nhận em đã ly khai ảnh, em đã lấy ác ôn cho anh coi.
Cậu tôi chỉ lẩm bẩm trong miệng, gõ gõ tay xuống bàn. Hình như cậu đang cố nén một cái gì ghê gớm lắm. Dì tôi nhìn cậu, lau nước mắt. Tôi biết trong đời dì, có lẽ dì thương cậu nhất. Bởi vì, với tất cả lũ em mình, bao giờ ông cũng nhường cũng nhịn, nhất là dì Út. Trong những năm khốn khó của dì, chính ông đã sai con mang tiền, mang gạo đến cứu giúp. Ngay cả số vàng mà dì đã ky cóp sắm lấy để hộ thân, phần lớn cũng là nhờ tiền của ông. Vậy mà dì cứ bênh chồng, phủ lại ông, hẳn làm ông bực lắm. Phải nói, ông đã biết rõ sự thật, chẳng hiểu ông lấy từ nguồn nào. Ông mắng dì chỉ vì thương dì, chỉ muốn làm theo việc đúng mà thôi. Tôi nghĩ rằng, trong việc này cậu tôi đã có lý. Nhưng nếu tôi ủng hộ cậu thì đau lòng cho dì quá. Trong một thoáng, khi vô tình nhìn vào mắt dì, tôi hiểu rằng, dì cũng đã biết tất cả những chuyện của dượng, có lẽ còn biết hơn cả cậu tôi nữa. Nhưng lúc này, trước mặt hai cậu cháu tôi, dì vẫn cố nói tốt về tư cách của chồng mình mà có lẽ cả hai chúng tôi đều không tin nổi:
– Ảnh nói ảnh hối hận lắm. Ảnh mời em đến ở với ảnh cho vui. Ảnh, vợ ảnh sẽ lo toàn vẹn mọi thứ cho em. Anh Hai đừng, đừng báo cáo…
Cậu tôi bỗng bật cười khanh khách, rồi ông nhìn sững vào mắt dì tôi như định nói một điều gì. Nhưng ông im lặng. Ông bước ra sân, không chào một ai, đi về phía bến đò.
Chỉ còn hai dì cháu với nhau. Tôi ngồi dỗ dì tôi nín khóc như dỗ một đứa trẻ. Nhưng càng dỗ, dì tôi càng khóc to. Tôi đâm ra lúng túng. Tôi đứng dậy rút một điếu thuốc lá châm lửa và suy nghĩ: trước những gì mà dượng tôi đã gây nên, dì tôi xử như thế chẳng biết là phải hay không phải. Ở đâu là ranh giới của lòng nhân hậu và sự nghiêm khắc? Ở đâu là ranh giới của sự bao dung mênh mông và sự tha thứ không thể chấp nhận những tội lỗi được che giấu?…
Hà Nội, 12-1982
HAI NGƯỜI ĐÀN ÔNG VÀ MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ
– Câu chuyện này khó tin đến nỗi nếu tôi kể ra chắc ông cho rằng tôi bịa chuyện. Nhưng không, đây là chuyện thật trăm phần trăm đấy – Anh Phúc, bạn tôi, một người lính đã nghỉ hưu non, 50 tuổi, hiện đang giữ xe đạp cho Uỷ ban nhân dân phường Thị Nại, mở đầu câu chuyện này như vậy khi tôi và anh ngồi uống bia tươi ở một quán nhỏ bên hè phố – Thật trăm phần trăm đấy – Anh nhấn mạnh rồi uống một hơi cạn cốc bia, cầm chiếc can nhựa rót thêm một cốc khác và kể tiếp…
*
* *
Ông Lộc trở về thành phố vừa mới giải phóng để tìm gia đình mình. Bà con trong phường vừa mỉm cười vừa chỉ cho ông đến một mái tôn lụp xụp. Tại ngôi nhà này, ông đã gặp vợ ông và một người đàn ông cao gầy, đi nạng. Ông đứng như trời trồng nhìn họ, họ cũng đứng như trời trồng nhìn ông. Chợt người đàn bà, tóc đã lốm đốm bạc, kêu lên, lao vào người ông.
– Anh! Trời! Anh Lộc.
– Vâng, tôi là Lộc đây- Ông đẩy bà ra-Nhưng bà sống với ai kia? – Ông chỉ người đi nạng.
– Dạ đó là anh Thân, chồng em. Anh cũng là chồng em…
Người đàn bà nói cuống quýt, hết quay sang nhìn ông lại quay sang người đi nạng.
– Anh ấy đã trở về – Người đi nạng nói-Thôi anh đi đây.
Bà sững sờ đứng lặng. Ông cũng đứng lặng trong khi người chống nạng lộp cộp bước ra cửa. Một lúc sau, người đàn bà như sực tỉnh, kêu lên:
– Không, không, không thể để anh Thân sống ngoài đường ngoài sá được, anh ấy là chồng em.
– Còn tôi? – Lộc giận dữ hỏi.
Người đàn bà khóc kể lể:
– Anh là chồng em. Anh Thân cũng là chồng em. Anh có biết không, lúc anh đi rồi, bọn chúng bắt em ở tù, tra tấn mãi, khổ trăm bề. Chính ảnh cứu em ra, cho vốn em làm ăn nuôi con. Con lớn lên, đi hoạt động trong phong trào học sinh. Nhiều lần bị địch lùng bắt, ảnh che giấu cho. Sau năm 1970, con thoát ly tới năm 1972 thì hy sinh. Em buồn lắm, ảnh an ủi em. Em và ảnh thương nhau. Ảnh không còn ai. Vợ con ảnh chết ở trong khu gia binh khi bị pháo. Còn ảnh thành thương phế binh…
Người đàn ông bực bội:
– Vậy hắn ta là lính ngụy, bà lấy lính ngụy à?
Người đàn bà khóc to hơn:
– Nhưng anh ấy bị bắt lính thôi. Ở miền Nam này ai không bị bắt lính. Anh ấy tốt lắm. Tôi không thể để ảnh ăn ngủ ngoài đường được.
– Thế bà không còn thương tôi à?
– Em thương anh.
– Bà cũng yêu ông ta à?
– Em cũng thương anh Thân.
– Vậy thì bà tự giải quyết đi. Tôi cũng đi đây!
Vậy là ông xốc ba lô lên vai, đội mũ cối bước ra đường. Người đàn bà khóc lóc chạy theo lôi kéo ông lại.
Đêm hôm đó, hai vợ chồng nói chuyện với nhau rất lâu. Sáng hôm sau, ông Lộc nói:
– Thôi được, bà đi tìm anh ấy về. Ba chúng mình sống chung vậy.
Anh bạn tôi dừng lại, uống một hơi cạn cốc bia, khà ra có vẻ thú vị rồi tiếp:
– Từ đó, ba người sống bên nhau. Một người đàn ông là bộ đội về hưu, một người là thương phế binh nguỵ. Cả ba đều tóc bạc, đều ngoài 60 cả. Họ sống bằng tiền bà dành dụm được và bằng lương của ông Lộc. Trong nhà họ ở hai góc có hai chiếc giường đôi. Người đàn bà cứ mỗi đêm qua nằm với một ông. Phải nói, họ cũng đã già nên cái “khoản kia” không cần lắm, vì thế mà ít xảy ra sự ghen tuông! Nhưng nói ít không có nghĩa là không có. Một hôm, người thương phế binh đi đến nhà bạn chơi, trở về. Vừa bước vào cửa thì thấy bên bàn ăn, ông Lộc và bà đang gục vào nhau. Thế là ông bực tức, lọc cọc chống nạng bước ra đường mãi tới khuya mới về. Còn ông Lộc đã có lần hét lên “im, trật tự” khi đêm ấy nghe bên giường kia có tiếng hai người cười hưng hức…
Một hôm, ông Lộc đi họp tổ Đảng về thì nghe tiếng ông Thân khóc trong nhà. Ông bước vào, thấy bà nằm trên giường, còn ông Thân đang ôm bà khóc nức nở. Ông Thân cho biết bà vừa đi chợ về tới nhà thì ngã ra chết. Bà xưa nay vốn bị huyết áp cao. Thế là ông Lộc cũng cúi xuống ôm bà khóc. Hai ông ôm hai bên người bà và khóc òa như hai đứa trẻ khóc mẹ.
Sau cái chết của người vợ, hai ông buồn bã rất lâu. Có những ngày, họ không nấu ăn, cứ mua rượu về ngồi bên nhau uống tràn. Một hôm, người thương phế binh nói:
– Thôi, trước tôi với anh cùng có bà ấy, ta ở với nhau, nay xin trả nhà cho anh, tôi đi. Tôi không muốn ăn bám vào đồng lương khốn khổ của anh.
– Sao anh lại nói thế?-Người bộ đội về hưu nói- Có bà ấy, ta sống với nhau còn được. Nay tôi với anh, hai thằng già độc thân thì chia lìa với nhau làm gì. Vả lại, anh không có bà con thân cận gì, tôi cũng chẳng còn ai…Ta sống nương tựa với nhau chứ.
Có những hôm, hai ông uống rượu say rồi ôm nhau ngủ chung một giường. Khuya, họ tỉnh dậy, pha trà ngồi uống với nhau. Người thương phế binh nói:
– Trước vì yêu bả tôi mới ở lại đây chứ tôi sợ anh trả thù lắm. Chúng tôi đã cầm súng bắn lại anh, bắn lại cách mạng…
– Anh hiểu sai rồi, hèn gì anh cứ nhìn tôi vẻ nghi ngại. Cách mạng biết phân biệt phải trái lắm chứ…
– Còn tình yêu? Anh có giận khi anh đi cách mạng, tôi lại lấy vợ anh?
Người bộ đội về hưu im lặng một lúc rồi nói:
– Có! Lúc đầu tôi căm thù anh về chuyện này lắm. Nhưng tôi biết trong lúc tôi đi vắng, anh lo cho vợ con tôi. Nghĩa là gia đình tôi phải mang ơn anh. Còn nữa, anh yêu vợ tôi, vợ tôi yêu anh, tôi lại yêu vợ tôi. Vậy là ba chúng ta có thương mến với nhau rồi. Vả lại, chúng ta cũng đã già sống với nhau vì cái nghĩa thôi…
Anh bạn tôi đang kể thì dừng lại đưa tay chỉ một người già đang chống gậy đi bên kia đường:
– Đó, ông bạn già bộ đội của tôi – Anh gọi với sang bên kia đường – Này cụ Lộc ơi, sang đây làm với tụi này cốc bia.
Một người tóc bạc trắng, gầy, khuôn mặt khắc khổ chống gậy đến bên chúng tôi. Anh Phúc rút một chiếc ghế nhỏ bên cạnh mời:
– Cụ ngồi xuống đây.
– Chào hai anh-Cụ già nói rồi ngồi xuống ghế.
– Anh này là nhà văn, bạn cháu – Anh Phúc giới thiệu – Còn đây là cụ Lộc mà tôi vừa kể chuyện anh nghe.
– Thôi, thôi – Cụ già cười, xoa tay – Lôi chuyện riêng tụi tôi ra làm gì.
– Chuyện hay lắm-Tôi xen vào – Cháu sẽ viết.
Ông già nhìn tôi, vẻ hốt hoảng:
– Ấy chết, đừng viết, đừng viết…
Ông nói xong, cầm cốc bia uống một hơi rồi đứng dậy:
– Cảm ơn hai anh. Tôi phải đi mua thuốc cho anh Thân đây. Ảnh ốm hai hôm nay rồi. Lúc nào rảnh mời hai anh đến nhà tôi chơi.
*
* *
Một buổi sáng chủ nhật, anh Phúc gọi điện cho tôi:
– Cậu đến tớ, tớ sẽ dẫn cậu đến nhà ông cụ Lộc chơi.
Nhà ông cụ ở trong một ngõ hẻm. Chúng tôi phải lách qua những quán xá mọc lên nhan nhản giữa thời kỳ mở cửa mới đến nhà ông được. Đó là một căn nhà đơn sơ, chung quanh bện giấy dầu, trên mái lợp tôn. Từ cửa nhìn vào, thấy trong nhà tối om. Khi nghe tiếng chúng tôi gọi, ông Lộc mới “ới” và bật điện lên. Tức thì, trước mắt chúng tôi hiện ra một căn phòng chừng 36m2 . Trong phòng có một cái bàn gỗ đã cũ, chắc là bàn ăn, bàn nước, một cái tủ như kiểu tủ tài liệu. Một cái chạn bát. Hai bên vách là hai chiếc giường đôi. Trên một chiếc giường, có một người đang nằm đắp chăn. Đó là người thương phế binh.
– Anh ấy ốm nặng mấy hôm nay.
Tôi đến bên giường người bệnh. Một khuôn mặt héo quắt, vàng ệch nhăn nhúm hiện ra. Có mùi khai bốc lên…
– Anh ấy ăn, tiểu một chỗ, đi lại không được – Ông Lộc nói.
Người bệnh lúc này thức dậy sau giấc ngủ thiếp, mở mắt ra nhìn chúng tôi, nói nho nhỏ:
– Chào hai chú.
Ông ta định nhổm dậy nhưng tôi đỡ ông nằm xuống:
– Bác cứ nằm nghỉ.
– Khổ quá, tôi không làm gì được, đã ăn bám ảnh lại bị đau bắt ảnh chăm sóc-Người bệnh rên rỉ.
– Trong nhà với nhau mà anh nói chi lạ vậy – Ông Lộc nói.
– Tui nói cứ để tui chết-Người thương phế binh nói-Ảnh lại mời bác sĩ khám bệnh, mua thuốc men cho tui, tiền không có mà mua…
– Anh em với nhau cả, tui đau hay anh đau người kia đều cũng phải lo cả-Người bộ đội về hưu nói.
– Anh cứ để tui nói cho hai chú nghe. Ảnh cho tui ăn cháo thịt còn ảnh thì ăn rau mắm…
– Thôi đi anh, cái chuyện thỏn mỏn mà cũng nói.
Người bệnh vẫn chưa chịu nằm yên, còn hổn hển nói:
– Có ảnh, tui mới hiểu mấy anh, mới hiểu cách mạng, tui…tui…
– Thôi đi anh. Anh mệt rồi, nằm nghỉ đi-Người bộ đội về hưu phẩy tay nói quyết liệt rồi quay sang tôi và anh Phúc – Hai chú đừng nghe ảnh nói, ta lại bàn uống nước đi…
Đà Nẵng, 6-1996
NHỮNG NGƯỜI CON CỦA GÒ NỔI
Mấy chiếc xe cứ ủi qua ủi lại cái bờ tre giữa đồng rồi bỗng chốc, như vượt được chướng ngại, chúng hối hả lao vào những bãi bói ở cuối xóm. Tiếng xe ầm ầm ì ì, mỗi lúc một gần, như chọc tức Kỳ. Cô đứng trên vọng lâu1 , nghĩ phát khóc. Mìn của mình quá ít, lại gài trật hướng mất. Cũng tại con Bốn, con Tám. Tụi nó đoán răng chúng cũng cày thôn Hai trước nên gài ở đó mới chắc ăn. Chừ thì trật lấc. Tự nhiên, từ Điện Hồng, xe chúng ùa xuống cày ngay thôn Ba. Nghĩ có tức không? Từ vọng lâu, Kỳ ngó xuống, thấy con Bốn, con Tám bặm môi ngó lên. Chốc chốc con Tám lại hỏi:
– Nó cày tới mô rồi chị Sáu?
– Tới mô kệ cha nó. Hỏi hoài. Tại mấy bà đó – Kỳ tức quá, la lên.
Con Bốn cũng chẳng chịu thua:
– Bà nói tui sôi máu quá. Tại chi tụi tui. Thì không phải tập thể bàn răng? Anh Chức đi họp vắng, bà muốn làm trời hả?
Tự nhiên xảy ra chuyện bất hòa. Kỳ và Bốn vốn thân nhau từ ngày còn chăn trâu. Hàng ngày sau khi thả trâu rông ngoài đồng, hai đứa thường rủ nhau đến cây đa Bàn Lãnh ngồi chơi. Hồi đó, xã giải phóng, có nhiều chuyện vui lắm: đánh trống nè, hát mì la son nè. Đến năm 1969, cây đa Bàn Lãnh bị chúng cày mất, cả hai cô đều bị chúng lùa xuống khu dồn Điện Tân. Từ đó, họ lại sống sướng, khổ có nhau. Kỳ thương Bốn ghê lắm. Kỳ mất cha nhưng còn mẹ. Cha mẹ Bốn đều bị Mỹ giết cả. Bây chừ, hắn ở với ông chú, ổng sai hắn làm miết, tội ghê. Hễ có cái chi ngon, Kỳ cũng để phần đem cho hắn. Hai đứa đi đâu cũng có nhau. Một hôm, đang đào khoai, hai đứa nghe tiếng sột soạt. Cả hai sợ thất kinh. Ở đấy, sau trận địch càn quét năm ngoái, họ đồn có nhiều ma lắm. Mà cả hai đứa đều sợ ma, nên căng mắt nhìn tới trước, tim giật thon thót. Bỗng Kỳ nghe trên đầu mình “cốc” một tiếng. Thì ra anh Chức quành phía sau, ảnh đến. Ảnh ngồi xuống một tảng đá, quấn điếu thuốc to bự châm hút một chặp rồi mới nói. Ảnh nói lâu lắm. Ảnh nói tại sao cha hai đứa bị chết, tại sao mình khổ, rồi ảnh biểu hai đứa theo ảnh làm cách mạng để trả thù. Hôm ấy, trên đường về họ bàn tính hung. Kỳ cứ thấy bụng nôn nao. Cô ăn cơm chẳng thấy ngon. Mẹ Kỳ nhìn Kỳ trân trân. Cô lại giả nhai ngon lành. Nói cho cả nhà biết làm chi? Ăn xong, Kỳ nhảy cái phốc sang nhà Bốn. Nhà Bốn gần cổng khu dồn mà. Hai cô rình miết tên dân vệ đang gác. Tới khuya, khi thấy hắn ngủ gà ngủ gật, Kỳ nhảy ra bóp cổ, lấy khăn nhét miệng hắn, ném một miếng giấy viết sẵn xuống người hắn: “Du kích trừng trị”. Đồng bọn hắn thì lo đánh bài, biết chi? Bốn lấy khẩu AR 15 ném xuống bàu, rồi hai cô về nhà ngủ. Chuyện êm ro. Mấy hôm sau, đi cắt cỏ, hai cô gánh súng lên cho anh Chức.
Những năm ấy, du kích sống khổ lắm. Dân chẳng có. Ngày ngày, ba anh em phải đào củ chuối nấu ăn rồi chia nhau bám địch. Vậy mà vui ghê. Kỳ và Bốn lúc nào cũng xoắn lấy nhau. Có lần anh Chức nói:
– Du kích chi mà phân công cứ đòi đi chung. Hai đứa bay ngó bộ sau này chẳng chịu đi lấy chồng, sống với nhau như rứa hoài chắc.
– Chắc rứa anh – Hai cô cùng cười.
Một hôm, anh Chức từ huyện chạy xồng xộc về, dựng cây súng M79 cái đụi vô vách, chẳng kịp lau mồ hôi, ảnh kể chuyện ào ào. Tính ảnh nóng như lửa. Ảnh nói, trong cuộc họp Huyện đội chiều ni, khi bàn đánh ca nô ai cũng biểu không có mìn, ảnh tức khí, đứng dậy nói:
– Đánh giặc mà cứ than vãn, thôi về giặt quần cho vợ.
Mấy ông Xã đội khác tức quá. Mấy ông biểu ông Chức giỏi thì giao cho ổng. Anh Chức nào chịu thua. Ảnh nhận luôn. Nghe ảnh kể, các cô cười ồ lên. Nhưng rồi, đột nhiên, Kỳ hỏi:
– Rứa mình đánh cách răng anh?
– Khó chi các “chú”…nè.
Anh Chức nói nhỏ với hai cô. Ảnh có tính kêu ai nhỏ hơn cũng bằng chú dù họ nam hay nữ. Sáng hôm sau, anh Chức lo cưa pháo lép, còn hai cô lo tìm lon đậu nành. Hồi đó, bọn địch ăn đậu nành rồi vứt lon lăn lóc khắp mọi nơi. Về đến nhà, anh Chức biểu hai cô giã thuốc. Mỗi cô giã mới có mấy chày đã la mệt. Hai cô nhìn nhau, mặt đen thui bụi thuốc.
Chiều hôm ấy, anh Chức biểu hai cô ra đào công sự ở gần cầu Kỳ Lam. Tối đến, họ chia nhau mang thủ pháo ra. Thủ pháo nặng quá chừng. Các cô lo ném không được xa. Anh Chức cười:
– Lo chi các “chú”. Ca nô nó đậu sát bờ. Tui biểu lăn là các “chú” ùm xuống nghe.
Vậy mà hôm đó, ba anh em chơi ngon hai chiếc ca nô.
Tổ lại có thêm con Tám. Hôm ấy, bên cạnh du kích có bà con ở khu dồn bung về cắm cờ. Bọn địch cứ xông tới lấn đất. Bom pháo chúng trút tứ tung, chẳng may cha mẹ con Tám bị pháo bắn trúng. Kỳ gặp nó ngồi khóc bên xác cha mẹ. Kỳ an ủi nó rồi cả hai chị em đào huyệt chôn. Từ lúc Kỳ tới đến lúc chôn xong, nó chỉ lẳng lặng làm theo, không nói không rằng. Mắt nó ngó Kỳ trân trân. Kỳ dắt nó đi, nó lủi thủi đi theo. Người nó ốm, nhỏ xíu xiu, ghẻ lở đầy người. Kỳ đem nó về nuôi. Chừ trông nó cũng dễ thương. Bữa tê, bộ đội huyện phối hợp cùng du kích đánh khu dồn Điện Phước, nó được phân công chèo ghe, đưa thương binh qua sông về đội phẫu thuật bên này. Chờ lâu lâu không thấy thương binh ra, nghe súng giòn giã quá, nó bỏ ghe chạy ào vô cùng bộ đội thu vũ khí. Nó say việc quá quên hết mọi chuyện. Khi anh Chức cáng thương binh ra, gọi Tám ơi Tám hỡi chẳng thấy nó ở mô. Ảnh càu nhàu đưa thương binh đi. Hôm đó về nhà anh Chức la nó. Nó ngồi khóc ti tỉ. Tối, nó đến bên anh Chức thút thít:
– Rứa em có bị bắn không?
– Ai bắn?
– Anh bắn.
– Răng rứa?
Nó lại khóc hu hu. Nó biểu lúc nó ở khu dồn nghe bọn lính nói bên cách mạng ai vi phạm kỷ luật sẽ bị chỉ huy bắn. Anh Chức được thể nói giỡn luôn:
– Ai sai cũng phải bắn, nhưng lần ni lỡ thì thôi, mà phải sửa chữa nghe.
Nó dạ một tiếng ngập ngừng. Hình như trong lúc ngủ, nó vẫn thút thít.
Bốn anh em sống êm ru như vậy, không xảy ra chuyện chi. Vậy mà giờ đây…
Kỳ bước xuống vọng lâu chẳng thèm nhìn Bốn và Tám, hai đứa thấy Kỳ quàu quạu càng thêm tức. Bốn lẩm bẩm vô tai Tám:
– Nó khùng đó mi. Không biết răng từ hôm anh Chức đi vắng, địch cày đến nay, nó cứ như phát khùng.
– Khùng à, chết tiệt tụi bay, cứ nói bậy-Kỳ đang vẽ vẽ trên đất, quay lại nạt.
Họ bắt đầu ngấm nguýt nhau. Chiều hôm ấy, ba ông táo ngồi buồn thiu. Chẳng đứa mô chịu nấu cơm. Ai muốn ăn thì nấu, chẳng ai phải hầu ai. Mỗi đứa cứ nằm co ro một góc, chẳng ai nói với ai. Dễ thường như mọi ngày đã là cái chợ nhỏ rồi. Có lần, mấy anh Huyện đội nói anh Chức khéo lập ra cái chợ đông ghê. Nghe cũng tức nhưng mà vui. Kỳ nằm im một lúc thấy nóng bức trong người quá chừng. Gió sông Thu Bồn thổi rào rào. Cô dậy đi lần ra phía bờ sông. Gió thổi lồng lộng. Đầu óc cô khoan khoái đôi chút. Cô hít một hơi dài, rồi một hơi nữa…
*
* *
Thực ra, chuyện xảy ra cũng chẳng phải tại Kỳ, tại Bốn hay Tám mà tại cái ông Bảy Huyện đội. Ác nhơn thiệt. Ổng vốn người trong xã, đi làm trợ lý của Huyện đội mà chẳng nghĩ gì đến xã. Vậy mà ổng xuống đây ngày một. Có lần ổng còn “hỏi ý kiến” Kỳ nữa. Kỳ nói Kỳ lo đánh giặc đã. Chuyện chỉ có hai người với nhau, chẳng hiểu làm sao con Tám rình nghe được. Nó rỉ tai người này người nọ thành ra lộ tuốt luốt. Có phải do vậy không mà ông Bảy “thù dai” Kỳ…
Mới hôm tê, ổng đem mấy quả mìn bố trí ở thôn Ba. Gài ở chỗ đó chắc trúng. Ổng nói ổng có tài bắt quyết như Tề Thiên đại thánh, ổng ngồi ở vọng lâu này, bô bô:
– Xe sẽ vô Cống Vực nè, đầu cầu Diêm Sơn nè.
– Trật lất – Kỳ cãi lại. Chẳng hiểu sao từ hôm bị con Tám “tuyên truyền”, gặp ông Bảy ở đâu Kỳ cũng hứ cũng hừ.
– Thiệt đó mà, rồi Kỳ coi – Ông Bảy lại nói.
Vậy mà ổng nói trúng phóc luôn.
Kỳ hỏi sao ổng đoán trúng. Ổng chỉ cười:
– Tui có tài bắt quyết mà.
Sáng hôm qua, Kỳ lên hỏi ổng chỗ gài mìn. Ổng chỉ nói thiên nói địa rồi cười cười chẳng chỉ cho. (Kỳ về bàn với Bốn và Tám tự đoán hướng mà gài nên mới trật lấc đó). Kỳ hỏi xin ít kíp mìn, ổng cũng chẳng cho. Kỳ đứng dậy ra về, chẳng nói chẳng rằng, ghét mặt.
– Thôi mấy cô về mà cưới chồng, đánh chác chi cho chết già – ông Bảy nói với theo.
Kỳ lườm lại rồi đi thẳng. Cô chẳng về đội du kích. Cô băng đồng chạy một hơi sang Điện Quang. Ở đó, ông chú họ cô cũng biết làm mìn như anh Chức, may ra cô xin được gì không. Đến nơi, ông chú mừng rỡ, rót nước rồi nói:
– Đi mô rứa con?
Kỳ im lặng. Cô đi sục sạo khắp nhà. Chợt thấy đống mìn mới tinh, cô la lên:
– Chú có kíp nổ cho con mấy cái, con bắt chước anh Chức làm mấy quả mìn. Nhìn xe nó chạy nhông nhông tức quá!
– Không có. Thằng Mỹ đi, bom pháo lép cũng hết. Hôm nay, anh Bảy mới gởi mìn xuống đó. Lâu nay, tao có làm mìn chi mô, không có kíp.
Ông im lặng, nhìn sát mặt Kỳ, cười cười:
– Bộ mi muốn xin gian thêm hả Kỳ? Anh Bảy làm răng mà chẳng gởi cho mi nhiều hơn tao. Sắp tới, nghe nói có trận hợp đồng đánh phá kế hoạch lập khu dồn mới của địch.
Ông nói rồi cười hơ hớ. Chắc ý ổng ám chỉ chuyện anh Bảy hỏi “ý kiến”. Kỳ lườm ông chú, tức hung. Cô xách mũ ra đi. Ông chú kêu mãi cô cũng chẳng quay lại.
Kỳ ngồi mãi bên bờ sông Thu Bồn. Sương đêm lành lạnh. Đêm tối, sông Thu Bồn vắng ngắt. Cô bỗng thấy thương con sông kỳ lạ. Hồi nhỏ, có đêm nào Kỳ không ra sông tắm. Ngày ấy, mẹ cô hay dặn:
– Tắm chỗ cạn cạn đó con. Mày ra xa lỡ sụp nước không ai kịp vớt đâu nghe.
Chừ đây, sông cạn nhiều. Vậy mà, đối với Kỳ, con sông vẫn cứ sâu thăm thẳm. Có phải con sông cũng sâu miết như lòng người, Kỳ làm sao hiểu hết được…Tự nhiên, cô thấy nhớ anh Chức ghê. Cô mong ảnh về quá. Không biết các ông Công binh Tỉnh giữ anh Chức chi lâu vậy. Có ảnh, bọn Kỳ đỡ bao nhiêu…
Cô rẽ mấy bụi bói lần về nhà thì thấy anh Chức ngồi giữa nhà nói bô bô. Ảnh vừa mang về cả một đống mìn mới tinh lại có cả pháo phóng và kíp nổ nữa. Kỳ mừng quá. Tự nhiên, quên chuyện cãi nhau, cô nói:
– Sắp bay nấu cơm cho anh Chức ăn chưa?
– Rồi. Bọn tui chờ bà miết. Bà đi mô rứa? – Con Bốn làu bàu.
Kỳ ngượng ngùng. Cô lảng sang chuyện khác:
– Mìn ở đâu mà nhiều quá, giống ở xưởng huyện ghê?
– Thì ở huyện chớ ở mô. Tao đi về, ghé huyện, anh Bảy cho tao lãnh đấy.
– Ứ, ông Bảy mà cho mìn à? Ổng keo như cứt sắt-Kỳ nói bụng còn ấm ức.
Vừa lúc ấy, một bóng người cao to, cặm cụi đi vào. Con Tám la lên:
– Anh Bảy?
Kỳ ngẩng mặt lên, gặp mắt anh Bảy cười cười. Cô ngó xuống.
– Răng Kỳ, cô còn biểu tôi ác không?-Anh Bảy hỏi.
– Ác chết cha chớ không ác?-Kỳ nói, trong lòng đã thấy nguôi nguôi.
Trong khi họ nói chuyện, con Tám cứ thậm thụt dưới bếp. Nó hết nhìn anh Bảy lại nhìn Kỳ, cười hí hí. Kỳ lườm nó một cái, nó phát cười to. Anh Chức cũng đâm tức cười. Anh biết hết rồi mà. Bỗng mặt anh đổi nghiêm đột ngột:
– Thôi cười chi cười miết vậy Tám. Lo nấu cơm vắt, chuẩn bị cho ngày mai đi.
Anh Chức, anh Bảy, Kỳ, Bốn bắt đầu thảo luận kế hoạch trận đánh. Anh Chức nói:
– Theo trên nhận định thì chúng sẽ cày tiếp xã ta, hòng đưa dân Đà Nẵng về và lùa dân Điện Tân ra lập khu dồn mới. Trên đặt vấn đề phải phá ngay âm mưu này.
Anh Bảy đang ngồi trên cái băng bằng tre, nhảy ngay xuống nền đất. Ảnh biểu mọi người chụm lại, ảnh vẽ vẽ trên đất, bày kế hoạch gài mìn trong đêm nay…
*
* *
Kỳ đứng trên vọng lâu thiệt sớm. Bốn và Tám lại đứng dưới chóc ngóc nhìn lên như mọi bữa. Thực ra, họ chẳng cần phải canh sớm như vậy. Nhưng vì hồi hộp quá, họ phải ăn cơm sớm rồi ra vọng lâu quan sát. Hôm nay, Kỳ nhìn cái chi cũng thấy vui. Cô thấy sao xã cô rộng quá, dài quá. Bàn chân cô đã đi qua đi lại vùng đất ni nhiều lần mà lúc mô cô cũng thấy mới mẻ. Quê cô đó, ngày xưa ngút ngàn bãi dâu. Một con đường làng thênh thang chạy giữa những bờ tre, những vườn cam, những vườn mãng cầu sum suê, trĩu quả. Tiếng thoi đưa lách cách như không bao giờ ngừng. Cô nghe quen miết, hình như thiếu thứ tiếng ấy thì không còn làng quê cô nữa. Vậy mà…bây chừ…chỉ còn những trảng cỏ tranh và những bãi bói… Kỳ nhìn miết, nhìn miết mà chẳng thấy xe chạy ra. Có thể hôm nay chúng chẳng cày. Chúng biết được ý đồ của mình hay sao mà mọi hôm cày sớm, hôm nay lại chậm rì rì vậy. Chúng cứ nằm ì ở phía Điện Hồng. Trông xa, chúng càng giống những nấm mồ đen sì, gớm chết. Kỳ lại chong mắt lên, nhìn. Sao mày không ù máy, cày đi, tao thử xem mìn có trúng không? Kỳ nhìn hoài, nhìn hoài, chẳng biết anh Bảy đang lụi cụi chạy đến bên dưới.
Anh Bảy gọi với lên hỏi:
– Có đứa mô giấu mũ tao không?
Nghe ảnh hỏi, Kỳ bắt tức cười. Hồi sáng thấy ảnh bỏ quên mũ, mũ Kỳ lại đâu mất, cô quơ ào, đội luôn. Chừ nghe ảnh hỏi, cô vội vàng giở mũ ra, giấu kín rồi nói vọng xuống, giọng cà rỡn:
– Ai biết mô mà hỏi?
– Rứa sao mất?
Kỳ cười rúc rích:
– Chuột tha đấy?
– Mau trả đây.
– Hổng biết?
Anh Bảy bị đùa dai, chạy lụi đụi vô nhà tìm rồi chạy ra:
– Trả mau đi…
– Hổng biết?
Kỳ cười một tràng dài rồi ném cái mũ xuống cho anh Bảy. Anh Bảy chẳng đội ngay. Ảnh cắp chiếc mũ vào nách chạy…
Kỳ lại cười giòn giã. Tiếng cười dễ lây. Con Tám được thể bấm con Bốn cười rúc rích. Bỗng nhiên, Kỳ nín bặt. Hình như xe đã chạy. Một đàn xe như đàn bọ hung chia mấy cánh hổn hển chạy về phía Đông Bàn. Kỳ mừng quýnh. Chân cô run run. Cô phải cầm chặt cái nấc thang. Cô thấy cái thang cứ chòng chành chòng chành như muốn bay lên. Giá như ở dưới đấy cô sẽ ôm con Tám nhảy điệu “mì la son” như mấy năm trước. Tiếng xe mỗi lúc một gần. Con Tám đứng dưới cứ nhấp nha nhấp nhổm. Mấy lần, nó muốn leo lên, bị Kỳ la, nó đứng ngóng lên, ngó tội nghiệp:
– Xe ù gần rồi hả chị Sáu?
– Ù gần rồi – Kỳ trả lời.
Con Tám có tính gọi xe chạy là xe ù.
– Ù hướng mô chị Sáu?
– Ù hướng Cây Táo.
– Trúng rồi – Tám vỗ tay đốp đốp.
Kỳ lại nghiêng tai nghe, nói vọng xuống:
– Lại có tiếng xe ù nữa nghe!
– Ù hướng mô, chị Sáu?
– Ù hướng xóm Bàu.
– Trúng rồi – Con Tám vừa vỗ tay đốp đốp vừa nhảy cẫng lên.
Giữa lúc ấy, anh Bảy quay lại. Ảnh cũng đứng chóc ngóc nhìn lên phía Kỳ. Cái mũ cắp nách rơi lúc nào không hay. Miệng há hốc lên nghe Kỳ nói. Bỗng nhiên, xô con Tám ra, ảnh vội vã leo lên vọng lâu. Người ảnh to khoẻ, làm hai cây thang rung bần bật như sắp gãy:
– Ồ! Gãy thang ông ơi!- Kỳ nói.
– Cho mình coi chút mà – Anh Bảy xin Kỳ. Nói vậy nhưng Kỳ cũng nhường một chỗ cho anh. Hai người đứng song song, nhìn ra xa sau những bãi bói.
– Ù hướng cây đa Bàn Lãnh nữa nghe – Kỳ lại nói.
– Trời ơi, trời ơi, trúng rồi – Con Tám không kìm được nữa, nó nhảy tâng tâng, tay hoa hoa như múa.
Hình như cùng một lúc, ba tiếng mìn nổ vang. Ba chiếc xe cày bật tung lên. Mấy chiếc xe đi sau lật đật lùi lại, rồi cùng tụm ở một góc. Tiếng động cơ của nó cứ hừ hữ như con thú hấp hối. Kỳ và Bảy nhảy nhanh xuống thang. Kỳ ngã một cái xuống đất, dập môi vô gốc thang.
Vừa lúc đó, một tràng pháo chùm phóng vào nơi xe chúng tập trung.
– Anh Chức phóng rồi! – Tất cả reo lên.
Tổ du kích chạy ào về phía xe cháy và đạn nổ. Bọn bộ binh địch đi theo xe và bọn trên xe bắt đầu vọt ra chạy. Kỳ lao theo. Quất một loạt AK. Cô nghe chúng la oai oái. Cô phang một loạt nữa vào mấy thằng đang lúng túng trong lùm bói. Một viên đạn bay víu dưới chân cô. Kỳ nhìn xuống, chỉ sướt da, chẳng hề chi. Cô cắm cúi đuổi theo. Vừa lúc ấy, cô nghe tiếng lạch bạch ở phía sau. Cô quay lại. Con Tám vừa chạy vừa thở. Nó chạy chậm quá. Người nó ngắn ngủn, chìm trong cỏ. Vừa chạy, nó vừa khóc:
– Mấy chị đuổi nó chạy tuốt luốt làm sao em bắn!
Nghe nó nói, Kỳ muốn cười quá. Tội nghiệp con nhỏ. Ai biểu mầy lùn dữ vậy. Chợt Kỳ nghe một tiếng nổ ở phía bên trái. Một tiếng thét trong bụi bói. Chà, thằng giặc nào hoảng hồn vô nằm đấy. Không quay lại, Kỳ cũng biết phát súng đó là của con Tám. Chừ nó chạy sát Kỳ rồi. Kỳ nghe cả tiếng thở hổn hển của nó. Kỳ liếc nhìn phía bên phải, con Bốn và anh Bảy cũng đang chạy ào ào tới. Thứ giặc chi mới động cái đã chạy mất dạng, mình đuổi phát mệt. Chúng chạy gần tới đầu cầu Kỳ Lam rồi. Kỳ chạy gấp. Cô vấp bụi cỏ ngã cái ự. Khi nhỏm dậy, cô nghe tiếng nổ của đạn AK và thủ pháo của du kích Điện Quang từ phía ấy đánh ập lại. Tụi địch ùa về phía Nam. Kỳ vuốt vuốt mồ hôi trên mặt, rồi quay hướng, nhảy vòng qua một bãi lầy, chặn đầu. Ai ngờ, khi cô còn cách khá xa, du kích Điện Tân ở phía ấy lại đánh xốc tới diệt luôn những thằng cuối cùng.
Chiều xuống chầm chậm. Đột nhiên, Kỳ thấy khát quá chừng. Ngày hôm nay Kỳ có ăn uống chi mô. Nắm cơm buộc theo rớt lúc nào không biết. Cô đi về phía bàu sen, nơi trước đây bà con đào lấy nước tưới đồng Bàn Lãnh, Bảo An, vốc nước uống ừng ực. Cơn khát ghê gớm làm Kỳ cứ tưởng cô sẽ uống một hơi cạn cả bàu nước này. Cô ngẩng lên, định gác khẩu súng trên bờ, gội mái tóc đang lấm bùn bê bết, chợt thấy anh Bảy. Ảnh đang đứng trên bờ bên kia, vai mang mấy khẩu M79, miệng mỉm cười, đưa tay ngoắt ngoắt:
– Này, Kỳ biết không, bữa ni ta diệt 5 xe với 30 tên nghen. Du kích vùng Gò Nổi mình đánh bọn lấn chiếm ngon quá.-Anh ấy ngập ngừng một chút, giọng tự nhiên khản đặc lại-Bây giờ ta cùng về đi Kỳ…
Kỳ nín thinh. Hình như lúc ấy trăng đã lên ở phía đầu cầu Kỳ Lam.
Điện Bàn, 5-1974
BỊ BẮT ĐÊM BA MƯƠI TẾT
Vào giữa đêm 30 tết năm ấy, tôi bị một tay dân vệ đuổi bắt… -Anh Thả, một cán bộ cao cấp đã về hưu, tóc bạc trắng, có một vết sẹo ở má phải kể cho tôi nghe câu chuyện của anh – Chắc anh cũng biết, vào khoảng cuối năm 55 đầu 56, bọn địch thực hiện “diệt cán trừ cộng” rất ác liệt. Nhiều đồng chí của ta bị bắt đi đày, bị thủ tiêu. Nhà tù mọc lên như nấm độc. Lúc ấy, tôi đang hoạt động ở vùng cát Duy Xuyên. Bà con rất tốt, nhưng vì địch hay vây ráp nên họ cũng ngại chứa chấp mình. Tôi đi đến đâu, bà con cũng nói:
– Tôi thương anh lắm, thương cách mạng lắm nhưng tụi nó khám xét nhà luôn, mong anh thông cảm.
Cuối cùng, tôi bắt mối với gia đình bác Hai, một hội viên Nông hội hồi kháng chiến. Bác để tôi ở trong buồng, ngày ngày tự mình ngồi gác bên ngoài. Một hôm, chẳng rõ do kẻ nào chỉ điểm, bọn dân vệ hùng hổ đến khám nhà. May quá, hôm đó do linh tính mách bảo thế nào mà lúc gần sáng, bác kêu tôi dậy nói:
– Tôi có cảm giác tụi nó sẽ đánh hơi đến đây. Tôi có một cái hầm bí mật dưới chòm rau muống biển ở ngoài nỗng cát, anh ra ở tạm.
Thế là, từ đó, cứ gần sáng là bác dẫn tôi ra hầm bí mật, nửa đêm thấy tình hình yên yên, bác đưa tôi vào nhà ăn uống và “hít thở không khí cho thoáng đãng” như bác vẫn nói. Có lúc, tình hình ngặt nghèo tôi phải nằm hầm suốt vài ngày. Dưới lòng cát, nóng và mệt nhiều khi muốn lả. Tôi ăn gạo rang và uống nước chai bác chuẩn bị cho. Nói vậy, chứ những lúc ấy hiếm xảy ra.
Đêm 30 tết năm ấy, chờ mãi vẫn chưa thấy bác ra. Tôi đội nắp hầm nhô đầu quan sát, thấy êm ả, tôi lên trên miệng hầm. Đêm tối đen như mực. Mặc dù 30 tết nhưng xóm làng vẫn có vẻ im ắng, chỉ nghe xa xa, đâu đó, có lẽ ở nhà của bọn ác ôn và trụ sở Hội đồng của chúng là có tiếng la ó. Hẳn chúng đang nhậu nhẹt hay sát phạt nhau trong sòng bạc. Tôi quyết định vào nhà bác Hai, không cần đợi bác ra đón. Nhưng vừa bước được vài bước, tôi cảm giác có ai đó đi theo sau lưng mình. Tôi nghe “hắn” thở gấp, chân “hắn” lướt nhẹ trên cát. Địch rồi ! Linh tính báo với tôi như vậy. Tôi vội rẽ sang bên, không vào làng nữa, mà hướng về động cát bên cạnh, phóng chạy. Tên địch vẫn bám sát sau tôi. Tôi cứ chạy ngoắt ngoéo thế mà hắn có vẻ thạo hơn, lúc nào cũng đón được ý tôi để bám theo. Tôi chạy tạt ra mé biển, mong có chiếc thuyền nào đó sẽ nhảy lên chèo đi. Nhưng tên địch nhanh trí hơn, hắn đứng chặn ngay trước mặt tôi. Quái lạ, sao hắn không la to cho đồng bọn đi tuần xúm đến bắt tôi hay hắn nổ súng bắn tôi ? Vừa nghĩ tôi vừa chạy liều về hướng làng, may ra có gia dình nào cứu mình…
– Đứng lại, không được vô làng-Tên địch nói nho nhỏ bên tôi.
Hắn nhảy vọt tới chộp tay tôi, nhưng tôi né người, quay ngược lại, chạy chữ chi trên động cát. Cát lún làm chân tôi mỏi rã rời, mồ hôi ướt đẫm như tắm. Tôi mệt quá, muốn ngồi phịch xuống cho hắn làm gì thì làm. Tự nhiên, trong óc tôi hiện ra hình ảnh đồng chí Ngọc và đồng chí Sổ, hai đồng chí được Tỉnh uỷ phân công cùng tôi đứng ở vùng này. Cả hai đồng chí đều bị bắt, chẳng rõ bây giờ ra sao. Nếu tôi cũng bị bắt nữa thì phong trào ở đây ai lãnh đạo? Nghĩ thế, tôi cố bươn lên. Nhưng ngay lúc ấy, tôi ngã nhào xuống vì vấp một dây rau muống biển. Tên địch nhảy tới, chụp lấy vai tôi cười vui sướng:
– Bắt được rồi, vậy chớ-Hắn nói.
Biết là bị địch bắt rồi, nhưng tôi giả vờ nói cứng:
– Tôi là dân đi đường, anh là ai mà bắt tôi ?
– Dân vệ đây! Tôi theo dõi dấu chân trên cát của anh từ lâu rồi. Đêm nay, đêm 30 tết tôi mới quyết định bắt anh.
– Sao anh không la to cho đồng bọn xúm đến bắt tôi hay anh bắn tôi mà cứ đuổi theo miết vậy? Bộ anh định bắt sống để lấy thưởng à?
Anh ta im lặng một chút rồi nói khe khẽ:
– Này anh cách mạng, đúng anh là cách mạng rồi, đừng chối ! Tại sao trong xóm này anh rảo hết, trừ nhà tôi anh không tới, anh nghĩ tôi là dân vệ à?
– Nhà anh là nhà nào?
– Tám Cần đây.
– Đúng rồi, tôi tới để bị anh bắt à?
Anh ta cười khe khẽ:
– Vì thế hôm nay tôi quyết định bắt anh, để mời anh về nhà tôi ăn tết, để anh truyền đạt chủ trương của Đảng cho tôi làm theo. Từ ngày chúng tiếp quản, tôi không liên lạc được với cách mạng…Tụi nó bắt tôi vào dân vệ. Mọi người xa lánh. Tôi khổ tâm quá.-Anh ta dừng lại thở hổn hển rồi nói tiếp-Thôi, bây giờ anh về nhà tôi đi. Bà xã tôi đang dọn bánh mứt chờ đó.
Sửng sốt nhìn người dân vệ, tôi thở nhẹ, cảm thấy dễ chịu nhưng vẫn còn cảnh giác:
– Anh nói thật đấy chớ. Nếu anh cần bắt tôi để lấy thưởng thì làm đi…
Anh ta cúi sát vào mặt tôi, nói nho nhỏ:
– Đi đi đồng chí. Từ nay đồng chí vào nhà tôi ở cho tiện. Đi mau đi, kẻo lỡ gặp tụi dân vệ đi tuần…
Đó là câu chuyện tôi bị bắt đêm 30 tết năm ấy. Sau khi ăn tết tại nhà Tám Cần, tôi ở luôn đó, nhờ anh bắt mối với các cơ sở. Từ đó, phong trào cách mạng ở vùng này dần dần phát triển lên. Lập được Chi bộ ở đây rồi, tôi mới về Tỉnh. Mỗi lần nhớ lại cái đêm 30 tết năm ấy, tôi cứ rưng rưng nước mắt bởi lần đầu tiên tôi hiểu ra những điều to lớn, không thể nào diễn đạt nổi ở nhân dân…
Tháng 11-1992
MÙA MƯA
Mùa mưa đang sung sức. Những trận mưa cứ kéo dài hết ngày này sang ngày khác. Trên những sườn dốc cao khô nứt ngày nào, bất chợt có những con nước lớn ào xuống cuốn băng băng.
Đã hai mươi ngày liền, tôi cùng đi với Phê, nhân viên điện đài Phú Yên, ra Khu lãnh máy, quay về. Hai đứa tôi gặp nhau tại trạm Dốc Quế. Bây giờ thì đang ở trên đất Gia Lai. Con đường mùa mưa trơn lầy, đi lại vất vả, cõng hàng nặng, nhưng lương thực của hai đứa đã cạn. Mấy ngày một lần các trạm giao liên phát cho vài cân sắn tươi. Chúng tôi phải dừng lại, giã ra làm bánh như bánh tét mang theo. Số lương khô cũng hết. Mỗi đứa chỉ còn một ít muối ăn dè. Năm ấy, chiến khu đói muối. Đồng bào các dân tộc lại khổ hơn nữa. Bọn địch vừa thả chất độc để phá nương rẫy vừa chặn các vùng ranh không cho ta lấy muối lên. Trong khi đó, nhiều đoạn có suối lũ lớn, giao liên không chịu dẫn qua. Chúng tôi càng sốt ruột. Phê khoẻ, bơi giỏi, nên rủ tôi đi vượt trạm giao liên để kịp chiến dịch. Phê có một bạn quen ở đội sản xuất nam đường 19. Chúng tôi mong chóng đến đó để “nhờ” lương thực.
*
* *
Một buổi chiều, chúng tôi tới bờ Krông-Pa. Nước lũ dữ tợn phủ ngập những hàng cây đôi bờ, cuốn những thân gỗ lớn ầm ầm lao đi. Hai anh em đều bị sốt, sáng nay lại vượt quá cung đường nên cả hai cảm thấy cần phải căng tăng nghỉ lại.
Mưa vẫn đổ như thác. Gió điên cuồng giật đứt góc này đến góc khác chiếc tăng cũ. Nước tạt vào tung toé. Đã bốn giờ chiều rồi mà chúng tôi vẫn chưa nhóm lửa được. Phê rút ào mấy quai dép. Củi ướt. Nước mắt, nước mũi trào ra. Phê phồng má thổi mãi, ngọn lửa mới chịu bựt lên. Chúng tôi chỉ còn một chiếc bánh sắn. Tôi cùng Phê thay nhau giữ lửa và tìm thêm rau. Cả tiếng đồng hồ sau, hai anh em mới kiếm được nhúm môn dóc. Không hiểu sao ở rừng này lại ít rau quá. Muốn tìm một buôn làng để xin thêm thức độn, cũng không thấy nốt. Hai đứa tôi hì hục nấu canh môn dóc rồi vừa ngồi hơ lửa vừa húp xì xụp.
– Chả ăn thua gì sất. Bụng em cứ đói cồn đói cào. Phê nói.
– Mình cũng vậy. Tôi phụ họa.
Chúng tôi ngồi nhắc lại những bữa cơm ngon mà chúng tôi đã ăn từ hồi xửa hồi xưa. Phê người Hải Hưng. Cậu ta cứ khoe hoài thứ bánh gai làm tôi phát thèm. Chợt Phê mỉm cười. Cậu chạy lại phía ba lô. Tôi mừng thầm. Có lẽ, cậu ta nhớ lại món gì đã bỏ quên. Nhưng phê chỉ xách ra gói mì chính, trút một chút vào lòng bàn tay rồi đưa tôi:
– Ăn tạm, anh.
Tôi lắc đầu. Phê cũng lắc đầu. Tí mì chính không làm cậu ta hết đói.
Giữa lúc ấy, tôi nghe có tiếng bước chân người lội nước mỗi lúc một rõ dần. Hai đứa cùng ngửng mặt lên, nhìn chăm chú. Từ cánh rừng trước mặt đang lao xao trong mưa gió, một dáng người nho nhỏ hiện ra. Khi tới gần, chúng tôi thấy một chú bé khoảng mười ba tuổi. Người chú gầy teo, tóc xoắn, da sạm như bao em bé khác của Tây Nguyên. Đặc biệt, chú mặc một cái áo bộ đội cũ dài quá gối.
-Vào đây hơ lửa chú bé ơi! Tôi gọi.
– Mình phải về nhà thôi, mẹ mình đau.
Chú bé trả lời như vậy. Nhưng đã lại bên tăng chúng tôi. Bây giờ tôi mới thấy sau lưng chú có cái gùi lớn, chắc chẳng có gì trong đó nên chú đi rất nhẹ nhàng. Phê nhìn cái gùi trân trân làm chú bé bất giác như nhận ra điều gì:
– Bộ đội không có gì ăn hết à?
– Chẳng có gì cả! Phê đáp.
Chú bé đặt gùi, lấy ra mấy củ sắn luộc đã lạnh tanh đưa chúng tôi. Chúng tôi lấy muối ra rồi mời chú cùng ăn. Mắt chú bé bừng sáng lên, miệng ứa nước bọt. Tôi vốc độ chục hạt muối gói trong một mảnh giấy bóng đưa cho chú. Chú ta chùi tay vào áo cho khô, săm soi gói muối rồi bỏ vào túi:
– Mình để dành muối chia cho các bạn mình, cho mẹ mình. Mẹ mình ho có máu.
Chú bé bỗng giở gói muối ra nhìn, nuốt nước bọt ừng ực. Rồi như không ghìm được, chú lấy một hạt lè lưỡi liếm. Sau đó, chú bỏ hạt muối vào gói, rồi lại lấy ra. Tôi im lặng, chụm đầu ngón tay vốc cho chú một ít muối nữa rồi bắt chuyện:
– Em đi đâu về thế?
– Mình đi nộp đảm phụ. Buôn mình người lớn đi dân công hết, tụi nhỏ mình phải đi nộp đảm phụ thôi.
– Nộp thứ chi?
– Gạo- chú tự nhiên vui vẻ, cúi xuống cầm một khúc sắn ăn ngon lành, hình như chú cũng thèm cả sắn và nói tiếp-nhà mình có ít gạo, cách mạng bảo nộp sắn, mẹ mình bảo cứ nộp gạo thôi.
– Cha em đâu?
– Cha mình chết. Cha mình đi tải đạn đường 19. Mỹ phục bắn cha mình chết.
Chú bé đứng dậy, phủi tay nói:
– Mình về, mẹ mình chờ. Mẹ mình ho có máu.
Tôi đưa chú một ít muối nữa . Chú bé bước ra mấy bước , bỗng quay đầu lại hỏi :
– Krông- pa lớn quá , làm sao mai bộ đội đi ?
– Có thể mai nước nhỏ lại em à .
Chú bé giơ tay chào và bước vội. Chúng tôi ngồi hơ lửa thêm chút nữa rồi lên võng nằm hút thuốc .
Suốt đêm mưa lớn. Những cây rừng vặn mình răng rắc. Cành gãy rơi ào ào gần chỗ chúng tôi. Phía bên phải, Krông – pa réo ầm ầm. Ngay dưới võng, nước cũng lên lấp xấp. Cả đêm lo lắng, chúng tôi không ngủ được. Gần sáng, vừa chợp mắt, bỗng thiếp đi. Chợt có ai đó lay võng. Tôi thức dậy. Thì ra chú bé hôm qua :
– Nước sông lớn quá, đi không được đâu. Bộ đội vào buôn mình thôi. Buôn mình cũng xa xa nhung khắc đi khắc đến.
– Thôi để các anh ở đây. Hễ nước rút là các anh đi ngay .
Chú bé trầm ngâm nhìn dòng sông sủi bọt, vẻ lo lắng. Bất chợt chú chạy ra một đoạn, cầm vào mấy củ sắn tong teo rồi nói :
– Bộ đội ở đây nhé. Mình phải đi đóng giúp đảm phụ cho Bok Lan. Bok Lan cũng ho có máu .
Chú bước ra, chạy về một gốc cây đổ. Chúng tôi nhìn theo. Bây giờ, chúng tôi mới thấy ở đó có cái gùi to phủ ni-lông. Chú bé cho vai vào quai, bặm môi cõng gùi lên. Bỗng nhiên, chú ngã kềnh ra đất. Tôi nhảy khỏi võng, chạy về phía chú. Nhưng chú đã gượng dậy được, mỉm cười. Tôi đứng lặng. Trên môi tôi có cái gì mặn mặn …
Mưa vẫn rơi không ngớt. Nơi cánh rừng chú bé vừa bước vô, những cành lá rung lên lao xao. Nước Krông-pa vẫn réo ầm ầm. Chúng tôi nhìn bầu trời mọng nươc thêm sốt ruột. Phê ỷ khỏe hơn tôi, giành đi tìm rau nhưng vẫn chẳng có gì hơn. Chúng tôi lại ngồi bên nhau, đốt thuốc, nhắc mãi những bữa ăn ngon…
Hai giờ sau , chú bé trở lại. Từ xa , chú đã reo :
– Mình cho bộ đội cái này .
Thoáng một cái, chú đã đứng bên cạnh chúng tôi. Tay chú cầm một cái lồng, trong đó có một con sóc to, đuôi dài. Thấy chúng tôi săm soi, con sóc nhảy nhót la chét chét. Chú bé thò tay bắt sóc. Tôi nhìn thấy một ngón tay chú chảy máu.
– Tay em làm sao thế ?
– Bẫy dập đó !
Chú bé nói :
– Mình cho bộ đội, bộ đội nấu với sắn ăn ngon lắm.
Mắt chú bé mỉm cười. Chú chùi tay vào áo, hơ lửa, xin tôi điếu thuốc. Tôi lấy cả túm muối còn lại đưa cho chú . Chú lắc đầu :
– Bộ đội còn đi xa mình không lấy.
– Không, mình còn túm nữa, anh kia. Tôi chỉ vào Phê đang làm thịt sóc ở mé nước .
Chúng tôi ép mãi, một lúc lâu chú bé mới lưỡng lự cầm túm muối nhỏ, cho vào túi áo bộ đội dài thòng lòng. Từ trên áo, nước chảy xuống tong tong:
– Mình sẽ chia cho buôn mình, cho mẹ mình, mẹ mình ho có máu .
Bất chợt, chú lấy túm muối ra săm soi, miệng ứa nước bọt. Chú cất vô. Nhưng chỉ một phút sau, chú lại giở ra, tháo nhanh, lấy một hạt muối nuốt ực. Chú đứng dậy:
-Mình đi rẫy lấy sắn đây. Mẹ mình làm rẫy miết miết mà chỉ có củ nhỏ thôi. Chất độc Mỹ nó ăn hết sắn lớn rồi. Mình đem cho các anh.
– Các anh đi với được không ?
– Chẳng có nhiều chi. Mình mình đi thôi.
Chú bé phóc nhanh ra ngoài tăng, chạy đụi đụi trong mưa .
Chúng tôi ngồi bên hăng- gô cháo sắn có thịt sóc đang sôi sùng sục, nhìn theo, lòng bồn chồn. Mùi cháo bốc lên ngon lành. Phê mỉm cười cho đũa vào khuấy, quay lại bảo tôi :
– Anh lại túi cóc em lấy túm muối – Cậu ta mút mút chiếc đũa – Chà ngon tuyệt .
Tôi ngồi lục mãi ba cái túi ba lô nhưng không thấy gói muối đâu cả .
– Túi nào ?
– Em không nhớ !
Tôi soát lại lần nữa nhưng vô hiệu.
Phê buồn bã nói :
-Em nhớ ra rồi. Chiều qua, lúc lội suối, em bíu nhánh cây, ba lô nghiêng. Lúc đó em nghe có cái gì rơi, em tưởng cục đất em không chú ý, té ra là túm muối. Chà, giờ làm sao đây?
Bữa cháo không có muối sao mà lạt lẽo quá. Cũng may, nhờ có món thịt sóc vớt vát lại được phần nào. Nhưng bữa mai, bữa kia thì sao? Phê, anh chàng có lỗi đánh mất muối cứ cười hì hì hoa hoa tay: “Có gì đâu mà phải lo nhỉ? Trời sinh voi, sinh cỏ”. Cậu ta vừa nháy mắt với tôi vừa đưa tay bứt một cộng cỏ bên cạnh nhai nhai và láu lỉnh nhất quyết rằng, trong cây lá chiến khu nhà ta ở đâu mà chẳng có clorua-natri. Cho dù muối có làm cao chạy trốn tận ruột trái đất thì đồng bào các dân tộc vẫn vui sống đàng hoàng. Bộ đội, cán bộ ta vẫn cứ thế mà đàng hoàng vui sống. Còn hai ta thì việc gì mà chẳng ung dung ngồi rung đùi ngắm cảnh trời đất. Tôi nhìn bộ dạng tinh nghịch của Phê, mỉm cười. Bỗng chốc, không nhịn được nữa, ngửa cổ ra cười sằng sặc. Đầu tôi gật lia lịa để tỏ sự đồng tình. Bất giác, tôi nghe có nhiều tiếng chân người lội ào ào trong nước. Từ trong cánh rừng trước mặt, một đám trẻ bước ra. Từ xa, chúng đã reo rối rít:
– Bộ đội ơi, cho mình muối. Bộ đội ơi, cho mình muối.
– Không có muối các em ơi. Tôi dừng ăn cháo quay ra nói.
– Bộ đội đừng nói dối mình. Bộ đội cho thằng tóc xoắn ở buôn mình. Hồi hôm nó chia cho tụi mình mỗi đứa mấy hột đó.
– Hồi hôm còn, nhưng sáng ra bị nước cuốn trôi mất rồi.
Bọn trẻ lắc đầu, nói với nhau bằng tiếng Gia Rai, vẻ không tin. Không biết nói sao, tôi im lặng đặt nắp hăng-gô cháo xuống. Bọn trẻ vây quanh, chằm chằm nhìn vào hăng-gô cháo.
Tôi mời:
– Ngồi xuống ăn cho vui. Cháo lạt muối đấy.
Bọn trẻ nuốt nước bọt. Bỗng một đứa quay ra ngoài:
– A, thằng tóc xoắn kia rồi. Bộ đội cho mày muối phải không?
Thằng bé quen chúng tôi không đáp. Nó bước thẳng vào tăng. Chúng tôi nhìn nó. Nó nhìn chúng tôi. Tự nhiên, nó giơ tay lên túi, lấy ra túm muối hồi sáng đưa cho tôi, nói:
– Mình trả lại bộ đội! Mình ăn cà đắng được. Mẹ mình ăn cà đắng được. Bộ đội không quen ăn cà đắng. Mình nghĩ miết, mình thương bộ đội lắm. Mình trả lại cho bộ đội thôi.
– Các anh cũng sắp tới nơi- tôi giả bộ nói cho chú bé an lòng- Anh chỉ cần xin lại mỗi người năm hột, còn bao nhiêu em cầm về chia cho mẹ, cho các bạn này…Tôi vừa nói vừa chỉ bọn trẻ xung quanh.
Chú bé không đáp, bỏ gói muối xuống nắp ba lô, bước ra nói gì với các bạn, tôi không hiểu. Chỉ thấy cả bọn reo lên rồi vụt chạy.
Phê đứng dậy, cầm gói muối chạy theo. Chúng càng chạy nhanh hơn.
– Này em, quay lại lấy muối đi nhé – Phê gãi gãi tai – Chà, em tên chi hở em?
– Mình không có tên. Chú bé tóc xoắn vừa cười vừa đáp lại.
Nói xong, chú bé tiếp tục chạy nhanh về phía dốc. Chiếc áo bộ đội quá dài cứ lật phật trong mưa. Lên tới đỉnh, cả bọn quay lại reo lên lần nữa rồi biến mất. Chúng tôi nhìn theo chỉ còn thấy một màu xanh bạt ngàn lao xao, đang nói lên những tiếng nói riêng của rừng.
Suốt hai mươi năm nay, chúng tôi đã đi qua biết bao nhiêu cánh rừng rộng lớn của Tây Nguyên.
9/1973 – 6/1976
BẾP LỬA LÀNG TÀ BĂNG
Tôi có công việc phải đến một đồn biên phòng ở biên giới Việt – Lào. Ở Huyện đội Giằng, anh em có nhã ý cử một liên lạc dẫn đường, nhưng tôi cảm ơn, xin phép tự mình đi. Đoạn đường này, tôi vốn quen thuộc từ hồi chống Mỹ. Những cánh rừng ngày nào mắc võng chờ lui cơn sốt, những con suối tung tăng cá sốc, cá niêng, bọn tôi rủ nhau thả lưới hay ném tạc đạn, những đỉnh dốc cao ùn ùn mây trắng nối tiếp nhau trùng điệp, đoàn tải đạn chúng tôi phải vượt qua khi mặt trời đã thụt dưới chân núi. Con người có cái thú gặm nhấm những kỷ niệm khi về thăm chốn cũ. Tuổi càng cao, người ta càng nhìn rõ quá khứ hơn những cái hiện tại ở bên mình.
Đang giữa mùa mưa, bầu trời lúc nào cũng âm âm u u. Những cơn mưa rừng chợt đổ ào, chợt dừng lại làm cho con đường lầy lội đi rất vất vả. Tôi đã đi được hai ngày. Theo dự tính thì trưa ngày thứ ba sẽ đến nơi. Vậy mà, đến bốn giờ chiều hôm ấy, con đường mòn vẫn chạy quanh quẩn giữa những rừng cây bạt ngàn. Đến lúc xẩm tối, con đường biến mất trước một con suối lớn. Lạc đường rồi, tôi đâm lúng túng. Nhưng vốn là người lính cũ, tôi đặt ba lô xuống một tảng đá, rút dao găm đi dọc suối tìm đường. Một lúc sau, về phía cuối con suối, tôi bỗng gặp lại con đường chạy về một thung lũng. Trong màn mưa, xa xa, hiện lên những mái nhà sàn của đồng bào Cà-tu. Mừng quá, tôi quay về chỗ cũ, mang ba lô xăm xăm đi tới hướng đó.
Khi tôi đến gần làng thì trời đã sụp tối. Một trận mưa xối xả bỗng ập đến làm cho con đường dưới chân tôi trôi tuột vào bóng đêm. Tôi đứng lặng ngơ ngác. Một lúc sau, qua ánh chớp, tôi bắt gặp một máng nước bằng lồ ô. Vịn tay vào ống máng tôi dò dẫm từng bước. Trước mắt tôi bỗng hiện lên một ngôi nhà sàn. Trong nhà đang còn bếp lửa sáng. Một giọng ru con ngọt ngào của người thiếu phụ Cà-tu lảnh lót vọng ra. Đó là một miền quê thung lũng, có những con bướm vàng bay chập chờn trong nắng đợi tay đứa bé nào mau lớn đến vờn chơi. Đó là tiếng mang tác ven triền vách đá nghiêng xuống một dòng suối trong xanh đang chờ một cậu bé rắn khỏe nhào lộn đùa vui. Tôi đứng lặng dưới cầu thang một chút rồi bước lên nhà sàn. Một giọng đàn bà hỏi vọng ra :
– Ai đấy?
Tôi chưa kịp nói mình lạc đường xin nghỉ nhờ thì nghe có tiếng thổi lửa phù phù ở bếp. Một người đàn bà dáng nho nhỏ, mặt còn trẻ có nước da ngăm ngăm đen cầm cây nứa cháy trên tay bước ra, soi vào mặt tôi :
– Anh làm gì đến đây?
– Mình là bộ đội.
Chị ta giơ cây nứa lên nhìn vào bộ quân phục và mặt tôi lần nữa rồi hỏi:
– Giấy của anh đâu ? A Gôn nói dạo này hay có biệt kích, bộ đội cũng phải xem giấy.
Tôi chùi tay vào áo, rồi móc giấy từ trong túi ra đưa cho chị ta. Chị ta cầm tờ giấy, giơ gần ngọn lửa, đọc một lúc rồi nhìn thẳng xuống cái con dấu của Huyện đội Giằng.
– Có dấu của Giằng. Được. Nhưng A Gôn – chồng mình đi công tác rồi.
Tôi cười gượng, lúng túng.
– Mình đi lạc, cho mình nghỉ…
Chị ta đứng lặng, vẻ ngần ngừ. Tôi nghĩ chị ta là đàn bà ngại người lạ vào nhà đêm hôm nên nói :
– Mình định đi tìm nhà khác. Nhưng tối quá. May gặp…
– Ở đây cũng được. Đêm nay thanh niên đi tuần tra với A Gôn. Người già con nít ngủ sớm. Chỉ có nhà mình, con khóc không ngủ được. Mình chờ A Gôn về.
Một tiếng trẻ khóc oa oa ở bên trong. Chị ta nói :
– Bộ đội vào nhà nghỉ đi. Nằm gần lửa cho ấm.
Chị ta bước vào buồng trong nựng con. Còn tôi, tôi đặt ba lô và ngồi xuống bên bếp lửa. Đã từ lâu, bếp lửa của đồng bào dân tộc ít người vẫn quyến rũ tôi. Đó là nơi sum họp gia đình, là chỗ để hội họp làng buôn. Suốt ngày đi làm, tối về, thiếu chăn ấm, họ nằm quanh bếp lửa để ngủ. Ngọn lửa là sự sống ở vùng cao này. Có nhà thơ nào đã từng nói những bếp lửa không tắt như tấm lòng, như niềm tin của đồng bào với Đảng chúng ta. Đồng bào nhóm bếp suốt ngày đêm. Tôi say sưa giơ tay lên bếp lửa để sưởi ấm. Đã bao lần, mắc võng nằm một mình dưới trời mưa giữa rừng tối đen, ướt át, tôi thường mơ một bếp lửa…
Một lúc sau, đứa bé có lẽ đã ngủ yên. Chị chủ nhà bước ra ngồi bên tôi, chị đùn thêm một nắm củi vào bếp. Ngọn lửa đang âm ỉ cháy bỗng bựt sáng lên. Tôi thấy chị thật đẹp, khuôn mặt trái xoan, mắt đen thăm thẳm. Hình như tôi đã từng gặp ở đâu trên dải Trường Sơn này…
Bên ngọn lửa hình như con người gần gũi nhau hơn. Chị ta có vẻ xởi lởi hơn ban nãy. Chị gợi chuyện :
– Mình tên là Xia, còn bộ đội tên chi ?
– Mình là Thanh.
– Bộ đội Thanh ngày xưa công tác ở đâu ?
– Mình làm thủ kho ở Xê-ca-máng.
Xia vỗ hai bàn tay vào nhau như một em bé vừa gặp được chuyện vui :
– Ô, mình biết, mình biết. Mình và A Gôn đã lên Xê-ca-máng nhận súng đạn. Mình đi dân công. Chu cha, người đông như kiến, súng như cây rừng. Sao hồi đó mình không thấy anh Thanh ?
Tôi cười vui vẻ :
– Hồi đó đông quá, người đến người đi như nước chảy làm sao Xia thấy mình được.
Xia hỏi tôi như một người quen lâu ngày nay mới gặp lại :
– Anh Thanh ăn gì chưa ?
Tôi lắc đầu. Xia lục lọi giàn bếp rồi bưng xuống đưa tới trước mặt tôi một rổ sắn.
– Mấy bữa nay hết gạo nấu cơm. Có sắn đó, ăn đi anh Thanh.
Xia cười rất vui. Như bao người dân tộc khi đã quen nhau, chị rất xởi lởi. Tôi vừa ăn sắn vừa hỏi :
– A Gôn đi bao lâu rồi ?
– Ba ngày, bốn ngày. Xia trả lời, rồi hỏi :- Anh Thanh biết A Gôn chưa?
– Chưa.
Xia lại cười như tôi là một người từ trên trời rơi xuống rồi nói, giọng đầy tự hào:
– Huyện biết. Tỉnh biết. Cao cao nữa biết mà anh Thanh không biết. A Gôn tích cực lắm. Anh Thanh biết không, hồi còn thằng Mỹ làng mình không ở đây mà ở trên núi Kông Kênh. Mình sợ tàu bay Mỹ lắm. Đi làm rẫy, thấy tàu bay cứ chui đầu vào lách, giơ lưng ra ngoài. Bọn con trai không sợ. A Gôn còn giơ ná, giơ súng lên bắn máy bay. Cha mẹ nó chết. Nó ở một mình. Vừa làm du kích vừa làm rẫy. Mình thương nó, bắt nó làm chồng. Nó là du kích cứng của làng Tà Băng này đấy. Nó nhanh như sóc. Giặc Mỹ càn, nó bắn cái đùng, luồn qua cây, bắn cái tạch, luồn qua lách. Một bữa bọn tàu bay Mỹ thả bọn biệt kích xuống núi, bọn du kích đi lùng hai ngày, ba ngày không tìm ra. A Gôn bực lắm. Đến ngày thứ tư nó đi một mình tìm miết cũng không thấy. Nghe tàu bay rè rè trên đầu, nó lủi vào một bụi cây ngồi. Bỗng nó nghe tiếng xì xầm bên cạnh. Nó lần tới thấy bọn Mỹ ngồi. Nó giương ná, bắn cái phựt, chết một thằng. Nó giương ná bắn lần nữa, thằng nữa chết. Một thằng chạy. Nó rượt theo. Bắn cái phựt. Thằng này ngã như con dộc. Nó xông tới tước súng. Bỗng có ai ôm lưng nó. Nó vùng một cái, thằng kia văng ra. Nó chạy. Thằng kia bắn theo. Nhưng đạn không trúng nó. Đạn trúng cây rừng…
Ngọn lửa bập bùng soi gương mặt Xia lúc hiện lên rõ nét, lúc khuất đi bí ẩn, đang tự hào kể về những chiến công của chồng mình. Trong chốc lát, hình như tôi đang nghe những tiếng hú ngân dài, vang lên trên những vực đá, đồng vọng suốt những cánh rừng. Có tiếng động khe khẽ sau những lùm cây. Một lúc sau, bỗng hiện ra một chàng trai Cà-tu cao lớn, tóc xõa ngang vai, mắt thăm thẳm như rừng đêm, ngực trần, đóng khố, cánh tay to như bắp chuối, cuồn cuộn nổi vồng lên những thớ thịt, đang giương ná lên.
– A Gôn đang chạy. Bất ngờ nó ngã nhào xuống. Chân nó vấp một cái rễ cây. Ngực nó đập vào đá. Từ đó nó bị tức ở ngực. Lâu lâu ho có máu. Kế đó, chân nó đau ở chỗ đầu gối. Nó nhức la hoài mà vẫn đi miết miết.
Xia dừng lại, đăm đăm nhìn ngọn lửa một lúc rồi kể tiếp.
– Miền Nam giải phóng, cán bộ, bộ đội về xuôi hết. A Gôn buồn lắm. Mình cũng buồn. Mình thường bảo A Gôn : Sao hồi cán bộ ở đây, hứa hết giặc sẽ xây trạm xá, đưa vải, muối lên mà giờ cán bộ đi hai mùa, ba mùa không thấy gì. A Gôn bảo cán bộ bận nhiều việc không lo hết. Cán bộ không quên lời hứa đâu. Mình nói khích :
– Mày làm cách mạng sao nó về xuôi mày không đi theo.
A Gôn càu nhàu :
– Đi đâu. Cách mạng ở trong bụng mình chớ. Mình chịu làm cách mạng thì mới có cách mạng, cũng như chịu khó nhóm bếp mới có lửa.
Một đêm, có một cán bộ ở Giằng lên gặp nó rì rầm. Sáng hôm sau, mình bảo :
– Dạo này chưa làm rẫy, nhà dột quá, sửa đi A Gôn.
Nó càu nhàu:
– Bận việc. Các ảnh bảo mình lập lại du kích.
– Hòa bình rồi, lập du kích chi nữa A Gôn ?
– Mình phải bảo vệ xã mình chứ. Còn tụi phỉ, tụi gian kia mà.
– Lũ thanh niên đi với mày hết ai làm rẫy ?
A Gôn trả lời :
– Thì tụi tao vừa làm du kích, vừa sản xuất chớ.
Nó lại đi. Một thời gian sau, nó rủ được chục thanh niên. Nó phát một miếng đất. Chia làm hai nhóm. Suốt ngày cứ tập “một hai, một hai”. Bụng mình buồn cười lắm. Du kích chi chỉ có gậy, không có súng. Buồn cười ghê. Nó tập được một ngày, hai ngày thì thanh niên các làng khác rủ nhau đến xem rồi cũng xin vào tập. A Gôn vui hung. Nó không tập chung nữa mà chia ra từng làng. Bây giờ xã mình vui lắm. Tụi thanh niên cứ đi tuần tra canh gác với bộ đội biên phòng. Đố có thằng gian nào mà lọt khỏi tay tụi du kích.
Xia dừng lại đẩy thêm một khúc củi vào bếp rồi kể tiếp :
– Một hôm nó về hỉ hả nói: “Mình và bọn du kích vừa bắt được một thằng phỉ”.
– Thật không ? – Mình vặn lại.
– Thật chớ. Xia qua nhà Quăn Lan mà coi.
Mình chạy đến nhà Quăn Lan thì thấy một thằng gầy gò, quần áo rách rưới, râu ria xồm xoàm. Kinh quá…
Xia kể đến đây thì xin phép vào buồng ru con vì chú bé vừa chợt khóc. Tôi cũng soạn sửa chỗ ngủ.
Ngoài trời, một trận mưa lớn đang kéo đến đổ ầm ầm. Trên mái nhà những đợt gió ào ào lướt qua. Tôi co chân, dịch sát người bên bếp lửa. Trong đêm khuya, cái bếp lửa lúc nào cũng được nhen nhóm của đồng bào các làng biên giới vùng căn cứ cũ đang cháy bập bùng. Thỉnh thoảng có tiếng nổ lách tách của tre nứa hay một loại củi gì đấy làm cho những đốm lửa bay lên đỏ rực.
1982-1995
NÓ VÀ BA NÓ
Nó đã lên bảy. Người nó dong dỏng cao, dáng nhanh nhẹn. Trên khuôn mặt trắng trẻo của nó dây len nhem những vết nước mũi lẫn đất. Đó là dấu vết của sự thiếu chăm sóc trong những ngày gần đây của người mẹ.
Lúc ấy khoảng bốn giờ chiều. Mặt trời chiếu những tia nắng nhợt nhạt xuống con đường làng trước nhà nó. Bọn trẻ đang nô đùa. Hình như đã qua trò chơi đáo, bây giờ chúng chuyển sang nhảy dây. Mọi bữa, nó cũng được cùng chơi. Nhưng hôm nay, hễ nó xáp vào trò chơi nào, lũ bạn nó cũng gạt ra. Nó tức giận bước tới bên gốc dừa rợp mát trước sân nhà, tay cầm mấy cục đất, gườm gườm nhìn ra. Có mấy đứa trẻ đang xem bọn nhảy dây bỗng giơ tay lêu lêu nó rồi bỏ chạy. Nó ném theo một cục đất rồi đứng lom khom thủ thế. Một đứa trẻ đang chạy bỗng quay lại la to:
– Đồ con ác ôn, không phải con ông Bốn. Má tao nói ổng sắp về rồi, ổng sẽ trị mày.
– Tao mà là con ác ôn à?
Nó vừa nói gằn vừa chạy lại phía góc sân, cầm một cây sào dài, vốn ngày nào bọn nó vẫn cùng nhau khoèo ổi, khoèo xoài rồi vui vẻ cùng ăn với nhau, khua túi bụi vào đám trẻ. Mấy đứa đang nhảy dây cũng bỏ chơi, hùa nhau lượm đất ném vào nó. Nó ré lên, chạy thẳng vào nhà.
Nó chạy đến mách với má nó. Nhưng hôm nay, má vẫn ngồi im bên bàn không bênh vực nó, không kéo nó vào lòng hôn hít như mọi bữa. Dáng má rầu rĩ, hai mắt đỏ hoe. Má khoát tay bảo nó đi ra cho má được yên. Nó kinh ngạc nhìn má rồi lui vào chiếc giường trong góc nhà, úp mặt xuống gối khóc tức tưởi. Nó thấy tủi thân. Tại sao bọn trẻ lại bảo nó là con ác ôn. Lâu nay, khi thấy bọn trẻ có ba, nó hỏi ba nó đâu, má bảo ba ở miền Bắc. Dạo này, trong làng, nhiều anh chị có ba về, nó cũng mong ba về lắm. Sao tụi trẻ bảo ông Bốn nào đó sẽ về trị nó, mà không phải ba nó? Sao mấy bữa rày, thấy các bác ở miền Bắc về, má nó không đến hỏi thăm tin ba mà cứ ngồi ủ rũ? Nó cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, rồi ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau, nghe tiếng má mở cửa, nó giật mình thức dậy, nhảy ngay xuống sàn nhà. Nó thấy một ông to lớn, đội mũ cối, mang ba lô, mặc quần áo bộ đội bước vào nhà. Nếu như mọi bữa, thấy các chú bộ đội, nó sẽ chạy đến ôm chầm, bắt các chú cho xem cái mũ có ngôi sao. Nhưng hôm nay tự nhiên nó thấy sợ. Nó nghe má nó nói: “Trời, anh Bốn!” rồi đứng sững như trời trồng. Ông này cũng đứng sững đăm đăm nhìn má nó. Một cái gì đó bỗng chạy rùng rùng từ ót cho đến đầu ngón chân nó. Chợt nhớ lời lũ trẻ nói về ông Bốn, nó sợ quá. Đầu gối nó run run. Nó lủi trốn vào góc nhà, lấm lét nhìn ra:
– Ông nhỏ đây hử. Trốn làm gì, ra đây “trình diện” đi – Ông Bốn vừa đặt ba lô xuống bàn vừa quay về phía nó nói.
Nó đứng sững, trợn trắng mắt lên. Lâu nay ở trong xã người ta kêu những người làm cho địch “trình diện”. Nó đâu có làm gì. Nó nghĩ như vậy rồi vừa lấm lét nhìn ông vừa lùi ra phía cửa.
Nó chạy ra đầu xóm. Bọn trẻ đang chơi trò bịt mắt bắt dê dưới một gốc bàng. Nó sán lại nhưng mấy đứa xô nó ra. Một thằng mặt bê bết đất quay lại nói:
– Cút đi, đồ con ác ôn. Hồi nãy mẹ tao thấy ông Bốn về. Mày sợ mày trốn hả?
Nó a vào, chụp tay thằng kia cắn một miếng. Bọn trẻ xô vào cứu thằng kia, vật nó xuống, đá vào người nó. Nó thét lên một tiếng ghê rợn, vùng dậy nhặt một bãi phân bò khô ném vào lũ trẻ. Chúng dạt ra. Nó vừa kéo quần vừa ù té chạy.
Nó đứng bên bờ một con kênh ở rìa làng. Mới đầu xuân mà trời đã nóng nực. Nó nhảy ùm xuống tắm. Con kênh này cạn, nước chỉ tới ngực nó. Nó ngụp lặn, vỗ nước thỏa thích. Một lát sau, nó leo lên bờ, chui vào một bụi cây và thiếp ngủ. Ánh mặt trời chiếu thẳng vào đỉnh đầu làm cho nó thức dậy. Nó thấy kiến bò ran trong bụng. Nó đói. Nó lùi lũi quay vào trong xóm.
– Ê, con ác ôn. Mẹ mày với ông Bốn tìm mày mãi. Mày đi đâu?
Thằng bé hồi sáng bị nó cắn vào tay đang cầm một cái rổ đi ngược chiều nói với nó. Nó quay lui lại. Nó sợ ông Bốn bắt nó quá. Một lúc sau, nó đi đến một động cát ở cuối làng. Động cát này chỉ có cát và gai bàn chải phủ trên những cái mả đá. Đây là nghĩa địa của làng. Xưa nay, người ta đồn ở đây có nhiều ma lắm. Nó thấy sợ, tim đập thình thịch. Hình như ở khắp mọi nơi trên động, dưới những bụi bàn chải bỗng hiện lên những người đầy lông lá. Nó vùng chạy. Cuối cùng nó thấy nó đứng ngay đầu hè nhà mình. Nó thấy má nó đang ngồi khóc bên bàn. Ông Bốn ngồi bên má nó. Nó đoán ông đã đánh má nó. Nó cúi xuống lượm một cục đất nếu ông còn đánh nữa nó sẽ trả thù cho má. Nó nghe má nói, giọng thấm nước mắt:
– Thằng Thạnh nó cưỡng ép em mãi. Nó làm khó làm dễ em hoài. Nay nó bắt đi tù, mai nó bỏ truyền đơn vu cáo. Nó bảo em không ly hôn anh là còn theo cộng sản. Các chị em khác cũng có đứa ép như vậy, nhưng các chị chống lại. Còn em, em bị bắt tù hoài, em sợ. Em không đủ sức chống đỡ…
Má nó bưng mặt khóc hu hu một lúc rồi nói tiếp:
-…Thằng Thạnh có nhiều tội ác, bị ta giết rồi. Nó chết. Nhưng nhục nhã của em, em không bao giờ xoá được. Em đã có đứa con với nó. Ai cũng khinh em. Em xấu hổ quá. Em không dám nhìn anh nữa…
Nó thấy má ngã vào lòng ông Bốn khóc rấm rứt và nói lúng búng những gì với ông, nó nghe không rõ. Ông Bốn cứ ôm má nó, vuốt vuốt tóc, dỗ má nó nín. Chuyện gì thế nhỉ? Tại sao ông Bốn làm má khóc mà má vẫn tựa vào ông, để cho ông âu yếm như má vẫn thường nựng nó? Nó đâu biết. Cũng như nó làm sao biết được cái gì đã xảy ra trong lòng ông khi ông biết tin má nó đã phản bội ông, lấy một người khác, chính là cha nó, một tên ác ôn, để có nó trên đời này. Bao nhiêu đau xót, giận hờn, bao nhiêu dằn vặt, dày vò lòng ông trong nhiều đêm mất ngủ. Trong ý nghĩ, ông đã từng quyết định cắt đứt với má nó rồi ông lại tự xoá quyết định ấy mà lòng nặng chua xót để trở về gặp lại, hàn gắn với má nó. Nó đâu biết điều ấy. Nó chỉ nghe ông nói, giọng khàn khàn:
– Thôi, nín đi em, anh hiểu cả. Anh về đây không phải để dằn vặt em mà để cùng em xây dựng lại cuộc sống của chúng mình.
Bóng chiều xuống dần. Nó thấy má nó nước mắt long lanh, ngẩng lên nhìn ông Bốn, hỏi nhỏ:
– Còn nó?
– Ta sẽ nuôi. Cha nó khác. Nó khác. Hồi sáng thấy nó y hệt cha nó hồi nhỏ trong cùng đám bạn chơi bi đáo với anh, anh tức lắm. Nhưng nghĩ lại, anh thấy thương nó. Nó ở trong nhà mình, lớn lên dưới chế độ mình…
Má nó lấy khăn lau mắt. Khi bà ngẩng lên, nó thấy mắt má nó như sáng hơn mọi bữa. Ông Bốn đứng dậy đi lại trong nhà. Dáng ông như trùm lên dáng má nó. Bất chợt, ông dừng lại, vỗ vào vai má nó:
– Này em, em đi tìm thằng nhỏ về đi chớ tối rồi. Không biết ông tướng đi đâu từ sáng tới giờ.
Ông đẩy cửa bước ra thềm. Tiếng kêu ken két của cánh cửa già nua làm nó sợ hãi. Nó vù chạy. Ông Bốn gọi với:
– A, thằng nhỏ đây rồi, vào đây con!
Nó đứng sững, quay mặt lại phía ông. Tự nhiên nó thấy cánh tay vẫy vẫy của ông trong nắng cứ vươn dài ra như muốn bắt lấy nó. Nó càng sợ. Chợt nhớ ra hòn đất đang cầm trong tay, nó ném vào ông rồi phóng nhanh.
Trước mắt nó hiện ra một gánh hàng bún của một bà chuyên đi bán rong khắp xã. Bên cạnh bà, một gã tóc tai bù xù, quần ống loe, râu để dài, chắc gã ở thị trấn về, đang ngồi ăn bún. Nó thấy đói quặn cả ruột. Nước miếng tứa ra. Nó bước tới gần, nhìn chằm chằm vào rổ bún.
– Nè bụi đời …- gã tóc dài đưa cánh tay xương xẩu ngoắc ngoắc nó .
Nó đứng lặng. Sao gã kia lại dám gọi nó là bụi đời. Sao vậy? Hay tại cả ngày nay nó đi lang thang. Nó tức giận, hầm hầm nhìn gã rồi bước đi .
Xẩm tối, nó cảm thấy đói xỉu. Nó nằm xuống dưới gốc một cây bàng, thiêm thiếp ngủ.
Có tiếng ai đó quen quen đang lay gọi nó. Nó ư hử rồi nặng nề mở mắt. Một khuôn mặt như khuôn mặt má cúi xuống bên nó.
– Thôi dậy đi về con. Suốt ngày nay tao với ba mày tìm mày miết – Má nó vừa nói vừa đỡ nó đứng dậy.
Nó đưa tay dụi mắt nhìn má nó. Trên khuôn mặt của má, cái vẻ ảm đạm hôm qua như nhẹ hẳn đi .
Linh tính trẻ con báo cho nó biết là nó sẽ không bị má la rầy gì đâu. Nhưng chợt nhớ đến ông Bốn, nó mặc cả để thăm dò :
– Tui hổng về. Nếu còn ông Bốn ở nhà thì tui hổng về đâu. Ổng đánh tui, tui sợ lắm .
– Ba mày chứ ai mà sợ ..
Má nó nói rồi lôi tay nó dắt đi. Nó vừa trì tay lại vừa khóc ư ử…
– Vào đây con, ba tìm con mãi, có kẹo miền Bắc ngon lắm.
Nó thấy ông Bốn đứng trên thềm nhà ngoắc nó, mỉm cười. Nhớ lại chuyện ném đất hồi chiều, sợ ông đánh, nó giật tay, vù chạy. Nhưng má nó chạy theo chụp lại :
– Vào chào ba đi con – Má nó nói.
– Hổng phải ba đâu má. Tụi nhỏ nói thế .
Ông Bốn nói dịu dàng :
– Tụi nó nói bậy đó. Ba đây mà. Ba ở miền Bắc về với con đây mà. Hồi sáng ba làm lạ thử con có nhận ra ba không. Thế mà con không biết, con sợ ba…
Má nó đẩy nó đến bên ông Bốn. Nó len lén cúi đầu vừa nuốt nước mắt vừa nói ngập ngừng :
– Con chào ba ạ. Hồi chiều…
Ông Bốn dắt tay nó đến bên bàn, lấy kẹo đưa cho nó, rồi quay sang nói với má nó :
– Mai mình cho con đi học nghe .
– Ừ , mai má sẽ cho con đi học .
Bây giờ, nó vừa thút thít vừa ôm choàng cổ ông Bốn đang cúi xuống bên nó, nói thỏ thẻ :
– Mai ba dẫn con đi, để tụi nó không nói con là con ác ôn, mà là con của ba nghe ba .
Ông Bốn ôm nó vào lòng, đưa tay xoa đầu nó. Hẳn cái giọng cầu mong thỏ thẻ của nó xoáy vào lòng ông, có cái gì đó còn đau hơn cả nỗi đau mà ông đã chịu đựng. Ông càng thấy thêm yêu thương nó. Bằng cái giọng ấm áp của người cha, ông khẽ bảo :
– Ừ, mai ba sẽ dẫn con đi …
24-4-1976
DỐC DÌ TÂM
Dãy núi phía Tây cánh đồng làng Phú Thạnh có nhiều dốc. Ngoài dốc Phú Cốc, dốc Bà Nhạn có từ thời nảo thời nao, đến các cụ già râu tóc bạc phơ cũng không biết được sự tích, còn tất cả đều chưa có tên.
Thường thì, để cho dễ phân biệt, bà con lấy tên các loại cây mọc nhiều ở từng dốc để đặt tên cho chúng: dốc Cây Trâm, dốc Cây Duối, dốc Bụi Tre, dốc Cây Me, dốc Cây Ổi…Gọi mãi hóa quen.
Tám năm trước đây, người ta lại đặt một cái tên mới để thế cho dốc Cây Trâm, đó là dốc “Con Tâm” vì trên dốc có mả “con Tâm”. Những người ở xa đến chẳng biết “con Tâm” là ai. Nhưng bà con làng Phú Thạnh này thì biết rõ mười mươi nó là con của bà Sớc, một người đàn bà nghèo khổ, sống du di cuối rìa làng. Bọn trẻ con lại biết thêm điều này nữa: đó là dì của con Chút. Nhưng ngoài điều ấy ra thì chúng chẳng hề biết thêm một tí gì nữa. Tâm hy sinh từ hồi có đứa trong bọn chúng còn ẵm ngửa. Chúng bắt chước gọi theo như vậy cũng là do cha mẹ chúng gọi mà thôi…
o0o
Trước đây làng Phú Thạnh có nhiều dừa. Qua những lần bị bọn Mỹ trên đỉnh dốc Cây Duối phóng pháo, bây giờ chỉ còn lưa thưa vài chục cây. Đất ở đây sẫm màu, mặn chát. Người ta bảo rằng đất đã thấm máu của bà con trong làng. Lũ trẻ lớn lên đặt ra nhiều trò vui trên mặt đất, ngay dưới bóng những cây dừa còn sót lại. Hàng ngày, cha mẹ ra đồng cày cấy, chúng ở nhà biết dọn dẹp rồi ơi ới gọi nhau đem khoai đem nước cho cha mẹ ăn dặm. Những đứa nhóc này chỉ chực đặt rổ khoai xuống đầu bờ là nhót ngay đến những tàn cây sát mé rừng tán gẫu hoặc rủ nhau đi hái sim hái ổi. Khi những túi áo căng phồng lên, chúng lại tụm nhau ngồi ăn.
Một hôm, đang ăn, bỗng thằng Tùng, một thằng cao gầy, đội nón nhựa trắng, lấy trái ổi cốc vào đầu con bé Việt mặc áo đen ngồi bên cạnh:
– Đố con trán dồ, cái dốc mây đang che kia là dốc gì?
– Hỏi không được sao mà còn đánh người ta?
Sau câu hỏi có vẻ hiền lành, con bé áo đen véo một cái thật đau vào đùi thằng nón trắng làm nó nhảy nhổm lên. Thế là nổ ra cuộc cãi nhau. Những lúc ấy con Chút thường láu lỉnh cười, khoe cái răng lòi xỉ của nó ra. Mái tóc cũn cỡn buộc dây đỏ cứ lắc qua lắc lại. Mắt nhìn lên dốc Cây Trâm, muốn đem ra đố các bạn. Nhưng dằn lòng được, nó cầm trái ổi chín mọng tràm trong lòng bàn tay nhứ nhứ trước mặt lũ trẻ:
– Đứa nào nói đúng tên cái dốc cháy đen kia, tao cho trái này.
Cả lũ nhao nhao:
– Dốc Cây Sim!
– Dốc Cây Sim!
– Tao nói trước!
– Tao nói trước!
– Đừng ồn-Con Chút nói như người lớn-Tao nói nghen, con Cháu, thằng Hải cùng nói một lần, tao chia hai.
Cả bọn cười ré lên. Con Chút lại nói:
– Còn trái ổi chót tao đố nghen. Con dốc có nhiều cây trâm là dốc gì?
– Mày lại nói dốc Dì Tâm mày chớ gì, lúc nào mày cũng khoe dì mày-con Việt áo đen ngẩng cái trán dồ lên nói.
– Vậy mày có biết dì Tâm mày không? Thằng Tùng xen vô.
– Sao hổng biết. Là dì tao chớ ai mà hỏi!
– Nhưng làm sao người ta lại đặt tên? Thằng Tùng bỏ cái nón trắng ra, gằn giọng.
Con Chút lúng túng. Nó khoát tay đứng dậy, xì lên một tiếng:
– Tao biết nhưng tao hổng nói.
Thế là cả bọn xì lại vào mặt nó, la ó rồi giải tán.
o0o
Mấy hôm liền, các chú du kích gỡ mìn quanh cái đồn Mỹ, trên đỉnh dốc Cây Duối cho đồng bào đi lại làm ăn. Nhân đó các chú cũng dời mả một số các chú các cô nằm trên đồi hồi chống Mỹ về nghĩa trang của xã. Đội thiếu niên làng Phú Thạnh nhận việc tiếp tế các bữa ăn dặm theo sáng kiến của con Chút.
Một buổi sáng, bọn trẻ mang xôi, xách nước lên tới dốc bà Nhạn thì nghe tiếng mìn nổ. Các chú du kích ơi ới gọi nhau rồi la vọng xuống cấm bọn chúng leo lên. Chúng nó ức lắm, nhưng phải vâng lời. Ngay lúc ấy, các chú cáng xuống một người. Chúng nó né đường nhìn theo. Con Chút nhận ra trước tiên, kêu lên:-“Chú Đông”.
Đám trẻ lặng lẽ đi theo sau cáng đưa chú về nghĩa trang liệt sĩ. Từ đó, nơi chú Đông ngã xuống, có một cái dốc mới được đặt tên là “Dốc Chú Đông”.
Không còn mìn, lũ trẻ tha hồ lên núi cao hái trâm hái ổi. Trên cao, bị cây rừng che, chúng khó nhận ra các dốc như ở dưới nhìn lên. Con Chút biết thế, nên khi cả bọn ngồi nghỉ lại giữa một bãi cỏ, nó hỏi:
– Đố tụi bay tìm ra dốc Sim ở đâu?
Mãi một lúc sau, bọn trẻ mới tìm ra dốc Sim, nhưng trong bụng chúng vẫn chưa tin chắc.
– Lạ quá mà!
– Chưa chắc!
– Nhất định đúng- Con Chút nhìn quanh rồi nói quả quyết-Có phải ở phía trái dốc Sim có cây thị to không? Thế thì cây thị kia kìa.
– Chịu thua con Chút bay ơi.
– Còn dốc Trâm đâu? Chút hỏi tiếp.
– Mày lại muốn nói dốc Dì Tâm mày chớ gì? Mả dì mày đem về nghĩa trang rồi. Giờ tao cứ gọi là dốc Cây Trâm đó. Con Việt trán dồ nói ngang.
Con Chút từ tốn:
– Đưa thì đưa, vẫn phải gọi là dốc Dì Tâm chớ.
– Tao không gọi. Con Việt cãi lại.
– Không gọi thì thôi…-Nó im lặng một chút rồi nói dỗi-để đó rồi coi…
Quay sang phía thằng nón trắng, Chút nói:
– Tao hỏi nghen (Chút rơm rớm nước mắt, chỉ sợ thằng nón trắng không bênh mình) -Vậy tại sao chú Đông cũng được khiêng xuống nghĩa trang mà tụi bay…
Nói đến đây, nước mắt con Chút ràn rụa.
– Chú là người gỡ mìn. Chú là liệt sĩ. Con bé áo đen giải thích.
– Dì tao cũng liệt sĩ, sao bay…
– Mày nói sao hả? Thằng nón trắng hỏi lại.
– Má tao biểu dì tao là du kích mà…
– Thì trong làng này các cô các chú ai chẳng là du kích.
– Tụi bay không thương dì tao…
Thằng bé đội nón trắng dịu giọng:
– Chút, mày nói đi, coi tao nghe có phủng lỗ tai không?
Con Chút vùng vằng, mái tóc ngắn cũn cỡn buộc chỉ đỏ cứ lắc qua lắc lại. Nó khóc ư ử trong miệng. Bất ngờ, nó đưa tay lên quệt nước mắt nước mũi đang chảy trên má rồi nói:
– Má tao biểu hồi trước ở dốc Cây Trâm này xe tăng Mỹ nó càn lên. Các cô các chú chặn đánh cháy hai chiếc. Nó tức mình bắn ghê lắm. Hai chú du kích bị thương nặng…Lúc đó dì tao…
– Sao không đặt tên dốc cho hai chú đó. Con Việt trán dồ cắt ngang.
– Để nó nói, cái con này-Thằng nón trắng nạt con bé áo đen rồi quay lại hỏi: “Mày nói sao rồi hả Chút?”
– Sao à, má tao biểu giữa lúc xe nó bắn, máy bay nó quần, dì tao xông đến cõng một chú vô rừng.
– Dì mày giỏi. Tiếng thằng Sáng từ trên cây ổi nói vọng xuống.
Con Chút thấy nguôi nguôi, nó kể mạch lạc hẳn:
– Dì tao lại ra để dìu chú nữa vô. Nó bắn. Dì tao lấy người che cho chú. Nó bắn nữa, dì tao gãy chân mà cứ kéo chú vào rừng. Chú được cứu sống. Còn dì tao đến khuya thì chết. Con Chút bật khóc rưng rức.
Bọn trẻ sững sờ. Có mấy đứa cũng thút thít. Thằng bé đội nón trắng nói:
– Vậy thì phải lắm rồi-Nó quay sang phía con Việt trán dồ-Mày nghe phủng lỗ tai chưa? Người ta gọi dốc Con Tâm là phải. Nhưng mà…Từ nay mình đừng gọi là dốc Con Tâm nữa.
– Sao vậy?
– Hỗn chớ sao?
– Chớ kêu làm sao?
– Dốc Dì Tâm…Như con Chút gọi đó.
Cả bọn vỗ tay hoan hô rồi lại tiếp tục lấy trâm lấy ổi ra ăn.
o0o
Hai tháng sau, con Chút theo cha vào Tuy Hòa để học. Cha nó đi chữa bệnh ở miền Bắc mới về, đang công tác ở ngành y tế. Buổi chia tay, bọn trẻ từ trên núi hối hả chạy về, theo xe dúi vào tay con Chút một bọc vừa sim vừa ổi.
– Thỉnh thoảng về chơi nghen Chút! Con Việt trán dồ nói nhỏn nhẻn.
– Ời…tao sẽ về! Chút trả lời lí nhí.
Chú lái xe bấm còi. Xe chuyển bánh cuốn theo lớp bụi mù phía sau. Bọn trẻ đứng sững sờ nhìn theo. Bất giác chúng cùng nhìn lên dãy núi. Thằng bé đội mũ trắng quay sang hỏi các bạn:
– Đố tụi bay dốc Chú Đông ở chỗ nào?
– Chỗ có mấy cây duối kia kìa.
– Vậy dốc có nhiều cây trâm là dốc gì? Thằng bé đội mũ trắng hỏi tiếp.
Bọn trẻ nhao nhao. Con Việt lật đật nói trước:
– Dốc Dì Tâm!
Bữa nay, dốc Dì Tâm như cao hơn mọi bữa. Sau dốc Dì Tâm, trập trùng bao nhiêu dốc khác cứ nhấp nhô trong nắng…
Tuy Hòa, 1976
NGƯỜI KHÁCH LẠ
Người khách ấy đã đến nhà tôi khi không ai mong chờ ông cả .
Ông đến vào buổi trưa. Vợ chồng tôi vừa ăn cơm xong, đang ngồi bên bàn uống nước thì nghe có tiếng gõ cửa rụt rè. Tôi mở cửa. Trước mặt tôi hiện ra một người đàn ông gầy gò, trán nhăn nheo, da sạm nắng. Ông mặc bộ đồ ni – phăng xanh bạc phếch, vai đeo chiếc túi cói đã có những lỗ thủng. Ông lúng túng hỏi tôi :
– Đây có phải nhà chú Thanh không chú ?
Tôi sửng sốt nhìn từ đầu đến chân ông:
– Bác hỏi anh Thanh có việc gì ?
Ông lại bối rối nhìn tôi :
– Tôi là Chín Hược chú anh ấy .
Tôi định giơ tay nắm lấy tay ông, nhưng bất giác rụt lại ngay :
– Cháu là Thanh đây, mời chú vào .
Ông lặng lẽ gật đầu chào vợ tôi khi tôi giới thiệu ông với cô ấy rồi cúi xuống sè sẹ cởi đôi dép cao su, bỏ chiếc túi cói ở góc cửa. Tôi hỏi ông dùng cơm chưa ông mỉm cười cảm ơn, xin phép ngồi xuống một chiếc ghế bỏ trống đối diện với ghế tôi, kê sát bên cửa sổ nhìn ra một khoảnh vườn đầy nắng và giở túi thuốc rê ra quấn. Dáng ông ủ rũ, ngơ ngác thật tội nghiệp. Ông đã thay đổi quá nhiều sau bao năm dài dằng dặc …
Ngày tôi còn bò nhoài ra đất gào rát cổ chữ a, b mà chữ vẫn bay đâu mất thì ông đã là một thiếu niên mười bốn tuổi, có dáng người mập mạp suốt ngày ôm gà chọi đi lông rông khắp làng. Làng tôi là một làng nghèo, nằm hẻo lánh sát chân núi. Trong kháng chiến chống Pháp là vùng tự do, nhưng do đất đai cằn cỗi nên bà con sống rất lam lũ. Quanh năm suốt tháng chỉ ăn cơm ghế khoai, từ người già đến con nít, ai cũng mặc những bộ đồ xi-ta bạc phếch, chằng đụp những miếng vá. Ông bà tôi, ba má tôi cũng vậy. Nhưng chú Chín thì lại khác hẳn. Là con út, chú được cả nhà chiều cưng, đòi thứ gì, sắm cho thứ ấy. Bà tôi phải mua lại của một người từ vùng tạm chiếm về cho chú một chiếc áo vải dù hoa, một cái quần gabacdin thật oách. Có lần một người buôn lậu từ vùng tạm chiếm về thì thầm gì đó với chú tôi, chú tôi thì thầm với bà tôi. Bà tôi nói: “Mua chiếc rế ấy à? Bây giờ ai lại đội. Bà con họ xì xào chết. Nhà mình nghèo mẹ lo cho con vậy là quá đủ rồi. Con coi quanh đây có ai như con không“. Chú tôi dằn dỗi, đòi nhảy xuống giếng tự tử. Bà tôi phải chiều chú. Chú đội mũ nồi nghễu nghệnh đi trong làng ra dáng tự đắc giữa những tiếng xì xào bàn tán của bà con vốn ghét “đồ ngoại”. Sau này nhiều lúc tôi tự hỏi, chẳng hiểu vì sao chú khác tính mọi người trong nhà vốn cần mẫn tằn tiện như vậy. Có phải do cả nhà cưng chiều chú, còn chú thì chỉ biết lo cho mình chẳng nghĩ gì đến khó nhọc của người khác, đương nhiên tự cho mình là phải sướng hơn mọi người? Tôi không rõ nữa . Nhưng lúc ấy, trước mắt bạn bè, tôi rất hãnh diện có một người chú “oách xì dầu “, coi ông như người bảo trợ cho mình .
Chú Chín thường dẫn tôi đi chơi. Trưa trưa , chúng tôi tụ tập dưới bóng một cây đa cổ thụ có tán rộng, rễ trổ lòng thòng từ thân cây xuống. Trên thân cây, quanh gốc cây, bà con trong làng lập khám, lập bàn thờ. Họ coi gốc đa như chỗ linh thiêng nhất làng, nơi có những vị thần phù hộ cho làng. Vào đầu tháng, ngày rằm, bà con thường đem xôi đem chuối ra cúng. Chú Chín và anh Sáu Trợ, bạn cùng tuổi rất ăn rơ nhau, rủ chúng tôi chơi chọi gà , đá bóng bằng giẻ rách cuộn rơm , rồi với dáng vẻ hùng dũng , trong khi chúng tôi nơm nớp lo sợ , hai nguời xông đến bẻ chuối, bốc xôi ăn , cười nhạo chúng tôi là lũ thỏ đế . Chúng tôi tức mình, xông vào giành giật la ó vang trời. Cho đến lúc cha mẹ réo tên từng đứa, chúng tôi mới dạ ran lên, lục tục chạy về nhà . Chú Chín Hược đứng chống hai tay vào hông ngạo nghễ cười nhạo lũ nhát gan chúng tôi rồi ôm gà sang thôn khác. Có lần, tôi nghe bà tôi bảo chú: “ Hược, mày lớn rồi, mày phải giúp cha mẹ, anh chị chứ sao cứ lông rông như con nít vậy? “ Chú tôi nói: “ Có chút con út, cả nhà không lo được sao bà“ rồi cười hì hì, ôm gà ra đi. Bà tôi nhìn theo lắc đầu lẩm bẩm điều gì không rõ .
Vào một ngày cuối năm 1954, cái làng quê hẻo lánh suốt chín năm kháng chiến chống Pháp không hề thấy một thằng địch đã xuất hiện những tên lính nguỵ mặc quần bốn túi, đội mũ nồi có sọc vàng sọc đỏ nghênh ngang sục sạo khắp hang cùng ngõ hẻm. Những tiệm rượu, những sòng bạc cũng mọc lên như nấm độc. Chẳng hiểu bọn lính rủ rê chú như thế nào mà suốt ngày, chú lê la ở các tiệm rượu, các sòng bạc với bọn chúng. Chú chỉ về nhà khi mồm sặc mùi rượu, chân nam đá chân chiêu hay những lúc thua bạc, năn nỉ bà tôi xin tiền. Tôi thường thấy ông tôi la mắng , đập bàn xô ghế chửi bới, còn bà tôi thì vừa thút thít khóc vừa rút cái đãy nhỏ trong túi ra đếm những đồng bạc nhàu nát, đẫm mồ hôi tay, lén lút đưa cho chú. Thế rồi tự nhiên, những bộ bát đĩa kiểu từ thời cụ kỵ để lại, những chiếc sừng nai treo trên tường đã bay biến đâu mất. Ông tôi ngày càng không chịu nổi chú. Có lần, ông la mắng, chú cãi lại, ông đã vung chổi lên đập vào đầu chú đốp đốp. Tôi thấy mắt chú vằn lên những tia máu đỏ, trừng trừng nhìn ông. Và, một buổi sáng, tôi thấy chú cuốn tròn quần áo lại, cắp vào nách không thèm chào ai, mặt sưng sưng, bước ra khỏi nhà …
Càng ngày, những cuộc khủng bố, bắn giết những người tham gia kháng chiến của bọn Diệm càng rộ lên ở quê tôi. Bà con lối xóm ai cũng nơm nớp lo sợ sẽ tới lượt mình bị bắt, bị giết. Ai cũng thủ thế, ở nhà, ít đến thăm viếng nhau. Một hôm, có một người bà con đi chợ Quận về thì thầm với ông bà tôi: “Thằng Chín hư rồi! Tôi thấy nó mặc đồ lính ngụy, đầu chải đít vịt, cặp kè bọn đĩ đi ngoài phố”. Bà tôi thút thít khóc, còn ông tôi thì đấm tay rầm rầm xuống bàn, quát to lên: “ Tao từ ! Từ nay thấy mặt nó là tao chém!“ .
Thời gian trôi qua, xã tôi đã đứng lên đồng khởi. Cả xã được giải phóng. Mọi người hăng hái tham gia các đoàn thể, đóng góp đảm phụ cho cách mạng. Anh Sáu Trợ tham gia cách mạng từ trước giờ làm Xã đội truởng. Tôi cũng đuợc vào du kích. Chúng tôi vận động bà con đi lôi kéo những người thân đã lầm đường lạc lối trở về làm ăn lương thiện. Bà tôi lọm cọm mò xuống thị trấn để tìm chú. Chú tôi nói: “Bà về đi, tìm tôi làm chi cho uổng công. Tôi là cái đồ bỏ đi rồi. Ai cũng khinh khi tôi hết. Tôi cũng khinh hết, thù hết cái làng Phú Sơn khốn nạn. Bà bảo với cái thằng Sáu Trợ, Xã đội xã điếc chi đó là đừng rủ tôi vê. Tôi muốn nhắm gan nó với rượu đây“. Nghe việc ấy Sáu Trợ bực bội nói:
– Nó hư lắm rồi. Chỉ còn việc treo cổ nó lên cành đa thôi .
Đùng một cái, bọn địch mở một trận càn lớn vào xã tôi. Chẳng hiểu thế nào mà chúng lại nắm được những ngóc ngách của xã. Đội du kích bị đánh giạt, nhiều anh em chết và bị thương. Sáu Trợ bị thương nặng, may mà đưa đi bệnh viện kịp nên cứu được. Khi địch rút , chúng tôi bắt được một tên tù binh bị thương nặng ở chân phải. Hắn van xin được cứu và khai rằng: “Trận này do thiếu uý Hược mách với cấp trên những đuờng đi nước bước. Lúc đội du kích bị vây, thiếu úy chỉ cho tôi một người cao cao gầy gầy nói: “Nó là tên cộng sản cồ, bắn nó đi!“. Tôi run rẩy co rúm người lại. Thiếu uý đạp vào người tôi một cái, giật khẩu AR 15 lên ngắm. Tiếng nổ làm tôi sợ hãi bịt tai lại. Khi khói tan, tôi không thấy người gầy gầy nữa …”
Thế là đã rõ. Chú tôi dẫn địch đến tàn phá quê mình.
Từ đó tôi không nghe tin tức gì về chú nữa .
Ông bà tôi chết từ lâu. Trước khi chết vẫn đau đáu vì có một người con “phản quốc“. Cha mẹ tôi đã già, hiện đang ở quê, buồn bã vì có một thằng em xấu xa .
Từ ngày giải phóng đến nay, bao nhiêu người có bà con từ miền Bắc về, từ chiến khu xuống đoàn tụ êm ấm. Bao nhiêu người lầm đường lạc lối, bao nhiêu người đói khổ vì sự tàn phá của thằng địch phải ra đi làm ăn xa lần lượt trở về. Chỉ có chú tôi là bặt vô âm tín. Ông chết rồi? Ông đi Mỹ rồi? Không ai còn mong chờ ông nữa. Ông về chỉ rắc rối thêm. Vậy mà bữa nay ông về, ông ngồi ở nhà tôi, cháu ruột ông. Ông về làm gì? Nhờ vả chăng? Cầu cứu chăng? Nếu muốn được bảo lãnh ân xá, ông phải về từ lâu kia chứ, sao bây giờ mới về ? Tôi là chuyên viên của văn phòng Tỉnh ủy. Từ ngày giải phóng đến nay, bao nhiêu bà con xa gần, làng xóm đến nhờ tôi giúp đỡ : khiếu nại, nhờ làm đơn kiện tụng, xin mua vật liệu, xin bảo lãnh, minh oan. Tôi cố gắng giải quyết cho có lý có tình. Nhưng phải nói, những việc ấy cũng gây cho tôi không ít phiền hà. Bây giờ đến lượt ông chú tôi. Tôi ngồi im, chờ đợi. Vừa lúc ấy, vợ tôi xin phép ông đi làm. Ông hỏi tôi :
– Anh có đi làm không ?
– Không, chiều nay cháu nghiên cứu tài liệu ở nhà .
Ông lặng lẽ từ từ quấn một điếu thuốc mới, từ từ châm lửa hút rồi hỏi nhỏ:
– Anh có bao giờ kể cho cô ấy nghe về tôi không?
– Không.
– Thế thì tốt.
Tôi cảm thấy sốt ruột, mong cho ông đi vào câu chuyện. Nhưng ông cứ chậm rãi rít cho kỳ hết điếu thuốc rồi mới lên tiếng:
– Tôi từ Bình Tuy về…
Ông ngừng lại một lát. Mặt căng thẳng. Những nếp nhăn bỗng dồn tụ cả lại ở đuôi mắt:
– Tôi nhờ anh một việc…
Tôi cảm thấy mặt mình đang tái dần, nhưng vội nghiêng tai tỏ ý lắng nghe. Ông liếc nhìn tôi thật nhanh rồi nhìn ra khoảnh vườn phía ngoài cửa sổ chói chang nắng gắt, đôi mắt trông thật bí ẩn. Ông hỏi như nắm được ý nghĩ của tôi:
– Anh nghĩ tôi về đây để nhờ vả làm phiền anh?
Tôi gượng cười:
– Có gì phiền đâu?
Ông nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng trầm hẳn xuống:
– Phiền lắm chớ. Một người như tôi có hại cho lý lịch anh lắm. Tôi nghĩ thế nhưng vẫn muốn gặp anh, mong anh thông cảm.
Ông lắc đầu rồi nói tiếp:
– Tôi biết bây giờ về xã, gặp ai chắc cũng khinh tôi. Điều ấy đúng thôi. Vậy mà tôi vẫn cứ muốn gặp anh, khổ vậy đó-Ông im lặng một chút rồi nói tiếp-Tôi muốn tâm sự với một người ruột thịt. Chẳng hiểu sao, trên đời này có những lúc như vậy đó. Tôi phải mở đầu câu chuyện sao đây? Có lẽ từ lúc tôi bỏ nhà ra đi. Hồi mới ra đi, tôi ngỡ mình bỏ đi như vậy là yên hùng lắm. Nhưng sau này nghĩ lại, đó là chuyện hết sức xấu hổ. Xấu hổ quá, cha mẹ, anh em, làng xóm khinh bỉ nên phải ra đi. Tôi ra thị trấn, lang thang, kết bè với tụi xấu, ăn cắp, nhậu nhẹt. Bọn lính Quận thường cho tiền tôi, rủ tôi vào chỗ sa đọa. Tôi biết gia đình, làng xóm càng khinh tôi nhưng tôi không biết cách nào thoát ra, có lẽ tôi yếu đuối quá, hư hỏng quá. Chẳng ai khuyên tôi, nói một lời âu yếm với tôi. Tôi đâm thù ghét tất cả. Tôi thấy con đường trả thù là đi lính ngụy. Cho đến khi Sáu Trợ bảo mẹ tôi, bà nội anh xuống gọi tôi về thì tôi sợ anh ta nhử tôi vào bẫy, chớ chẳng tha thứ cho tôi đâu. Đã trót thì phải trét. Tôi hăm dọa lại Sáu Trợ. Và khi biết anh ta đòi treo cổ tôi lên cành đa làng thì tôi càng căm anh ta. Tôi lựa thời cơ để cho anh ta biết tay. Lần ấy, tôi trình với cấp trên của tôi cho mở trận càn về xã, tôi sẽ chỉ cho mọi ngóc ngách bố trí quân vì xã mình là xã ven núi cộng sản hay trú ngụ. Tôi rất mừng vì có dịp cho dân Phú Sơn biết tay “Chín Hược”. Chính lần ấy, cánh tôi đụng phải cánh Sáu Trợ. Cánh ấy, du kích mỏng nên bị chúng tôi bao vây. Chúng tôi tiêu diệt họ gần hết và dồn họ lại một gò đất. Tôi biết Sáu Trợ chỉ huy cánh này vì anh ta cứ choang choác hô xung phong. Tôi giơ tay làm loa gọi:
– Tên Sáu Trợ và bọn du kích đầu hàng sẽ được Chín Hược này tha chết cho.
Sáu Trợ quát:
– Chín Hược hả? Mày gọi tao đầu hàng hả? Đồ phản quốc! Đồ chó đẻ! Hàng nè!
Anh ta đứng thẳng người bắn về phía tôi một phát súng. Sùng máu, tôi bảo một thằng lính bắn lại anh ta. Có lẽ nghe cái giọng hùng dũng của anh ta mà nó run lẩy bẩy. Tôi giật súng và bóp cò. Tôi thấy Sáu Trợ ngã xuống. Tôi tưởng Sáu Trợ chết rồi. Tôi hơi hơi hả dạ: “Mày còn treo cổ tao lên cành đa nữa không?”. Nhưng vừa nghĩ tới đó tự dưng tôi thấy sợ, sợ run cả người, không biết vì sao. Tôi bỗng nghe đạn nổ, tiếng la hét, tiếng hú mọi nơi. Tôi bỏ chạy. Tôi chạy, chạy mãi và ngã xuống ngất ngay khi chân vấp phải một vật gì đấy. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm ngay dưới gốc đa làng. Thòng xuống đầu tôi là những chiếc rễ lủng lẳng như những sợi dây treo cổ. Quanh tôi, cành lá xì xào rất lạ, hình như có tiếng hú âm âm nghe như chẳng phải tiếng người mà tiếng của những hồn ma. Tôi rợn cả người, chân tay run lẩy bẩy. Tôi cố gắng lết khỏi gốc đa nhưng không lết nổi. Bỗng tôi thấy có người xốc tôi dậy: “Trời, thiếu uý! Thiếu uý bị trúng gió à? Tụi du kích bị tiêu diệt rồi. Tụi em thấy không có chuyện gì mà tự nhiên thiếu úy chạy làm tụi em chạy theo. Giờ đưa em cõng về…”
Từ đó tôi kinh hãi cái làng Phú Sơn, cái cây đa của làng ta. Tôi muốn quên đi, nhưng cái cây đa có những chiếc rễ lòng thòng như những sợi dây treo cổ cứ theo tôi cả trong giấc mơ.
Tôi xin chuyển đến một đơn vị đóng ở Công Tum.
Vào mùa hè năm 1965, đơn vị tôi bị bao vây ở một làng bên sông Đak Bla. Hai bên đánh nhau dữ dội. Tôi bị thương và sau này, khi được giải thoát phải cưa mất một chân. Đúng ra, như những người khác thì xin về quê hương, nhưng tôi thì tôi xin vào Bình Tuy, vì sao anh biết rồi. Hồi bấy giờ, Bình Tuy là nơi có nhiều bà con ở miền Trung phải bỏ quê hương bị tàn phá vào làm ăn. Tôi nhập cuộc với họ. Tôi nói tôi bị tai nạn, cha mẹ bị chết, nhà cửa bị tàn phá, nên vào làm ăn. Chắc anh sẽ hỏi vì sao tôi không khai báo là thương phế binh để lãnh lương mà sống có sướng hơn không. Lúc đó thương phế binh ngụy có nhiều quyền lợi lắm mà. Nhưng tôi, tôi không muốn nghĩ đến cái cũ nữa. Tôi muốn bắt đầu lại cuộc đời mình, như mọi người, làm việc và sống lương thiện. Tôi tha thiết như vậy.
– Để chú tránh dĩ vãng?
– Đúng. Anh nói đúng.
Ông lại cầm túi thuốc, quấn một điếu thật bự, nhưng chỉ hút có một hơi đã đưa tay dụi mãi dụi mãi xuống cái gạt tàn. Mắt ông chăm chú nhìn tay ông, dường như cái việc dụi tàn thuốc là việc đáng kể trong lúc này. Tôi đăm đăm nhìn ông. Bất giác, ông ngẩng lên nhìn tôi, nói tiếp, như nãy giờ ông đang nghiền ngẫm ý nghĩ của tôi mà ông đã nắm được:
– Chắc anh nghĩ tôi sợ cách mạng trị tôi nên phải nói dối bà con chứ gì. Không, tôi không sợ. Một thằng bạt mạng như tôi, đã đi lính là cầm chắc cái chết trong tay, đùa giỡn với cái chết như thế mà không sợ, huống hồ chi đã thành một thằng thương phế binh mà sợ cái gì. Tôi biết là ở chế độ nào cũng vậy, ai nỡ đi băm vằm bọn thương phế binh, một lũ bỏ đi rồi. Nhưng đúng là tôi chán mọi sự tôi đã làm rồi, tôi không muốn nghĩ đến nó nữa. Chẳng biết nó xuất phát từ chỗ nào nhưng đúng là như thế đó. Khi người ta đã lao vào mọi sự rồi, đã cụt một cái giò rồi, thì tự nhiên mình thấy thương mình và chán hết. Chỉ muốn sống lương thiện làm ăn thôi… chẳng còn ham hố cái gì hết.
Thế là còn một số tiền dành dụm, tôi mở quán chữa xe đạp…Tôi sống cô độc như một cái bóng, ai nhờ thì làm, không muốn thân với ai. Chỉ muốn quên dĩ vãng đi. Đối với đàn bà, tôi cũng không để ý, vì tôi nghĩ tôi què cụt rồi. Thế mà, một hôm, có một bà cụ ở nhà bên cạnh bị đau bụng thổ tả. Nhà ấy chỉ có hai mẹ con, bà và một cô con gái. Cô chạy sang nhờ tôi giúp đỡ. Tôi có thuốc, cho uống, bà cụ khỏi. Bà rất thương tôi. Cô gái thấy cảnh lẻ loi cũng thương tôi. Chúng tôi cưới nhau. Có con cái, tôi cảm thấy vui trở lại, mọi thứ cũng phai dần đi.
Miền Nam được giải phóng. Bà mẹ vợ tôi muốn về quê ở Bình Định. Nhưng tôi không muốn về, lấy cớ ở đây đất tốt dễ làm ăn. Ý kiến tôi trùng với ý kiến của ông anh vợ tôi. Ông đi cách mạng mà tôi không biết, giờ làm Bí thư Huyện ủy.
Vùng tôi ngày càng sầm uất. Bà con ở đây làm ăn ngày một khá lên. Bà con ở các nơi vào đây xây dựng vùng kinh tế mới ngày càng thêm đông vui. Xã tôi bắt đầu thành lập Hợp tác xã. Các ông ở xã thấy tôi chăm chỉ, lương thiện, lại là em rể ông Bí thư Huyện ủy nên cử tôi làm Chủ nhiệm. Tôi không nhận, bảo mình cụt chân, sức yếu. Họ ép quá, ông anh vợ tôi cũng la rầy nên tôi nhận. Phải nói, đầu óc tôi cũng nhanh nhẹn. Tôi tổ chức sản xuất lúa, trồng cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi, làm nghề tiểu thủ công nghiệp. Mọi ngành đều tấn tới. Hợp tác xã tôi tự nhiên nổi bật lên. Hết huyện rồi tới tỉnh khen. Tôi cũng được nhiều giấy khen. Cứ mỗi lần bầu ban Chủ nhiệm, tôi xin rút nhưng bà con cứ cử mãi, bầu mãi. Tôi đành nhận. Đang vui thì đột nhiên…
– Có người tố cáo chú? – Tôi hỏi.
Ông cười mặt nhăn nheo, đau khổ:
– Không phải. Họ đề nghị tôi làm sơ yếu lý lịch, khai rõ quê quán, tông tích để họ cho người đi điều tra kết nạp Đảng. Dẫu sao một Chủ nhiệm có thành tích như tôi thì nên đứng ở trong hàng ngũ Đảng. Lúc đầu tôi từ chối, bảo mình sức yếu, yêu cách mạng là đủ rồi, vào Đảng cũng không cống hiến được bao nhiêu. Nhưng ông anh vợ la rầy tôi quá, tôi đành thú thật. Ông bực mình vì lâu nay tôi không nói ra tung tích của tôi, nhưng rồi an ủi:
– Thôi được, dượng trước đây có tội nhưng lâu nay đã ăn năn làm ăn, giờ có thành tích, dượng chưa vào Đảng cũng được, còn việc lo ngại ở quê hương thì tôi sẽ giúp…
Chẳng biết anh ấy giúp thế nào mà một thời gian sau tôi được thư Sáu Trợ thay mặt Đảng ủy và Uỷ ban xã bảo anh ấy mừng cho tôi tiến bộ, mời về quê chơi, mọi người sẽ không nhắc chuyện cũ đâu…Tôi cũng vui vui, nhưng cũng ngại. Tôi muốn về thăm lại quê cha đất tổ nhưng cứ lần lữa, lần lữa hoài. Thì đùng một cái, tháng qua, trên định cho con tôi đi học nước ngoài vì em nó thi điểm cao. Họ đòi tôi phải ghi rõ lý lịch cho nó, có chứng nhận của Uỷ ban xã. Lần này thì vợ tôi thúc ép ghê quá. Bả động viên tôi đi, vì chẳng có chuyện gì đâu, anh Sáu Trợ đã bảo đảm rồi…
Ông đứng dậy đến bên chiếc túi cói, rút ra một chiếc cặp ba dây, đem đến giở cho tôi xem những giấy khen, bằng khen của ông. Đấy là những tờ chứng nhận tư cách ông trong những năm qua.
– Bây giờ chú ngại đi một mình về xã…
– Không! Không phải. Tôi đã xuống xe và đã rẽ về đến làng mình rồi. Tâm trạng tôi có rụt rè, nhưng qua thư anh Sáu Trợ tôi hiểu mình được khoan hồng. Thế nhưng khi thoáng thấy bóng cây đa làng, còn sót lại sau bao bom đạn, cày ủi, thì tự nhiên chân tay tôi bỗng run run kỳ lạ. Tất cả mọi cái tưởng quên rồi bỗng quay lại. Tôi toát mồ hôi lạnh, phải ngồi nghỉ, không bước tiếp được nữa. Tôi rút thuốc ra quấn hút, nhưng tay run không quấn được. Tôi cảm thấy cái bóng đa làng lừng lững như làng mình qua bao biến thiên vẫn đang đứng đó hỏi tội tôi. Dù anh Sáu Trợ và bà con có ân xá cho tôi, nhưng làm sao tôi quên được những tội lỗi mình đã gây ra. Anh ạ, tôi nghĩ, con người ai cũng có lúc sai lầm, miễn mình biết nhận ra và cố gắng sửa chữa. Nhưng mình tự kiềm chế để tránh những sai lầm thì vẫn tốt hơn. Chúng ta sẽ tránh được biết bao điều dằn vặt đau khổ mà đáng ra không phải có. Huống hồ, những việc mà tôi gây ra là những tội ác chớ không còn là những sai lầm nữa. Tới chừng này tuổi rồi, bao nhiêu năm nằm gác tay lên trán suy nghĩ nhiều rồi, càng ngày tôi càng thấy rằng những tội ác không có dịp sửa chữa được. Cho nên, con người không bao giờ được phép gây nên tội ác. Hằng đêm, tôi cứ nằm suy nghĩ mãi mà không cắt nghĩa nổi vì sao, có những kẻ lại coi việc đi gây tội ác như những thói quen hàng ngày. Càng tệ hơn nữa, họ lại nâng nó lên thành triết lý sống. Nói ra những việc trên, xin anh đừng cười tôi nghe bởi tôi đã gây tội ác rồi, giờ lại nói chuyện này như là cố tình coi mình là “tiến bộ”, hòng xuê xoa tội ác của mình, mong cách mạng bỏ qua. Không phải thế đâu. Tôi thực tình dằn vặt, đau khổ. Điều bắt tôi suy nghĩ hơn, dằn vặt hơn là chuyện con tôi được cách mạng chiếu cố cho đi học nước ngoài, mở ra một con đường mới cho nó. Trời ơi, con tôi, con tôi chớ không phải con ai đâu anh à – ông bỗng thốt lên những lời quặn thắt nghe đến xé ruột – Con tôi, con của một thằng đã gây tội ác, không phải chịu cảnh đời cha ăn mặn đời con khát nước, mà được những người ngày xưa bị cha nó cầm súng bắn, bây giờ lại nâng đỡ nó, cưu mang nó. Tôi hy vọng cuộc đời tụi nó sẽ sáng sủa hơn đời tôi, tụi nó sẽ không lặp lại những lỗi lầm mà cha nó mắc phải. Bởi tụi nó được ấp iu trong chế độ mới. Đôi lúc tôi cứ ước ao giá mình cũng được như tụi nó, được trẻ lại để bắt đầu từ đầu, nhưng tôi đã già rồi…Càng nghĩ tôi càng thấy trước kia mình thật là…thật là – Ông rút khăn tay chậm rãi lau những giọt nước mắt chợt ứa ra trong đôi mắt khô héo của người già rồi nói tiếp, giọng thì thầm-Thế là, anh biết sao không? Tôi không dám về làng nữa mà cứ quay lui, quay lui rồi bỏ chạy ra đường quốc lộ như bị ma đuổi. Ngày xưa, cũng như thế, tôi bị ám ảnh bởi cây đa có những rễ lòng thòng như những vòng dây treo cổ mà bỏ đi xa. Nhưng mãi mãi nó vẫn theo tôi đến cuối đời.
Tôi ngẩn ngơ đứng bên đường đón xe. Nhưng tôi không đi được bởi họ đòi vé chợ đen quá cao. Tôi đành ra bến xe Đà Nẵng để mua vé chính thức. Nhưng anh biết không, tình trạng xe cộ của mình mỗi ngày một khó. Từ Sài Gòn ra đây, tôi chờ xe mất đến năm ngày, còn bây giờ, ở đây tôi đã chờ hai ngày rồi. Họ bán cho những con buôn “có giấy ưu tiên”…Chờ mãi, sốt ruột, tôi bỗng nhớ ai đó đã nói anh làm ở Tỉnh ủy, tôi đến đấy. Họ chỉ nhà anh ở đây. Tôi muốn…
Ông đột ngột ngừng kể, đưa tay cầm túi thuốc đang đặt ở mặt bàn lên, nhưng không quấn hút mà lại để lại chỗ cũ. Tôi nhìn ông và chợt cảm thấy, ông vừa hé mở cho tôi nhìn rõ những gì đã diễn ra trong ông, trong những người như ông, còn sâu xa và lớn lao hơn nhiều những gì mà trước đây tôi chỉ biết qua các hồ sơ báo cáo. Lúc này thì tôi hoàn toàn tin rằng ông đến đây chỉ đơn giản vì một nhu cầu ấy, nhu cầu muốn được một người ruột thịt hiểu mình…
Từ chối việc tôi mời ông nghỉ lại và không chịu để tôi đưa tiễn, ông khách giơ tay bắt tay tôi rồi bước nhanh ra khỏi phòng. Tôi đứng trên gác nhìn theo, thấp thoáng dáng gầy gầy của ông với mái đầu sớm ngả bạc vì đã trải qua nhiều dằn vặt trong cuộc đời, lẫn vào những tốp người và xe cộ giữa dãy phố vòng vo, đang ra con đường chính…
1984
HAI NGƯỜI BẠN
Nghề làm báo cho phép tôi có điều kiện đi đây đi đó, gặp được nhiều loại người, nghe được nhiều câu chuyện vui có, buồn có. Nhưng có một câu chuyện cứ làm tôi suy nghĩ mãi, không thể nào cắt nghĩa nổi.
Dạo năm 1971, tôi được các anh phụ trách tờ báo Quân khu cử về công tác tại xã Lân Vũ. Đây là một xã anh hùng ở vùng sâu. Muốn đến xã Lân Vũ phải vượt ba trục đường: đường xe lửa, đường số một và đường nội tỉnh. Từ căn cứ Huyện đội đến Lân Vũ phải đi mất hai ngày. Ngày đầu, tôi theo giao liên đi từ Huyện đội đến một rừng cây, sát đường xe lửa chờ đêm đến vượt qua. Sau đó nghỉ lại ở đội du kích xã Lân Hà. Đêm hôm sau vượt tiếp hai trục đường nữa mới đến Lân Vũ. Lân Vũ nằm sát biển. Trước đây, vùng này là một rừng dương xanh mát. Nhưng sau này, do nhiều lần càn quét vào xã bị đau đòn của du kích, nên bọn giặc căm tức thả hàng ngàn tấn bon, cày ủi hàng chục lượt, giờ đây chỉ còn là một bãi sa mạc hoang vu, cát bỏng cháy hừng hực trong nắng. Bà con bị chúng dồn vào những khu tập trung hay chạy tản mát vào thành phố. Đội du kích phải vùi mình trong những bụi cỏ lùng mọc ven bờ một con sông nhỏ. Đôi lúc phải chuyển đến ở dưới những lùm dứa dại hoặc chôn mình dưới những động cát bỏng. Bọn giặc đóng nhiều đồn bót ở trong xã, luôn mở những cuộc lùng sục.
Tôi đã hòa nhập vào đội du kích rất nhanh. Đơn vị có khoảng mười hai người, hầu hết là nữ, xấp xỉ trên dưới hai mươi, cùng lứa tuổi tôi. Vì thế, suốt ngày, các cô cứ vây lấy tôi mà trêu chọc anh “nhà báo”. Phải nói, tôi không đẹp trai, nhưng được cái gọn gàng, linh hoạt và vui tính. Tôi cùng sinh hoạt, cùng đi phục kích với họ. Người chỉ huy đội du kích là chú Tám, tuổi ngoài năm mươi, dáng người to ngang, tiếng nói oang oang như vốn có ở những người miền biển. Sau chú là hai chị bằng tuổi nhau, khoảng ba mươi: đó là chị Tâm và chị Lãm. Chị Tâm người dong dỏng cao, da ngăm đen còn chị Lãm to ngang, thấp người nhưng nước da lại trắng trẻo. Hai chị rất thân nhau. Cả hai chị đều chưa có chồng. Ở đây một thời gian, tôi được hai chị nhận làm em nuôi.
Hai chị thường kể với tôi rằng, nhà họ chỉ cách nhau một hàng rào bông bụt. Từ nhỏ, hai người đã cùng nhau chơi nẻ, cùng rủ nhau đi bắt còng. Lớn lên, họ cùng sinh hoạt một chi đoàn, cùng vào du kích xã. Chị em trong đội thường cười bảo: “Họ như hai vợ chồng”, bởi lúc vào làng, khi đi phục kích, họ luôn ở bên nhau. Sau những lúc công tác, họ thường ngồi bắt chấy cho nhau, rồi ôm nhau ngủ. Cả hai chị đều có thành tích diệt giặc nhưng chị Tâm trội hơn. Tính chị lại hiền lành, bẽn lẽn, khiêm nhường hơn.
Chị em du kích kể rằng: Có một lần, hai chị cùng chú Tám chôn người trên một động cát để săn trực thăng Mỹ. Họ nằm từ sáng sớm cho đến trưa. Trời mỗi lúc một nắng. Người họ như bị rang trên cát. Ai cũng mệt mỏi, bứt rứt. Họ định quay về thì có một đàn trực thăng từ phía biển bay vào. Nó nghênh nghênh ngáo ngáo nhòm ngó khắp nơi. Một chiếc bay thấp trên động cát. Chị Tâm giơ súng bắn liền ba phát. Nó phụt cháy, chúi xuống động cát bên cạnh. Lập tức chị Lãm bắn bồi phát nữa. Chuyện là như vậy mà khi về, chị Lãm lại nói chị là người bắn đầu tiên. Chị Tâm bảo với cả đội:
– Đúng rồi, Lãm bắn trước. Thành tích đó là của Lãm.
Vốn biết chị Tâm khiêm tốn hay nhường thành tích cho bạn, chú Tám nói:
– Bây giờ ta sẽ xử. Chính tao thấy con Tâm bắn trước. Đây là công của Tâm.
– Lãm bắn trước chớ – Chị Tâm bênh vực.
– Im đi. Chuyện rõ ràng mà cãi tao – Chú Tám bực tức.
Một lần khác, họ phục giặc bên một bãi dứa dại. Hôm ấy, bọn địch từ trên bốt xuống ba thằng, trong đó có một thằng đeo ống nhòm, có lẽ là chỉ huy. Khi chúng đến gần, chị Tâm nổ súng bắn vào thằng chỉ huy. Tên này ngã quỵ xuống. Hai thằng kia bỏ chạy một đoạn rồi bắn lại. Đội du kích đuổi theo. Chị Tâm bị trúng một viên đạn vào bắp chân nên phải nằm lại giữa đường. Một lúc sau, họ diệt được hai tên kia và đưa tên chỉ huy bị thương về căn cứ của đội du kích. Trong một cuộc họp bình công, chị Lãm nói:
– Việc bắt được thằng chỉ huy là công của tôi. Tôi đã bắn qụy nó xuống và xông tới bắt nó.
– Đúng rồi. Tôi thấy Lãm nổ súng và chạy đến chỗ nó đầu tiên. Lúc ấy, tôi bị thương nên không làm gì được – Chị Tâm phụ họa.
Có biết bao nhiêu câu chuyện na ná như vậy mà tôi được chị em du kích kể cho nghe. Không rõ thực hư thế nào. Có thể họ thương chị Tâm hơn vì chị ăn nói nhỏ nhẹ còn chị Lãm lại hay “chanh chua”. Có điều, tôi được biết hai chị rất thân nhau và cùng rất quý tôi.
Vào những ngày cuối cùng của đợt công tác, tôi có thêm một người bạn mới. Đó là anh Vĩnh, một cán bộ làm công tác thi đua ở Quân khu xuống tìm hiểu tình hình, chuẩn bị cho đợt phong anh hùng. Thời gian này địch càn quét liên miên. Chúng tôi phải sống lưu động lúc chỗ này, khi chỗ khác. Có lúc, chúng tôi phải ngụp mình suốt ngày dưới dòng sông. Có khi lại phải vùi người trong cát, nằm giữa trời nắng. Đêm đến, chúng tôi mới được thơ thới, ra biển ngồi hứng gió. Những lúc ấy anh Vĩnh thường hỏi chuyện chị Tâm và chị Lãm. Tôi thấy chị Tâm thường ít nói, còn chị Lãm luôn bu lấy anh ta, nói rất nhiều, tôi nghe anh nói với chị Tâm:
– Qua mấy ngày tìm hiểu, tôi thấy chị với chị Lãm đều có thành tích. Có thể thành tích của chị còn trội hơn chị Lãm. Nhưng cha chị có một thời gian làm Liên gia trưởng, nên tôi muốn đề nghị chị nhường cho chị Lãm…
Chị Tâm reo lên:
– Lãm khá hơn tôi nhiều chớ. Lãm xứng đáng hơn tôi.
Anh Vĩnh ngồi im một lúc rồi tiếp:
– Nghĩa là tôi muốn chị để cho chị Lãm báo cáo gộp thành tích của cả hai người vào thành tích của chị Lãm. Như vậy, thành tích chị Lãm dày hơn, dễ được cấp trên chấp nhận phong anh hùng hơn. Vì có đề nghị chị cũng không…
Chị Tâm nghĩ ngợi một lúc rồi nói:
– Đúng, phải như vậy.
Tôi trở về đơn vị rồi được điều đi công tác ở một nơi khác. Mãi gần một năm sau tôi mới trở lại Lân Vũ. Tôi không còn gặp chị Tâm và chị Lãm nữa. Cả hai chị đều bị địch bắt. Chị Tâm bị bắt trong một lần bám vào làng công tác. Mấy hôm sau, chị Lãm lại bị địch bắt ở một nơi thật bất ngờ: chỗ chị em thường ngồi quan sát để chờ vào làng. Chị em bảo rằng: Chỗ đó chỉ có người trong đội du kích mới biết. Vậy đã có người khai? Ai khai?
Tôi từ biệt chị em trở về đơn vị. Dọc đường tôi bị một trận bom B.52, bị thương và được cho ra miền Bắc điều trị.
*
* *
Sau một thời gian nằm viện, tôi được điều về công tác ở một tờ báo Trung ương. Vì vừa ở chiến trường ra, nên lãnh đạo phân công tôi viết những bài có liên quan đến miền Nam. Tôi thưòng đến K5, K15 là nơi cán bộ miền Nam ra điều dưỡng để lấy tài liệu. Một hôm, tôi bất ngờ gặp một du kích xã Lân Vũ: chị Hà. Chị ra Bắc chữa bệnh vì bị thương ở lồng ngực, phải cắt mấy đoạn xương sườn. Chị bị thương trong một lần địch tập kích vào nơi bí mật nhất của đội du kích tại một làng hoang. Nơi đây là vị trí cuối cùng, lúc tình thế khó khăn nhất, đội du kích mới đứng chân. Tại đây, dưới những lùm dứa dại, đội đã đào sẵn những hầm bí mật. Chung quanh bố phòng bốn lớp mìn, chỉ chừa một ngõ để đi vào. Vậy mà địch ập vào đúng cái ngõ ấy, nổ súng khi họ đang ngủ. Cả đội bị tiêu diệt. Riêng chị Hà liều lĩnh phóng ào qua bãi bố phòng. May sao thoát được. Nhưng địch bắn đuổi theo làm chị bị thương.
Chị bò vào nằm trong một đám cỏ. Trời tối nên chúng không tìm ra. Đêm hôm sau, chị bò mãi mới lên được căn cứ đội du kích Lân Hà. Vậy là có kẻ chỉ điểm. Nhưng kẻ đó là ai? Chị Hà ngồi trên giường bệnh, nhìn tôi chăm chăm:
– Theo tin của Chi bộ từ nhà tù báo ra thì chị Tâm đã khai báo và nhận việc địch giao. Vì vậy, địch đã tập kích đúng nơi đội du kích đóng…
Chị Hà vừa nói vừa nhăn mặt tỏ vẻ bực tức. Còn tôi, tôi sững sờ đến nỗi giật mình đánh thót, làm rơi cả bút và quyển sổ cầm tay. Tôi cúi xuống nhặt để giấu nỗi xúc động. Nhưng suốt hồi lâu, tay tôi vẫn còn run. Chị Tâm với dáng người dong dỏng cao, khuôn mặt phúc hậu, lúc nào cũng mỉm cười khiêm nhường bỗng hiện ra trước mắt tôi. Tôi hỏi chị Hà mà nghe giọng mình khản đặc:
– Có thật thế không chị?
Chị Hà á lên một tiếng. Có lẽ vết thương ở xương sườn làm cho chị đau. Một hồi lâu trên mặt chị hiện lên vẻ đau đớn cùng cực. Chị nhờ tôi đưa giùm cốc nước đặt ở đầu giường. Chị uống mấy hớp, người có vẻ tỉnh táo hơn.
– Sao lại không thật. Đấy chính là tin tức từ nhà tù do cơ sở của ta báo ra – Chị nghiến răng nói tiếp – Tôi không ngờ một du kích giỏi như chị Tâm lại sa sút như vậy. Nhưng có lẽ việc ấy cũng có gốc tích của nó. Cha chị ta từng làm Liên gia trưởng cho địch…
Chị xin phép tôi nằm xuống giường. Khi lưng vừa chạm vào mặt nệm, chị lại á lên một tiếng. Cái đau đớn của chị đã nói lên biết bao điều. Tôi im lặng nhìn chị. Một lúc sau mới khẽ hỏi:
– Còn chị Lãm?
Mắt chị Hà bỗng sáng rực lên. Chị nói rất tự hào:
– Người ta phong chị anh hùng là rất đúng.Đáng lẽ phải phong cho chị một lần thứ hai nữa. Chị Tâm phản bội, khai chị Lãm nên chị bị tra tấn rất dã man. Nhưng chị đã vượt ngục ra được. Anh biết chị vượt ngục bằng cách nào không? Chị đã dùng một cái thìa Mỹ, đào mãi đào mãi chân tường thành một con đường hầm để thoát ra ngoài.
– Hiện nay chị Lãm ở đâu?
– Lúc tôi còn nằm bệnh viện Quân khu thì nghe nói huyện điều chị về làm Chính trị viên Huyện đội.
Tôi im lặng nhìn chị Hà. Trong đầu tôi, hàng loạt câu hỏi được đặt ra: Tại sao một con người có nhiều thành tích, biết nhường nhịn người khác như chị Tâm lại khai báo và nhận nhiệm vụ của địch? Có phải sự dịu dàng nhường nhịn là cái vỏ che đậy một tâm hồn yếu đuối, mà nay trước thử thách của nhà tù mới hiện ra nguyên hình không? Tôi chưa hiểu được. Tôi thấy chị Hà thở dài, nói như vừa bắt được ý nghĩ của tôi:
– Có ai dè một người anh dũng, vượt qua mọi gian khổ ác liệt, tính tình dịu dàng khiêm tốn như chị Tâm lại phản bội lại bạn bè đồng đội như vậy. Tôi nghĩ mãi. Lúc đầu tôi không thể tin được, cho rằng có gì nhầm lẫn trong đó. Nhưng khi được một anh Huyện ủy lên Khu họp cho biết là cả Huyện ủy cũng bị tập kích, may phát hiện ra nên thoát được thì tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Theo lời anh Huyện ủy thì họ đã thẩm tra lại các cơ sở trong lòng địch: chị Tâm đã chịu đòn không nổi nên không những khai báo về đội du kích mà còn khai báo cả Huyện ủy nữa…
Chị Hà nói xong lại ôm ngực, mặt nhăn nhó. Tôi nhìn chị và bất giác nghĩ rằng: Chính sự phản bội của chị nuôi tôi đã gây nên đau đớn cho người phụ nữ này.
*
* *
Sau bao nhiêu năm xa, nay tôi mới có dịp trở lại chiến trưòng cũ. N là một tỉnh khá ở vùng ven biển miền Trung. Những cánh đồng bị cày ủi, bỏ hoang hóa nay đã xanh ba vụ lúa. Cả dải bờ biển hoang vắng như sa mạc, cháy hừng hực trong nắng nay đã biến thành một rừng dương liên hoàn từ xã này sang xã khác, huyện này sang huyện khác.
Tôi về tỉnh N lần này với nhiệm vụ viết về một số đơn vị anh hùng mới sau mười năm xây dựng. Sau khi làm việc với Ủy ban Tỉnh, các anh mời tôi xuống thăm huyện Nghĩa Lân, một huyện khá, đã kết hợp công nông lâm ngư tốt. Tôi rất vui mừng vì được các anh cho biết chị Lãm đang là Chủ tịch Huyện. Theo các anh, chị Lãm là người lãnh đạo biết đi sát dân, biết dựa vào tập thể để tiến hành mọi công việc, đưa huyện đi lên. Ngoài việc ấy ra, tôi muốn gặp chị Lãm để hỏi thêm một số chi tiết về chị Tâm mà đến nay tôi vẫn còn thắc mắc.
Khi tôi đến Văn phòng Ủy ban Huyện thì chị Lãm đang xuống xã công tác.
Một tiếng sau, chị trở về. Thấy tôi, chị có vẻ sững sờ, không vồn vã, cười nói vỗ vai tôi như ngày nào. Có lẽ do cương vị công tác hiện nay chị cần phải trầm tĩnh. Mặt khác, tôi cũng không còn là một “cậu bé” như ngày nào. Chị đưa tôi sang phòng làm việc, rót nước mời tôi uống rồi quay ra nói gì với một cô nhân viên Văn phòng. Cô ta đi ra phố một lúc, quay về với bao thuốc “Du lịch” trong tay. Chị Lãm đẩy bao thuốc đến trước mặt tôi: Chị vốn biết tôi nghiện thuốc. Tôi ngồi nhìn chị đăm đăm. Chị không được khỏe mập như xưa. Giờ chị gầy, da xanh, nếp nhăn hiện ra nhiều ở đuôi mắt. Tôi thấy ngay có một điều khác xưa: Mắt chị luôn ngó xung quanh hay ngó xuống bàn, không nhìn thẳng, vui vẻ và hóm hỉnh với người đối diện như xưa. Chị nói khô khan:
– Bây giờ em cần gì nào?
– Chị nói cho em nghe về việc kết hợp công nông ngư nghiệp ở huyện nhà.
Chị bỗng sôi nổi hẳn lên. Chị mở tủ lấy ra một bản báo cáo, có lẽ chị từng đọc ở đâu đó. Nhưng chị không xem, mà nói như mình đã từng làm, từng tổng kết rồi. Chị nói liên tục hàng tiếng liền, không nghỉ, không uống nước.
Nghe chị báo cáo tôi sung sướng thấy rằng, huyện Nghĩa Lân từ một vùng cát bị địch tàn phá nặng nề đã dám nghĩ dám làm đi lên một cách vững vàng: Huyện đã sáng tạo trong việc làm thủy lợi ở vùng cát, đã trồng dương, lợp lại màu xanh lên vùng đất chết, đã biết tận dụng cát làm nguyên liệu xây dựng xí nghiệp thủy tinh, đã biết dựa vào sức người sức của trong nhân dân, lập nên một đoàn thuyền đánh cá, có thể đi tận những miền xa. Trong những công việc đó, ở đâu, lúc nào bóng dáng người Chủ tịch Huyện cũng xăng xái, bám công việc, bám dân, không chịu ngồi yên trên ghế xa lông tiếp khách. Hình ảnh người anh hùng từ chiến tranh bước ra lại lăn lộn vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là chủ đề mà các anh phụ trách tờ báo giao cho, tôi đã gặp ở đây, ở người chị nuôi của tôi.
– Em cần hỏi gì nữa không?- Chị Lãm mỉm cười nói.
– Dạ em ghi cả đây – Tôi chỉ vào cuốn sổ – Em sẽ mang về phòng nghỉ để nghiên cứu, có gì cần em xin hỏi chị thêm. Bây giờ có việc nhỏ này, ở ngoài Bắc em có gặp chị Hà. Chị cho em biết chị Tâm đã phản bội. Em băn khoăn quá, thắc mắc quá. Chị cho em biết.
Mắt chị ngó xuống rồi đảo một lượt rất nhanh khắp căn phòng. Chị bỗng mím môi lại, khuôn mặt hơi tái, giọng run run:
– Đó là việc rất đau lòng, vì theo em biết, Tâm là bạn thân của chị. Càng đau hơn là sau đó, Tâm được bọn địch cho ra tù và bị du kích diệt vì tội phản bội. Chuyện Tâm bị diệt ra sao chị không rõ vì lúc đó chị còn ở trong tù.
– Chị Tâm khai báo trong trường hợp nào?
Chị im lặng một lúc rồi mới nói:
– Ở trong nhà tù, chị và Tâm ở khác phòng nhau. Chị không biết chúng có tra tấn gì Tâm nhiều không. Riêng chị, chúng đánh đập luôn vì có người khai chị là anh hùng quân đội. Người nào khai thì chị không rõ. Có điều, chẳng bao giờ chị nghĩ là Tâm khai. Một hôm, chúng đưa chị vào phòng hỏi cung. Ngang cửa, chị gặp Tâm bước ra dáng ủ rũ, mắt cụp xuống khi gặp mắt chị, bước nhanh như chạy ra khỏi phòng. Chị vừa vô phòng thẩm vấn thì chúng đánh chị ngay. Chúng bảo chị là anh hùng mà không nhận, còn ngoan cố. Chúng khuyên chị nên làm như Tâm: khai báo và nhận việc chúng giao thì sẽ được tha. Chúng đưa cho chị xem một bản khai của Tâm về căn cứ của xã và của Huyện ủy. Đúng chữ của Tâm y sì …
Chị choáng váng cả người nhưng một mực từ chối. Chúng đánh chị chán lại đưa về phòng, dội nước lạnh cho tỉnh lại rồi đánh tiếp. Nhớ lại chuyện Tâm chị bực mình lắm. Thế rồi tin Tâm khai báo được chị Hồng lãnh đạo của ta ở nhà tù thông báo và đề nghị mọi người cảnh giác với Tâm – Chị mỉm cười, mặt tái mét – Sau đó chị bị đưa đi nhà giam Chí Hoà còn Tâm thì được chúng thả ra.
Chị Lãm nói tới đây thì có một anh cán bộ vào xin chị ký giấy gì đó. Tôi nghe chị bảo: “ Để bàn đã”, rồi quay sang nói với tôi :
– Trưa rồi, em nghỉ ăn cơm đã. Còn em muốn biết rõ chuyện Tâm thì sang Hội Phụ nữ gặp chị Hồng. Chiều nay chị bân họp.
Chiều hôm đó, tôi tìm sang Hội Phụ nữ. Chị Hồng đã lớn tuổi, tóc hoa râm. Da chị xanh. Mắt chị rất sáng, luôn mỉn cười nhìn thẳng vào mắt người nói chuyện. Hồi ở tù, chị nổi tiếng là một nguời gan dạ, đứng đầu trong mọi cuộc đấu tranh với địch. Đôi mắt nghề nghiệp báo cho tôi biết, đây là một người trung thực, đáng tin cậy.
– Cậu hỏi về chuyện chị Tâm à ? – Chị mỉm cười nói – Đúng là chị ta đã khai báo như chị Lãm nói. Hôm đó, sau khi chị Tâm ra, chị Lãm vô thì tôi đang ở buồng bên cạnh đợi đến lượt thẩm vấn. Qua bức tường mỏng, tôi được biết, lúc đầu chúng còn nhỏ nhẹ với chị Lãm. Sau đó, chúng tra tấn dã man. Tôi nghe thân người đổ phịch, bàn ghế ngã ầm ầm. Chúng vừa đánh vừa nói :
– Đây nè, con Tâm khai cả căn cứ xã, căn cứ Huyện ủy, khai cả mày là anh hùng nè. Mày còn chối làm gì ?
Tôi nghe chị Lãm gào to :
– Tôi không biết Tâm tiếc nào cả .
Chúng lại tra tấn nữa. Có lẽ chúng đạp vào người chị Lãm. Tôi nghe mà đứt cả ruột. Một lúc sau, giọng nói cộc cằn của thằng Ba Đen, thằng cảnh sát ác ôn nhất Quận này quát :
– Vứt nó sang phòng bên cạnh , dội nước lạnh cho nó tỉnh, để tra tiếp. Con mẹ ghê gớm quá .
Khi tôi bước vào phòng thẩm vấn thì nghe tiếng nước xối ào ào ở phòng bên cạnh. Sau khi trở về phòng giam, tôi thông báo ngay cho tất cả anh chị em trong nhà tù biết về việc phản bội của chị Tâm để mọi người cảnh giác chị ta. Cậu biết không ? Lúc đó tôi là Bí thư Chi bộ nhà tù, tôi phải có trách nhiệm. Tôi còn nhờ một anh lính ngụy là cơ sở của ta thông báo ra bên ngoài việc này để Huyện uỷ và xã Lân Vũ đề phòng. Nhưng không kịp nữa rồi …
Rời phòng chị Hồng, tôi về lại Ủy ban tìm gặp lại chị Lãm để hỏi thêm vài điều mà tôi băn khoăn. Nhưng chị em ở Văn phòng bảo tôi chị đang đi viện. Chị em cho tôi biết rằng, chị bị tra tấn nhiều nên thỉnh thoảng xúc động lại lên cơn. Trưa nay, sau khi gặp tôi, chị ra khỏi phòng thì ngã xuống ngất. Chị cứ giãy giụa kêu to :
– Không phải hắn. Không phải hắn.
Tôi hỏi :
– Chị Lãm có hay bị lên cơn không ?
Cô gái có khuôn mặt bầu bĩnh, mua thuốc cho tôi hồi sáng nói :
– Lâu lâu mới có một lần. Lần đầu là sau khi một người xưa từng làm cảnh sát ở Quận, đi cải tạo về, xin gặp chị. Chị với hắn ta nói gì với nhau găng lắm . Có lẽ hắn xin xỏ chị cái chi đó, bị chị phản ứng. Tụi em ngồi ở Văn phòng nhìn vô, thấy mặt chị đỏ bừng rồi tái mét. Có lẽ chị giận giữ lắm. Rồi thì hắn cười gằn bước ra. Còn chị thì lên cơn. Lần nữa .. hình như là sau khi chị đọc một lá thư của ai đó gửi cho chị, do một anh cán bộ từ xa đến công tác chuyển giùm. Sau những lần ấy, chẳng ai hỏi chị vì sao lên cơn, chị cũng chẳng bao giờ nói với ai điều gì cả. Mọi người chỉ phỏng đoán, có lẽ chị bị tra tấn nhiều nên giờ dễ xúc động, căng thẳng thần kinh thì lên cơn thôi. Rồi mọi người quen dần đi. Còn lần này – cô ta cười – là do anh đấy. Anh làm việc gì căng thẳng mà anh vừa đi khỏi độ mười phút là chị ấy lại lên cơn .
Có một ý nghĩ gì đó vụt loé qua đầu tôi, nhưng tôi chưa nắm bắt được. Tôi nhờ cô nhân viên chỉ đường đến bệnh viện thăm chị. Nhưng người gác cổng không cho tôi vào vì chị đang mệt. Tôi lững thững trở về. Giữa đường, tôi không ngờ gặp một người bạn cũ. Đó là cậu Mai, xưa từng làm Cảnh vệ ở Quân khu. Cậu là một nguời cao lớn, da ngăm ngăm, ít nói, nhưng chăm chỉ trong mọi việc. Cậu ta nổi tiếng là dũng cảm, đã nhiều lần cứu các đồng chí lãnh đạo thoát khỏi vòng vây của địch. Bây giờ cậu đang công tác ở huyện đội. Cậu ta rủ tôi vào một quán nhỏ bên đường uống cà phê :
– Lâu nay cậu bỏ anh em cũ hay sao mà không thấy vào đây công tác. Bây giờ cậu làm gì ở đây ?
– Mình vào công tác. Huyện cậu khá thật !
– Cậu đã đi những đâu rồi ?
– Chưa đi, nhưng nghe chị Lãm báo cáo. Chị Lãm thật xứng đáng là một anh hùng quân đội. Hiện nay chị vẫn tiếp tục …
Cậu ta mỉm cười :
– Chẳng giấu gì cậu. Huyện này khá thì khá thật , mình chẳng địa phương chủ nghĩa đâu. Còn chị Lãm thì …
Tôi trố mắt nhìn cậu :
– Thì sao nào ?
– Thì báo cáo giỏi chứ biết làm việc gì ra việc gì đâu. Suốt ngày chị ta cứ đi xuống xã, hoặc dự các cuộc họp của ngành này ngành nọ có vẻ xăng xái lắm, sát dân, sát phong trào lắm, cấp trên xuống thấy chị ta như vậy thì khen tít mù . Thực tình năng lực chị ta yếu lắm. Nhờ cái danh hiệu anh hùng mà cấp trên đưa lên Chủ tịch, cán bộ phải phục tùng chứ chị ta chẳng biết giải quyết công việc gì cả, mọi việc do mấy ông “phó” làm. Nếu có ai đề đạt vấn đề gì, chị ta cứ bảo “để bàn đã”, “để suy nghĩ đã” làm cho người ngoài hay cấp trên mới nghe tưởng chị trầm tĩnh chín chắn lắm. Kỳ thực chị ta chẳng biết giải quyết sao, chờ hỏi các ông phó. May là các đồng chí ấy tốt và có năng lực, nếu kẻ xấu thì họ chơi xỏ chị ta ngay. Có khi chị ta đưa những vấn đề đó ra cuộc họp thảo luận. Lúc ấy, chị ta ngó trước ngó sau, bên nào đông người ủng hộ thì chị ta quyết theo bên ấy.
Tôi ngập ngừng một lúc rồi hỏi:
– Tớ hỏi thật, cậu có thành kiến, có bực mình việc gì với chị Lãm không? Tại sao ông Chủ tịch tỉnh khen chị là người sáng tạo, quả quyết, còn cậu thì…
Cậu ta vỗ vai tôi:
– Cậu biết tính tớ rồi đấy. Xưa giờ tớ chẳng hề nói xấu, thêm bớt cho ai. Có gì tớ nói nấy, riêng chị Lãm tớ chẳng có gì thành kiến bực mình cả. Hồi còn ở Quân khu, nghe chị lên báo cáo thành tích, được phong anh hùng, tớ rất kính trọng chị, rất tự hào vì có một người đồng hương như vậy. Nhưng từ khi về đây, tớ thấy có những điều người ta đề cao chị hơi quá. Cậu không tin tớ thì cứ đi hỏi khắp cả huyện này thử đúng không. Cậu là nhà báo, cậu có quyền làm vậy chớ – Mai dừng lại nhìn thẳng vào mắt tôi rồi tiếp – Còn ông Chủ tịch Tỉnh khen chị thì cũng đúng thôi. Ai nghe chị báo cáo mà không thích, mà không cho rằng chị lãnh đạo rất cừ. Vả lại, các ông ấy đã nâng đỡ chị lên thì các ông ấy phải khen chớ. Cậu nghĩ coi, ai mà không thích ở tỉnh mình có hình ảnh một người anh hùng bước ra từ chiến tranh lại tiếp tục trở thành người anh hùng thời xây dựng. Xin hỏi thật, tờ báo của cậu có thích mẫu người như thế để tuyên truyền không?
Tôi từ biệt cậu ta với tâm trạng nửa tin nửa ngờ. Nghề làm báo đã dạy tôi rằng, trong việc tìm hiểu tài liệu để viết bài, mình không thể nắm có một chiều, nghe theo một số người mà phải dựa vào tổ chức và dư luận của quần chúng. Nắm vấn đề, sự việc thật kỹ, sau đó tuỳ yêu cầu, mức độ mà phản ánh.
Tôi trở về Văn phòng Ủy ban, ngồi tỉ tê nói chuyện với các cô nhân viên. Tôi được biết chị Lãm là người hay xuống cơ sở, ít thích ngồi ở cơ quan. Có lẽ chị bị địch tra tấn nhiều nên không được khoe, tuổi đã cao mà chưa lấy chồng. Tính chị thường ủ rũ, ít cởi mở tâm sự với anh chị em cùng cơ quan. Tôi dò hỏi những điều cậu Mai nói thì các cô chỉ mỉm cười nhìn nhau rồi bảo:
– Tụi em là nhân viên làm sao biết được chuyện cấp trên.
Ở lại thêm mấy ngày nữa, làm việc với một số ban, ngành trong huyện, tôi đã xác nhận lời cậu Mai nói là có căn cứ. Một lần, sau khi làm việc xong, tôi hỏi anh Sáng, Trưởng ban Nông nghiệp huyện:
– Tại sao các anh không đề nghị lên trên thay mà cứ để chị Lãm làm Chủ tịch? Chị có thành tích trong kháng chiến thì thưởng công ở chỗ khác chứ?
Anh mỉm cười:
– Đó là ý kiến của cấp trên. Chị ấy vừa là anh hùng vừa là phụ nữ nên rất hợp với cơ cấu nhân sự của tổ chức. Nghe nói sắp tới chị còn lên nữa – Anh dừng lại, châm một điếu thuốc rồi tiếp – Ở nước ta, việc ban thưởng đi đôi với việc cất nhắc về chức vụ, chưa tách bạch ra: Người có công thì được thưởng, người có năng lực thì phải đặt đúng vị trí. Tôi đọc lịch sử, thấy có gì giông giống với một số triều đại phong kiến xưa, anh là nhà báo, anh thấy tôi nói có đúng không?
*
* *
Nghề làm báo đưa tôi đi từ nơi này sang nơi khác. Một lần tôi được cử đi công tác ở Gia Lai-Công Tum. Sau khi làm việc với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, trưa hôm ấy, tôi được giới thiệu đến một làng gần thị xã Plâycu.
Đó là một làng định canh định cư kiểu mẫu của tỉnh. Ở đây không còn thấy những ngôi nhà sàn, phần trên chật hẹp, mù khói bởi có một bếp lửa to ở giữa, phần dưới nhầy nhụa phân heo. Giờ đây là những ngôi nhà gỗ, sạch sẽ khang trang mọc hai bên con đường làng chạy thẳng băng. Những chuồng súc vật và hố xí hai ngăn được xây dựng cách xa nhà, rất hợp vệ sinh. Khi tôi đến, hầu hết người làng đều đi cấy lúa nước ở cánh đồng bên cạnh. Nhờ có đập nước Đắc Bla nên cánh đồng này đã gieo cấy được một năm hai vụ. Dân làng đã có lúa ăn, có quần áo mặc đủ ấm, không còn cảnh ăn sắn, bắp, lạt muối và cởi truồng đóng khố như xưa. Thú nhất là trong làng có đường dây câu điện từ thị xã vào. Tôi đã gặp những ông bà già ở nhà ngồi đan lát nong nia. Với một giọng lơ lớ, chưa sõi tiếng Kinh, họ khoe với tôi rằng: Có sự thay đổi trong làng là nhờ có vợ chồng Bí thư Chi bộ Nhun gương mẫu đi trước, hướng dẫn mọi người làm theo. Tôi háo hức muốn gặp ngay người Bí thư Chi bộ này. Những người già bảo: vợ chồng Nhun đang ở ngoài đồng bày vẽ cho mọi người cách cấy lúa thẳng hàng.
Xẩm tối hôm đó, tôi mới gặp được anh Nhun. Đó là một người đàn ông gần năm mươi tuổi, người tầm thước, da ngăm đen, trên mặt có nhiều vết sẹo. Anh sơ lược kể cho tôi nghe quá trình thực hiện định canh định cư của làng, rồi cầm tay tôi, giọng chắc nịch:
– Anh về nhà mình chơi, gặp vợ mình luôn. Vợ mình cũng người Kinh đấy. Vợ mình bày cho mình nhiều thứ lắm. Ngay đến việc đắp đập Đắc Bla cũng do vợ mình nói cho mình nghe, mình đưa ra Chi bộ, Chi bộ đồng ý hết…Anh về gặp vợ mình đi, nó kể hay hơn mình.
Ngôi nhà của anh Nhun cũng bằng gỗ, có nhiều cửa sổ thoáng mát như bao ngôi nhà trong làng. Khi bước vào sân, một người đàn bà Kinh có dáng cao dong dỏng, tóc lốm đốm bạc vui vẻ chào tôi. Tôi sững sờ nhìn chị. Chị cũng ngơ ngác nhìn tôi. Một câu hỏi bất ngờ, không kịp nghĩ trước, bật ra khỏi môi tôi:
– Chị quê Lân Vũ phải không?
Chị nhào tới ôm chầm lấy tôi:
– Phú! Chị là Tâm đây.
– Sao người ta bảo chị chết rồi…
Chị Tâm đưa tay quệt vội đôi mắt rồi mỉm cười gượng gạo:
– Chuyện dài lắm. Em vô nhà đi rồi chị kể cho em nghe.
Đang nói, thấy chồng có vẻ ngơ ngác nhìn hai chị em, chị quay sang giải thích:
– Đây là Phú, em nuôi của em từ hồi ở quê. Lúc nào em kể anh nghe.
Anh Nhun gật gật đầu:
– Hay quá. Hay quá. Mình biểu anh về nhà mình gặp vợ mình đúng quá mà.
Trong bữa cơm theo kiểu nông thôn miền Trung, có cá đồng kho khô, măng xào, rau luộc tôi được biết thêm hai chú bé con chị. Một đứa độ mười tuổi, đứa kia chừng sáu tuổi. Chúng mặc quần đùi, da ngăm ngăm như da của bố, nhưng mắt chúng lại giống mắt chị.
– Mời cậu ăn cơm đi – Chị bảo hai con.
– Mời cậu ăn cơm – Hai đứa vừa nói vừa thò đũa gắp lia lịa.
Đêm ấy, anh Nhun mượn cớ để hai chị em lâu ngày gặp nhau nói chuyện, dẫn hai con đi xem văn nghệ xã. Ngồi bên một chiếc bàn gỗ vừa uống nước chè tươi, chị em tôi vừa ôn lại chuyện cũ:
– Cho đến bây giờ – Chị Tâm mỉm cười – Ở quê ai cũng nghĩ là chị đã chết rồi. Chỉ có một người biết chị còn sống.
– Ai? Cha mẹ chị à?
Chị lắc đầu:
– Chị không còn anh em cha mẹ gì nữa.
– Thế thì ai?
– Đó là chị Lãm.
Tôi trố mắt nhìn chị:
– Trời ơi, em đã gặp chị Lãm. Chị ấy kể chuyện chị lúc ở tù và bảo chị chết rồi.
Chị Tâm khoát tay:
– Để rồi chị kể cho em nghe.
Chị kể rằng: Trong nhà tù, chị không hề khai báo. Chị tin chị Lãm cũng vậy. Chị ấy là anh hùng mà, phải vững hơn chị chứ. Đột nhiên, một hôm, mọi người nhìn chị với con mắt khinh bỉ. Chị ngạc nhiên lắm. Nhưng chưa rõ vì sao. Đột ngột, chị được bọn chúng cho ra tù. Chị mừng lắm, như vậy là chị được tiếp tục hoạt động. Nhưng vừa về đến xã, chị bị du kích bắt ngay. Chị hỏi vì sao lại bắt chị? Họ trả lời trong tù chị phản bội, cơ sở đã báo ra nên huyện ra lệnh bắt. Ngay đêm ấy, họ trói chị, giao cho một anh du kích dẫn đi bắn. Anh này có họ với chị, không tin chị phản bội. Anh dẫn chị ra một động cát, cởi trói cho chị rồi nói:
– Cô đi đi, đi càng xa càng tốt. Đừng bao giờ về quê nữa. Cô về tôi sẽ bị treo cổ đấy. Cô đi xong, tôi sẽ nổ súng và làm mộ giả cho cô.
Chị dừng lại thút thít khóc:
– Sau này, chị nghe tin anh ấy hy sinh lúc đi công tác. Chị thương quá. Nhờ ảnh mà chị còn sống đến bây giờ – Chị rút chiếc khăn lau mặt vắt sau ghế lau mắt rồi tiếp – Còn chị, lúc đó, chị băng cát, chạy thục mạng về đường số một.
Chị nằm lại ở giữa một cánh đồng sát đường chờ cho trời sáng, vì lên đường cái ban đêm sẽ bị bọn giặc đi tuần bắt ngay.
Sáng hôm sau, chị đón một chiếc xe khách đi cao nguyên để lên đây. Lúc bấy giờ, ở vùng này, đồng bào Kinh bị giặc bắt đi dinh điền sống rất nhiều. Chị đổi họ, đổi tên, nói với họ gia đình chị bị pháo dập chết cả, chị khổ cực, lên đây tìm việc sinh sống. Bà con thông cảm hoàn cảnh chị, giúp đỡ chị mọi thứ. Dần dần, chị biết trong bà con có tổ chức cách mạng. Chị đã tham gia…
Mãi sau ngày miền Nam giải phóng, chị mới bí mật nhờ người liên hệ với gia đình. Trời ơi, gia đình chị không còn ai nữa cả. Sau khi cùng bà con phá rã khu dồn để về quê, mới được có nửa tháng, cả nhà chị bị một quả pháo rơi trúng vào mâm cơm lúc mọi người quây quần ngồi ăn. Chị đã khóc rất nhiều. Chị đâm mê tín: Có phải chị nói với bà con ở đây là gia đình chị bị pháo dập chết cả mà sự việc xảy ra như vậy…
Từ đó, chị coi vùng này là quê hương thân yêu của chị. Chị lấy anh, một người cùng hoạt động trong tổ chức bí mật với chị. Chị lao vào công tác địa phương, chủ yếu là vận động bà con định canh định cư, trồng lúa nước và xây dựng nếp sống văn hóa mới ở một vùng đồng bào dân tộc. Nhiều lần, tỉnh đã trao bằng khen cho chị…Chị cố gắng dứt bỏ quá khứ để lao vào công tác hiện tại. Lòng chị thanh thản. Đôi lúc nghĩ lại việc cũ, chị cho đó chỉ là một sự nhầm lẫn đáng tiếc mà thôi.
Chị Tâm mỉm cười, đôi mắt mở to trong sáng nhìn thẳng vào mắt tôi. Trong đôi mắt ấy, tôi thấy hiện ra một vòm trời hiền hậu bao la.
– Thế rồi một hôm, chị nghe được một câu chuyện thật là…thật là…- Chị ngừng lại, khuôn mặt lộ vẻ xúc động và bối rối – Ở cạnh làng chị, sau giải phóng, một số đồng bào dưới xuôi lên lập khu kinh tế mới. Thời gian đầu, bà con thiếu kinh nghiệm làm ăn nên đời sống vất vả. Làng chị bàn nhau mang gạo, sắn đến giúp đỡ bà con. Nhà chị được phân công giúp cho một gia đình nghèo túng nhất. Gia đình này vốn đông con, anh chồng ngày xưa là lính nguỵ, cả nhà ăn theo nên không quen lao động chân tay. Ngay bữa đầu, khi chị mới bước chân vào nhà, anh chồng, một người cao gầy, khuôn mặt sáng sủa nhưng xanh xao cứ nhìn chị vẻ sửng sốt. Trong khi chị tặng quà, hỏi thăm tình hình gia đình, anh ta vừa trả lời vừa nhìn chị đăm đăm. Chị hơi lấy làm lạ nhưng không tiện hỏi vì sao như vậy. Mãi sau này, khi hai nhà đã thân mật với nhau, một hôm như vô tình, anh ta hỏi:
– Xin hỏi thật, chị đã từng ở nhà tù H phải không?
– Sao anh biết?
Anh ta ấp úng một lúc rồi nói:
– Dạ cũng thưa thiệt, tôi làm cảnh sát ở đó…
Câu chuyện mỗi lúc thêm cởi mở. Anh ta kể rằng, hồi làm cảnh sát, anh ta được chứng kiến việc chị Lãm khai báo về đội du kích xã, về Huyện ủy để cho địch đến đánh úp. Chị Lãm đã bàn với bọn cảnh sát giả vờ đánh đập chị ta, tìm cách cho tù nhân nghĩ rằng chị đã khai báo để đánh lạc hướng tổ chức và việc chị ta nhận làm việc cho địch như thế nào…
Nghe anh ta kể, chị hoảng hồn thật sư. Tự đáy lòng chị có một tiếng thầm của ai đó bảo chị là sự việc xảy ra đúng như vậy. Nhưng chị cố gạt đi. Chẳng lẽ Lãm lại cùng bọn địch đóng trò đổ vấy cho chị, lừa gạt cả tổ chức? Lãm đã không chịu được tra tấn, đã khai báo lại còn muốn mình trong sạch trước Đảng để tiếp tục tiến thân sau này nữa ư? Có thể như thế được không? Chị không hiểu nổi. Trong đời chị, chị coi trọng chữ “tín”. Đối với bạn bè, đồng chí, bao giờ chị cũng đặt lòng tin.
– Xin lỗi anh, tôi không tin chuyện đó.
Anh ta cười:
– Tôi rất quý lòng tin bạn bè của chị. Ngay từ hồi ở nhà tù, tôi cũng rất phục chị, khinh bỉ chị Lãm. Nhưng mọi chuyện tôi kể là có đấy. Chị nên tin rằng tôi làm cảnh sát cũng vì miếng cơm manh áo, như vậy là tôi có tội với nhân dân, tôi không chối, nhưng không phải tôi xấu hết đâu. Tôi cũng có lòng trung thực của tôi chớ – Anh ta im lặng một lúc rồi tiếp – Tôi nói oan cho chị Lãm, khen chị để được cái gì? Chị Lãm bây giờ làm chức to, tôi nói không khéo dễ bị cắt cổ ấy chớ. Còn chị thì…
– Nhưng biết đâu anh lầm hai đứa tôi với một đôi nào khác? – Tôi chống chế.
– Lầm sao được. Sau giải phóng, đi cải tạo về, tôi có gặp lại chị Lãm. Chả là hồi ấy tôi xin vào làm việc ở một xí nghiệp tại thị trấn. Người ta không cho vì lý lịch của tôi. Tôi đến xin chị Lãm giúp đỡ. Chị ta thấy tôi thì mặt mày xanh lét. Tôi nói gần nói xa việc hồi chị ta ở tù, nhưng hứa sẽ không cho ai biết, miễn chị ta giúp cho tôi có việc làm không thì nhà tôi chết đói. Chị ta ừ ừ hử hử nhưng một thời gian, tôi bị họ đưa lên đây. Có lẽ chị ta tìm cách đẩy tôi đi đấy – Anh ta dừng lại, ngó đăm đăm vào mặt chị rồi tiếp – Tôi với chị cùng bị chị ta làm khổ cả. Nhưng tôi làm chi được vì chẳng ai tin tôi. Còn chị, chị có bà con ủng hộ. Chị có muốn “trả đũa” chị Lãm không?
Chị “á” lên một tiếng, người run bắn. Từ xưa đến giờ chị có biết trả thù trả oán ai trừ bọn địch đâu. Huống hồ Lãm là bạn thuở nhỏ…
– Tôi có hồ sơ về việc khai báo và nhận việc của chị ta đấy – Anh ta nói tiếp – Còn cả chữ ký. Kể cũng lạ. Hồi giải phóng vào phá nhà tù, mọi người chạy tứ tung, giấy tờ bay lộn xộn. Chẳng hiểu sao tôi lại vớ được xấp hồ sơ này. Mà kỳ hơn là tôi lại bỏ nó vào túi chạy về nhà và giữ nó đến bây giờ…
Anh ta đi vào buồng lục lọi một lúc rồi đem ra một xấp giấy đặt trước mặt chị. Trời ơi, đúng chữ Lãm y sì không chối vào đâu được, cả chữ ký ngoằn ngoèo không ai ký thay nổi nữa. Chẳng hiểu sao, lúc ấy, chị chộp lấy xấp giấy và nói với anh ta;
– Anh cho tôi, tôi cần giấy tờ này.
Có lẽ anh ta nghĩ rằng chị sẽ tố cáo Lãm nên đồng ý ngay:
– Dạ chị cứ cầm. Tôi tin chị.
Chị Tâm ngừng kể, mở chiếc tủ đứng bên cạnh lấy ra một xấp giấy được bọc trong giấy bóng đặt trước mặt tôi. Tôi xem lướt qua rồi hỏi:
– Chị đã làm gì với tập hồ sơ này?
Chị điềm tĩnh:
– Chị chẳng làm gì cả, cứ bỏ trong tủ thôi – Chị dừng lại một lúc rồi nói tiếp – Sau đó chị có viết thư cho Lãm việc này. Chị cũng bảo Lãm yên tâm, chị không báo cáo ai đâu.
– Chị Lãm có nhận được thư chị không?
– Có chớ – chị Tâm cười – Chị nhờ một người quen đi họp, đã trao tận tay chị ấy.
– Chị ấy có gởi thơ cho chị không?
– Chị ấy có gởi một tờ giấy, trong đó chỉ ghi có hai chữ “tuỳ chị” rồi đánh dấu hỏi thôi.
Chị Tâm im lặng, đôi mắt tự nhiên như mơ mộng xa vời…Hai chị em ngồi lặng một hồi lâu:
– Em sẽ đưa việc này ra ánh sáng – Tôi nói – Dù hai chị đều là chị em, nhưng em muốn công bằng.
Chị Tâm đang ngồi im, bỗng đứng dậy, nói với tôi, giọng van vỉ:
– Thôi chị xin em. Đời chị như thế này cũng được rồi. Chị muốn em để cho Lãm yên ổn, giữ nguyên chức vị, Lãm đang có danh vọng.
Tôi giả vờ vùng vằng bắt bí chị:
– Hay chị sợ tài liệu này không chắc? Hay chính chị đã khai?
Chị nhìn xoáy vào tôi, đôi mắt như có lửa:
– Vô lý. Chị không bao giờ khai. Còn giấy tờ này, theo chị là hoàn toàn đúng chữ của chị Lãm.
– Tại sao chị không dám lên tiếng?
Giọng chị dịu dàng như tâm sự:
– Nói thật với em, hồi trước chị thấy cha chị từng làm Liên gia trưởng, chị có mặc cảm, nên chị có báo cáo thành tích lên cũng chẳng ai khen thưởng chị. Chị nhường mọi thành tích cho Lãm vì Lãm là bạn thân của chị. Lãm đã được phong anh hùng là nhờ phần lớn thành tích của chị. Vậy thì…bây giờ…Trong khi đó, Lãm…
Tôi cảm thấy bức bối, khó xử trước những sự việc của chị Tâm. Tôi xin phép chị ra sân, đứng hít thở không khí trong lành một hồi lâu. Đêm vùng cao trời đầy sao. Nhìn những ngôi sao, có ngôi sao sáng, có ngôi mờ, tự nhiên tôi nghĩ: Có phải số phận của người đời cũng như những ngôi sao này không? Có lẽ có những ngôi sao thật sáng, thật to nhưng nằm sâu trong lòng trời, khiêm nhường núp sau những ngôi sao khác nên ta không nhìn rõ… còn…
Dòng suy nghĩ lại đưa tôi đến một câu hỏi khác. Tại sao trên đời có những người chỉ biết sống dựa vào công lao của người khác, khi mình được lên cao rồi quay lại làm hại chính người đã nâng đỡ mình lên. Tệ hơn, tại sao lại có những người vui vẻ tự nguyện để người khác đứng trên vai mình rồi sau đó lại chấp nhận sự hãm hại của người đó. Có phải vì điều này đã tạo ra miếng đất màu mỡ cho những kẻ xấu, kẻ cơ hội thiếu năng lực, gặp dịp may cứ leo hết bậc thang danh vọng này đến bậc thang danh vọng khác? Trong khi đó…
Có tiếng chân nhè nhẹ sau lưng. Chị Tâm đang đứng bên tôi. Chị vỗ vai tôi, giọng thấm đầy nước mắt:
– Chị xin em, chị xin em. Em đừng nói gì cho mọi người biết chuyện này. Lãm đang còn…(1)
1986
Ở NƠI THẨM VẤN
I
Cái thằng cảnh sát đặc biệt ấy là cái thằng gì mà cả người nó giống như một khối sắt đen. Mập lùn, mặt sắt lạnh, râu đen, đội mũ nồi đen, đi đôi bốt đen, lúc nào cũng cầm một chiếc roi cá đuối đen. Nó đi đi lại trong phòng rộng, tường gạch, nền xi măng, miệng hừ hừ. Đi chán, nó chất đống người nó trên cái ghế tựa bằng gỗ, chân nhịp cộp cộp xuống sàn. Cạnh chiếc ghế là một chiếc bàn sắt chất đầy roi, kìm, dây điện. Bên kia bàn, đối diện với thằng cảnh sát là thằng Đẳng, một thằng chiêu hồi, ngồi cứng như bị đóng đinh lên chiếc ghế, y hệt ghế thằng cảnh sát. Thằng này khoảng ba mươi tuổi, dáng lùn tịt, mặt đen đầy mụn cá. Trông thằng ác ôn và thằng chiêu hồi ngồi bên nhau cứ giống như anh em sinh đôi.
Cô gái bị chúng bắt về đây từ hồi chiều. Người bé nhỏ, áo quần ướt át, môi tái nhợt, bị trói cắp ké, ngồi trên sàn trước mắt chúng.
– Mày tên gì? Thằng mặt sắt hỏi.
– Tôi tên là Ba.
– Cái thứ hay tên thật?
– Tên thường gọi. Tên khai sinh là Đặng Thị Xã.
– Quê ở đâu?
– Tôi ở Điện Ngọc, nhưng ra Đà Nẵng làm ăn đã lâu, các ông Hội đồng xã có biết-Ba nói cứng vì biết rằng có một số trong Hội đồng xã là cơ sở của cô.
Tên mặt sắt đứng dậy, đi một vòng rồi ngồi xuống ghế:
– Tao sẽ hỏi lại xã. Mày nói mày làm gì ở Đà Nẵng?
– Dạ, ở mướn.
– Căn cước đâu?
– Dạ tôi làm mất lúc qua sông.
– Tại sao mày ở Đà Nẵng mà vô đây để bị bắt?
– Dạ, tui định về quê, nhưng nước lớn nên quay lại.
– Nói láo nói láo nói láo-Cái roi cá đuối quật xối xả xuống người cô gái-Ông Đẳng đây bảo mày làm trong Ban chấp hành Phụ nữ Huyện.
Cô gái ngước cặp mắt đỏ ngầu nhìn tên Đẳng. Cô nhận ra cái thằng này ngay từ đầu. Nó làm An ninh quận 2 của ta. Có lần, cô đã gặp nó. Hẳn nó nhớ mặt cô nhưng không biết cô làm gì, tên gì. Nó khai ẩu cô làm Phụ nữ Huyện để lập công với chủ nó mà thôi. Cô phải đẩy lùi chúng nó trong trận hỏi cung đầu này. Cô trừng mắt nhìn tên Đẳng làm cho nó cụp mắt xuống rồi nhìn tên mặt sắt nói:
– Tôi nói thật đó, tôi đi làm mướn mà.
– Mày nói láo. Mày làm Phụ nữ Huyện. Mày có khai không?
– Tôi đã bảo tôi đi làm mướn thì biết cái gì mà khai với ông.
Chiếc bốt đen của thằng mặt sắt nhảy bổ lên xô vào người cô gái, làm cô bật ngửa ra…
Năm ấy, cái năm nao cô mới lên mười. Làng cô bọn Diệm kéo về đặc nghệt. Chúng mặc áo bốn túi, đội mũ bê-rê có tua. Chúng bắt người làng lên xã đánh đập, tra khảo. Cha cô cũng bị bắt, bị tra. Hàng ngày cô đem cơm cho cha. Cô thấy mặt mũi cha tím bầm. Cô thương cha, ghét bọn chúng lắm. Một lần, cô mang cơm cho cha, thằng gác không cho vô. Nó đá rổ cơm đổ úp xuống đất. Cô lượm những hạt cơm dính cát vừa khóc vừa đút vào miệng. Còn thằng gác thì cười.
Nhà cô rất nghèo, không có ruộng đất, quanh năm chỉ sống nhờ vào mấy vồng khoai trồng trên bãi cát. Chẳng biết cha mẹ cô đem bát đũa về góp gạo nấu chung từ lúc nào mà cô có một lũ em, hàng lô hàng lốc, đứng cao thấp nhau cái đầu, miệng lúc nào cũng há hốc ra đòi ăn như lũ chim non đói mồi. Cô là chị thứ hai. Trước cô có một người anh. Theo thứ tự trong nhà cô là chị Ba. Cha mẹ, hàng xóm gọi cô là con Ba. Một hôm, mẹ bảo anh cô và cô:
– Các con à, cha bị bắt, mẹ nuôi các em cực quá, các con đã lớn, các con đi tìm việc làm ăn, giúp mẹ, giúp các em nghe.
Một người làng dẫn Ba ra Đà Nẵng. Đà Nẵng thật to, nhà cao đụng trời, xe chạy vù vù, Ba nhìn chóng mặt. Người làng dẫn Ba ra chợ Cồn. Chợ xếp đầy kẹo, thịt. Ba nhìn trân trân, ứa nước miếng. Nhưng người làng dẫn Ba đến trước một hàng vải.”Mình có áo đẹp rồi”. Ba vừa nhìn áo rách của mình vừa nghĩ. Bà bán hàng mập, trắng, mặc áo ni-lông trắng lốp, cổ đeo dây chuyền vàng, nhìn Ba từ đầu đến chân, lắc lắc đầu, cầm tay Ba bóp bóp:
– Nó hơi nhỏ, mà thôi, cũng được.
Ở nhà bà Mập, Ba quét nhà, nấu cơm. Nấu cơm sống, bà Mập đánh. Ba không khóc nhưng tức đầy ngực. Từ nhỏ đến giờ Ba đâu chịu ai bắt nạt. Ba trốn về. Về ôm mẹ khóc. Mẹ cũng khóc. Nhưng khóc đâu ra cơm. Ba lại ra Đà Nẵng. Lần này Ba ở nhà một người Tàu, làm ren. Nhà cao ba bốn tầng Ba leo mỏi cả chân từ sáng đến khuya. Ba phải bê một chậu nước, một cái bao tải để lau các tầng, lau cửa, lau bậc thang. Lau xong, bê chậu giặt. Giặt áo quần người lớn, giặt áo quần con nít. Giặt xong lại lau nhà. Nhà lắm khách. Đến nửa đêm còn lau. Vừa lau vừa ngủ gục. Ngủ ngay trên cán bàn lau. Đầu vập xuống sàn. Một cái đá làm Ba bật dậy. Nhưng không phải bà chủ mà là thằng mặt sắt đạp vào đầu, lôi Ba dậy.
– Mày nghe tao hỏi không, mày làm gì?
– Tôi nói ông nghe. Nhà tôi nghèo lắm. Năm lên tám, tôi đi lấy rau bị mấy ông quốc gia trên đồn bắn lạc đạn bị thương, tôi ra Đà Nẵng chữa rồi đi ở luôn.
– Ở nhà ai, tại đâu?
– Nhà bà Đường, chợ Cồn.
– Láo. Mày ngoan cố. Mày không khai mai tao sẽ cho đi máy bay, tàu thủy. Giờ thì đi tạm tàu điện đã.
Tên mặt sắt lại hừ hừ. Ở cô gái nhỏ nhắn, da xanh mét này có cái gì mà thằng mặt sắt bảo ngoan cố. Sức mạnh nào? Bắt nguồn từ đâu. Nó đâu có biết. Nó tưởng nó sẽ hỏi ra điều ấy bằng một sợi dây điện cắm từ bình ắc quy đến lỗ tai cô gái.
II
Hồi mình đứng dậy đồng khởi làng trên xóm dưới sao mà vui như có đám hát. Đồng bào mít-tinh, hội họp, còn bọn giặc thì trốn chui trốn nhủi trong đồn bót như lũ chuột.
Anh trai Ba đi bộ đội, anh bảo đi bộ đội để trả thù cho cha. Cha bị tra tấn quá, về nhà bị tức ngực ho ra máu rồi chết. Mẹ hay đau ốm luôn, làm bữa được bữa không. Ba đi làm gạch. Ngày ngày, đứng dưới nắng, đem đất nhào vô khuôn chữ nhật. Mặt cũng bẹt vào khuôn. Làm gạch cực nảy đom đóm mắt. Nhưng không làm ai nuôi mẹ nuôi em.
Một hôm cũng như mọi hôm. Ba đi làm về, tay vừa cầm củ khoai lang ăn trừ bữa thì anh Nhường tới. Anh là người trong họ. Họ Đặng. Anh nhìn Ba, anh cười:
– Cơm cá đâu mà ăn khoai, Ba ?
– Không ăn khoai thì ăn gì, anh.
Ba hỏi lại. Người Quảng Nam khi trả lời cũng chính là hỏi lại. Anh Nhường ngồi im một lúc rồi nói:
– Đi theo tau làm cách mạng sau này có cơm ăn.
Ba lắc đầu. Anh Hai đi rồi. Mình cũng đi thì ai nuôi mẹ nuôi em. Ba nghĩ vậy nhưng Ba im lặng. Anh Nhường cười:
– Mi sợ chết sao Ba, người ta đi rần rần đó.
– Tui không sợ. Nhưng tui đi, ai nuôi mẹ, nuôi em tui, anh.
– Hề hề. Chớ mi làm miết, còn thằng giặc thì nó ăn hớt hết lấy chi mà sướng mi. Bộ mi không muốn trả thù cho cha mi sao, Ba?
Ba ngập ngừng:
– Để tui hỏi mẹ tui thử.
Đêm đó, Ba thủ thỉ với mẹ xin đi du kích. Mẹ lắc đầu. Ba ôm mẹ, mẹ hất tay ra. Ba chọc lét mẹ, mẹ cười. Ba tấn công luôn:
– Bộ mẹ không cho con đi du kích để con trả thù cho cha, làm cho đời mình sướng hơn sao, mẹ.
Mẹ củng vào đầu Ba:
– Cái con nói miết. Bay đi thì đi gần, ở xa tao nhớ.
Ba mừng quá, vỗ tay to. Vỗ cái bốp. Mẹ đấm lưng Ba bảo con gái con lứa gì cứ như đàn ông rồi xoa đít thằng út nựng “Cái con chị Ba mi sắp bỏ mẹ con mình nè, bú đít thằng út nè”.
Ba được tổ chức vào du kích mật. Các anh bảo du kích mật là mình nằm ngay trong ruột địch để thụi nó. Ba hỏi làm sao mình chui trong ruột nó để thụi nó được. Các anh cười bảo con này chậm hiểu. Nghĩa là mình cứ sống trong dân, làm ăn bình thường tìm cơ hội để đánh địch hoặc phối hợp với anh em ở bên ngoài đánh nó, làm nó rối loạn, mất ăn mất ngủ, bớt lùng sục, co vào đồn hay bỏ đồn chạy. Cái đó thì Ba làm được. Làng Ba gần đồn. Bọn giặc ỷ thế, hay la cà xuống dân để cướp giật, chòng ghẹo chị em. Bà con tức lắm, mà chẳng biết làm sao. Chẳng lẽ để nó tấn công mình miết, mình thua nó. Ba để mắt một thằng ốm ốm hay uống rượu ở quán bà Sáu, lấy cắp thắt lưng lựu đạn của nó. Đi đâu, Ba cũng mang theo vài quả lựu đạn. Khi giấu trong sảo phân, lúc giấu trong mớ dây khoai. Chiều hôm ấy, cô đi trồng khoai về. Đến Cồn Sắn, cô thấy hai thằng đi ve gái về đồn muộn, cô đôi luôn một quả. Hai thằng toi.
Tụi địch không dám vô làng nữa, nhưng đêm đến, chúng phục kích ở bên ngoài và cho lính giả cán bộ ta kêu cửa để phát hiện cơ sở ta. Bà con lo sợ. Cán bộ du kích ta lo ngại. Hai bên rất khó bắt liên lạc. Ba nghĩ tức ói. Tối tối cô giả đò dẫn các em đi chơi, theo dõi. Cô biết chúng hay kéo quân xuống một bụi rậm giữa Cồn Chùa; một số phục kích quanh đó, một số chia nhau vô dân.
Đêm hôm sau, cô gài ở đó ba quả lựu đạn. Sáu thằng về chầu ông bà. Chúng bắt đầu thút lút vô đồn, đêm bắn vu vơ. Chúng thụt thì cán bộ và cơ sở ta bung ra.
Một hôm, các anh bộ đội huyện kéo xuống. Các anh bảo đi đánh một đơn vị Mỹ cụm ở Điện Vinh. Ba cũng xin đi. Các anh bảo du kích mật đã đi thì bật mí. Bật mí thì bật mí chớ không đi đánh thì đâu là du kích. Bộ các anh không cho du kích học tập bộ đội sao. Các anh đi trước, Ba đi sau. Tới nơi, Ba ngồi bên một bờ dứa dại. Các anh bảo ngồi im như đá. Người mà ngồi như đá cực thiệt. Bữa ấy, gió lộng nhiều, Ba cứ muốn ho. Ba đút tay vào họng chặn cái ho. Cổ họng kêu ực ực. May quá, lúc ấy có lệnh nổ súng, Ba nhảy lên. Gặp mấy tên ngồi dưới một công sự. Ba lia một quả lựu đạn, rẹt một băng AR 15. Tụi nó ngủm.
Sau lần ấy, Ba vào đội du kích tập trung. Đội ở trong một khu vườn hoang có nhiều cỏ rậm, gai mắc cỡ, ổi, chuối. Vườn này, vốn là vườn nhà cũ của bà con, một bên sát sông, một bên có một cồn cát. Bà con bị chúng xúc tát quá phải đi nơi khác. Nhà cũ bị nát, anh em lấy lá lợp lều. Đêm trải ni-lông trên nền đất mà nằm. Ngày cuốn ni-lông đi công tác.
Ba là đại đội phó, vừa chỉ huy chiến đấu vừa làm chị nuôi. Tóc tai bù xù, áo quần lem luốc.
Một hôm, Ba ghé về thăm mẹ, xin rau, mẹ nói:
– Mi lớn rồi chớ đâu phải con nít. Mi ăn bận xạc xài rứa coi bộ chẳng có đứa nào ưng.
– Con xấu xí, ai ưng thì ưng, không ưng thì con ở không đánh giặc mẹ à.
– Mi định ở vậy sao?
– Ở vậy suốt đời mẹ à.
Ba nói găng rồi cười. Hồi này, Ba cười hoài. Đi đánh giặc mà không cười thì lòng dạ nó không hồ hởi đánh làm sao hăng được. Ba hay cười nên có anh Mua bên Thanh niên trêu. Anh trêu miết, Ba cười miết. Đột nhiên, Ba không cười. Ba thoáng buồn. Vui đột ngột, buồn đột ngột là có chuyện. Chuyện gì? Ba khổ, ăn mặc tèng xí chẳng lẽ lại có chuyện ấy. Vậy mà có chuyện ấy. Cái con đường đi đến chuyện ấy là con đường nào? Ba đâu biết. Chỉ biết cuối năm ấy họ cưới nhau.
Lấy chồng, Ba cũng không về nhà làm dâu như người ta. Ba ở luôn đội du kích. Một hôm, đánh nhau xong, Ba ghé vô nhà mẹ chồng gội đầu. Mẹ bảo:
– Tau có con cũng như không. Chồng đi, vợ đi. Bay coi tau cưới dâu về làm chi.
Ba nói:
– Con tèng xí vậy mẹ cưới con chi hở mẹ?
– Thằng Mua nó cưới chớ tau đâu có cưới-mẹ cười-nói vậy chớ đừng trách mẹ. Bay đi bay trả thù cho cha bay, cha thằng Mua. Mẹ chỉ muốn có đứa cháu để bồng bế thôi con à.
Tưởng gì chớ chuyện ấy thì Ba có rồi. Có từ hôm anh Mua ghé qua, lúc đội du kích đi công tác vắng hết. Sau lần ấy, Ba hay bị ói, Ba biết. Nhưng Ba không nói ra. Nói ra mấy ảnh không cho Ba đi đánh giặc thì còn ra nước ra cái gì nữa. Ba nói với mẹ chồng:
– Chuyện đó mà lo chi mẹ.
– Lo chớ sao không lo. Bay còn con nít bay không biết lòng người già.
Ba còn nhỏ nhưng Ba biết. Ba sắp làm mẹ rồi chớ bộ. Nhưng Ba không nói. Ba cắp súng chào mẹ:
– Con đi nghe mẹ.
– Tổ cha bay.
…Ba tỉnh dậy thấy mình nằm trong một căn phòng rộng. Chung quanh có nhiều người nằm sắp lớp như cá. Bên cạnh cô ai đó thút thít. Cô hỏi:
– Ai khóc đó?
Tiếng khóc im. Một giọng nói quen quen cất lên:
– Mày tỉnh rồi bả Ba? Tau…
– Chị Chín hả, có gì đó chị?
– Tau…tau làm Phụ nữ xã mà nó đánh tau quá, tau khai ào du kích. Nó bắt bò, tau không biết bò, nó đánh tau.
– Đừng khóc chị à. Mình là cán bộ, mình khóc chị em nghe không có lợi. Lỡ khai thì phản cung.
Chị Chín nói thầm thì:
– Phản cách sao? Tau sai với Đảng rồi. Mày nói phản cung cách sao?
– Bảo tui là dân. Các ông đánh quá, tui khai ẩu. Giờ nghĩ lại, tui không phải du kích. Rồi cứ vậy miết.
Chị Chín ôm Ba:
– Tội mày quá, tau thấy nó đánh mày ghê quá, tau sợ. Tau sẽ cố. Ba à.
Ba nói:
– Cố miết nghe chị. Hồi ở ngoài, các anh bảo thằng giặc nó ghê lắm. Nhưng mình bước tới thì nó lùi. Mình lùi thì nó bước tới. Mình đừng lùi chị à.
Hai chị em ôm nhau thức cho đến sáng.
III
Tưởng đi máy bay là nó chở đi giam ở tỉnh nào, nước nào, ai ngờ cũng ngay tại cái phòng hôm qua, nó trói hai tay với nhau, hai chân với nhau rồi cột hai sợi dây điện treo ngửa người Ba lên lưng chừng nhà. Hai thằng cảnh sát mới lạ, người to lớn, mỗi thằng cầm một khúc gỗ đứng hai bên.
Ba liếc mắt nhìn căn phòng. Vẫn những thứ hôm qua, nhưng bữa nay, sau cái bàn, sát trong tường, chúng dựng lên một tấm bảng ghi “Thành khẩn được về, ngoan cố thì chết”
Thằng mặt sắt ngồi trên ghế cũ, mặt lúc to, lúc choắt lại. Thằng Đẳng vẫn ngồi đối diện, người nó giật liên hồi trên ghế, nóng nẩy như có lửa đốt.
Thằng mặt sắt hỏi:
– Mày làm Phụ nữ Huyện, phụ nữ chúng mày có những ai?
– Tôi là dân, tôi nói rồi mà. Các ông trên đồn bắn bị thương, tôi ra Đà Nẵng chạy chữa rồi ở mướn.
Thằng mặt sắt phẩy tay. Thằng bên phải tống khúc gỗ vào Ba, người cô chao sang bên trái. Thằng bên trái tống khúc gỗ vào Ba, người cô chao sang bên phải. Cứ như thế, người cô bị đẩy qua, đẩy lại. Cô cảm thấy chóng mặt. Người quay cuồng, muốn nôn ọe.
– Nói đi. Thằng mặt sắt hét lên.
– Thả tôi ra, tôi nói.
Lập tức, Ba thấy mình lao nhanh xuống đất. Đầu cô đập vào sàn đau điếng. Cô nằm im, thở. Thở muốn đứt hơi. Thằng mặt sắt dùng đôi bốt hất đầu cô dậy:
– Nói đi.
– Nói tôi là dân bị các ông bắn, tôi đi chữa bệnh rồi ở mướn à.
– Nó ngoan cố đấy-Thằng Đẳng nói-Nó làm Phụ nữ Huyện. Đêm đêm, nó vào trong dân. Nó hô hào đóng góp…
– Ông có làm thì ông chỉ tôi khai với.
– Tau làm là bởi nó bắt tau làm. Tau làm chơi. Tau chán rồi. Chẳng được gì, tau về với quốc gia. Tau thù cộng sản giết mẹ tau. Mẹ tau làm ăn ủng hộ cho quốc gia mà chúng bảo làm điệp.
– Ông làm gì thì ông biết, tôi làm sao biết được.
– Nó ngoan cố-tên Đẳng nói-chính tôi thấy nó làm Phụ nữ Huyện. Ông cho nó đi tàu thủy đi.
Tên mặt sắt lại vẫy tay. Hai thằng to lớn ban nãy xông ngay vào tuột quần áo cô gái. Chúng đặt cô lên cái ghế băng dài, trói hai tay cô vào hai chân ghế trước, hai chân cô vào hai chân ghế sau, đầu thòng ngoài ghế.
– Các ông làm gì mà bó tôi như người chết thế này. Các ông ở đầy nhà tôi chạy sao được. Ba nói.
Chúng vẫn câm lặng. Một thằng cầm một chiếc khăn lông bịt mũi cô, làm miệng cô há ra để thở. Một thằng đè tay trên bụng cô. Thằng mặt sắt cầm bình nước xà phòng để sẵn ngay trên cái bàn sắt đổ vào miệng cô. Cô sặc sụa thét lên:
– Thả tôi ra…tôi ngợp quá.
Tên mặt sắt nói:
– Muốn được thả thì khai. Mày có làm Phụ nữ Huyện không?
– Không có. Ba thét.
– Mày có làm Phụ nữ Huyện không?
– Không có.
Thằng mặt sắt cứ đổ mãi nước xà phòng vào miệng cô. Thằng to lớn cứ đè tay ép xuống bụng cô. Khi bụng cô phình lên, thằng mặt sắt sai hai tên to lớn nọ lấy một miếng ván đặt lên người cô, rồi ngồi hai đầu ván nhún qua nhún lại. Nước vọt ra từ miệng, từ mũi cô. Bụng cô đau quặn. Nóng như có lửa đốt, cô ngất đi…
Khi tỉnh lại, Ba thấy mình nằm co quắp trong một phòng tối. Cô duỗi chân ra thì đụng ngay vào tường. Ngồi thử dậy thì đầu đụng vào trần. Cô thả người xuống thì nghe cạnh đầu mình có mùi thối. Cô hơi ngạc nhiên. Chẳng lẽ mình…Nhưng cô chợt nhớ lại, hồi ở ngoài các anh hay bảo, ở trong tù rất chật. Muốn nằm được thẳng người, thì phải gối đầu lên cầu tiêu. Cô gối luôn trên đó cho thoải mái. Cô cảm thấy sống lưng lành lạnh. Bụng cô cứ chướng lên tưng tức. Nhưng không phải như hồi nào cô thấy bụng nặng nặng và cái đau khe khẽ khi con cô đạp đòi ra.
Dạo ấy đang mùa nồm non. Nếu như những năm thanh bình thì những người gánh cá chuồn sẽ ơi ới gọi nhau đi chật làng chật xóm. Nhưng giờ đây, làng xóm vắng hiu. Cồn cát trắng lạnh. Trên mặt biển phía xa in hình những chiếc tàu chiến, những chiếc bo bo đen sậm. Chỉ có con tu hú là chẳng hay biết gì, như mọi khi, nó gọi hoài tu hú tu hú tu hú. Ba cùng đội du kích đi đánh xe về. Cô thấy người mệt xỉu. Cái thằng nhỏ trong bụng như kêu mẹ mẹ cho ra. Ba thầm nhủ: “Con ráng rải rải cho mẹ đánh giặc. Mấy bữa nay được trớn làm tới ngon quá”. Nhưng thằng nhỏ cứ đòi ra. Ba ngồi thở, mặt tái nhợt. Anh Lì Xã đội trưởng hỏi:
– Cô Ba có mang mấy tháng rồi hè?
– Còn vài tháng mới sinh-Cô nói dối.
Anh Lì cười:
– Cô xí gạt tôi. Ngó bộ đó chẳng nay thì mai, cô về nghỉ sanh đi.
Ba về nhà. Mấy hôm sau, cô sinh đôi được hai đứa con trai. Cô sinh được sáu ngày thì anh Mua về. Cái hôm ấy là hôm gì mà gió biển lộng dữ vậy. Cát sào sạo quanh nhà. Anh Mua đứng ở đầu giường, người mướt mồ hôi, giọng vui vẻ:
– Nghe Ba sanh, tôi đang đi công tác ở Gò Nổi, các anh cho tôi về.
– Sanh thì sanh chớ bỏ công tác về chi.
– Tôi về thăm Ba, thăm con.
– Thôi được rồi. Anh ra ngoài kia. Ở trong buồng tôi mới sanh hôi hám lắm.
Anh cười, cầm tay Ba. Bỗng nhiên, Ba giật thót người. Một tiếng súng nổ ngay ở sân nhà. Sau đó, Ba nghe tiếng bọn Mỹ xì xồ. Ba đẩy anh Mua vào hầm trốn máy bay rồi bồng cả hai con bước ra, ý ngăn chúng không được vào buồng đàn bà đẻ. Một thằng Mỹ trắng cao to, mắt gườm gườm, nói tiếng Việt lơ lớ:
– Có vi xi không?
– Không có.
Nó chỉ cái xắc cốt của anh Mua treo ở góc nhà cười hộc hộc. Sau đó, chúng bắt Ba, mẹ, các em ra sân. Chúng sục sạo trong buồng. Ba nghe tiếng mìn nổ. Người cô như chết điếng. Một lúc sau, chúng lôi anh Mua ra để nằm ở góc sân. Trên ngực, trên đùi anh, máu túa ra thắm đỏ áo quần. Mũi anh thoi thóp thở. Không kịp nghĩ gì, cô bồng cả hai con lao lại phía anh. Thằng Mỹ trắng xô cô ngã chúi. Một đứa bé văng khỏi tay cô. Thằng bé khóc thét lên. Mẹ cô vội đến bế cháu chạy ra một gốc cây. Một thằng Mỹ đen, chạy đến đỡ cô dậy, tay bóp bóp vào đầu đứa con còn lại trên tay cô:
– Con vi xi đép đép (đẹp đẹp).
Ba gạt tay thằng Mỹ đen ra, hằm hằm nhìn nó. Cô không biết sợ là gì nữa. Chồng cô đã thế thì cô cũng chết thôi.
Thằng Mỹ trắng ban nãy hỏi:
– Chồng mày phải không?
– Phải
– Nó làm gì?
– Làm ruộng
– Không phải.
Thằng Mỹ trắng bước vô nhà. Một lúc sau nó cầm ra một con dao. Nó cười hộc hộc rồi xông thẳng lại chỗ anh Mua nằm. Ba nghĩ: Nó sẽ chặt đầu anh. Cô đặt con xuống đất, mặc cho con khóc, hung dữ lao vào người thằng Mỹ. Thằng Mỹ trắng chồm cả người tới xô cô ngã ngửa. Nó cầm lấy lưỡi dao xẻo tai anh Mua. Nó vừa cười hộc hộc vừa cầm đến đút vào miệng Ba. Nước mắt ròng ròng, cô cắn chăt răng. Nó xông lại chỗ bà mẹ, đưa vào miệng bà, bà khoát tay, khóc òa lên. Nó cười. Bỏ lỗ tai vào cái túi áo rộng thùng thình của nó rồi xông lại cắt mũi anh. Nó lại đút vào miệng Ba, Ba vùng dậy húc đầu vào ngực nó. Nó đá vào bụng cô, cô ngã xuống.
Một lúc sau, Ba tỉnh dậy. Cô thấy chồng cô bị treo lên xà nhà. Hai cái răng vàng của anh bị chúng nạy lấy cắp. Ngay hai kẽ răng ấy, chúng thắp một điếu thuốc đút vào. Ruột anh bị chúng mổ, chảy lòng thòng xuống đất. Đầu tóc bù xù, áo quần rách toạc, Ba lao vào cắn xé bọn Mỹ. Chúng bắn dọa một phát súng qua đầu cô rồi lập tức đẩy cô, mẹ cô và các em cô ra ngõ. Ba nấc lên, ngồi xuống vệ đường, không chịu đi. Thằng Mỹ đen lôi cô dậy bắt đi. Đường cát nóng như rang. Tay bồng con, Ba bước như người mất hồn.
Chiều hôm đó, chúng cho gia đình cô về. Hai đứa con của cô yếu sức, lần lượt chết trong hai ngày tiếp theo. Ba bị sa tử cung, bụng đau quằn quại. Ngày thứ ba, Ba xin về đội du kích công tác. Anh Lì bảo:
– Ba làm công tác Phụ nữ hay Mặt trận chi đó thì được chớ làm du kích thì không nổi đâu.
Ba nói mếu máo:
– Gia đình tôi khổ. Cha tôi chết, giờ chồng con tôi chết. Các anh không cho tôi cầm súng đánh đuổi hết bọn chúng thì làm sao nước mình có độc lập tự do, nhà tôi được hạnh phúc. Các anh cho tôi đi chiến đấu liền đi.
Anh Lì im lặng một chút rồi nói, giọng trầm hẳn xuống:
– Được, nhưng cô phải nghỉ ít lâu đã.
IV
Vẫn căn phòng ấy, những thứ đồ vật ấy, vẫn câu khẩu hiệu ấy, vẫn tên mặt sắt và tên chiêu hồi giống như anh em sinh đôi ngồi trên hai chiếc ghế ấy. Nhưng hôm nay có cái mới: trên bàn có thêm bộ ấm chén trà và góc bàn có thêm cái ghế mới.
Ba vừa bước vào phòng đã thấy ngay một cảnh tượng đau lòng: Chị Chín đang bò không ra bò, lết không ra lết. Thằng mặt sắt và thằng chiêu hồi đang ôm bụng cười. Thằng mặt sắt hỏi:
– Mày khai mày là du kích sao mày không biết bò?
– Tôi không phải là du kích.
– Tại sao mày khai?
Chị Chín nhìn Ba rồi nhìn tên mặt sắt:
– Tại mấy ông đánh cô Ba quá, tôi thấy, tôi sợ tôi khai ẩu chớ tôi là dân ruộng mà.
– Đồ con từu-Tên mặt sắt chửi-mày sang phòng bên rồi mày sẽ biết.
Nó kéo chị Chín ra khỏi phòng. Khi đi ngang chỗ Ba, chị nhìn cô đầy ý nghĩa.
Vừa lúc ấy, một thằng dáng cao cao, mang kính trắng bước vào, ngồi xuống ghế thằng mặt sắt hay ngồi, giơ tay chỉ Ba ngồi vào chiếc ghế mới, nói:
– Mấy bữa nay, tụi nó đánh cô miết. Bậy quá, tôi không biết. Hôm nay, tôi mời cô đến đây uống nước, nói chuyện với ông Đẳng đây. Chuyện đồng chí với nhau mà. Cô có quên, ông ấy nhắc lại, ông ấy tâm sự-Hắn nhìn tên Đẳng rồi nhìn Ba-Xin phép, để hai người tự nhiên, tôi đi làm việc.
Tên kính trắng bước ra. Thằng Đẳng nhìn theo, mặt thoáng hốt hoảng. Đầu nó cúi xuống, có vẻ suy nghĩ lắm. Sau đó, nó lấm lét nhìn Ba. Ba nhìn thẳng vào mặt nó. Mắt nó cụp xuống. Khuôn mặt đầy mụn cá của nó đỏ ửng lên. Cái mặt mẹt của nó Ba không thể quên được.
Sau tết Mậu Thân 1968, bọn địch tăng cường càn quét hòng đẩy lực lượng chủ lực của ta về rừng núi. Ở quê Ba, chúng dùng chiến thuật Mỹ lết nhằm phát hiện, đánh phá, chống lại phong trào du kích của ta. Bọn Mỹ lết rất khôn. Chúng thoắt hiện thoắt biến. Vừa mới phát hiện ở Cồn Khe, chúng đã bí mật ngồi phục ở Cồn Chùa. Cán bộ, du kích đâm lo ngại, chưa biết cách trị chúng. Một số co thủ, một số đi chiêu hồi. Trên lệnh xuống phải tìm cách đánh chúng, bẻ gẫy chiến thuật này, đưa phong trào chiến tranh du kích đi lên. Đội du kích của Ba nghĩ mãi cách đánh. Ba cũng thao thức mãi…
Một hôm, Ba lần mò vào một bờ rào phòng thủ của địch, gỡ một trái mìn cơ-lay-mo. Hàng ngày, cô bỏ mìn và mấy quả lựu đạn vào rổ giả bưng đi chợ để tìm cách diệt chúng. Suốt ba ngày, cô đi mỏi chân qua những động cát, những bãi rậm mà không gặp chúng. Cô tức lắm. Chẳng lẽ mình chịu thua chúng để chúng làm tàng mãi. Ngày thứ tư, đang bưng rổ qua một xóm dân cách đồn địch vài trăm mét thì cô thấy một đứa trẻ chăn bò hổn hà hổn hển, mặt đỏ lưởng vì chạy dưới nằng, đến báo cho cô biết có 9 tên Mỹ từ Cồn Chùa qua Cồn Khe về đồn, có lẽ để nhận thực phẩm. Ba bám theo. Nhưng bọn này ranh lắm. Chúng không đi đường lớn mà cứ đi ngoắt ngoéo trong các nhà dân. Sợ đánh chúng sẽ ảnh hưởng đến dân, Ba quyết định mang rổ mìn chạy tắt đón đầu chúng. Đến gần cổng đồn, chúng có vẻ chủ quan đi nghênh ngang không chú ý gì cả. Ba đặt rổ xuống, giả bộ sửa dép để đặt mìn. Cô ngụy trang bằng một túm cỏ mang sẵn, giăng dây, rồi nhảy xuống bờ đường thản nhiên bứt lá é. Ba thằng Mỹ đi đầu đã tới quả mìn. Cô bấm nút diệt luôn. Bọn đi sau vụt nhảy xuống lề đường. Cô ném luôn hai quả US diệt nốt.
Trong khói mìn, Ba lẩn vào xóm dân. Nghỉ một lúc, cô quay về đơn vị. Giữa đường, thấy khát, Ba ghé vào nhà dân xin nước. Nhà trên vắng người. Cô vòng xuống phía bếp. Cô gặp ngay tên Đẳng này đang ngồi trên võng xì xụp uống sữa. Nó nói nó là cán bộ An ninh quận đi công tác bị ốm, nghỉ nhờ. Nói xong, nó lấm lét nhìn Ba, cái mặt đầy mụn cá đỏ rừ lên. Nó đưa tay vuốt tóc, nghiêng người làm điệu, rót nước mời Ba uống:
– Chị đi công tác ở đâu về ta?
– Tôi đi họp Phụ nữ-Ba nói lừa-Nghe mìn nổ tôi sợ quá chạy thục mạng. Mệt quá, xin anh miếng nước.
– Tôi nghe ai vừa đi ngang nói là du kích mới đánh Mỹ. Giỏi thật. Rồi đây bọn Mỹ lết sẽ không dám tác oai tác quái. Ta thoải mái vào sâu trong dân, ít ra cũng kiếm chác được cái chi bồi dưỡng chị hỉ-Đẳng nhìn Ba, nói ấp úng-Chị có mệt mời ngồi xuống võng tôi nghỉ.
Nó ngồi xuống bên Ba. Ba vừa uống nước vừa nghĩ: Cái anh chàng này cán bộ gì mà lạ vậy. Mới gặp mà đã liến láu. Cô đứng dậy xin phép về. Sau này, cô có gặp hắn đôi lần, nhưng cô tránh mặt.
Ba nhìn thằng chiêu hồi lần nữa làm cho nó lúng túng hơn. Nó ngọ ngoạy đầu, có vẻ bứt rứt suy nghĩ. Một lúc sau, hẳn nhớ đến việc chủ giao, nó cố gắng tự chủ, nhưng mắt không dám nhìn thẳng vào Ba, hắng giọng, nói ngắt quãng:
– Cô Ba, cô uống nước rồi ta trao đổi, tâm sự với nhau, cũng è…è…è giả tỷ như ta trao đổi công việc lúc còn ở đằng mình.
– Tôi có biết trao đổi trao điếc gì đâu!
– Cô cứ nói vậy-tên Đẳng cười nhạt-Cô tham gia cách mạng, tôi cũng tham gia cách mạng è…è…Nhưng bây giờ tôi nói với cô vầy è…è…Mình tham gia cách mạng mà chẳng được cái chi. Ăn uống cực khổ, sốt liệt giường liệt chiếu, ăn mặc rách rưới, ai tính cho. Lúc mình tích cực, mấy ông trên cũng động viên năm ba câu, có cho xu nào đâu. Vậy mà, tôi lỡ lẹm một ít tiền công è…è…Cái này nói hơi…kỳ…tôi cũng thiếu thốn tình cảm…Vậy mà họ phê bình gắt. Cô nghĩ thử coi, kiểu vắt chanh bỏ vỏ ấy, chịu sao thấu…Trong khi đó, Mỹ nó giàu, quốc gia nó mạnh, ta đánh sao nổi. È è nói vậy, để cô cùng tôi thấy là đằng mình không làm gì được…è è dù có anh dũng mấy. Tôi sang bên này sống khá lắm. Tôi hẳn lớn tuổi hơn cô. Có khi tham gia trước cô è è tôi khuyên cô cũng nên è è như tôi…mà có gì khai nấy rồi về.
Nó dừng lại nhìn Ba rồi nói tiếp:
– Tôi thấy cô xanh xao mà bị tra tôi khổ tâm quá. Nhưng, cô đừng trách mấy ổng. Đằng mình cũng vậy, bên này cũng vậy. Bắt được đối phương thì phải hỏi tra. Tôi…tôi làm An ninh tôi biết, è…è cô uống nước, cũng như hồi nào, tôi đã mời cô uống nước. Cô bảo cô làm Phụ nữ…tôi không biết nữa. Cán bộ ở vùng Đông mình đông quá mà…Hồi hôm tôi nhớ hình như cô là y tá, có lần tôi…tôi thấy cô băng cho một đồng chí cơ quan tôi, è…è có thể cô nói gạt tôi…Mà thôi, nhưng mà lỡ rồi.Cô cứ nhận là Phụ nữ đi. Đừng bảo tôi nói sai. Không lợi tôi, không lợi cô. Cô không nhận huyện thì xóm cũng được. Xóm mà ăn thua gì. Vận động đóng góp vài ba lon gạo, ủy lạo thương binh vài hộp sữa mà, ai không làm. È è cô cứ nói, tôi hứa thưa lại mấy ông…
Tiếng thằng Đẳng cứ rè rè như cái máy làm Ba phát mệt mỏi. Cô nói bực tức:
– Ông chỉ tôi khai chớ tôi không biết, tôi là dân.
Tên Đẳng ngẩn người, nói giật giọng:
– Nói gì lạ vậy, đồng chí. Tinh thần đảng viên của đồng chí đáng cho tôi học tập. Nhưng mà…
– Đảng viên là gì, tôi không biết, ông là đảng viên à?
Tên Đẳng giật mình, nóng nảy, nhưng nó ghìm lại. Nó sợ cô nói nó là đảng viên, bọn kia sẽ nghi nó khai dối. Nó dỗ:
– Nói gì lạ vậy, cô nhớ lung tung hết. Tôi mà ai cho vào Đảng. Nhà tôi ở Đà Nẵng giàu. Mẹ có quan hệ với quốc gia, bị cộng giết, ai cho tôi vào-Nó đẩy chén nước tới trước mặt cô, cười nhạt-Cô gan dạ thật. Nhưng cái gan dạ của cô để làm gì. Người ta dùng cái gan dạ để dời sông lấp biển, làm anh hùng sử sách ghi đời đời. Còn cô, cũng thường như tôi, ta sống chết như cây cỏ, giun dế. Vậy thì tội gì ta chịu khổ…è…è…Cô nghĩ tới ngày thắng lợi, bọn trên hưởng hết. Còn cô, cô làm gì, là người cán bộ thường, lương tháng vài chục, cô được gì…è è…tôi nghĩ, thôi cô khai quách, về nhà làm ăn. Ở cái chế độ nào cũng chỉ có phó thường dân là sướng nhất. Nghĩ đi cô à.
Hắn bước ra ngoài cửa nghiêng tai lắng nghe. Từ phía lầu hai tầng trước mặt, bọn chiêu hồi đang tập văn nghệ để chuẩn bị liên hoan với bọn cảnh sát. Nó tập bài gì mà giọng ỏn ẻn nghe muốn mửa, có “nhớ thương” “đùm bọc” “gừng cay muối mặn”. Chúng muốn “nhớ thương”, “đùm bọc” mà không nghĩ tới ai đào hầm giấu chúng, ai bón cháo cho chúng ăn, đổ bô cho chúng ỉa khi chúng đau ốm. Ai nhường chiếu cho chúng ngủ, ai đưa áo cho chúng mặc khi áo chúng rách. Chúng là cái thứ chi vậy? Đất chúng đứng ở đâu, trời chúng đội trên đầu ở đâu? Chúng thở bằng gì? Ăn cơm bằng gì?
Ba nhớ lại ngày mới tham gia du kích mật. Một hôm, nghe xã báo có một thằng đi chiêu hồi, khai ra làm cho một số đồng chí bị bắt, anh Nhường nói:
– Bọn ác ôn, bọn chiêu hồi đều là bọn chó đẻ. Tau mà gặp tau diệt không còn một thằng.
Ba ngây thơ hỏi:
– Nó là người sao lại bảo chó đẻ, anh?
Anh Nhường gằn giọng:
– Người đẻ nhưng nó làm chó, làm hại cách mạng, hại đồng bào.
Ba nghe, Ba cũng tức bọn chiêu hồi. Đời Ba khổ nhiều, thù nhiều. Ba chỉ theo cách mạng, không làm hại cách mạng, hại bà con. Ba không “chiêu hồi” được. Bây giờ, hiểu nhiều, Ba cứ tự cười mình, nhớ anh Nhường. Anh chết chưa kịp giết hết bọn chó đẻ, nhưng còn có bà con, có Ba.
Ba nhìn ra cửa thấy tên Đẳng vẫn đứng im nghe hát. Nó có vẻ chăm chú lắm. Bây giờ, chúng đang hát về “Tình bạn thủy chung giữa bao hoạn nạn” “Đôi ta gắn bó keo sơn” “Không sai tấc lòng”. Nó, không sai tấc lòng với ai chớ sai tấc lòng với dân với Đảng, với đồng đội. Ba nghĩ: Chỉ có anh em mình mới gắn bó, thủy chung. Trong gian khổ người ta yêu nhau hơn.
Ba nhớ đội du kích của cô ngày nào: một mảnh vườn hoang, một căn nhà lợp lá, những bữa cơm rau muống, những nét mặt căng thẳng và cởi mở.
Dạo đó, vào đầu năm 1969, Ba được trên quyết định về huyện. Anh chị em du kích đã tổ chức đi đánh cá về liên hoan, bắt Ba ăn đến ách bụng. Khi Ba đi, các anh chị dúi theo quà bánh, thuốc men. Người đi người ở đều thút thít. Nhưng Ba đi, Ba có quên anh chị em đâu. Lên huyện nhận chức Chính trị viên phó Huyện đội là Ba xin về vùng cát; quyết cùng anh chị em tạo thế cho vùng cát đi lên. Ngày đêm, Ba cùng các đồng chí tổ chức du kích mật, đột nhập vào khu dồn phát động quần chúng, đánh giặc, đưa bà con về làng cũ.
Chính lúc ấy, một hôm mưa lụt, Ba đang đi công tác đã bị một thằng du kích phản bội chỉ cho hải thuyền của địch bắt cô.
Ngay bên bờ sông Vĩnh Điện, tên Đẳng đã giở nón nhận mặt cô. Chiều ấy, chúng chở cô về Ty Cảnh sát Hội An này.
Mới vô tù, bị thằng mặt sắt đánh quá, Ba thoáng nghĩ: hay mình khai mình là bộ đội để nó đối xử mình theo kiểu tù binh cho rồi. Nhưng cô lắc đầu ngay. Cái bọn này chỉ dọa mình thôi, nó chưa biết gì về mình cả. Mình ráng chịu đánh, đánh hoài không nạy răng mình được là nó thua. Kinh nghiệm hồi ở ngoài, anh em dặn rồi: “Cái thằng giặc nó hay bắt nọn lắm. Nếu mình lùi một bước thì nó tiến một bước. Nếu mình tiến một bước thì nó phải lùi một bước. Mình tiến mãi thì nó phải chịu lùi mãi”.
Trong quãng đời đánh giặc vừa qua, Ba đã đánh bao nhiêu trận rồi, cô không nhớ nữa. Sau này (có lẽ cô chưa nghĩ tới đâu) hẳn có lúc cô sẽ được báo cáo trước Đảng và nhân dân thành tích của mình với những con số diệt địch, những trận đánh dũng cảm và mưu trí. Đó là chuyện sau này. Còn giờ đây, cũng như những trận đánh lúc chưa bị bắt, cái chính là cô phải nghĩ cách nào để tiến công địch, để thắng địch. Trong nhà lao, cũng là mình với thằng địch ấy, như ở ngoài thôi…
– Cô nghĩ kỹ rồi chớ-Đẳng quay lại nói-Cô đồng ý khai là Phụ nữ xóm nghe. Hay vầy, è…è…vầy thì không có lợi cho tôi. Nhưng ép cô không được. Cô cứ khai là y tá phục vụ cho phụ nữ nhưng tôi lầm. Y tá nó cũng nhẹ tội.
– Tôi không phụ nữ, y tá gì hết. Tôi là dân.
Tên Đẳng nói nóng nảy:
– Ngoan cố. Đã bảo ngọt không chịu nghe. Tùy cô đấy. Nếu cô cứ “sống vì Đảng, chết không rời Đảng” thì rồi ở tù mọt xương ra.
Ba đứng dậy:
– Ông nói láo.
Ba vừa thét vừa cầm chiếc ghế xông vào tên Đẳng. Nó kinh hoàng nhìn cô, rồi khi đã hiểu, nó ớ lên một tiếng và bước giật lùi ra cửa. Nó vấp phải ngạch cửa ngã xuống. Cái ghế chồng lên đầu nó.
Tên mặt sắt từ đâu chạy tới:
– Tại sao mày đánh ông Đẳng?
– Tại ông ấy muốn khai bậy để lấy tiền. Ổng bảo với mấy ông tôi là Phụ nữ Huyện, hồi nãy lại bày tôi khai là y tá. Vu cho tôi, tôi tức tôi đánh đó.
Tên mặt sắt gầm lên:
– Mày ngoan cố hả. Được, hừ…hừ…mày sẽ được nếm món này.
Nó giật tay Ba kéo ra phía sau phòng hỏi cung. Ở đó có mấy thùng phuy. Nó đưa Ba tới một thùng phuy. Nó bảo:
– Mày nhìn vào đi.
Ba nhìn vào, mặt cô xanh ngắt. Cô muốn té xỉu xuống ngay. Trong thùng lúc nhúc những rắn là rắn. Có con to như cổ tay, có con dài như roi bò. Vốn sợ rắn từ nhỏ, cô che mặt quay ra. Thằng mặt sắt hỏi:
– Có sợ không?
– Sợ chớ.
– Khai đi. Nếu không tao cho rắn vào người mày. Nó rúc nó phá mày. Nếu mày có chồng, thì chồng mày sẽ bỏ mày. Nếu mày chưa chồng thì không thằng nào chịu vác mặt đi hỏi mày.
Trong giây lát, Ba thấp thoáng nhớ lại câu nói ngày nào mình nói với anh Lì Xã đội trưởng: “Còn chúng thì chẳng ai có hạnh phúc cả”. Câu nói như một lời hứa thân thuộc từ một miền xa nào vẳng lại. Ba đứng thẳng người, nhìn trừng trừng vào thằng mặt sắt:
– Tôi đã nói rồi, tôi không biết gì mà khai. Tôi là dân bị các ông bắn gãy chân, ra Đà Nẵng chữa rồi ở mướn luôn. Các ông muốn cho về thì cho, không thì tôi chịu vậy. Tôi không còn gì để nói nữa.
Thằng mặt sắt vẫy tay một cái. Lập tức hai thằng cảnh sát to lớn bữa trước hiện ra. Nhanh như cắt, một thằng bẻ cụp hai tay Ba ra sau. Một thằng buộc hai ống quần cô lại. Thằng mặt sắt thò vào thùng phuy nắm luôn hai con rắn bằng ngón chân cái, kéo lưng quần cô xuống thả vào. Sau đó, chúng thả cô tự do và cười ồ lên.
Hai con rắn quẫy lộn trong người cô…
Ba cảm thấy mình sắp ngã quỵ. Nhưng cô gượng dậy. Những tiếng cười khả ố và những bộ mặt nham nhở của chúng làm cô nổi xung lên. Cô chẳng thấy sợ là gì nữa. Cô xông thẳng đến trước mặt chúng, tụt quần xuống.
– Mày không thấy xấu hổ à? Thằng mặt sắt hỏi.
– Không xấu. Chỉ bọn nào làm chuyện xấu mới xấu-Ba hít một hơi dài rồi nói-Tau sẽ lên buồng làm việc của tụi bay cho thằng nào nhìn tau nó sẽ mù mắt đi.
Thằng mặt sắt hất hàm cho hai tên kia:
– Thôi gắp rắn ra. Nó ngoan cố lắm. Trò này không ăn thua gì đâu.Cho nó vào phòng tra điện-Nó quay về phía cô-Nếu mày còn ngoan cố nữa, mai tao sẽ cho mày biết tay.
V
Nó bảo nó làm hung nhưng nó chẳng làm cái cóc gì hết. Sáng hôm sau, chúng dẫn Ba ra nhà ăn. Thằng mặt sắt bảo một tên lính người thấp thấp, mặt mũi nom khắc khổ, áo quần lem luốc lọ nồi bưng lên một mâm cơm trắng tinh, có thịt bò xào, trứng tráng, thịt quay, rau sống. Thằng mặt sắt nói:
– Lâu nay mày ở trên núi, ăn uống cực khổ, thuốc men không có, người ốm yếu. Nay về đây, dù khai hay không khai, quốc gia cũng khoan hồng. Ăn đi rồi về.
Ba nghĩ: tau thù mày. Mày sống tau chết. Mày chết tau sống. Tau thèm ăn cơm của mày à. Cô nói:
– Các ông bảo ăn nhưng nước xà phòng đầy bụng làm sao tôi ăn.
– Cứ ăn đi. Tao lên đây chút.
Tên lính bưng cơm lúc nãy đến bên Ba giục:
– Ăn đi chị. Tội nghiệp, trên ấy khổ lắm.
– Trên ấy nào, tôi là dân ở dưới Đà Nẵng mà. Mấy ông cứ tra cứ ép tôi mãi. Tôi không ăn.
Tên lính im lặng. Đầu hắn gục xuống rồi ngẩng lên, vẻ mặt khắc khổ nhiều nếp nhăn của hắn nom có vẻ tội nghiệp:
– Chị ghét cả tôi nữa sao chị. Tôi có muốn đi lính đâu. Tôi cũng khổ.
– Đi lính có lương mà khổ gì.
Tên lính nói nho nhỏ:
– Mấy ông anh tôi cũng ở trên ấy. Tôi phải nuôi mẹ, vợ con, không đi được. Ở nhà đi cày bị mấy ổng bắt.
Ba ngó hắn chằm chằm. Vẻ mặt chất phác của hắn đã nói thay cho hắn. Cô hỏi:
– Sao không về làm ăn?
– Sao được. Nhà tôi ở khu dồn. Tôi trốn, chúng trù vợ con tôi chết-Hắn im một lúc rồi nói-Chị ăn đi cho nó khỏe, chị à.
Vừa lúc ấy, thằng mặt sắt quay lại. Nó nhìn mâm cơm còn nguyên rồi nhìn Ba hỏi:
– Sao mày không ăn đi?
– Tôi xây xẩm quá, không ăn được.
Dứt lời, cô ngã gục xuống ngay mâm cơm. Thau cơm, mấy đĩa thức ăn tung tóe rải từ bàn lan xuống mặt đất. Người cô dính đầy thức ăn.
– Đồ ngoan cố. Mày không ăn lại còn phá hại của người ta nữa. Tên mặt sắt thét lên.
– Không phải ông à-Người lính bưng cơm nói-Chị ta xây xẩm thực đấy. Hồi nãy tôi thấy mặt mày chị ta xanh như tàu lá chuối.
– Mày bênh à-Thằng mặt sắt tát vào má người lính-Đỡ nó dậy, đưa lên thùng phuy đựng nước để tao cho nó tắm.
Có cái gì đó làm cho người lính ngụy lúng túng. Anh ta há miệng ra, ngơ ngác không biết mình nên làm thế nào. Ngay lúc này, có lẽ Ba không hề biết, hai tháng sau, anh ta đã mang súng về với cách mạng. Anh ta đã nói với người cán bộ binh vận của ta rằng: “Tôi về là nhờ tôi gặp một chị…”Nhưng đó là chuyện sau này. Còn bây giờ thì anh ta phải đưa cô ra phía thùng phuy theo lệnh thằng mặt sắt.
Tên mặt sắt và hai tên cảnh sát to lớn đã đứng ngay bên thùng phuy đợi sẵn. Tên mặt sắt nói:
– Nó ngoan cố lắm. Bữa nay ta cho nó bơi đứng để nó tỉnh óc.
Một thằng cảnh sát chạy lại giở nắp thùng phuy sang một bên. Thằng kia nhấc bổng người cô bỏ vào thùng. Ba nhắm mắt lại, ngỡ chúng bỏ vào thùng rắn. Nhưng không phải. Đứng một lúc, cô nhận ra trong thùng chỉ có nước lã, cao ngang bụng cô. Cô nghĩ: Chắc nó nhận nước mình. Nhưng cũng không phải. Cô thấy hai thằng cảnh sát cầm hai khúc gỗ đứng hai bên thùng. Nó làm kiểu yêu gì hè? Ba chưa kịp hiểu thì một thằng đậy ngay nắp thùng phuy lại. Bây giờ, Ba phải cúi lom khom. Nước ngập tới ngực cô. Mắt cô tối bưng. Cô cảm thấy khó thở. Bỗng dưng cô nghe một tiếng đập vào vỏ thùng. Nước dềnh lên dâng một ngụm vào miệng cô. Một phút sau, lại một tiếng đập nữa. Nước lại dềnh lên, rồi hạ xuống. Chúng làm cái gì buồn cười vậy. Ba nghĩ. Bỗng nhiên, chung quanh vỏ thùng râm ran những tiếng đập, không thể đếm được nữa. Mắt cô thấy hoa lên. Tức ngực đến ghê gớm. Ba ngỡ như có một cái máy cán, ép vào, ép đến dẹp người cô ra. Máu từ lỗ mũi, lỗ miệng, lỗ tai trào ra. Từng lỗ chân lông của Ba bật máu.
VI
Bữa ấy đâu như bữa thứ hai mươi sáu kể từ ngày Ba bị bắt.
Vừa tỉnh dậy, Ba đã nghe cái giọng khàn khàn như giọng của người lính bưng cơm bữa nọ nói vọng qua cửa:
– Đêm qua, các ông ở trên bàn nhau chắc là chị không làm gì nên chị không có gì để khai. Họ bảo ở đây dù ít dù nhiều ai cũng khai cả. Đánh chị mãi cũng chẳng được gì nên sáng nay mấy ổng cho chị về đấy-Anh ta im một lúc rồi tiếp-Các ông ấy còn cật vấn và bộp tai ông Đẳng, bảo ông ta là nhớ quàng nhớ xiên, lúc khai chị làm cái này, lúc cái nọ. Ông Đẳng chắc chẳng được mấy ổng tin nữa đâu. Khổ cái người đi chiêu hồi thật.
Ba thấy mừng mừng trong bụng. Cô tự nhủ: Mình tiến tới, nó chịu lùi rồi. Các anh bảo vậy thiệt hay. Lẽ đời như vậy thiệt hay. Nhưng, mình cũng phải đề phòng, biết đâu chúng nó còn lừa lọc. Có tin anh lính này cũng tin vừa thôi…Trong đời, mọi sự thiệt giả cũng khó mà lường được.
Vừa lúc ấy, một tên cảnh sát đến dẫn Ba vào cái phòng mọi bữa. Tên mặt sắt đã có sẵn ở đấy. Hôm nay, nó có vẻ không còn dữ tợn như mọi bữa. Nó chỉ nhìn cô dò xét một lúc rồi bảo Ba ngồi xuống cái ghế bên cạnh. Nó rút từ trong cái cặp da để trên bàn ra một tờ giấy, đưa bút cho Ba, trỏ ngón tay chỉ một chỗ trống bảo cô ký tên vào đó. Ba nói:
– Tôi không biết chữ. Tôi cũng không biết giấy gì hết.
– Nói láo. Làm cán bộ mà không biết chữ-nó gằn giọng-Có thật là mày không biết chữ không?
– Tôi không biết chữ. Tôi không được đi học. Tôi bị mấy ông bắn bị thương, ra Đà Nẵng chữa rồi đi ở, có lúc nào mà học.
– Thì lăn tay.
Cô chưa kịp hiểu nó định làm gì, thì nhanh như chớp, bàn tay sắt của nó, nắm chặt khừ lấy tay cô, nhúng mấy đầu ngón tay vào lọ mực và in vào chỗ trống. Ba giật tay ra bảo:
– Tôi không biết giấy gì mà ông cứ chụp tay tôi lăn vô. Sau này ai nói gì tôi không chịu đâu.
– Giấy cam đoan đó mà. Lăn tay để cam đoan sau này về nhà không làm cho cộng sản nữa.
Ba lắc đầu:
– Ông làm chi lạ quá. Hồi giờ tôi có làm gì đâu mà cam đoan. Ba vừa nói, vừa giơ tay với tờ giấy định xé đi. Nhưng nó đã nhanh nhẩu chặn tay cô lại.
Nó bỏ tờ giấy ấy vào cặp da, rồi rút ra một tờ giấy khác đưa cho Ba, bảo:
– Đặng Thị Xã, tức Ba, mày ngoan cố lắm. Dầu mày có khai hay không, chúng tao vẫn biết mày làm trong Ban chấp hành Phụ nữ huyện. Nhưng cấp trên thấy mày là phụ nữ, yếu đuối nên rộng lượng khoan hồng cho mày về. Cho mày về nhưng mày phải làm ăn, không được làm cộng sản nữa. Chúng tao sẽ theo dõi. Bị bắt lần nữa thì mày sẽ biết tay tao- Nó cười gằn- Giấy vừa cấp ban nãy là giấy cho về đấy.
Ba bước ra cổng. Cô nhủ thầm: Trước tiên mình sẽ về xã. Chúng có cho điệp theo dõi cũng chẳng biết gì. Tối nay, mình sẽ liên hệ với anh em du kích để đưa mình về Huyện đội thôi. Về cơ quan là mình lại xin xuống vùng cát. Bao cơ sở mật, bao bà con ở các khu dồn đang chờ mình. Mình phải góp sức mình hơn nữa để giải phóng quê hương. Một tháng bị bắt vừa qua, cực khổ vậy, nhưng cũng cho mình hiểu cái thằng địch trực tiếp hơn. Các anh bảo đúng thật: Hễ mình tiến thì nó lùi. Vậy thì mình tiến hoài. Ví như người nhảy cao, thì cả quãng đời trước đây của mình, kể cả một tháng ở nơi thẩm vấn, cũng chỉ như là bước lấy đà cho mình phóng vọt lên thôi.
Nhớ lại thằng mặt sắt ban nãy, cô bỗng cười thầm rồi bật ra tiếng. Nó nói dóc thật. Tra tấn người ta mãi không moi được gì phải thua người ta thì tự nhận đi cho “Tiến bộ” lại còn phách lác. Nó nói nó biết cô sao cô làm Chính trị viên phó Huyện đội nó lại bảo cô làm Phụ nữ. Còn chuyện này nữa thì biết là nó ngốc đặc! Cô đâu phải tên là Đặng Thị Xã. Cô chỉ khai ẩu cho nó mà thôi.
Người viết truyện này xin mách nhỏ với bạn đọc rằng: Cô gái ấy chính là chị Đặng Thị Én, một người mà sau này cả nước đều biết tiếng: Người nữ anh hùng của quân đội chúng ta.
Đà Nẵng, tháng 12-1979
LA HAI
Lúc ấy, khoảng gần bảy giờ tối. Khi con tàu sắp rời ga Hàng Cỏ, tôi bỗng thấy một anh bộ đội vai mang ba lô, tay xách túi, dáng hớt hơ hớt hải chạy dọc theo các toa. Anh dừng lại bên tôi, đang nhìn ra cửa sổ con tàu, hỏi giọng đứt quãng:
– Đây…có phải…toa 8 không đồng chí?
– Vâng-tôi đáp và hỏi lại anh-Anh ngồi ghế số mấy?
– 12.
Tôi vui vẻ:
– Lên nhanh đi. Anh ngồi ở ghế đối diện với tôi.
Anh vui mừng nhờ tôi chuyển hộ ba lô qua cửa sổ rồi lao nhanh về phía cửa toa.
Đúng lúc ấy, con tàu hú lên một hồi còi dài rồi chuyển bánh.
Phải một lúc sau, lách qua bao nhiêu người đứng lộn xộn ở cửa và lăng xăng đi lại trong toa, anh mới đến được bên tôi. Anh treo túi xách và mũ lên móc rồi mỉm cười giơ tay bắt tay tôi thật chặt. Rõ ràng việc giúp đỡ nhau nho nhỏ ban nãy đã làm cho hai chúng tôi gần gũi nhau hơn.
Anh ngồi xuống ghế, rút từ trong túi quần ra một bọc giấy bóng đựng thuốc sợi Lạng Sơn:
– Không có thuốc điếu, anh hút tạm thứ này.
Anh mỉm cười đưa những ngón tay vàng khè chất ni-cô-tin ra quấn thuốc. Tôi cũng đưa những ngón tay vàng khè của tôi xin một điếu.
– Trời, may quá-Anh lại lên tiếng-Lâu ngày ghé Hà Nội, dạo loanh quanh mua vài thứ làm quà một chút, đến nơi tàu sắp chạy, tìm toa đến hụt hơi. Anh nghĩ coi, mình cũng có vé, người ta cũng có vé. Vé nào cũng có chỗ ngồi. Ấy vậy mà hình như sợ mình lên sẽ lấn chỗ họ nên khi tôi hỏi toa chẳng có ai chỉ cả. Có người thấy sự bối rối của tôi, chả là lần đầu tôi đi tàu Thống Nhất mà, họ còn cười nhạo anh à. May gặp anh cùng cánh cán bộ chiến sĩ với nhau cả.
Chúng tôi ngồi rít thuốc, im lặng nhìn ra cửa sổ. Con tàu đang chậm chạp đi qua thành phố rồi qua những cánh đồng, những làng mạc đang chìm trong bóng đêm. Anh bạn có vẻ mệt nhọc. Anh rít vội điếu thuốc rồi dựa người vào thành ghế ngủ gà ngủ gật. Hơn một tiếng sau, anh đột ngột bừng mắt nhìn ra bên ngoài:
– Tàu tới đâu rồi anh?
– Sắp tới ga Chợ Tín anh ạ.
– Cách Hà Nội bao xa?
– Độ 26 cây số.
Anh chép miệng:
– Ôi, sao mà nó chạy rì rì thế.
Chúng tôi lại cùng nhau hút thuốc, im lặng nhìn ra cửa sổ con tàu…
Đã mười giờ đêm. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão treo ở giữa toa (vốn xưa ở đó có một cái bóng điện sáng, nhưng cũng như quạt máy và các thứ khác nó đã lặng lẽ biến đi lúc nào) mọi người đã ngủ gà ngủ gật. Có ai đó đã ngáy. Có ai đó thì thầm ngoài cửa toa. Có tiếng léo nhéo cãi nhau ở đâu đó. Bên ngoài, một cơn mưa đổ, gió đông bắc rú rít gào thét. Cửa sổ con tàu bị hỏng, gió lạnh và mưa cứ tạt vào. Tôi vứt mẩu thuốc, co chân ngủ chập chờn. Bỗng có một tiếng thét thật to, có lẽ ai đó ngủ mơ, làm tôi choàng dậy. Tôi thấy anh bạn vẫn đang ngồi im lặng hút thuốc.
– Sao anh không ngủ? Tôi hỏi.
– Tôi không ngủ được anh ạ. Ngày hôm nay, tôi đi một mạch từ Lạng Sơn xuống, mua vé đi ngay, người mệt đừ. Thế mà chợp mắt một cái đã tỉnh ngay. Tôi chỉ mong cho mau đến nơi, sốt ruột quá.
– Anh trở về đơn vị hay đi phép?
– Tôi nghỉ phép.
– Chị và các cháu ở trong đó?
Tôi hỏi thế vì vốn biết, nhiều cán bộ chiến sĩ người Bắc ta chiến đấu ở miền Nam, lấy vợ luôn trong ấy. Nay đơn vị dời ra ngoài này, vẫn tranh thủ mấy ngày phép đi về. Ngược lại, nhiều anh em cán bộ miền Nam tập kết, như kiểu tôi, lấy vợ miền Bắc, thỉnh thoảng lại đi phép về thăm quê. Đó là tình trạng chung của một đất nước bị chia cắt lâu dài như nước ta.Nhưng anh bạn lắc đầu:
– Không, vợ con tôi đang ở ngoài Bắc.
Anh quay lại nhìn vào mắt tôi. Trong con người có dáng cao gầy, khuôn mặt sạm nắng khắc khổ, đôi mắt thẳm sâu này có cái gì đó trông rất bồn chồn. Hình như anh muốn tâm sự. Đó là một đặc tính vốn có và đáng yêu nhất của những người chiến sĩ của chúng ta .
*
* *
Cuối năm 1966, vừa tốt nghiệp lớp Mười, tôi nhập ngũ. Sau một thời gian ngắn huấn luyện, đơn vị chúng tôi được đưa vào chiến trường miền Nam. Dạo đó , bọn chúng tôi còn rất trẻ, mặt anh nào anh nấy cũng căng bóng tròn trịa. Nói như dân gian thì má còn búng ra sữa. Đôi anh còn muốn để bộ ria mép cho ra vẻ người lớn. Chúng tôi chưa am hiểu gì cuộc sống. Trong đầu chỉ có dăm bài thơ, một mớ lý luận học được, chúng tôi thường hay tranh cãi rất to tiếng với nhau về nhân dân, về Tổ quốc.
Đi mất ba tháng thì chúng tôi tới chiến trường Phú Yên. Người ta cho nghỉ ngơi, tập luyện thêm nửa tháng rồi có lệnh đi chiến đấu .
Cái đồn mà chúng tôi đánh nằm trên một hòn núi tên là Núi Một, nằm cô đơn giữa cánh đồng Tuy Hoà. Chung quanh nó là những làng mạc, trong đêm tối làng nào cũng giống làng nào, không làm sao phân biệt nổi .
Chúng tôi hành quân từ bìa ranh xuống, nằm phục quanh núi và nổ súng lúc ba giờ sáng. Nhưng trận đánh không gọn. Bọn địch phản ứng dữ. Chúng giã pháo, cho trực thăng thả đèn quần bắn. Bọn lính mới chúng tôi rất hoang mang nên vùng chạy lung tung. Lệnh trên cho rút, nhằm hướng Tây mà rút. Tôi chạy ào xuống núi. Nói đúng hơn là tôi lăn người trên những lớp đá sỏi. Ngươi tôi sây sát đau điếng. Xuống tới đồng, tôi nhằm theo một con mương mà bươn tới. Pháo cối vẫn nổ trên đầu chúng tôi. Đang chạy, tôi nghe một tiếng pháo nổ sàn sạt và một vật gì đó táng vào bắp vế. Tôi ngất đi. Những tiếng rào rào bên mình như tiếng nước làm tôi tỉnh dậy, ngỡ mình đã đến bờ sông, địa điểm tập kết lúc đầu hôm. Nhưng định thần một lúc, tôi biết không phải là tiếng nước chảy. Đó là tiếng gió thổi qua đầu ngọn lúa. Tôi chợt nhớ, hình như có một bài thơ nào, tôi được đọc ngày nào thưở còn đi học có nói về những trận gió ở Tuy Hoà …
Trời vừa rạng sáng thì bọn địch càng làm dữ. Từng đàn trực thăng bay rà rà trên mặt đồng, dưới đất bọn địch chia nhau sục sạo. Chúng nó la ó, nổ súng loạn xạ. Tôi rất lo. Tôi sợ mình bị bắt quá. Trước khi đánh đồn, Chính trị viên có bảo vùng này là vùng địch, bọn Đại Việt rất nhiều, dân chúng gặp ta hay đánh mõ la làng nên tôi rất ngại. Nhưng chẳng lẽ nằm trơ ngoài đồng cho chúng bắt. Tôi đành bò theo bờ ruộng, đâm sả vào một cái làng, may ra sẽ gặp được một người dân tốt …
Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm trong một cái hầm tối. Thôi thế là mình bị bắt giam rồi. Tôi chưa biết bị giam ở hầm tối là thế nào. Nhưng hồi đi học, đọc sách thấy Bác Tôn và các chú các bác bị giam ở hầm tối là điều ghê gớm lắm. Tôi duỗi thử đôi tay, thấy tay mình không bị còng, tôi duỗi chân ra, chân mình còn tự do. Thế là thế nào ? Đang suy nghĩ thì tôi nghe thấy có tiếng lộp cộp trên đầu mình. Có tiếng gì như tiếng quy lát khua lắc cắc, rồi một giọng hỏi hách dịch:
– Có thấy thằng Việt cộng nào chạy quanh quẩn đâu đây không?
Một giọng khàn khàn của một bà già trả lời :
– Đâu có thấy gì đâu mấy ông!
– Đù mẹ con mẹ Sáu này. Mụ là dân xứ cộng sản vô đây. Mụ có giấu cộng sản không, khai đi ?
– Có gì đâu mà khai.
Cái giọng hách dịch ban nãy lại quát to hơn :
– Có người nói hồi sáng thấy mụ dìu một đứa vào đây. Mụ nên nhớ ở đây lắm người của quốc gia . Mụ giấu thằng cộng sản ở đâu ?
-Hồi sáng giờ tôi chưa ra khỏi nhà .
-Xét nhà .
Lập tức, trên đầu tôi, tiếng bước chân thình thịch, tiếng gì như tiếng báng súng gõ cồm cộp, tiếng đổ vỡ của những vật gì đấy kêu loảng xoảng. Và, bỗng nhiên, tôi nghe tiếng roi quất, tiếng gậy nện và giọng bà già la lên: “Uớ các ông ơi, các ông ác quá. Các ông nện báng súng vào lưng già này, thì làm sao tôi sống được”.
– Có giấu Việt cộng không?
– Không có.
Tôi nghe một tiếng “bịch”, và tiếp liền có tiếng đổ của thân người ngay trên đầu tôi. Ngay lúc ấy, tôi lại ngất đi…
Có bàn tay của ai đó lay lay tôi dậy. Tôi bừng mở mắt. Trong quầng sáng của một ngọn đèn dầu, căn hầm dần dần hiện rõ lên. Một bà cụ tóc bạc xoá, lưng khòm khòm, cúi xuống bên tôi hỏi:
– Con đỡ không? Má đem chai xá xị đây, con uống đi.
Tôi đưa tay cầm chai nước, uống ừng ực rồi đưa mắt nhìn bà cụ. Bà cụ nói:
– Hồi sáng, nghe tụi nó nói với nhau, hồi hôm bắt được mấy tên Việt cộng. Thế nào cũng còn sót, nên chúng đi lùng. Má giả bộ đi đồng, lội ra ruộng thử thì gặp con. Má đem con về đưa xuống hầm bí mật này.
Bà cụ nói xong với tay bên cạnh lấy một nải chuối bẻ một trái đưa cho tôi. Tay cụ đặt trên trán tôi. Cụ giục tôi ăn chuối rồi nói:
– Con bị sốt rồi. Má đi lên kiếm ít viên tê-tra-xi-lin đã. Con ráng nằm im, má băng chỗ đùi hồi sáng rồi, đừng cựa nhiều nó ra máu đó.
Bà cụ lo chăm sóc, thuốc thang, cơm nước cho tôi độ nửa tháng thì tôi bình phục. May quá, vết thương chỉ ở phần mềm. Cho tới bây giờ, nghĩ lại hồi đó, tôi cứ ứa nước mắt. Nhưng hồi đó, tôi còn vô tư lắm. Tôi đón nhận tình cảm của bà cụ mà chưa lúc nào tìm hiểu về cụ. Âu đó cũng là những nhược điểm của tuổi trẻ chúng ta! Có lẽ vì thế, mà khi lớn lên, ta mới hiểu được những lo toan của cha mẹ khi ta còn tấm bé quý giá biết chừng nào.
Anh bạn quấn một điếu thuốc, châm lửa hút rồi kể tiếp, giọng trầm hẳn đi.
– Cái đêm ấy, chẳng còn nhớ đêm nào mà mưa gió quá. Bà cụ lọm cọm dắt tôi đi gặp các anh du kích. Mưa tạt ào ào. Gió tràn như bão. Dáng cụ đi trước bước xiêu xiêu làm tôi nhớ mãi. Thỉnh thoảng, hai mẹ con tôi phải nằm dưới bùn nước lấp xấp để tránh bọn tàu soi và pháo sáng của giặc. Đến bây giờ, tôi như còn nghe hơi thở hổn hển và hàm răng đánh cầm cập vì lạnh của bà cụ. Chúng tôi cứ lội qua những bờ ruộng, những con mương nhỏ. Một lúc sau, chúng tôi đứng bên bờ sông, đúng là con sông bữa trước chúng tôi làm vị trí tập kết.
– Ộp ộp ộp – Phía trước tôi bà cụ bỗng giả tiếng ếch kêu lên.
– Ộp ộp ộp – từ bên kia sông có tiếng đáp lại.
Một lúc sau, có một chiếc thuyền thúng cập bến. Bà cụ nắm tay tôi:
– Thôi, con đi mạnh giỏi nghe con.
Tôi xúc động cầm tay cụ rồi chạy đến với các anh du kích. Khi sắp qua sông, chợt nhớ chưa nói lời nào từ biệt cụ, tôi quay lại thì cụ đã biến đi đâu mất rồi…
Trời đã hửng sáng. Con tàu đang đi qua một cái chợ nhỏ, bỗng đột ngột dừng lại. Mọi người đang ngủ như đang được ru trong nhịp đi của con tàu đều bật cả dậy. Có tiếng người nào đó hỏi:
– Tới ga nào rứa các anh?
– Đang ở giữa đường.
– Sao lại dừng nhỉ? Có sự cố chi chăng?
Người bạn tôi từ nãy đến giờ vẫn ngồi im lặng, chau mày. Hình như cú dừng lại đột ngột của con tàu đã cắt đứt câu chuyện của anh làm cho anh rất khó chịu. Nhưng chỉ mấy phút sau, anh lại kể tiếp:
– Tôi có cái khổ tâm là khi đi tôi vẫn chưa hiểu gì về bà cụ. Thậm chí cả cái tên tôi cũng không biết. Lúc sắp chia tay nhau ở bìa ranh, tôi hỏi một anh du kích. Anh nói:
– Tụi tui cũng chỉ biết là cụ Sáu, cơ sở tụi tui thôi anh à.
– Đó là tên cụ hay là cái thứ?
– Đấy có lẽ là thứ, ở miền Nam này chẳng mấy ai gọi tên.
Tôi ra đi, lòng ân hận mãi. Từ đó, tôi đã đi qua bao vùng quê, đánh bao nhiêu trận không nhớ nữa. Đôi lúc nhớ về bà cụ, tôi thấy mình như mất một cái gì quý giá mà suốt đời không tìm lại được.
Sau giải phóng miền Nam, đơn vị tôi hành quân ra phía Bắc. Xe dừng lại ở Tuy Hòa một ngày. Nhân thể, tôi xin phép đi tìm lại bà cụ dưới chân núi Một ấy. Khốn nỗi khi bước xuống xe lam ở sát bên núi, tôi chợt nhớ ra là mình không biết cụ ở làng nào để hỏi. Tôi đã kể với anh các làng ở đây giống nhau quá mà. Suốt ngày, tôi chạy rông các làng để tìm hỏi thì cũng ra mối, nhưng mọi người bảo cụ đã trở về quê cũ ở La Hai rồi. Tôi không biết La Hai ở đâu. Cái tên vùng quê này tôi mới nghe lần đầu. Nó ở nơi nào trong vùng nào sâu thẳm của đất nước ta? Từ đó, trong lòng tôi có thêm tiếng “La Hai”. Tôi cảm thấy mình mắc nợ với vùng đất ấy. Trong đời chúng ta, có biết bao vùng đất, bao con người mà ta mắc nợ phải không anh?
Vì không còn thì giờ nữa nên tôi phải quay về đơn vị.
Ra tới Phủ Lý, trong khi đơn vị tiếp tục lên phía Bắc, tôi được thủ trưởng cho phép về thăm nhà. Anh thử nghĩ coi, gần chục năm trời không tin tức gì, tôi nóng lòng biết mấy. Bấy giờ đã nửa đêm, nhưng tôi không nghỉ lại. Tôi phóng bộ luôn một mạch hai mươi cây số về làng Tân Tiến. Trời ơi, anh biết cái gì chờ đợi tôi không? Một cô bạn học cũ cho biết: hồi chiến tranh phá hoại, thầy mẹ cùng các em tôi đã bị một quả bom ném xuống giữa nhà lúc cả nhà đang quây quần ăn cơm tối…Chỉ còn một đứa em gái, lúc đó đang đánh dậm nên thoát, bây giờ, nó theo chồng vào miền Nam. Cô cũng chưa biết tin nó ở đâu. Tôi lặng người. Vốn gốc gác ở Hải Hưng, bố mẹ tôi lên đây làm ăn, giờ nơi đây không còn ai thân thuộc, tôi dạo loanh quanh trong xóm một ngày rồi hôm sau trở về ngay đơn vị. Ấy vậy mà cái làng quê ấy vẫn níu tôi trở lại. Có kỳ lạ không anh. Một năm sau, tôi lấy vợ, để lại đi đi về về nơi ấy. Thì ra, quê hương là nơi có sức hút diệu kỳ, con người nào mấy ai có thể dứt ra. Vợ tôi chính là cô bạn học đã báo tin buồn gia đình cho tôi. Cô có người em mới nhập ngũ lên đơn vị tôi, ở trong tiểu đoàn do tôi làm tiểu đoàn trưởng. Chúng tôi gặp nhau. Một năm sau, chúng tôi có một cháu trai dễ thương, giống tôi như đúc. Hạnh phúc của tôi đã nhóm lại. Nhưng cũng từ lúc ấy, những kỷ niệm cũ lại dậy lên trong tôi. Nó càng giày vò tôi nhiều hơn khi tôi gặp một người bạn. Số là, trong một trận đánh bọn bành trướng vừa qua, tôi và anh ấy bị thương, cùng nằm chung một phòng. Những buổi sáng, chúng tôi cùng ngồi ở sân viện chơi. Như bao người lính, chúng tôi hay tâm sự về thời thế, về lai lịch, về những kỷ niệm cũ. Đang vui chuyện, bạn tôi bỗng vỗ hai tay reo lên:
– Trời ơi, bà cụ Sáu La Hai ấy cũng đã nuôi tôi suốt một tháng ở dưới hầm nhà bà. Không có bà cụ thì tôi chết rồi. Chả là tôi bị thương vào phổi mà. Bà cụ đã nhặt tôi đem về, mướn bác sĩ tốt chạy chữa. Tôi không biết lấy gì đền ơn cụ. Sau khi giải phóng miền Nam, tôi về tìm cụ. Người ta bảo cụ đã về quê ở La Hai rồi. Tôi phóng ra La Hai để tìm. Tới nơi, người ta bảo ở đây có hai cụ Sáu cùng vào làm ăn ở Tuy Hòa về. Thế thì rắc rối quá. Tôi chẳng biết cụ nào là cụ nào. Tôi nhớ bà cụ Sáu chúng mình tóc bạc, rất gầy, không ăn trầu. Người ta bảo cả hai cụ đều gầy, đều không ăn trầu. Cuối cùng, tôi quyết định đến cả nhà hai cụ để nhận mặt. Đầu tiên, tôi đến nhà một cụ ở đầu làng. Đó là một ngôi nhà ngói đỏ vừa mới xây. Ở phòng khách có một bộ xa lông và một cái tủ đứng rất đẹp. Cụ đi vắng, mấy cháu của cụ chạy đi tìm gọi về. Vừa thấy một bà cụ tuy gầy nhưng nước da hồng hào, ăn vận sang trọng, đon đả mời vào chơi, tôi đã xin phép đi vì vội.
Chiều hôm ấy, tôi mới đến nhà bà cụ Sáu thứ hai. Chẳng hiểu thế nào mà linh tính báo tôi đây chính là bà cụ tôi tìm. Tôi hồi hộp, tim đập mạnh khi đứng trước một ngôi nhà như cái chòi, vách xiêu vẹo, mái tranh nhiều chỗ thủng dột. Tôi đánh tiếng gọi. Chẳng ai trả lời. Tôi ngập ngừng bước ra thì từ sau hè, một bà cụ có dáng lom khom, mắt hom hem, mặc bộ áo quần xanh bạc màu bước vào. Đó là bà cụ Sáu của chúng mình. Tôi lên tiếng chào. Cụ đến sát bên, hấp háy mắt nhìn tôi nhưng không nhận ra. Tôi nói:
– Thưa má, con là thằng Tới-khi tôi nói, cụ nghiêng tai sát bên tôi để nghe như vốn có ở những người già nặng tai- đã được má nuôi năm 1968 về thăm má.
Bà cụ cười võm vẽm có vẻ vui mừng rồi nói:
– Bay đến thăm, tao mừng lắm. Nhưng tao già, tao lẫn, tao chẳng nhớ tên đưa nào trọi.
Bà cụ tíu tít nắm tay tôi dắt vào nhà, lấy chiếc chiếu phủi bụi trên chõng tre, rồi trải ra mời tôi ngồi. Trong nhà cụ chỉ có cái chõng này với một sợi dây phơi quần áo cũ thay thế cho hòm tủ. Cụ vào bếp bưng ra một rổ khoai lang, một bát muối ớt mời tôi:
– Tao đi tù, hòa bình mới được thả về đây, nên nghèo lắm. Có gạo ăn gạo, có khoai ăn khoai, bay ăn cho vui.
Tôi cầm củ khoai trên tay mà nước mắt cứ chực trào ra:
– Thưa má, má sinh sống ra sao, má?
– Bay biết rồi, tao chẳng có ai, sống một mình, già rồi làm vườn ăn bậy bạ.
– Hợp tác xã có bán thóc điều hòa cho má không má?
Bà cụ ngồi im, một lúc sau mới lên tiếng:
– Uớ trời, xã này là vùng đồi núi, ruộng nương kém, làm ăn trầy trật lắm. Tao có xin mua gạo, nhưng họ chưa cho. Ở xã này nhiều gia đình có con em tham gia cách mạng hy sinh nên họ chiếu cố trước.
– Má cũng làm việc cho cách mạng.
– Kể gì chuyện đó. Ở đây, có ai biết. Mọi người còn bảo tao, trong ác liệt đã chạy vào vùng địch tránh bom đạn…
– Sao má không nói cho họ biết?
Bà cụ cười:
– Nói làm chi. Tụi bay đi rồi. Tụi du kích ở xã trong đó sau này cũng hy sinh hết. Giờ lớp mới lên, chẳng biết ai là ai. Tao chạy đi xin cái giấy chứng nhận để lãnh bằng gia đình có công với cách mạng cũng không đứa nào dám chứng nhận cho. Thôi, mình làm cách mạng mình tính chi công lao.
Anh ạ, nghe cụ nói tôi rơm rớm nước mắt. Tôi có quen với một anh cán bộ ở Phòng Thương binh Xã hội huyện, tôi chạy lên kể chuyện cho anh nghe, đề nghị anh can thiệp với xã bán gạo và giúp đỡ bà cụ. Anh hứa là sẽ giải quyết. Nhưng rồi tôi đi xa, biết họ có làm cho không. Anh ạ, tôi định có dịp nghỉ phép, tôi sẽ vào thăm cụ, coi thử ra sao. Nếu anh cùng đi thì vui quá. Ta sẽ cố sắp xếp thời gian nghỉ phép cho trùng nhau để cùng đi. Đường đi thì dễ thôi. Ta mua vé đi tuyến Hà Nội-Nha Trang. Nhưng tới ga Chí Thạnh thì xuống rồi đi xe lam lên La Hai. Tôi thạo rồi, anh cứ đi với tôi…
Con tàu lại đột ngột dừng lại. Nó cũng không dừng ở ga mà dừng lại bên một cánh đồng. Chúng tôi nhìn về phía đầu tàu thì thấy có mấy người đang xuống. Hành khách nhao nhao lên khi thấy tàu đậu lại một cách vô lý. Tôi hỏi một chị nhân viên phục vụ trên tàu đang đi ngang:
– Sao tàu lại dừng ở đây hở chị?
– Cho người nhà của trưởng tàu xuống, việc gì đến anh mà hỏi. Tàu cứ đưa anh đến ga anh đến là được.
Chị nhân viên ngúng nguẩy bước đi. Anh bạn tôi nhìn theo lắc đầu. Anh đưa thuốc cho tôi hút rồi kể tiếp, như việc dừng lại của con tàu không làm cho anh dứt chuyện được:
– Tôi đã nói với anh là tôi và anh bạn ấy trao địa chỉ cho nhau để liên hệ nhau, có dịp anh dẫn tôi cùng đi. Thế nhưng, một việc đáng tiếc xảy ra. Trên đường ra viện về đơn vị, xe anh đã bị một xe khác tông, anh đã mất. Tôi nghĩ, cái rủi ro kỳ lạ quá. Anh ấy đã vào sinh ra tử chẳng sao mà giờ chỉ vì một chiếc xe…
Chẳng hiểu sao, từ đó, tôi đâm ra có nhiều suy nghĩ lạ lắm về cái ngẫu nhiên. Sự ngẫu nhiên cho tôi gặp anh ấy, một tai nạn ngẫu nhiên làm cho anh ấy mất đi. Tại sao anh ấy không đi xe sau hay xe trước đó? Không đi ngày trước hay ngày sau đó mà đi chính ngày hôm đó? Những sự ngẫu nhiên đôi lúc làm cho đời ta thay đổi một cách bất ngờ. Nhưng thôi, đó là chuyện khác. Tôi quay lại cái chuyện của tôi. Sau khi ra viện, tôi về nhà. Cấp trên cho tôi nghỉ một thời gian để dưỡng sức, sau đó có thể cho tôi giải ngũ vì yếu sức. Câu chuyện của anh bạn, cái chỗ ở của bà cụ được anh chỉ ra, làm cho mộng ước cũ của tôi bừng lên.
– Thế là bây giờ anh đi vào tìm cụ? Tôi chen vô.
– Vâng. Tôi đi tìm cụ. Cái ý định này được vợ tôi tán thành. Chẳng phải lúc đầu cô ấy đã đồng ý ngay đâu. Chả là cô ta sợ tôi yếu sức, đi lại nhọc mệt. Nhưng thấy tôi sốt ruột quá nên cô ấy cũng gật. Cô ấy bảo: “Em dành dụm được ít tiền, anh mang đi mà tiêu. Nhân tiện sắm quà cho bà cụ luôn thể”. Tôi đi lần này còn có thêm nghĩa vụ nữa: Tôi đi cho cả suất anh ấy. Tôi sẽ vào xem thử họ đã thực hiện chính sách cho cụ chưa? Bản thân, tôi sẽ cố làm thêm một nhân chứng cho cụ. Đi tới đâu tôi cũng đi. Chẳng lẽ trong cuộc sống hôm nay, chúng ta quên lãng những con người như cụ hay sao?
Anh dừng lại, quấn một điếu thuốc nữa, rít liên tục mấy hơi liền rồi tiếp:
– Vợ tôi, cô ấy cũng là người có suy nghĩ lắm. Cô ấy bảo thế này, anh thấy có gan không: “Sắp tới, anh sẽ nghỉ mất sức. Bên em chỉ còn cậu Thắng đi bộ đội, chả còn ai, bên anh cũng vậy, xã đang vận động bà con vào Nam xây dựng vùng kinh tế mới, hay ta cùng vào chỗ cô nó (em gái tôi) làm ăn. Vừa qua cô nó bảo trong đó đất tốt lắm, người lại thưa, ngoài ta thì cũng khó khăn. Ta vào rồi, anh đến mời bà cụ lên ở với chúng ta. Cha mẹ anh sinh ra anh, cụ cứu anh thoát chết, coi như cụ sinh anh lần nữa. Anh thấy em nói có được không?”. Tất nhiên là tôi tán thành quá. Kỳ này, tôi vào thăm cụ xong sẽ lên chỗ cô em gái ở Lâm Đồng bàn thêm chút nữa. Nhiệm vụ của vợ giao đấy. Thế là, tôi vội vã quay lên Lạng Sơn xin giấy phép đơn vị rồi vù xuống Hà Nội mua vé đi ngay hôm nay.
*
* *
Anh lại đốt thuốc lá ngồi trầm ngâm nhìn ra cửa sổ. Con tàu đang đi qua một vùng đồi núi hoang vu, lòi còi sim mua của miền Trung. Chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ đến Quảng Bình, Đông Hà, rồi đến Huế. Những vùng đất nổi tiếng ấy đã bao lâu rồi quen thuộc với chúng ta, làm cho nhiều hành khách qua đây đều nhoài người ra cửa sổ để chiêm ngưỡng. Nhưng có một miền quê ấy, miền quê chưa ai biết đến mà bạn tôi đang đi tìm: miền quê La Hai của bà cụ Sáu…đang hiện lên giữa trái tim tôi. Tôi cầu mong anh sẽ thực hiện được ý định trong chuyến đi này và mường tượng ra cuộc gặp gỡ giữa anh với bà cụ Sáu. Hẳn lúc đó với tuổi già, bà cụ cũng sẽ không nhận ra anh như ngày nào đã từng không nhận ra người bạn của anh vừa mới mất.
Anh bạn tôi vẫn ngồi sốt ruột nhìn về phía đầu máy đang ì ạch kéo con tàu lên dốc như muốn thúc cho nó chạy nhanh hơn.
Tuy Hòa, 12-1981
BÀ MẸ VUI TÍNH
Hôm ấy, một đoàn nhà báo từ Trung ương vào tham quan xã Sơn Kỳ đã ghé thăm nhà mẹ Xoài. Ngôi nhà tranh vuông vức, vách trát đất giống như bao ngôi nhà khác trong làng, được dựng trên một khu gò, vốn xưa là rừng gai quít lổn nhổn sỏi đá. Cổng nhà nằm ngay lề con đường chính của xã. Hai bên lối vào sân là hai hàng đu đủ quả chi chít như bầy lợn con rúc vào thân mẹ, đang chín tới, da ửng vàng. Vườn trồng sắn, dong riềng, rau muống, rau lang xanh um. Phía trước nhà, bên kia con đường chính là cánh đồng Hợp tác xã rộng tới 200 héc-ta, lúa đang uốn câu. Cánh đồng này trước đây chỉ cấy được một vụ lúa với một vụ bắp. Từ khi dân làng đắp một hồ chứa nước giữa hai ngọn đồi gò Sỏi, gò Sạn và đào hệ thống kênh mương để đưa nước về cánh đồng, bây giờ đã cấy được ba vụ. Sau cánh đồng là những ngọn đồi thoai thoải, ngày nào sim mua mọc dày, nay là vùng chuyên canh sắn của Hợp tác xã. Nối liền với màu xanh của sắn chạy dài tới những dãy núi trùng điệp ở chân trời phía tây là nông trường trồng dứa của tỉnh.
Câu chuyện của mẹ Xoài đã được Ban Văn hóa Thông tin xã báo cáo nhưng đoàn nhà báo muốn nghe chính mẹ kể ở nhà mình.
Anh chị em vây quanh mẹ, tranh nhau hỏi tíu tít. Một anh nhà báo, người nhiều tuổi nhất đoàn, đeo kính cận, râu quai nón chạy vào nhà xách ra sân một cái ghế mời mẹ ngồi. Anh chị em trong đoàn lót dép ngồi xuống nền đất lắng nghe. Mẹ Xoài nhìn mọi người mỉm cười. Đã 60 tuổi, khuôn mặt nhăn nheo như vỏ cây sồi khô, nhưng đôi môi có vết trầu đỏ tươi thì luôn nở nụ cười. Mẹ nói:
– Qua nói thiệt chớ chuyện qua gỡ mìn ai cũng làm được có chi mà kể. Ở hội nghị tỉnh qua bị “bắt” lên báo cáo mà người run như thằn lằn đứt đuôi, nói lộn xộn, mọi người nghe cười rân rân. Vậy mà khi kết thúc, ông Chủ tịch “quy kết” qua là con người lạc quan, giản dị chi chi đó nghe mà phát mắc cỡ. Qua đâu có vậy. Tính qua quen vui. Không vui thì mình không sống được. Hồi đánh Mỹ ngụy qua là dân trụ bám. Chúng nó lùa xúc, qua cứ bám rịt cái đất này hoài. Cuối năm 1973, chúng đến bắt qua. Nhưng trước khi đưa lên xe, chúng còn bàn nhau (qua giả bộ nghễnh ngãng nhưng nghe hết) trói qua vào cột nhà bắn dọa chơi “để thử gan con già này”. Chúng định thử gan qua thì qua cũng phải tỏ cái gan trời cho chúng biết. Chúng dùng súng, qua dùng miệng thử ai hơn ai. Cho nên, khi nghe một tiếng súng nổ cái đùng bên tai, qua liền sờ thử thấy tai còn y sì nhưng qua la ầm lên: “Uớ trời, các ông ác quá, bắn sứt tai tui rồi”. Một thằng mặt còn con nít nói: “Bắn dọa chớ đâu có bắn thiệt mà la sứt, bà”. Biết được thóp của chúng, qua đẩy thêm bước nữa. Thế là, khi phát thứ hai bay tít trời xanh, qua nắm chỏm tóc gào: “Làng xóm ơi, đầu tui lìa khỏi cổ rồi, làng xóm ơi, đầu tui lìa khỏi cổ rồi”. Một thằng tóc hơi bạc bạc nói: “Con mẹ lì gớm bây. Nó cố gào để cả xóm nghe đến đấu tranh với mình đó, chắc nó là loại thân cộng cồ. Đừng dọa nữa, tống lên xe cho vô nhà pha thôi” – Mẹ cười rồi tiếp – Bây giờ thì khác. Việc mình mình làm – Gian khổ nguy hiểm chi cũng làm. Càng nguy hiểm mà làm được nó càng vui. Qua kể lộn xộn các cô các chú đừng “quy kết” chi tội nghiệp.
Mắt mọi người sáng lên vui vẻ. Mẹ nhìn các anh chị nhà báo, giao hẹn đừng chụp ảnh thì mẹ mới kể, rồi nói tiếp:
– Bây giờ, sau ba năm các cô các chú thấy làng xóm nó sáng sủa vậy chớ hồi mới về thì cỏ lút đầu. Cả làng như rừng hoang. Giải phóng xong, ai cũng muốn về làng làm ăn nhưng sợ mìn quá, đành vật vạ trú ngụ ở các nơi quen. Vợ chồng qua cũng do dự. Có đứa em dâu ở dưới đường quốc lộ nó bảo: “Anh chị ở quách dưới này cho các cháu vui. Từ khi anh nhà em mất, em ở một mình cũng buồn”. Qua nghe cũng mùi mùi tai. Nhưng ông già lừ mắt nhìn qua bảo: “Nhà mình, ruộng vườn mình, mình không về còn ở đâu. Tụi du kích chưa gỡ tới thì mình gỡ mìn cất nhà, kiếm hột lúa củ khoai chớ. Bộ mụ sợ lắm hả?”. Qua chưa kịp đáp, ổng lại nói to như quát “Mồ mả ông bà ở đó, thằng Hai, con Ba nằm xuống ở đó, mụ định bỏ trơ nhang khói mà sống ở đây hả?”. Qua nói: “Thì tui có biểu ở đây đâu. Nhưng mình cũng rài rài tính đã” – “Không rài chi hết, mụ không đi thì tui đi, tui đi bây giờ”. Ổng nói. Qua can mãi ổng mới chịu để hôm sau đi. Nhưng suốt đêm ấy, ổng đi ra đi vào, đứng ở thềm ngó miết lên đây. Mờ sáng, ổng gọi qua dậy đi ngay. Qua phải kiềm ổng lại ăn uống chút xíu lót ruột. Với lại, qua cũng có chút việc: Hai vợ chồng mới ra tù, chẳng có đồng xu. Qua mượn con em dâu ít ngàn(1) chạy ra chợ sắm sanh chút đồ vặt: Vải nhựa, chiếu, dây nhợ, cốc, rựa với ít gạo, ít củ để ăn tạm. Lần khân miết, chiều hôm đó hai vợ chồng mới về đến làng. Làng vắng hiu. Đụng chỗ nào cũng thấy chồn với chuột chạy sàn sạt. Chỉ trừ con đường chính là có dấu chân của bà con từ xuôi lên núi hái củi. Qua phát sợ, ổng đi trước, qua đi sau, mắt ngó dớn dác, chân cố đặt đúng dấu chân ổng. Tim qua đập thình thịch như muốn chạy ra khỏi ngực. Qua tính bàn ổng quay lui. Nhưng sợ ổng cho mình nhát, ổng lại la nữa. Đành đâm lao phải theo lao.
Đi quanh đi quẩn một lúc lâu, hai vợ chồng qua mới bàn nhau ra dựng lều ở cây đa đầu làng, sát con đường chính, cho nó sáng sủa và đỡ hiu quạnh. Đang mùa nắng, chẳng lo gì. Chỉ cần treo tấm nhựa, dọn rác rưởi, trải chiếu xuống là nằm được. Nghĩ nó cũng như hồi trụ bám thôi. Nhà cửa gì, nằm hầm nằm bờ bụi miết.
Trong lúc qua lo quét dọn thì ông già cầm rựa đi thăm vườn. Ổng quay về nói có nhiều mìn lắm. Qua tính đi nấu ăn thì ổng biểu dẹp, vô ngồi xem ổng chỉ cách gỡ mìn. Ổng ngồi trên chiếu, tay giơ lên xuống rồi cúi khom khom như gỡ mìn thật. Trông tướng ổng, qua thắc cười quá. Ổng hét: “Còn ngồi đó cười, lại đây thực tập chớ khi gỡ lôi thôi thì nát xương”. Qua im thít, chăm chú nhìn. Chuyện gì chớ việc gỡ mìn ổng thạo lắm. Phải nói các cô các chú hay, hồi chống Pháp ổng là công binh của xã đó.
Sáng hôm sau, vợ chồng qua đi thăm vườn. Nghĩa là đứng ngoài đường ngó vô. Nền nhà qua cỏ tùm lum. Nhìn mấy cây ổi tong teo không ai chăm mà ứa nước mắt. Người qua bỗng run lên:
– Ủa, sao hồi trụ bám với ở tù mình không run mà giờ run vậy ông?
– Tại mụ sợ chết đó. Già mà còn sợ chết.
Nghe ổng nói, qua tức rực trong đầu. Cái ông này bộ khinh mình ta.
– Sao ông cũng đứng sững như trời trồng mà không chịu xáp vô vườn đi.
– Còn tính chớ.
Qua nói luôn:
– Ông cũng sợ hả?
Ông già suy nghĩ một lúc rồi nói:
– Tui trù vầy nè: bà lui ra cho tui gỡ mìn vướng trước đã. Sau đó tui phát cỏ tui gỡ thử một số mìn dưới đất cho bà xem, lần lần bà dạn bà mới tập gỡ được.
Qua sợ ổng khinh nên nói:
– Tui mà nhát à, ông gỡ được, tui gỡ được, cùng làm một lúc không ai trước ai sau hết.
– Được.
Tưởng nói cứng chơi ai ngờ ổng công bình quá. Ổng phân công vầy: ổng đi thẳng lối cổng chính, qua đi lối bên phải – Mẹ chỉ ra cổng- đại khái giống như cổng qua đó, nhưng nhà cũ kia, nhà này là nhà ta xây dựng theo quy hoạch để lấy đất sản xuất. Cách gỡ thì các cô các chú hẳn biết, tìm hiểu thêm, qua nói sơ thế này: đầu tiên mình ngồi xổm đưa tay từ dưới lên quá đầu. Nếu ta gặp dây là ta đụng mìn vướng. Ta gỡ hết mìn vướng xong thì phát quang. Sau đó dùng thuốn, một cây sắt dài độ một mét giống hình chiếc đũa, dưới nhọn để xăm chếch 300 tìm mìn ríp hay bom ba càng. Tuỳ từng loại ta gỡ. Nói đơn giản vậy nhưng khi bắt tay vào thì rắc rối hơn. Mình phải nắm vững cách gỡ lại phải bạo dạn nữa. Cho nên, xôm vô độ nửa tiếng, ông già gỡ được hai quả, còn qua chưa được quả nào. Qua nhìn mà phát ghen. Nói thiệt không có mìn càng tốt. Nhưng qua sợ ổng gỡ nhiều mà mình không có ổng coi thường cho xem. Mà ổng cũng khôn lắm. Ổng giành chỗ nhiều mìn, để mình chỗ ít, hẳn là muốn chơi trội đây. Đang nghĩ vậy thì tay qua chạm một sợi dây. Tự nhiên chân tay qua cứ quíu đi. Trời, mình quyết tâm vầy mà sao gặp mìn cũng ngại hé. Qua quay lại ngó ông già cầu cứu. Thấy ổng cười cười nhưng giả bộ ngó lơ. Sau này mới biết ổng để ý nhất cử nhất động của qua để giúp đỡ. Nhưng lúc ấy qua thấy phát tức. Qua ngó lần nữa. Bấy giờ ổng mới quay lại:
– Chuyện chi đó?
– Mìn.
– Thì gỡ đi. Trời ơi chiến sĩ trụ bám mà cũng sợ ta. Có chết thì để lớp con cháu nó hưởng cuộc sống mới chớ gì mà sợ dữ mụ.
Nói vậy, chớ ổng đến bên biểu qua xê ra, rồi ổng lần lần theo mối dây ổng gỡ.
Trưa đó, trong bữa cơm- mà đâu phải cơm, bắp bung đó – ổng vừa trệu trạo nhai (răng ổng rụng hết rồi) vừa nói:
– Tui tưởng mụ làm bạn chiến đấu với tui được nhưng mụ nhát quá. Thôi để tui gỡ, mụ phục vụ. Chiều nay mụ không đi nữa, ở nhà chặt dây thép để tui xỏ chốt.
Ổng nói, mặt ngẩng lên, tay vuốt râu làm cao.
Qua bảo:
– Làm phách hoài. Bộ ông muốn có công mình ông sao. Hồi giờ tui thua ông cái gì chớ? Ông trụ bám được, tui trụ bám được. Ông ở tù được, tui ở tù được. Ông còn nhớ ông đã không dám mang gạo vào rừng cho tụi du kích hồi Nam Hàn nó đóng chớ? Sao ông không tính. Tui không chấp hành ý kiến ông. Tui ra xã ngoài tui học bọn du kích về tui làm.
Ông già cười khá khá:
– Thử bà đó. Bà không quen thôi, làm mãi rồi cũng được. Nè, gỡ xong mìn bà định trồng gì trong vườn? – Lão đấu dịu.
Qua không trả lời.
– Bà giận sao bà, trồng sắn hả?
Qua thấy nguôi nguôi:
– Trồng sắn, trồng chuối nước chi cũng được.
– Ờ, ờ hay lắm.
Qua thấy thương ổng, răng cỏ không còn mà phải nhai bắp:
– Thôi, chiều nay cho bạch đầu quân ăn cháo nghen.
– Ờ!
Ăn xong, qua lo dọn thì ổng xách thuốn chạy ra gỡ tiếp. Trưa nắng hồng hộc, mồ hôi mồ kê đầy người. Qua cũng đâu chịu thua. Qua bỏ chén đũa chạy ra. Gỡ một chút thì qua gặp quả US. Qua ngồi ngẫm nghĩ cách gỡ thì nghe ổng nói:
– Mìn nữa hả, có dám không thì để thằng già này.
Qua nghe tức rực. Tự nhiên chân tay qua mạnh lên. Gỡ xong, qua giơ mìn lên nói với ổng: “bắt này”. Ổng thét:
– Nè, đừng có anh hùng rơm mụ.
Qua cười, đặt quả mìn xuống nhẹ nhàng rồi gỡ tiếp. Phải nói làm mãi nó cũng quen các cô các chú à. Sau mấy hôm, ông già phấn khởi hung. Ổng công nhận qua là bạn chiến đấu như hồi trụ bám, hồi ở tù.
Ổng nói:
– Công việc này là công việc của đàn ông, mà mụ cũng làm, tui nghĩ thương mụ quá.
Qua cười:
– Gỡ mìn tức là giải phóng đất để gieo trồng ra khoai lúa nuôi người, tức là bắt cái chết thành cái sống, ông làm được tui làm được. Sao ông làm cách mạng hoài mà còn phân biệt đờn ông đờn bà hả?
Vợ chồng qua gỡ được trăm quả. Đúng lúc qua gỡ được quả thứ hăm sáu, bỗng nghe nổ cái đùng, bụi bay lên chỗ ông già. Qua chạy ào đến, thấy máu me đầy chân ổng. Tưởng ổng chết, qua ôm ổng qua khóc, may mà ổng chỉ ngất. Ổng bị thương. Ổng nói nho nhỏ:
– Mụ à, tại tôi sơ ý đó. Mình làm sai kỹ thuật nên gặp tai nạn. Chớ mìn có chi là đáng sợ mụ.
Qua xé ngay vạt áo băng cho ổng. Xong qua lọm cọm dìu ổng ra đường. May gặp mấy người hái củi cáng ổng đi viện ở dưới thị trấn chớ không qua chẳng biết làm sao.
Bác sĩ khám nói ổng bị thương nhẹ, chỉ mươi lăm hôm là khỏi. Qua thương ổng quá, không muốn rời. Ổng bị sốt mê man. Khi tỉnh dậy thấy qua ở đầu giường, ổng bảo:
– Sao không về mà gỡ cho hết đi, còn có xíu chớ mấy. Vợ chồng già mà cứ như còn trẻ, xoắn xít ở đây thì bao giờ mới gỡ xong, mới có đất sản xuất.
– Thì ông bị thương tui cũng phải lo chớ.
– Lo cái gì, phải gỡ cho xong chớ mưa xuống thì không chạy kịp thời vụ đâu. Tui mà chết, mụ nhịn đói chết theo à, già mà…
Mẹ Xoài cười hóm hỉnh. Anh chị em xung quanh cười rộ theo. Anh nhà báo lớn tuổi nói:
– Thưa bác, tình già nó gắn bó hơn lúc trẻ đó bác.
– Chẳng biết gắn ghiết làm sao. Nhưng thấy ổng bị thương mình cũng đứt cả ruột – Mẹ Xoài cười tiếp – Nhưng nghe ổng nói, qua giả bộ giận đứng dậy đi ra. Đi một đoạn nghĩ thương ổng. Qua móc túi thấy còn hai ngàn đồng. Qua quay lại nói:
– Ông cầm tiền đưa bọn nhỏ nó mua gì ăn.
Ngỡ ổng vui thì ổng lại la lên:
– Tiền với bạc, về mua giống mua hom sắn, về…về…về, tui chết thì bà kiếm một ông cũng móm mém nữa chớ chi mà lo dữ vậy.
Ổng cười. Qua cũng cười rồi quày quả ra về. Mười ngày sau, qua xuống thăm ổng. Phải nói là trong mười ngày đó, qua cố gắng làm được vài việc: gỡ xong mìn, đi mua hom sắn, xin dây khoai về dặm. Lúc này bà con về đông. Tụi du kích cũng đã gỡ tới thôn này. Qua giúp nhà bác Khang bên cạnh gỡ mìn. Nhà bác đông con cái nên làm mau, lại giúp qua làm xong cái sườn nhà. Hôm đó, xuống thăm ổng, qua cũng tự kiêu lắm. Để chộ ổng, qua mang luôn một rổ mìn đã gỡ. Nhưng tới cổng bệnh viện, bác già gác cổng mặt mày xanh lét, khoát tay lia lịa. Qua giải thích là mìn chết rồi, bác ta cũng bắt bỏ ra ngoài. Qua bước vô, ngó lại thấy bác ta nhìn rổ mìn người run như phát sốt rét. Vô tới phòng, qua gặp ổng chống nạng bước ra. Qua dẫn ổng ra cổng. Thấy rổ mìn, ổng đứng sững như ngẫm điều gì, một lúc sau ổng nói:
– Được, mụ này khá.
– Ông ăn ngon chưa?
– Ngon lắm, mụ khỏi lo. Mụ gỡ gần xong chưa?
– Xong rồi, tui còn giúp bác Khang. Mọi người về đông. Xã có tổ chức một đội thanh niên gỡ ngoài đồng, chuẩn bị vụ mùa.
– Cha chả, mình về chắc không còn gì mà làm nữa – bỗng ổng ngẩng mặt lên, vuốt râu – Hay mìn kia là du kích nó gỡ cho mụ, mụ đem lừa tui đó mụ ?
Qua hứ một cái, quày lưng lại, không thèm nhìn ổng. Ổng nói nịnh :
– Nói giỡn chút chứ tôi không biết năng lực bà sao ? Bốn mươi năm ăn ở với nhau rồi. Nè mụ về xin tre để tui về làm nhà cho.
– Tui đã nhờ bác Khang dựng dùm rui mè rồi , ít bữa nữa cắt tranh là lợp xong .
Ổng trợn tròn mắt :
– Thiệt sao mụ ?
– Thiệt
– Thế này thì tui về gấp thôi .
Ổng đập cái gậy xuống đất như giận dữ ai . Mấy hôm sau thì ổng về. Bà con chòm xóm đã về đông. Mọi người lo dọn vườn, làm tạm nhà ở. Một hôm, thằng Toán Bí thư xã đến nói với vợ chồng qua :
– Thưa hai bác, việc gỡ mìn quanh khu vực làng đã xong. Giờ thì du kích với thanh niên nó gỡ ngoài đồng. Xã định huy động bà con gỡ ở gò Sỏi, gò Sạn để làm một cái hồ chứa nước, sau đó mình làm kênh mương tưới cho ruộng. Đất mình không có thuỷ lợi thì chỉ trồng sắn bắp với một vụ lúa, như vậy thu hoạch kém lắm. Nay mai ở trên chủ trương thành lập Hợp tác xã, mình làm ăn sao đây. Cháu biết bà con nể hai bác. Vậy, nhờ hai bác đi trước, để vận động, bày vẽ cách gỡ mìn cho bà con.
– Tưởng gì chớ vậy thì cũng được, còn chi nữa ? – Ông già hỏi.
Thằng Toán cười:
– Thưa hai bác, cháu còn định vầy, nhưng sợ bà con thắc mắc, cháu nói trước hai bác coi thử: cháu tính là làm thuỷ lợi xong, mình gỡ mìn ở rừng quít. Đất ở đó xấu. Sau đó, ta giúp nhau chuyển nhà lên đó cất, để đất dưới này sản xuất. Đất ở đây tốt hai bác à-Nó ngừng lại chút rồi nói tiếp-còn mồ mả thì ta xây nghĩa trang ở đồi Mười, đưa hết anh chị em lên đó nằm cho mát.
Ông già trù trừ:
– Cũng khó đó. Để tính thử chớ dỡ nhà, chuyển mồ mả mắc công quá.
– Dạ cháu cũng thấy vậy nhưng bà con mới làm nhà tạm, mình không chuyển ngay, sau dinh cơ đề huề nó khó ra.
– Thì cứ làm đi cháu à – Qua nói.
Ông già trừng mắt:
– Giỏi nói leo.
Qua nguýt ổng, ổng trừng lại. Khi thằng Toán đi rồi, ổng ngồi im lặng rất lâu, quấn thuốc, hút hết điếu này đến điếu khác. Đột nhiên, ổng hỏi qua:
– Bà không nhớ gì hết sao?
Nghe ổng hỏi, qua nhớ liền. Ngay bữa mới về làm dâu, ông cụ (cha chồng qua) đã già, ốm nặng nằm trên giường kêu ổng với qua đến:
– Cha chắc sắp chết. Cha chẳng có gì để lại cho hai con. Chỉ có cái nhà với miếng vườn này. Đó là của cải ông nội để lại cho cha. Các con phải giữ lấy, nghèo khổ mấy cũng đừng bán, đừng bỏ xứ mà đi…
Hết thằng Pháp đến thằng Mỹ chà xát, xúc tát hoài, vợ chồng qua, nhớ lời ông cụ, nghe theo cách mạng, cứ bám ở đây hoài. “Một tấc không đi, một ly không rời” mà. Bây giờ, thằng Toán nó biểu đi chỗ khác chẳng khác nào ngày xưa nó biểu mình trụ bám. Nó muốn mình sung sướng hết thôi. Qua nghĩ vậy (những người trụ bám tụi qua cái chi cũng phải nghĩ nhanh gọn để bắt tay vào làm liền hè). Qua nói với ổng:
– Tôi nghĩ vầy ông coi thử phải không: Hồi trước Đảng biểu mình phải trụ bám thì kháng chiến mới thành công. Đảng nói đúng. Giờ Đảng bảo mình dời nhà đi nơi khác để lấy đất sản xuất làm cho dân giàu nước mạnh, chẳng lẽ Đảng nói sai sao ông?
Ông già im lặng. Hình như ổng cũng nghĩ giống như qua. Vợ chồng mà, một chặp sau ổng nói:
– Nếu như phải dời nhà thì mồ thằng Hai, con Ba chôn trong vườn mình bà tính phải mang theo hay đưa lên nghĩa trang liệt sĩ xã?
Qua bàn:
– Mình đi, mang bàn thờ tụi nhỏ đi theo coi như nó vẫn ở với mình. Mấy đứa miền Bắc hy sinh trong này, cha mẹ nó có mang về được đâu. Tui nghĩ vầy: con mình lúc sống nó cùng đánh giặc với anh em, giờ nó hy sinh cũng phải ở chung với anh em cho có bạn có bè chớ.
Ông già không nói gì, hút hết điếu này đến điếu khác. Lát sau ổng đứng dậy, vô nhà xách thuốn ra mài. Xem ra ổng cũng đã thuận. Chẳng thế mà hôm sau ổng dậy sớm, chuẩn bị cơm nước sẵn sàng lãnh nhiệm vụ chỉ đạo đội quân toàn cụ già và đờn bà gỡ mìn quanh khu gò Sạn. Khu này nhiều mìn lắm. Vì nó là đường lên chốt núi Mít của địch. Nhưng cũng có cái thuận lợi là mọi người làm quen, với đông người càng vui cho nên làm mau. Khi sắp xong gò Sạn, thì đùng một cái qua bị thương. Đó là vì bác Sáu ở phía trên đỉnh đồi làm lăn hòn đá lớn xuống. Qua mải làm tránh không kịp bị dập bàn chân, lại phải đi nằm viện. Công việc đang bộn, nghĩ thiệt tức. Một tuần sau, thì ông già xuống thăm. Ổng quảy một con gà với mấy nải chuối. Ổng hỏi qua:
– Đã đỡ chưa? Ngó mụ còn xanh quá.
Qua nhướn mắt:
– Đỡ chớ sao không đỡ. Ông không lo gỡ mìn cho xong để làm kênh mương mà xuống làm chi?
Ổng vuốt râu:
– Xong mìn rồi, đang đào mương ở trển. Xã cử tôi đại diện xuống thăm mụ, gởi quà cho mụ đây.
– Hứ, lấy quà của xã làm chi?
– Thằng Toán ép miết. Nó còn tính tiền công tui với mụ gỡ mìn cho xã đó.
Qua thấy tức rực ở đầu, ở chân.
– Bộ ông lấy tiền rồi hẳn. Chỉ làm dở.
– Lấy chớ sao không lấy mụ – Ổng gân cổ cãi.
Qua nói ấm ức:
– Ông làm cái chi lạ vậy?
Qua quay mặt đi chỗ khác. Bây giờ ổng cười kha khá. Tính ổng vẫn vậy. Bốn mươi năm rồi, qua biết. Hễ ổng cười kha khá là lúc đắc ý vì đã chọc tức được qua đó.
– Nói vậy chớ ngu sao mụ – Ổng cười nói – tui bảo với nó: Vợ chồng tao làm là làm việc nghĩa, làm cho làng cho xóm. Già rồi, không làm được nhiều, chỉ làm có vậy thôi. Bay nói chuyện tiền nong nghe nó kỳ cục quá- Ổng vân vê bộ râu rồi tiếp – Tui bảo: Vậy chớ tụi tao làm, lỡ chết, vậy là vì tiền à. Dẹp, dẹp, dẹp. Xong chỗ này, tụi tao gỡ chỗ khác. Có chết bay cứ cấp cho tụi tao cái liệt sĩ. Con cái đi cách mạng hy sinh cả thì làng xóm thắp cho cây nhang vậy.
Qua nhỏm người về phía ổng:
– Được, lão già được.
Ổng vuốt râu làm cao:
– Tui mà không được, mụ. Phỉnh mụ chơi chút vui á.
Qua nhìn ổng, thấy thương quá. Qua bảo:
– Thôi được, chúng cho gà, cho chuối thì ta ăn. Mà này – qua cười nói với ổng- Ông thương binh, tui thương binh. Ai cũng như ai, bình đẳng. Ông ở lại đây, tui nhờ mấy con y tá làm gà cho ông cùng ăn. Ông ở nhà chỉ ăn khoai, người xanh rớt kìa.
Ông già lắc đầu quầy quậy rồi đứng dậy vụt bước ra cửa, biến luôn.
Mẹ Xoài mỉm cười. Mọi người cười rộ. Một chị nhà báo rất trẻ có khuôn mặt tròn, tóc phi dê hỏi:
– Ba bây giờ ở đâu ạ?
– À, ổng nghe nói ở trên nông trường có máy đào sắn hay lắm, ấn tay một cái đã nhổ được một gốc ngay. Ổng định lên học để về làm đó. Ổng phân qua ở nhà gặt lúa kiếm thêm công điểm. Qua nôn quá, qua muốn gặt cho mau rồi cũng lên xem thử, chớ một mình ổng biết, về ổng làm cao á.
Mẹ Xoài nói xong đưa mắt nhìn quanh mình như tìm kiếm vật gì. Từ nãy giờ, để mẹ vui lòng, các nhà báo ngồi yên lặng. Đến bây giờ họ lại nhớ đến nhiệm vụ. Anh nhà báo nhiều tuổi nhất đoàn chạy ra một góc sân mở máy giơ lên ngắm. Khi anh chuẩn bị bấm thì mẹ phát hiện được, cúi mặt xuống làm cho anh chụp trượt. Anh xuýt xoa năn nỉ nhưng mẹ lắc đầu. Anh đưa mắt ra hiệu cho chị phi dê. Chị này hỏi:
– Thưa mẹ, còn gì mẹ kể tiếp cho chúng con nghe đi mẹ.
– Vậy chớ có gì đâu mà kể. Làm xong khu gò Sạn, xã lại đề nghị gỡ mìn ở gò Quýt này để chuyển nhà rồi làm gò Me để xây trường học, trạm xá. Cùng lúc cả xã rầm rập làm thuỷ lợi, chạy mua giống lúa, hoa màu mới, học tập các quy trình kỹ thuật gieo cấy lúa mới rồi lập tổ đoàn kết sản xuất, làm hoài hoài. Chuyện nhà nông mà – mẹ cười – Đầu năm nay, thấy xã làm ăn được, tỉnh bảo: lập Hợp tác xã thí điểm ở một vùng trung du thử xem sao, thế là tụi qua lập Hợp tác xã. Vậy thôi mà…
Mẹ dừng lại nhìn ra vườn rồi quay lại chỗ anh nhà báo khi nãy tỏ vẻ thông cảm:
– Thôi, qua sẽ để chú chụp ảnh. Nhưng trước tiên, qua nói thế này, giờ cũng nửa buổi rồi: “Khách đến nhà không gà thì vịt”- Qua chẳng có gà vịt. Có mấy quả đu đủ chín kia, qua hái khó – Mẹ quay lại phía chị phi dê – Cháu ra hái, qua vô bếp lấy dao, bổ ra cho các chú ăn rồi để chú có râu kia chụp ảnh.
Mọi người lại vỗ tay hoan hô rồi kéo nhau ra thăm vườn mẹ. Khi anh nhà báo nọ chợt nhớ đến nhiệm vụ chạy vào nhà tìm thì không còn thấy mẹ nữa. Mẹ đã lặng lẽ biến đi đâu mất rồi.
1978
TRONG LÒNG HỒ
Đối với Toàn thì việc một người nhỏ tuổi hơn phải nghe lời một người lớn tuổi hơn gắn liền với việc bà nội là người lớn nhất nhà. Ngày má còn sống, bà nội sai cái gì, má cũng “dạ” rồi đi rót rót. Có lẽ, ba Toàn đi bộ đội mà không hy sinh, khi về, cũng phải chạy quýnh lên khi bà sai. Bà hay nói với Toàn:”Cái thằng Hai cha mày hồi nhỏ mà hư, không nghe lời bà, bà bắt nằm xuống phản quất cho mấy roi thì cứ “con lạy mẹ, con lạy mẹ, con không dám làm trái lời mẹ nữa” bà mới thôi. Thế mà, từ khi ông nội tập kết ở miền Bắc về, Toàn thấy ông nội lại là người lớn hơn bà nội. Ông bảo gì bà cũng “dạ”, cũng nghe lời ông. Bữa xưa hai bà cháu ra Đà Nẵng thăm ông, ông chạy ra cửa đón, hỏi:
– Bà cháu vừa ra đó à ?
– Dạ.
Ông xoa đầu Toàn rồi biểu hai bà cháu:
– Hai bà cháu lên phòng tui nghỉ, giải quyết xong công chuyện này chút rồi tui lên.
– Dạ. Bà nói.
Muốn lên phòng ông phải leo không biết bao nhiêu bậc thang bằng xi măng. Toàn mỏi hết cả chân. Phòng ông nội rộng lắm. Chung quanh có tường ngăn, chắc chắn chớ không hẹp và xiêu xiêu như cái lều hai bà cháu ở quê. Trong phòng có tủ đứng, có bàn, có cái treo áo, cái giá đựng nhiều sách. Ông nội chắc ham học lắm. Cái giường ông nội ngủ thì lớn hơn giường cả hai bà cháu nằm. Ngồi lên nghe êm ro. Toàn nhún nhún thì thấy người nó nẩy nẩy lên thiệt thích.
Bà cháu ngồi nghỉ một chút thì ông lên. Ông cười, mở tủ lấy ra lọ đường, cầm phích nước bên cạnh pha hai ly đưa cho hai bà cháu uống. Toàn uống ngon quá, nước hết rồi mà cứ mút ly. Ông lại cười, pha cho Toàn ly nữa. Vừa lúc ấy, một ông cũng có râu, mặt già như ông bước vô nói:”Thưa thủ trưởng, tôi xin báo cáo”. Ông nội lại đi ra.
Chiều hôm đó, ông nội đưa hai bà cháu đi chơi. Chú lái xe hỏi:
– Thưa thủ trưởng, đi đến đâu ạ.
– Đi chợ Hàn.
Ông nội biểu sao chú lái xe làm vậy. Ông nội lớn thiệt. Ở trong chợ, ông nội rút ví lấy tiền mua cho Toàn một gói kẹo thiệt to, một bộ quần áo thiệt mới. Ông tưởng Toàn đâu còn con nít nên định mua cho con búp bê. Toàn lắc đầu. Toàn học lớp một rồi, cao tới một mét rồi chớ bộ. Toàn đòi ông mua cây súng bắn tạch tạch ra lửa để về làm oai với thằng Xí, con Hà chỉ có súng bẹ chuối, chơi trận giả. Được súng, Toàn thích lắm. Đêm đó, Toàn ôm súng ngủ luôn. Giữa khuya, Toàn thức dậy, thấy đèn còn sáng. Cái đèn này Toàn thấy kỳ ghê. Đầu nó chúc xuống. Mà đâu có cần thắp lửa. Hồi xẩm tối ông nội chỉ lại góc phòng bật cái miếng gì xanh xanh gắn trong tường kêu “tách” là sáng liền. Ông với bà đang ngồi bên bàn, ngay dưới cái đèn đó nói chuyện. Toàn nghe ông hỏi:
– Bà định mai về à?
– Mai tui về. Ở nhà còn nhiều chuyện lắm.
Ông ngồi im. Người ông cao to, mũi ông thẳng, da mặt hồng hào. Bữa trước Toàn nghe các chú trong làng bảo ông có “tướng”lắm. Một lúc sau ông nói:
– Tui muốn bà ở chơi vài bữa nữa. Nhưng bà muốn về thì tui bàn cái này: bà ở trỏng có một mình, lúc đau ốm ai lo. Trước bà khổ rồi, giờ bà cũng còn khổ mãi sao. Tui định đưa hai bà cháu ra ngoài này. Lúc đầu ở với tui, sau ta mua nhà ở cho tiện. Khi đau khi ốm nó cũng gần bệnh viện.
Bà nội thở dài, tóc bạc của bà rung rung. Chẳng biết sao bà nhỏ tuổi hơn ông mà tóc bạc trắng còn tóc ông trắng với đen xen nhau. Dáng bà thấp thấp mà bà ngồi khom khom trên ghế nên Toàn thấy bà nhỏ xíu. Bà rút cái khăn xéo vắt vai lau vết trầu trên môi.
– Tui nghĩ không được ông à. Xuống dưới này bỏ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả ông bà con cháu cho ai. Đàn ông các ông thì đi xa dễ dàng hơn đàn bà tụi tui.
Ông nói:
– Tui tính như vậy tiện hơn. Tui lương cũng khá, nuôi được bà. Bà ở trong đó một mình, nay mai thành lập Hợp tác xã làm sao bà theo được công điểm.
– Thì hồi giờ không có lương ông tui cũng sống hoài, cũng làm ra lúa khoai nuôi tụi cán bộ du kích, nuôi con nuôi cháu, có sao đâu.
Ông nội im lặng. Bà nội cũng im lặng. Toàn ngủ quên. Khi thức dậy thì Toàn thấy bà đã chuẩn bị khăn gói đâu vào đó rồi. Toàn biết bà sắp về. Toàn tiếc lắm. Ở với ông cái gì cũng thích. Nhưng bà về thì Toàn cũng về. Toàn thương bà hơn. Ông hỏi Toàn:
– Toàn ở lại với ông hay về?
– Cháu về.
Ông xoa đầu Toàn:
– Cái thằng cháu ông cứ bám lấy bà, bộ cháu không thương ông sao?
– Dạ thương. Toàn nói.
Ông cười, xoa đầu Toàn lần nữa rồi biểu chú lái xe đưa hai bà cháu ra bến.
o0o
Ở trên xe, bà nội cứ ngồi im. Thỉnh thoảng lại giở trầu ra ăn. Xe lao vút vút. Cây cối đồng lúa hai bên đường chạy ngược lại nhanh nhanh vậy mà lúc lúc bà lại hít hà:
– Răng xe bữa nay chạy chậm vậy hè?
Chắc bà muốn mau về nhà đó. Ông bảo ở lại thêm ít bữa bà không chịu. Ông bảo ra ở luôn Đà Nẵng bà cũng không chịu. Đã là người nhỏ hơn phải nghe theo người lớn hơn chớ. Bà biểu Toàn như vậy. Cô giáo cũng biểu Toàn như vậy. Ngạc nhiên với chuyện mới lạ này, Toàn nhìn bà chăm chăm rồi hỏi:
– Răng bữa trước bà nói ông lớn hơn bà mà bữa nay ông biểu bà ở lại bà không nghe lời, bà ?
Bà nội chỉ cười, ôm Toàn vô lòng ru ru theo nhịp xe.
Về tới nơi, bà đứng sững trước sân, ngó trân trân như mới thấy cái nhà lần đầu. Sau đó, bà run run đẩy cửa bước vô. Bà vừa lẩm bẩm nói gì trong miệng vừa dọn cái gối, giũ cái chiếu, chạy xuống bếp tóm tóm tro bếp bị gà bươi. Thấy con mèo mướp chạy rình chuột, bà kêu “meo meo”. Nó chạy đến nằm xuống trước mặt bà như làm nũng. Bà ôm nó vuốt vuốt. Nó sướng quá hai mắt cứ nhắm rồi mở. Con chó trắng ở đâu chạy về như bì với con mèo, chạy vô cọ cọ đầu vào chân bà. Bà lại xoa đầu con chó. Bà nói với tụi nó:”Tội nghiệp, hôm qua tao đi vắng, tụi bay ở nhà có đói không?”. Bà làm như tụi nó cũng nghe được lời bà như Toàn ấy. Sau đó, bà ra vườn thăm mấy cây ô ma, mấy cây đu đủ. Mấy cây này bà trồng hồi mới giải phóng. Bà vừa tưới nước, vừa vuốt ve chúng như thể chúng cũng là người vậy.
Hai bà cháu về nhà được mấy bữa thì ông về. Ông nói rủ rỉ gì với bà. Toàn đâu có nghe. Nhưng Toàn thấy bà lắc đầu hoài. Ông cười:
– Thôi, tui chịu thua mấy bà trụ bám đó. Ở ngoài Bắc tui nghe anh em ra kể tụi nó bắt bà chở trên xe đưa đi khu dồn bà cũng nhảy xuống để về nhà. Giờ đây bà cũng trụ bám hoài hoài.
– Chớ ông biểu tui bỏ xóm làng, nhà cửa, mồ mả của ông cha mà đi răng được.
Ông cười:
– Nói mãi mà bà không đi thì tui cũng chịu. Thôi, bây giờ thế này: tui có tiết kiệm được một ít tiền. Tui sẽ nhờ mua gỗ, mua tôn về làm cái nhà cho khá hơn, chẳng lẽ để bà ở cái lều này miết. Có cái nhà đỡ đỡ tui cũng có chỗ đi về, giỗ chạp cũng không hổ danh với ông bà. Bà đồng ý không?
Bà cười:
– Tùy ông chớ.
Ông nói rồi ông làm thiệt. Mười ngày sau, ông mướn xe chở gỗ chở tôn về. Ông kêu mấy ông thợ xóm trên xuống. Mấy ông cùng chỉ chỉ vẽ vẽ, gật gật đầu với nhau cười. Ông sai bà nội đi chợ sớm, dặn mua đủ thứ. Bà cứ “dạ, dạ” làm theo liền. Bây giờ thì ông lớn hơn bà thiệt. Ông nói gì bà cũng phải nghe. Bà đi chợ về, quên mua chè, ông nhăn mặt một cái, bà quay ra chợ mua liền. Mấy bữa đó, bà nấu cơm không, kho thịt, kho cá lu bù cho mấy ông thợ ăn. Toàn thích ghê. Ăn xong, đi học Toàn cứ mong về. Mỗi bữa đi học về, Toàn thấy một khác. Bữa đầu, mấy ông thợ chỉ trồng lên mấy cây cột. Sau đó có khung nhà, sau đó mấy ổng lợp. Mới mười ngày nhà đã xong. Nhà rộng thinh, thẳng đứng, trên lợp tôn, không nhỏ hẹp, xiêu vẹo như cái lều tranh cũ. Nhà Toàn nhất làng. Trước nhà có cái sân rộng. Toàn thấy mỗi lần thằng Xí, con Hà được Toàn rủ đến đánh bi, chơi trận giả cứ ngó nhà Toàn trân trân. Toàn thấy tụi nó nhìn Toàn oai lắm. Đi chơi đâu một lúc, Toàn nói: “Về coi nhà tao đi”. Tụi nó đến liền.
Bà nội Toàn còn thích nhà hơn. Bà vui vẻ dọn dẹp, khiêng bàn thờ để giữa nhà. Bà thắp nhang, nấu một nồi chè cúng nhà mới, kêu hết bọn nhỏ đến ăn. Bà hết ra sân lại quay vô nhà, đứng ngắm nghía, miệng cười tót tét. Ông nội cũng hay về hơn trước. Ông nói ông cũng ưng cái nhà này. Ông mang bàn, ghế, tủ, ảnh về nhiều lắm. Ông nói, năm tới trên cho về hưu ông sẽ về ở đây nghỉ cho khỏe, cho yên tĩnh. Ở Đà Nẵng ồn ào lắm.
o0o
Một buổi sáng, Toàn vừa cắp vở ra đường thì thấy một chiếc xe to lắm chạy đến chân núi. Bốn chú lạ hoắc vẫy Toàn đứng lại. Các chú hỏi:
– Cháu đi học à ?
– Dạ đi học.
– Đây có phải thôn 5 không cháu ?
– Dạ phải.
Các chú đi vô làng. Khi Toàn đi học về thấy các chú đứng bên một cái máy gì không biết hỏi các chú nói là máy khoan đang làm việc. Một chú cầm một cái giống như cái đồng hồ, miệng nói :Đông Bắc, Tây Nam. Khoan xong, các chú lấy đất đá lên coi, nói gì với nhau. Bữa hôm sau các chú lại đi lên thôn 6. Tụi Toàn học xong, cũng chạy lên đó coi, thấy các chú cũng khoan, cũng coi đá đất, ghi ghi vô sổ như hôm trước. Các chú làm gì hè? Toàn định hỏi bà, bà lớn hơn chắc bà biết. Nhưng học xong là Toàn lo đi đánh trận giả nên quên mất. Mấy hôm sau Toàn không thấy các chú ở đâu nữa.
Bữa nay đi học về. Toàn thấy bà Hai, một bà cao gầy, chân bị thọt, ở cuối thôn ngồi nói chuyện với bà nội. Bà Hai nói:
– Tui nghe mấy anh ở đoàn khảo sát nói trên định xây một cái hồ chứa ở đây để lấy nước tưới cho các huyện phía Nam tỉnh ta. Họ biểu xã mình nằm trong lòng hồ, nước ngập hết chị à.
Bà nội nói:
– Vậy nhà cửa, mồ mả, làng xóm ở đây làm răng?
Bà Hai nói:
– Họ biểu nhà cửa thì chuyển lên Xuân Bình, mồ mả thì chuyển lên núi.
Bà nội giẫy nảy:
– Ông bà con cái giận chết. Bao năm trụ bám, nhà cửa bị đốt phá phải ở rừng, ở hang, ruộng vườn hoang hóa, mồ mả sụp lở chừ mới dựng được cái nhà, sửa cái vườn coi cũng chưa vừa con mắt, mồ mả chưa tu bổ đã phải dời đi chỗ khác. Bao giờ mới yên. Tui ở đây, tui không đi mô hết.
– Tui cũng vậy. Răng họ không làm ở chỗ khác hè ? Xã mình mấy chục năm bầm dập, bị dồn lên xúc xuống. Răng họ không chiếu cố, họ xây hồ ở chỗ khác. Họ xây hồ ở đây thì sướng ở dưới kia chớ mình được cái chi, chị ?
Bà Hai đi rồi. Bà nội ngồi im như hồi má chết. Nước mắt lặng lẽ chảy. Bà nhìn ra những dải đồi núi bao bọc quanh làng rồi nhìn xuống thung lũng có đồng lúa xanh xanh. Nếu như má còn sống, sau khi nhìn như vậy bà thường tỉ tê kể chuyện. Bà có nhiều chuyện lắm. Bà kể rằng, hồi xưa vùng này là rừng hoang, cọp beo luôn rình rập bắt người. Ông gì to lắm, bà nói là ông Tổ, Toàn không thấy ảnh bao giờ, mộ của ông nằm trên đồi ông Tú, đã làm miếu tế cọp rồi đẵn cây, phát lách làm ra đồng ruộng, làng xóm. Đến thời ông cố thì có một ngôi nhà lá mái rất to, quanh vườn có thơm, mít, xoài, ổi sum suê lắm chớ không trơ trọi như bây giờ. Một hôm, nhiều người gọi là Việt Minh đến trụ tại làng để tìm cách đánh thằng Pháp. Ông cố Toàn cũng tham gia vô Việt Minh. Ông gặp ông cố ngoại. Hai ông gật gù với nhau gả bà nội cho ông nội. Bà về mấy năm thì cả nước nổi lên chống thằng Pháp. Ông cố vác gậy xuống Tam Kỳ đánh Pháp, bị nó bắn chết. Ông nội thương ông cố, cầm lấy cây gậy xin vô bộ đội. Bà ở nhà nuôi ba miết miết. Khi ba lớn, ba cũng đi bộ đội, bỏ bà một mình. Kể tới đó xong, bao giờ bà cũng quay sang má chỉ lên một ngọn đồi hỏi:
– Cái đèo Tư Yên kia năm mô mình diệt 10 xe của địch, Lành?
– Dạ năm 64 má à.
Bà nội hít hà một lúc rồi nói.
– Ờ năm đó. Sư 2 đánh xong, thằng Hai cũng xin đi bộ đội mà tau quên. Tau già tau lẫn rồi, hỏi bay miết-Bà cười rồi hỏi má-mi còn nhớ năm 67 ra răng không Lành?
– Dạ nhớ. Lúc đó xe tăng, bộ binh Mỹ vô đầy đồng. Máy bay Mỹ bay trên trời như chuồn chuồn. Con sợ quá. Gặp ai chúng cũng giết, nhà nào chúng cũng đốt. Chúng dồn người lên máy bay chở xuống trảng Bà Mù. Mùa hè nóng quá. Con tính tìm cách trốn mà không biết làm sao. Con nhìn mọi người thử ai cũng giống như mình. Con thấy má có vẻ suy nghĩ. Con đến bên hỏi:”Làm răng về làng bác? Không có mình, mấy ảnh chẳng có ai tiếp tế, làm răng mà chiến đấu”. Má nói:”Để tau cho tiền thằng gác rồi hai bác cháu về”. Được ra khỏi rào dây thép gai, hai má con mình dông tuốt một lèo về đây. Má nhanh trí thiệt.
Bà nội cười:
– Còn tau lúc đó tau bỏ bụng con nhỏ mồ côi ni được. Tau cố kèm để rấm cho thằng Hai tau. Vậy mà năm 70 nó về, tụi bay cưới nhau thiệt. Cưới mà không có lễ lộc chi hết. Ngồi trong hang đá với nhau, thằng Mười với mấy đứa ở xã hút ru-bi, uống hớp trà trong bình tông chứng nhận. Hai vợ chồng mi ăn ở hai ngày trong cái hang đá đó. Rồi thì mi có mang thằng Toàn.
Má Toàn đỏ mặt lắc đầu:
– Má cứ…Má cứ…
Nội cười, giở trầu ra ăn. Bây giờ má Toàn không còn. Má chết năm ngoái ở ngoài đồng. Toàn nhớ bữa đó má đi họp về nói với nội.
– Xã tổ chức thanh niên đi gỡ mìn ngoài đồng. Trên có nói nhà mình neo người nên cho con nghỉ để ở nhà giúp má.
Bà nội bảo:
– Cứ đi đi con. Đừng ỉ neo đơn mà ở nhà. Tau lớn tau biểu bay phải nghe.
Vậy là má đi liền. Một hôm má sơ ý để mìn US bật cần. Sợ các cô chú chung quanh cũng bị thương, má nằm ôm luôn trái mìn. Má chết. Toàn khóc ghê lắm. Bây giờ nghĩ lại Toàn cũng muốn khóc. Bà nội thì ngồi im. Nhưng nước mắt cứ chảy ra từ hai hố mắt đã mờ mờ của bà. Bà nói với bà Hai:
– Tội con nhỏ. Nó là con dâu mà như con đẻ tui.
Toàn nói:
– Răng bà bắt má đi, mà má chết bà…
Nội xua tay. Hôm ấy nội ôm má, nói chuyện với má hoài, làm như lúc má còn sống, đêm đêm bà nằm giường bên kia nói với má và Toàn nằm giường bên này:
– Con ơi, con còn nhớ hồi má đau, con phải lặn lội xuống Tam Kỳ mua thuốc. Tụi nó bảo con đi tiếp tế cho cách mạng, nó bắt nó đánh không Lành?
Nếu như hồi trước thì Toàn nghe má trả lời:”Dạ, con nhớ”. Nhưng giờ thì má im lặng. Má chết rồi thì đâu có nói được.
– Con ơi, con còn nhớ hồi hai má con mình đào hầm nuôi thằng Mười không? Sau này thằng Mười đi, nó xăm lộ hầm, nó bắt má nó đánh, con chạy lại đỡ đòn cho má. Con nhớ không? Sao con không nói. Con bỏ má một mình với thằng nhỏ con đi sao, Lành?
Má cũng không trả lời. Bà nấc lên rồi lấy vạt áo lau mắt.
Chiều nay bà nội không còn ai để nhắc chuyện cũ, bà buồn lắm. Bà ngó ra mấy dãy núi, ngó ra cánh đồng thở dài lẩm bẩm nói một mình.
– Chẳng lẽ mọi cái sẽ chìm dưới nước. Chẳng còn ai nhắc đến nó nữa sao?
Nói xong, bà đứng dậy vác rựa ra rào phát cỏ. Vừa lúc ấy, chú Mười đến. Vẫn như mọi bữa, người cao cao, bộ quần áo ni-phăng xanh bạc màu, đi đôi dép cao su. Bà nói hồi xưa, hồi Toàn còn chưa có, bà đã nuôi giấu chú trong nhà, không cho thằng Thoàn ác ôn bắt. Bây giờ, lần nào đến, chú cũng mang kẹo cho Toàn. Toàn thích lắm.
Toàn la:
– Chú Mười!
Chú móc túi áo lấy cho Toàn gói kẹo rồi vuốt má Toàn. Bà nội đang chặt cây, bỗng cuống quít chạy vào giơ cái rựa lên nói:
– Cái thằng quỷ kia. Tau chặt mi ba khúc cho thỏa cái tội lâu không đến.
Toàn tưởng bà chặt chú thiệt, sợ quá, nhưng đâu có. Bà ném cái rựa xuống, chạy lại ôm chú, nhìn vào mặt chú, xoa đầu chú như con nít. Chú lớn rồi mà cứ đứng trân trân, nước mắt chảy ra. Toàn nghe người lớn nói chú Mười lớn lắm, lớn nhất nhiều làng như làng mình. Vậy mà bà cứ biểu chú như biểu Toàn:
– Thằng Mười vô nhà chơi, uống nước.
– Dạ.
Chú Mười nghe lời nội cái rốp. Mà chú ngồi khép nép như má ngồi trước mặt bà nội chớ.
– Lâu nay mi đi mô không thấy về chơi, Mười?
– Dạ thưa bác, cháu bận quá. Hôm nay ghé qua làng mình một chút. Bác có khỏe không?
Bà nội cười:
– Khỏe chớ răng lại không, mi. Còn thằng Mỹ, tau còn trụ mười năm nữa.
Chú Mười cười, kéo Toàn vô lòng, đưa tay vuốt vuốt đôi má. Chú hỏi thăm bà Hai, ông Sáu, ông Bảy, hỏi hết cả làng. Bà biểu chú uống nước rồi nhìn chú có vẻ nghĩ lung. Đột nhiên bà hỏi:
– Mi đến đây chơi hay có chuyện chi, Mười?
Chú Mười lúng túng:
– Dạ cũng có cái chuyện này.
– Chuyện tụi tau phải dời nhà để làm hồ phải không?
– Dạ bác biết rồi à?
– Người ta đồn rân lên mấy bữa ni rồi. Răng cái làng ni bầm dập vậy mi? Trước bay biểu trụ bám giờ lại biểu đi.
Chú Mười gãi gãi đầu như Toàn lúc bị bà la:
– Dạ cháu cũng nghĩ khổ tâm quá. Bà con ở đây chịu gian khổ, hy sinh nhiều. Giờ mà đi cũng là tiếp tục hy sinh nữa. Nhưng mình có đi thì mới làm được cái đập Phú Ninh tưới cả mấy huyện. Phía Nam tỉnh mình đỡ hạn lụt, chủ động sản xuất được ba vụ. Đó là chưa nói chuyện làm hồ nuôi cá, chỗ nghỉ mát, đó bác.
– Mi nói chi chi ở mô sướng chớ còn cái làng ni?
Chú Mười ngồi im. Bà nội cũng ngồi im. Những nếp nhăn trên trán bà như sâu hơn. Bà nhìn ra cánh đồng ở trước nhà, những dãy núi ở xa xa. Toàn ngỡ như đôi mắt đã mờ của bà sâu thăm thẳm.
Chú Mười nói:
– Dạ, cả làng này sẽ dời, ở trên sẽ đền bù. Mồ mả sẽ dời lên nghĩa trang chung trên núi. Nhà cửa sẽ dời lên Xuân Bình. Huyện đã cho thanh niên phát rừng để làm nhà, làm trạm xá, trường học, để mở đất sản xuất rồi. Riêng bác, nếu bác muốn ở với bác trai cho vui thì trên sẽ đền tiền cho bác mua nhà ở phố.
Bà nội nói nghẹn ngào như khóc:
– Bay nói cái lợi tau nghe cũng ra. Trước bay nói trụ bám để đánh Mỹ, sẽ thắng lợi. Bay nói đúng. Chừ bay nói dời đi để làm hồ chứa nước tưới ruộng đất tau nghĩ cũng đúng. Nhà cửa thì lo gì. Hồi xưa Mỹ nó phá hết, mình ở hầm, ở bờ bụi có chi mô. Nhưng, còn cái làng ni…
Bây giờ thì chú Mười im re. Mặt chú từ trắng chuyển sang vàng ệch.
– Dạ, dà, cháu nói rồi, ta chuyển làng lên Xuân Bình để xây dựng vùng kinh tế mới.
– Không, bay không hiểu tau. Tau không nói cái đó. Cái gì lợi thì làm. Tau muốn nói là: Nay mai cái làng ni chìm dưới lòng hồ, liệu mọi nơi người ta đến đi thuyền dạo mát, tham quan, đánh cá, người ta vui vẻ. Người ta có biết dưới đáy hồ, xưa có một cái làng không. Người ta có biết bà con ở đây sinh ra lớn lên, đánh Pháp, đánh Mỹ cực khổ ra răng không. Họ có biết không, Mười?
Nước mắt chú Mười từ từ chảy ra. Chú nói:
– Dạ, trên biết hết. Mọi người rồi cũng sẽ biết hết. Trên đánh giá làng mình cao lắm. Chúng con đã đề nghị chính phủ tặng huân chương cho làng mình. Còn từng nhà thì bà con ta phải tiếp tục coi còn ai là liệt sĩ, ai có công với cách mạng, ai trụ bám mà chưa được khen thưởng để đưa lên chính phủ duyệt. Mình cố gắng đừng bỏ sót công tích một ai bác à?
Bà nội nhìn chú, mắt sáng ra:
– Chính phủ có nghĩ hết như vậy à?
– Dạ chính phủ nghĩ hết. Nay mai sẽ có Ban Thi đua với Ban Thương binh xã hội xuống làm việc. Bác nói dùm bà con khai cho kỹ nghe.
– Vậy là trên biết hết, tau tưởng…
Chú Mười đi khắp cả làng rồi mới về. Hôm sau có bốn chú xuống, tay cầm những tờ giấy to to. Tụi Toàn thích quá cứ bám theo coi. Các chú ghi làng mình đã nuôi bao nhiêu cán bộ, bộ đội, cung cấp bao nhiêu gạo, ai hy sinh, ai trụ bám, ai đánh được nhiều Mỹ ngụy. Các ông già bà già, các cô các chú trong làng tập trung ở nhà Toàn kể lại hết.
– Hồi Mỹ vô, ba thằng nớ đi bộ đội sớm nhất làng đó. Bà Hai chỉ Toàn nói.
– Con Sít nhà bà đi sau có hai ngày chớ mấy. Bà nội nói thêm.
Các chú nhìn Toàn cười, ghi ghi.
Các chú ở mấy ngày rồi về. Mười ngày sau, chú Mười cùng mấy chú lại đến. Cả làng tập hợp làm mít tinh vui lắm. Toàn ngồi trong lòng bà nghe chú Mười nói chuyện. Toàn đâu hiểu gì. Toàn chỉ nghe bà nội nói với bà Hai:
– Trên khen thưởng làng mình như vậy mới đúng. Làng mình hồi giờ là căn cứ địa của huyện. Cả Tỉnh ủy, Khu ủy cũng đóng ở đây mà.
Vừa lúc ấy chú Mười đọc tên từng người lên nhận giấy. Bà nội cũng nhận được hai tờ giấy. Bà vui lắm. Khi xuống bà gõ gõ ngón tay lên đầu Toàn, kéo Toàn vô lòng hôn thật lâu. Toàn nghe chú Mười nói:
– Thưa bà con, trên đã tặng huân chương cho làng ta, đã chứng nhận các loại giấy cho từng người. Giờ trên định dời làng ta để làm hồ như tôi đã báo cáo. Bà con có còn bàn gì thêm?
Mọi người rì rầm. Bà nội giơ tay thật cao. Bà nói:
– Bàn chi bàn miết. Trước mình trụ bám để giữ nước. Giờ đi cũng để làm hồ giữ nước. Bay biểu chi tụi tau làm liền chớ bàn chi nữa.
Mọi người cười ồ ồ, vỗ tay bộp bộp. Bà nội lớn thiệt. Bà nói gì ai cũng phải nghe. Toàn nhìn bà nội rồi ngủ thiếp đi.
Khi hai bà cháu về thì thấy ông nội đã ở nhà. Ông hỏi bà:
– Bữa nay bàn chuyện dời nhà hả?
– Dạ, bàn chuyện ấy.
– Hội nghị có nhất trí không?
– Nhất trí.
Ông nội hỏi:
– Họ định đền nhà ta bao nhiêu?
– Tui báo cáo cái nhà năm trăm đồng. Vườn tược, cây cối nữa, tính rẻ rẻ vị chi chín trăm đồng.
Ông la lên:
– Trời ơi, bà không tính công thợ, tiền ăn uống, chuyên chở sao. Bà làm như tiền là nước lã ấy.
Bà im lặng. Ông nói tiếp:
– Họ trả chưa?
– Chưa. Nghe nói trả một ít, còn một ít gửi tiết kiệm.
Ông nội nói bực dọc:
– Thôi bà ơi! Bà quen thằng Mười. Bà lên báo lại kiếm thêm ít trăm nữa. Bà biểu tụi nó đưa tiền ngay. Tui gạ mua một cái nhà 3.000 đồng ở dưới bãi biển Thanh Bình, bà định làm tui lỡ dịp sao?
Bà nội nói:
– Ông làm chi lạ vậy. Thêm bớt gì nữa, mình người lớn mà. Bà ngừng lại một chút rồi nói tiếp:
– Đòi tiền ngay làm chi. Nhà nước nói đền là đền, lo chi mà hối hối thúc thúc.
– Nhưng lỡ việc của tui.
– Ông có một phòng to, mua nhà chi nữa.
– Mua cho bà cháu bà xuống chớ. Trước bà không chịu xuống, tui chạy vạy mãi mới cất được cái nhà. Giờ thì phải dời nhà. Bà lên rừng núi làm chi cho khổ. Tui cũng sắp về hưu rồi…
– Tui ở đây, làng đi tui đi, ở Đà Nẵng tui đâu có quen.
Ông nói:
– Bữa trước bà nói bà ở làng cũ vì có mồ mả ông bà. Giờ dời đi chỗ khác thì khác gì ra Đà Nẵng.
– Nhưng cả làng đi thì tui đi. Bà con ở đây đã đề nghị với trên, khi lên chỗ mới vẫn giữ tên làng Trường Cửu này. Như vậy làng mình đâu có mất. Làng mình chỉ đổi chỗ ở thôi. Ông cứ lo công tác, lâu lâu có dịp ghé thăm bà cháu tui là được. Còn nếu về hưu thì tùy ông…
Bà nội im lặng. Ông nội im lặng.
o0o
Sáng nay, vừa cắp vở ra đường, Toàn đã nghe mọi người cười nói xôn xao. Các cô các chú ở đâu đến cùng bà con trong làng cầm rựa, cuốc, xẻng tập trung tại con đường chính thiệt đông. Hai chiếc xe to cộ cũng vừa ở đâu đến đứng thở rồ rồ. Các chú nói với Toàn đó là xe ủi đất, ủi gốc cây, làm đường phẳng cho ô tô chở cả làng lên khu kinh tế mới Xuân Bình. Chẳng kịp hỏi thêm, Toàn vội đi học. Khi quay về, Toàn thấy một tốp đông các cô các chú đang phát đường. Hai chiếc xe cứ chạy lui chạy tới hùng hổ húc đất, húc gốc cây. Đứng nhìn một lúc, Toàn phóng ra miệt đồng. Giữa đường Toàn thấy chú Sóc, chú Bé cùng một đám đông đang đào mồ mả lên, lấy xương, bỏ trong những cái hũ nho nhỏ. Toàn hỏi, các chú nói các chú đang rước ông bà, các bác, các cô về tập trung ở đồi Xuân Bình nghỉ ngơi cho cao ráo. Toàn vội chạy về nhà. Đến nơi, Toàn ngạc nhiên quá. Mái tôn đâu mất. Chỉ còn cái sườn nhà trống hoác đang nhìn Toàn giận dữ. Dưới sân, bà đang lặng lẽ xếp tôn. Mặt bà nội buồn buồn, mắt đỏ hoe như muốn khóc. Toàn cũng muốn khóc. Từ nay đâu còn nhà đẹp để khoe với thằng Xí, con Hà. Toàn kéo áo bà, mếu máo hỏi:
– Bà, sao mấy chú lấy nhà mình, bà?
– Không, mấy chú dỡ nhà để đưa đi chỗ khác đó.
– Đi đâu bà?
– Lên chỗ mới ở Xuân Bình.
Toàn đứng im, ngơ ngác một lúc rồi hỏi:
– Lên chỗ mới có nhà đẹp, có chỗ đánh bi không bà?
– Có. Bà nội vỗ vỗ vào đầu Toàn đáp.
– Có bằng nhà ông ở Đà Nẵng không bà?
– Gần bằng.
– Vậy thì sướng quá rồi. Đi mau đi bà. Răng bà cứ chầm chậm vậy. Bà tiếc nhà cũ à.
Bà nội cười, trong mắt có ngấn nước. Vừa lúc ấy, chú Mười đến. Chú chào bà nội rồi nói:
– Mai sẽ có xe đưa làng ta đi bác à. Tới 40 chiếc. Cháu phải qua thôn 4 đây. Mong bác với bà con lên đó khỏe luôn, cố giữ truyền thống của làng ta nghe bác.
– Ừ, tụi tau sẽ cố gắng làm theo lời bay.
– Cháu đi nghe. Bữa nào cháu lên chỗ mới đó.
– Bay lên nghe.
– Dạ.
Chú Mười kéo Toàn vô lòng, vuốt vuốt đôi má, rồi chú đi. Toàn thấy lạ quá. Vì trong đầu luôn sẵn cái ý nghĩ là người nhỏ tuổi hơn phải nghe lời người lớn tuổi hơn, Toàn thấy mọi chuyện cứ lộn xà ngầu. Chẳng biết sao mà Toàn thấy lúc thì bà nội nghe theo ông nội, lúc thì ông nội nghe theo bà nội, lúc thì chú Mười nghe theo bà nội, lúc thì bà nội nghe theo chú Mười. Người lớn nhiều cái kỳ thiệt. Nó chẳng hiểu ra làm sao cả. Nó hỏi bà nội:
– Bà ơi, bà lớn hay nhỏ hơn chú Mười?
– Lớn hơn chú Mười.
– Vậy bà lớn hơn hay nhỏ hơn ông nội?
– Nhỏ hơn ông nội.
– Răng bà nghe theo chú Mười mà không nghe theo ông nội bà?
Bà nội cười. Cháu bà chưa hiểu hết đâu. Chuyện đời nó như vậy đó. Cũng như cháu đâu có hiểu hết lòng bà khi phải xa cái làng này, nơi có mồ mả ông cha, nơi bà phải đổ bao nhiêu mồ hôi cấy trồng, nuôi dạy con cái, chung thủy chờ chồng, nơi có bao nhiêu kỷ niệm buồn vui. Cháu làm sao hiểu hết những hy sinh gian khổ của bà cũng như cái làng này, suốt ba mươi năm trụ bám. Tất cả đó là để giữ mãi cái làng này, mong muốn sau này sẽ xây dựng nó đẹp đẽ hơn. Nhưng bây giờ phải ra đi như ngày xưa phải trụ bám. Cái gì cần làm thì phải làm thôi. Cháu bà làm sao hiểu hết chuyện ấy. Bà vỗ vỗ tay lên đầu Toàn nói nhỏ:
– Cái thằng cháu bà chuyện chi cũng muốn biết hết. Ráng lớn lên rồi sẽ hiểu mọi việc ở đời, con.
Đà Nẵng, 2-1979
KỶ NIỆM NHỎ TRONG RỪNG
Mùa hè năm ấy tôi từ Hội Văn nghệ giải phóng Khu V xuống công tác ở tỉnh N. Sau khi cho biết khái quát tình hình chung trong tỉnh, các anh ở Ban Tuyên huấn khuyên tôi nên xuống công tác ở huyện X. Cơ quan huyện X đóng ở vùng rừng núi phía nam tỉnh. Vì là đường núi nên từ tỉnh xuống huyện không có trạm giao liên, cán bộ, bộ đội đi công tác phải tự hỏi đường mà đi. Các anh bảo hình như bên Ban Đấu tranh chính trị có người sắp xuống huyện X công tác, nên tôi qua đó để cùng đi.
Người được Ban Đấu tranh chính trị cử đi công tác là Ba. Cô gốc người tỉnh N nhưng được sinh ra ở miền Bắc. Cô vào chiến trường đã hai năm nhưng da dẻ còn hồng hào chứ không xanh bủng như chị em khác. Có lẽ cô ít bị sốt rét. Chân cô dài và đặc biệt cô có khuôn ngực cao.
– Có anh đi, em càng vui, nhất là các anh nhà báo thì chắc có nhiều chuyện vui lắm. Cô vui vẻ nói.
Ngày hôm sau, chúng tôi lên đường. Những giờ đầu, chúng tôi đi theo con đường liên huyện nên gặp nhiều người đi công tác, gùi cõng. Nhưng đến gần trưa thì vắng hẳn người. Đường về huyện X lại lắm đèo dốc và rừng rậm. Đến chân một con dốc, Ba đang đi trước, quay lại bảo tôi :
– Đoạn này biệt kích hay phục , em đi trước, anh đi sau một đoạn, có việc gì anh chạy lui còn mọi việc để em tự giải quyết.
Chúng tôi im lặng leo dốc. Dốc cao và cái nắng hừng hực ban trưa làm chúng tôi rất mệt. Khi qua dốc xong, chúng tôi gặp một con suối:
– Nghỉ lại đây ăn trưa anh ạ. Ba dừng lại nói.
Cô trì cái gùi đựng đồ đạc làm bằng bao bột mì tôi đang mang trên lưng xuống cười ngặt nghẽo:
– Sao gùi rách thế này. Bộ chưa có cô nào may vá hộ sao ?
– Chưa.
– Thực hay đùa – Cô hỏi – Các anh nhà báo thì tán giỏi lắm mà.
– Thực mà. Tôi nói.
Cô nhìn tôi, đôi mắt lúng liếng:
– Các anh hay vờ vịt lắm, vợ con đề huề mà cứ chưa chưa.
Tôi quay đi giả làm mặt giận, cô vỗ lưng tôi :
– Đùa tí ông anh. Mà ông anh người tỉnh P à ?
– Sao biết giỏi thế ?
Cô nói nhỏ nhẹ :
– Em cũng có một người bạn trai quê trong đó. Chúng em đi một đoàn từ Bắc vào Khu. Anh ấy giúp đỡ em rất nhiều. Đến Khu, ảnh được phân về trong ấy, em về đây.
Nói xong, cô bước xuống suối để rửa chân tay. Tôi thú thật, mắt tôi như dán vào cặp đùi trắng ngần của cô…
– Sao không xuống suối rửa tay chân rồi ăn trưa – Cô nói – đây là chân em có gì mà nhìn.
– Nó đẹp quá không nhìn sao được. Tôi nói liều rồi bước xuống bên cô.
Trong bữa ăn, cô nhường cơm và thức ăn cho tôi :
– Em nghe nói các anh ở trên Khu chỉ ăn sắn và dớn. Giờ thì anh ăn nhiều cơm và ruốc thịt đi. Tụi em ở gần đồng bằng, dễ lấy gạo và kiếm thức ăn hơn.
Ăn xong, chúng tôi lại tiếp tục đi. Con đường cứ lên dốc xuống dốc liên tục. Người ai cũng ướt đẫm mồ hôi. Chiếc áo mỏng dán vào lưng Ba làm cho tôi thấy rõ làn da trắng hồng của cô. Tự nhiên, tôi muốn ôm riết cái thân thể ngồn ngộn sức sống kia và hôn… Đã 25 tuổi, tôi chưa được ôm hôn cô gái nào.
– Này đi sau đừng tranh thủ nhìn lưng người ta đấy. Cô quay lại mỉm cười giơ tay dọa.
Chiều hôm ấy, chúng tôi dừng lại bên một dòng suối. Một con đường mòn nhỏ cỏ lu lấp dẫn xuống bến nước. Giữa suối có một tảng đá to bằng phẳng cứ gợi cho tôi nhớ những ngày ở Khu cùng bạn bè ngồi uống trà ngắm dòng Nước Nghêu sủi bọt quanh những chiếc bàn đá như thế. Sát bên bờ suối là một khóm cây săng lẻ cao vút thuận tiện cho việc mắc tăng võng. Có lẽ những người đi trước cũng hay dừng nghỉ ở đây nên tôi thấy trên những thân cây còn in dấu cột võng và cạnh đó là 3 hòn đá làm ông táo… Ba bảo tôi nhóm lửa nấu cơm còn cô xuống suối hái rau và tranh thủ tắm một chút. Khi tôi bắc xong nồi cơm thì cô cũng vừa về, trên tay mang một nắm rau mương và môn dóc. Cô rút từ gùi mình ra một cái hăng gô, một ống lương khô thịt heo mà tôi được ăn từ trưa. Cô đem hăng gô xuống suối múc nước rồi đem lên đặt cạnh hăng gô cơm. Khi nước sôi, cô nghiêng ống lương khô bốc một nắm ruốc thật to bỏ vào hăng gô canh :
– Sao cho lương khô vào canh nhiều thế. Phải tiết kiệm chứ. -Tôi nói.
– Lo gì anh – Cô bảo – Xuống huyện xuống xã bà con lại cho đầy ống đấy mà. Em đã bảo hôm nay em đãi anh mà.
Trăng vừa lên. Dưới ánh trăng cảnh vật bỗng trở nên mơ màng như phủ một lớp sương mỏng. Tôi có cảm giác như không còn chiến tranh, không có bom đạn, không còn địch phục. Chỉ có cảnh thanh bình như một ngày đã xa, như một ngày mai tới. Chỉ có tôi và cô gái mới gặp nhưng đã trở thành thân thiết qua một ngày đi đường vất vả. Tôi nhìn cô, thấy người con gái vốn xinh đẹp ấy lại càng xinh đẹp hơn. Cô đang lom khom trải ni lông, dọn cơm canh. Tôi nhìn lướt qua cổ áo rộng của cô, đưa mắt ngắm từ chiếc cổ trắng ngần đến khuôn ngực có cặp vú cao đang phập phồng…
Chúng tôi ngồi đối diện nhau ăn cơm, như hai anh em, như hai vợ chồng. Cô nhường cơm, thức ăn cho tôi như vợ nhường cho chồng, em nhường cho anh, như đức tính vốn có ở những người con gái Việt Nam…
– Anh nói anh chưa có vợ thì có thể tin. Nhưng mà…- cô ấp úng – anh biết đàn bà chưa…
– Biết. Đàn bà thì ở đâu không gặp.
Cô cười hồn nhiên :
– Kìa, là…là em hỏi anh đã…với cô nào chưa ?
– Chưa !
– Phịa.
– Thật đấy. Lúc nhỏ thì không nói rồi. Lúc vào Đoàn thì sợ kỷ luật Đoàn, vào Đảng thì sợ kỷ luật Đảng…giờ thì…
– Ngộ nhỡ hai bên cùng đồng ý thì sao ?
– Sợ lắm. Mình còn chưa dám hôn cô nào nói chi…
– Giờ anh có muốn… Cô cười phá lên
Ăn xong, trong khi tôi ra suối tắm, Ba còn ngồi nấu một hăng gô nước rồi lấy trà từ trong gùi mình ra pha vào bình tông của tôi.
Khi tôi vừa từ suối bước lên, cô đã rối rít :
– Uống trà anh. Anh đừng cười em con gái mà cũng uống trà. Ba em làm công nhân Khu gang thép Thái Nguyên. Từ nhỏ em ở vùng trà nên uống trà quen rồi.
– Uống trà rất tốt, có sao đâu, sợ không có mà uống ấy chứ.
Chúng tôi cùng cười rồi ngồi bên nhau uống cho đến khi cạn bình tông. Cô lại múc nước nấu một hăng gô nữa chế vào bình tông rồi nói :
– Thôi lên võng nằm nói chuyện anh.
Trăng đã lên cao. Mặt trăng tròn và sáng rỡ. Dưới ánh trăng, cả núi rừng, những trảng tranh và dòng suối hửng lên một màu vàng rực rỡ :
– Hồi nhỏ, những đêm trăng thế này em và các bạn học hay ra ngọn đồi sau nhà chơi, có khi chơi tới khuya. Ba vừa đưa võng vừa nói với tôi .
– Về có bị ông già mắng không ?
– Không, ông cụ rất thương em. Em là con út mà.
– Nhà có mấy anh em ?
– Dạ có ba. Anh cả học ở Nga, anh hai học tàu thủy ở Ba Lan, chỉ còn em ở nhà. Mới tốt nghiệp trung cấp kiến trúc thì em xin vô đây. Vô đây, không có nghề xây dựng, các chú chuyển sang Ban Đấu tranh chính trị.
– Ông già cũng cho Ba đi Nam sao ?
– Thì cũng phải cho. Em nói nhà mình có 3 anh em, 2 anh đã học nước ngoài, còn em không đi thì nhà mình chẳng có gì đóng góp cho cách mạng miền Nam cả. Mà mình là người miền Nam nữa ! Thanh niên miền Bắc xung phong vào Nam chiến đấu ào ào chẳng lẽ mình không đi. Thế là ông già chịu. Hôm em đi bà già khóc như mưa. Còn ông già rót cho em chén trà, bảo:” Thôi con đi, bằng chị bằng em” rồi ông quay mặt đi. Thế rồi trên đường đi, em gặp anh ấy. Anh ấy mang giúp 2 ruột nghé gạo cho em, cột võng tăng cho em, có lúc còn cõng luôn ba lô cho em bởi em bị trặc chân. Anh ấy rủ em cùng vào tỉnh P với anh ấy. Em tính đi rồi, nhưng trên phân về đây. Thế còn ba má anh giờ ở đâu ?
– Ba má và các em mình đều ở miền Nam chiến đấu cả. Mình đi tập kết có một mình lúc lên 10 tuổi.
– Mọi người biết anh về Khu chưa ?
– Biết rồi. Mình có nhận được thư ba mình. Vậy mà 5 năm nay chưa về công tác ở tỉnh để kết hợp thăm gia đình được.
– Tội nghiệp. Anh xa gia đình lâu quá – Cô dừng một chút rồi nói – Thôi nghỉ đi anh.
Chúng tôi cùng im lặng. Mi mắt tôi đã cứng đờ. Qua một ngày đi đường, giờ đây tôi mới thấy mỏi nhừ từng đốt xương. Tôi thiu thiu ngủ chợt bỗng giật mình. Tôi nghe có hơi thở gấp gáp phả vào mặt tôi. Không mở mắt, tôi cũng biết đó là Ba. Toàn thân tôi rúng động như có luồng điện chạy qua. Nhưng tôi cố nằm im.
– Anh ấy ngủ rồi – Ba nói – rồi se sẽ bước về phía võng mình.
Một lúc sau, cô lại bước sang võng tôi. Lần này cô áp ngực lên ngực tôi và đưa tay vuốt tóc, vuốt đầu tôi. Cả người tôi tê dại, tôi có cảm giác thèm muốn ghê gớm. Tôi muốn vùng dậy ôm chặt cô rồi ra sao thì ra. Nhưng tôi lại sợ, và cái sợ lẩn quẩn lại bắt tôi cố nằm im.
Cô quay về võng. Tôi nghe cô đưa võng thật mạnh rồi cô thở dài. Một lúc sau, cô đứng dậy và bước ra suối. Bây giờ thì tôi thấy mình hết sức thèm muốn. Tôi lò mò dậy, len lén bước ra phía bờ suối. Tôi thấy Ba ở trần đang ngâm mình dưới suối. Cô kỳ cọ, kỳ cọ rất lâu rồi để trần bước lên ngồi trên tảng đá lớn giữa suối. Bây giờ thì cả thân thể trắng ngần với cặp vú cao của cô rõ mồn một. Nỗi thèm muốn như con nước mỗi lúc một dâng cao trong người tôi. Tôi muốn quên tất cả, cả chiến tranh, cả nỗi sợ để chạy xuống suối ôm cô vào lòng, riết thật chặt. Tôi nghe cô thở dài lần nữa rồi lại xuống suối ngâm mình. Tôi nuốt nước bọt rồi sè sẹ đi về võng mình. Tôi ngồi trên võng đưa thật nhanh thật lực và cố nghĩ đến những công việc sắp tới để hạ cơn thèm muốn xuống. Thế rồi, có lẽ do đầu óc quá căng thẳng, tôi ngủ thiếp đi.
Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng rõ. Ba đang ngồi bên bếp nấu cơm. Mặt cô hơi buồn và hốc hác.
– Anh dậy rồi à – Ba nói – dậy ăn cơm rồi đi. Chỉ một đoạn ngắn là tới thôi. Hôm qua ráng đi cũng tới nhưng…
Trong bữa ăn, cô ít nói hơn hôm qua mà lặng lẽ xới cơm, gắp thức ăn cho tôi.
– À anh, em đổi cái gùi của em cho anh rồi đấy. Ai lại mang gùi rách xuống huyện các cô cười cho đấy. Các cô ở Ban Tuyên huấn huyện xinh lắm. (Sau này, đến cơ quan huyện tôi mới phát hiện ra cô đã bỏ trong gùi cho tôi ống lương khô và bao gạo của cô).
– Cảm ơn Ba. Nhưng Ba ở dưới này đi công tác nhiều hơn, cần gùi chắc hơn.
– Không lo, em xuống tới huyện là các cô các chị cho gùi mới liền – Cô nhìn tôi – hồi hôm anh ngủ ngon chứ ?
– Ngon lắm, không biết trời đất gì. Ba ngủ ngon không ?
– Ngon lắm. Đang nói chuyện với anh thì mắt em díp lại ngủ luôn một giấc sáng bảnh mới dậy.
Tôi biết cô nói dối và tự tôi cũng nói dối. Nhưng thôi cái gì đã qua thì quên đi…
Chúng tôi lại tiếp tục đi. Hai tiếng sau, chúng tôi lại đến một con suối. Từ bên kia suối vọng sang tiếng chặt cây, tiếng đài bán dẫn, tiếng người. Ba dừng lại nói:
– Thôi anh đi về đường này – Cô chỉ một con đường nhỏ bên kia suối – Còn em cũng đến cơ quan ở gần đây. Anh đi khỏe nhé.
Chúng tôi chia tay nhau như hai người vừa mới gặp nhau trước đó một lúc chứ không phải đã từng đi với nhau 2 ngày qua. Chúng tôi không quay lại nhìn nhau, không vẫy tay lưu luyến. Tôi vừa đi vừa nghĩ lại chuyện đêm qua. Có phải vì tôi sợ kỷ luật mà không dám đến với Ba, hay tôi muốn giữ Ba cho người đồng hương của tôi ? Hay vì điều gì nữa …
Từ đó tôi không bao giờ còn gặp Ba nữa. Không biết bây giờ Ba còn sống hay đã mất. Nếu còn sống thì Ba lấy người đồng hương của tôi hay người khác ? Ba có được sung sướng hay bất hạnh ? Ba ơi, anh mãi mãi cầu mong cho em hạnh phúc.
Đêm 14-6-1997
ANH BỐN CỔN LẤY VỢ
Câu chuyện anh Bốn Cổn lấy vợ có lẽ là câu chuyện hấp dẫn nhất ở cơ quan chúng tôi. Không những thế, tôi tin nó còn là câu chuyện hấp dẫn nhất ở thành phố này, tỉnh này, thậm chí cả ở nước Việt Nam này nữa.
Đã 50 tuổi nhưng anh Bốn Cổn vẫn chưa lấy được vợ. Có phải vì anh xấu trai không? Thì đấy, anh là một người đàn ông khoẻ mạnh, dáng cân đối, người dong dỏng cao, đôi mắt sáng tinh nhanh. Có phải vì anh kém thông minh không? Xin nói gọn thế này thì bạn biết: anh là kỹ sư, Quản đốc phân xưởng thuộc Công ty chúng tôi. Quản lý một lũ kỹ sư nghịch như quỷ con chúng tôi không phải là dễ đâu, ấy mà chúng tôi đều phục tùng anh. Hay là anh ấy ăn nói thô lỗ ? Điều đó thì tôi xin thưa rằng: trái lại anh vốn là người hóm hỉnh, ăn nói tế nhị, điềm đạm lắm. Bạn sẽ mỉm cười bảo: hay là…hay là? Cái đó thì chúng tôi, các bạn trai của anh giải thích hộ cho anh ngay: chẳng phải thế đâu. Bây giờ thì ta có thể đoán rằng, do anh tham gia cách mạng sớm, sau đó học hành, công tác nên lỡ lứa rồi ì luôn chăng? Mà nếu vậy thì làm sao giải thích có những vị tuổi cao hơn anh mà lấy tới hai, ba đời vợ? Thế thì vì cái chi vậy, tôi cũng xin chịu luôn.
Công ty tôi có khối cô đẹp ra đấy, nếu cử đi thi hoa hậu thì tôi tin hàng chục cô trúng phốc ngay danh hiệu ấy. Vậy mà anh không ngó ngàng đến ai. Nếu trêu chọc anh với ai đó thì anh cứ “hừ, hứ, đó là lũ con nít. Mà bụt chùa nhà không thiêng đâu”.
Đã thế thì tìm người ngoài vậy. Chúng tôi một lũ trẻ hơn anh, yêu mến anh nên ai cũng lo cho anh. Đi đến cơ quan nào công tác cũng mắt la mày lét, không phải tìm bồ cho mình, mà cho anh Bốn. Người đầu tiên mà chúng tôi chọn cho anh là cô Duyên. Đó là một cô gái khoảng 35 tuổi, tròn lẳn, làm kế toán ở một Sở nọ (xin cho được giấu tên). Chúng tôi tổ chức một cuộc bia và rủ anh chị đến. Giữa chừng, chúng tôi kéo nhau đi và để lại hai người. Ngồi lại ở một cái quán gần đó, chúng tôi “rình” hai người. Một lúc sau, chị chàng ra trước rồi anh chàng lủi thủi ra sau. Chúng tôi kéo ùa ra vây quanh anh:
– Ưng ý chớ anh Bốn?
– Cắn câu chớ anh Bốn?
Anh nói lì xì:
– Tớ nói không được là không được.
– Vì lẽ gì chớ? Cô ta con nhà tử tế, cũng được gái, công tác tốt lắm mà.
– Cô ấy là kế toán hả?
– Ừ, kế toán thì sao?
– Kế toán chớ sao – anh nói gọn lỏn – không được.
Bẵng đi một thời gian, chúng tôi “gài thế” mời một cô làm công tác thư viện đến nhà tập thể chúng tôi. Cô ta tên là Xuyến, khoảng 32 tuổi, có dáng dong dỏng cao, ăn nói lịch sự. Hẳn là hợp với anh lắm. Chúng tôi vồn vã pha nước cho anh chị rồi lặng lẽ bỏ đi. Đêm ấy, chúng tôi hỏi anh:
– Đám này được chớ?
– Không được.
– Sao lại thế? Cô ta nhanh nhẹn, có học thức, con nhà tử tế mà.
– Mà cô ta làm thư viện phải không? Anh hỏi chúng tôi.
– Đúng rồi, có khối sách cho anh đọc.
Anh ta nói như kẻ chán đời:
– Quả là làm thư viện. Không được đâu các cậu ơi.
“ Thế thì cứ để cho ông ta chết già”, chúng tôi nghĩ vậy và suốt cả năm liền không nhăm nhe làm mối đám nào cho anh nữa.
Một hôm, có một chị khoảng gần bốn mươi tuổi, không đẹp nhưng trông có duyên, công tác ở Hội Phụ nữ đến xưởng chúng tôi xin tiền để làm lễ 8-3. Xin nói thêm rằng: xưởng chúng tôi là cơ sở kinh tế, cũng ăn nên làm ra nên nhiều cơ quan đến xin tiền, xin quà: Thiếu niên nè, Công đoàn, Hội Văn nghệ nè…
Mấy anh em chúng tôi ngồi tiếp chị bên bàn trà. Tất nhiên là phải cho tiền rồi, họ là phụ nữ mà. Nhưng chúng tôi còn nói đùa thêm rằng: muốn có tiền, chị phải làm mối cho anh Bốn, thủ trưởng chúng tôi một cô thật “ngon”. Chị ta cười nói:
– Các anh cứ cho đi. Còn anh Bốn tôi sẽ làm mối cho, cơ quan tôi có khối cô.
Tưởng chị ta nói thế để xong việc là quên ngay. Nhưng một tuần sau chị ta gọi điện đến:
– Có mối rồi. Mời anh Bốn đến chỗ tôi: Phòng số 26, tầng 2, nhà Y.
Anh Bốn Cổn không chịu đi. Anh đã chán cái trò làm mối này lắm rồi. Nhưng chúng tôi thúc mãi anh cũng ừ ừ è è. Để “trấn áp” anh và đề phòng anh bỏ cuộc, tôi mượn honda hộ tống anh tới tận cổng. Anh vô rồi, tôi vẫn nhìn theo cho chắc ăn rồi mới quay về.
– Thế nào?-Sáng hôm sau chúng tôi hỏi – Đám này được không, anh Bốn?
Anh ta chỉ ừ è:
– Chưa tới đâu.
– Bây giờ ra sao rồi?
– Chưa…chưa…
Một tháng sau, anh ta tuyên bố sẽ cưới vợ. Chúng tôi vui mừng lắm, tụm nhau bàn việc tổ chức cho anh. Bất chợt, anh Hồng, một kỹ sư đã có vợ hỏi:
– Nhưng mà anh cưới ai, sao lại không “trình diện” anh em?
Anh Bốn lúng túng:
– Thôi mà…thôi mà.
– Hay anh đùa bọn này?-Chúng tôi đề phòng.
– Có mà…có mà. Hôm cưới sẽ hay.
Chúng tôi nhao nhao:
– Nói đi anh Bốn.
– Chuyện xảy ra ra sao anh Bốn?
Bị thúc ép, anh ta đỏ mặt quay về phía tôi mỉm cười:
– Cậu Quyên nhớ chớ? Hôm ấy cậu chở tôi đến nhà Y.
– Nhớ rồi. Nhớ rồi. Nhưng chuyện gì sau đấy chớ? Anh gặp vợ tương lai ra sao?
– Rài rài (1) đã – Anh Bốn nói giọng thủng thỉnh-mình vô nhà, mình gõ cửa…
– Ờ, thì vô nhà phải gõ cửa chớ. Nói nhanh đi anh Bốn.
– Chị cán bộ phụ nữ hôm nọ mở cửa ra, mời mình ngồi, rót nước cho mình uống và mỉm cười nhìn sang cửa phòng bên cạnh…
– Từ đó chị Bốn tương lai sẽ hiện ra hả?
– Chị ấy son phấn choáng lộn lắm hả?
Anh Bốn vẫn nói giọng rề rề:
– Mình ngồi vừa uống nước vừa ngó theo hướng chị ta nhìn, tim giật thon thót. Có gì đâu. Một mặt mình muốn thấy cô ấy hiện ra, một mặt mình cứ sợ gặp cô ấy. Mình cứ nhấp nhổm không yên.
– Thì sao nữa anh Bốn?
– Thế là nàng xuất hiện nè, áo dài màu hồng nè, miệng cười lỏn lẻn nè, phải không anh Bốn?
Anh Bốn xua tay:
– Không phải vậy. Thấy mình nhấp nhổm, chị ấy phá lên cười nói: “Không có ai đâu”.
Tất cả chúng tôi như vỡ cả tim, đồng loạt hét lên:
– Trời, nói dối, nói dối trơ trẽn.
– Lừa người ta. Trời ơi.
Tôi nhanh nhảu:
– Thế rồi anh tức quá, anh bỏ về, đi lang thang như trong tiểu thuyết và gặp chị bây giờ phải không?
– Ờ…ờ..Anh Bốn nói lấp lửng.
Cả bọn lại nhao nhao:
– Câu chuyện ra sao anh Bốn?
– Hấp dẫn quá ta.
– Như là tiểu thuyết ấy.
Anh Bốn vuốt tóc, ngồi nghiêm chỉnh, có lẽ chuẩn bị kể lại “thiên tình sử” kỳ lạ của mình. Anh nói:
– Có gì đâu. Chị ta cười lần nữa rồi nhìn thẳng vào mặt mình nói…
– Bả nói đùa cho vui, bả xin lỗi phải không anh Bốn?-Tôi hỏi.
– Cái cậu này cứ lanh chanh-Anh Bốn giả bộ nghiêm mặt-bả nói rằng: “Cái anh này lạ quá. Làm mối cái gì nữa. Anh vốn là giải phóng quân, tôi vốn là quân giải phóng. Anh chưa vợ, tôi chưa chồng. Anh không xấu, mà xem tôi có xấu đâu. Anh ăn tập thể. Vậy thì chuyện gì không để tôi nấu cơm cho anh ăn, vá áo cho anh mặc mà phải đi làm mối cho người khác…”
Bọn chúng tôi cười rộ lên, thú vị đến bất ngờ. Còn anh Bốn thì đỏ mặt lên, giọng anh lắp bắp như một kẻ cà lăm:
- Cái bà…cái bà…Nói cứ như thật ấy.
VỢ CHỒNG NGƯỜI LÍNH
Ở các đơn vị bộ đội làm kinh tế trên Tây Nguyên, ta thường thấy bên cạnh những dãy lán tập thể dài, đơn sơ, bao giờ cũng có những ngôi nhà nhỏ, xinh xắn gọi là “nhà hạnh phúc” do chiến sĩ ta tranh thủ giờ rảnh dựng lên cho những cặp vợ chồng họ nhà lính.
Khách xa đến đội 4, đội của trung đoàn chăn nuôi bò cũng gặp kiểu nhà “hạnh phúc” như thế. Đó là nhà của chị Lan và anh Khang. Ngôi nhà tranh nhỏ nhắn vuông vức, vách lát nứa vừa kín đáo lại vừa chống được lạnh. Trong nhà, lính ta đóng cho đôi vợ chồng một chiếc giường đôi, một bộ bàn ghế, một chiếc tủ đứng bằng gỗ tạp xin từ các trung đoàn khai hoang về. Trên nóc tủ, anh Khang có đặt một khuôn ảnh lồng kính mang từ quê vào. Khuôn này rộng, đủ dán hàng chục chiếc ảnh cho cả gia đình từ cha mẹ, vợ chồng đến con cái. Nhưng trong khung ảnh chỉ có ảnh Khang và Lan. Họ có vẻ còn ngượng ngùng nên hai chiếc ảnh để cách nhau hàng gang tay. Anh là cán bộ ở Phòng Kỹ thuật, chuyên lo việc xây dựng các đập nước. Chị là Đội phó đội 4. Mang tiếng ở cùng một sư đoàn nhưng họ ít gặp nhau. Thành thử nhà họ còn vắng vẻ, không có chiếc sào phơi tã lót trước sân, không có tiếng trẻ khóc oe oe, và cũng chẳng thấy một cô bé hoặc chú bé mắt ngộ nghĩnh như mắt chim vụt biến vụt hiện.
*
* *
Chiều nay, Khang cưỡi một chiếc xe hon-đa đen bám đầy bụi hồng phóng một mạch từ đơn vị, theo đường 21, về thăm nhà. Tới đỉnh dốc Ta-ki, anh dừng xe lại. Dưới chân dốc, đội 4 hiện lên giữa thung lũng Krông-Ding, trải dài từ rặng Chư Pao cao vòi vọi ở phía Nam đến sông Krông Năng xa trông như một sợi dây mỏng mảnh ở phía bắc. Sau những dãy lán dài của đơn vị là ngôi nhà nhỏ của vợ chồng anh. Khang cho xe lao nhanh. Khi gặp cầu số 3, chiếc cầu bắc qua con suối lớn bắt nguồn từ ngọn Chư Pa đổ ra sông, chợt thấy mấy con bò đang gặm cỏ, anh đi chậm lại, hú gọi thử có Lan ở đấy không rồi lắc đầu, mỉm cười đưa mắt ngắm đồng cỏ giữa nắng chiều. Đến lối rẽ vào đơn vị, nghe tiếng các cậu lính trẻ đang chơi ở sân bóng chuyền reo lên, anh vui vẻ rù máy thật to phóng qua khu doanh trại, bay luôn về phía nhà mình ở đằng sau. Cửa nhà vẫn khép hờ, chắc là Lan đang chăn bò đâu đây sắp về. Anh tắt máy hon-đa nhảy ra sân trước bắt tay anh em rồi rút bao thuốc Đrao ra mời. Khuôn mặt anh rám nắng, đôi môi lúc nào cũng như đang cười. Khang ham hoạt động lại hay nói vui tếu nên nhiều người ưa gần anh nói chuyện.
Chị nuôi đánh kẻng báo giờ ăn, anh xuống bếp lấy hai suất cơm, lững thững về nhà. Lan vẫn chưa về. Anh ngó ra chuồng bò, bứt rứt. Anh mở xắc lấy quyển “Một số bệnh của gia súc và cách trị” mang về cho Lan ra đọc để chờ Lan. Rồi anh lại đặt sách lên bàn, chạy ra hè đứng nhìn.
Đã sáu giờ chiều. Mặt trời lặn để lại những ráng đỏ trên ngọn Chư Pa. Đàn bò lũ lượt vào chuồng. Khang vẫn không thấy bóng Lan đâu. Anh quay về nhà, hý hoáy lục soạn cái tủ, rồi khuôn ảnh cho đỡ sốt ruột.
Lan bước vào. Chị mặc bộ quân phục đã cũ, mặt đỏ lựng. Hình như cái nắng mùa khô ở đây đã trút cả lên da mặt chị. Dáng mảnh khảnh dễ chừng chị cao hơn anh một cái đầu. Mắt chị trũng sâu, môi hơi thâm sau những đêm mất ngủ và những cơn sốt rét. Anh giả vờ lặng lẽ làm việc. Biết chị vừa cất nón xong, anh ngẩng lên hỏi như mới nhác trông thấy chị:
– Làm gì mà giờ mới về.
– Khổ quá, con bò khoang trắng lại say nắng. Trưa nay, nó kiệt sức nước mắt nước mũi trào ra, bốn chân nó dạng háng, đầu cúi xuống trông đến thương. Em đang chăn bò phải giao lại cho cậu Thắng, đưa nó vào chỗ mát, múc nước giội, giờ nó mới đỡ.
Chị với chiếc khăn treo trên sợi dây căng màn bước ra vò nước sau hè để rửa mặt. Quay vào nhà, chị ngồi xuống chiếc ghế trước mặt anh và hỏi:
– Đập Ê-a-ka xong rồi chứ anh?
– Xong rồi, chuyển sang làm tiếp Ê-a-Đui. Được nghỉ một bữa mượn hon-đa của thằng Tuấn về chút, mai lại đi.
– Mai lại đi? Chị lặp lại, mắt tròn xoe nhìn anh.
– Ờ, bận lắm, hết đập này đến đập khác, làm liên tục chứ lỵ.
– Thế thì về làm gì cho khổ.
Anh hơi bực.
– Chứ cô không muốn tôi về sao?
– Không muốn. Chị cười.
– Thế mà cứ bảo em thích có chú nhóc để bồng. Người ta không về lại kiến nghị lên Sư đoàn bảo là không quan tâm phụ nữ đấy.
Chị cầm cái khăn còn ướt quất quất:
– Cái anh này cứ làm như trẻ con ý.
– Chứ đâu có con mà làm người lớn.
Chị cười. Mắt chị bỗng nhìn lên khuôn ảnh. Chị ngạc nhiên quá. Anh đã cắt hình trái tim lồng ảnh hai người vào đó hồi nào.
– Cái ông này làm gì kỳ lạ thế này.
Anh xoa xoa bộ râu lâu ngày không cạo, nhìn chị cười. Đã ba tháng nay hai vợ chồng mới gặp nhau. Nhưng lần nào cũng như lần nào, hễ gặp nhau là họ lại “trẻ con” với nhau. Chị chợt nhớ ra điều gì liền đứng dậy, tay với chiếc đèn lồng đặt ở góc bàn nói:
– Ồ, em quên mất. Em định vào lấy viên thuốc an thần cho con bò khoang trắng, gặp anh mải chuyện, giờ em phải đi đây. Anh ăn cơm trước đi nhé.
– Thì ăn đã. Cứ tất ba tất bật.
Chị chạy vọt ra ngoài. Anh đứng nhìn theo hơi bực mình. Nhưng rồi, anh lại mỉm cười.
Vốn ở cùng làng, hai người đã có cảm tình với nhau từ lâu. Hồi Khang còn ôm cặp đến trường Đại học Thủy lợi, Lan đã là tổ viên tổ chăn nuôi hợp tác xã. Năm 1966, học xong, Khang với chiếc mũ tai bèo trên đầu về thăm quê để vào Tây Nguyên, gặp Lan, Tổ trưởng tổ Chăn nuôi đang chỉ vẽ cho chị em cách chăm sóc lợn đẻ. Xa nhau, chẳng ai nhận được thư ai. Nhưng Lan vẫn biết về Khang, ấy là vì, chị hay đến thăm bà cụ Khang, gánh nước thổi cơm hộ cụ. Năm 1975, Khang về phép. Bấy giờ, Khang đã 35 tuổi, còn Lan 28. Người làng gặp hai người vừa băm bèo vừa cười nói bên trại chăn nuôi. Ít lâu sau bạn bè rủ nhau mua hoa đến tặng họ.
Cưới xong, Lan xin nhập ngũ vào Tây Nguyên xây dựng kinh tế để gần chồng. Chẳng ngờ, vào đây mỗi người một nơi, thỉnh thoảng mới gặp nhau. Lần trước Khang vừa bén gót đến sân nhà đã thấy Lan vội vã khép cửa cầm nón bước ra. Đụng đầu nhau, Lan cười cười, xin phép Khang rồi nhảy vọt lên chiếc xe đang nổ máy đậu ở góc sân để đến đoàn 754 lấy mật mía về cho bò uống. Hôm sau tới đứng bóng Lan vẫn chưa về. Lần này rồi cũng vậy cho coi. Khang thở dài, nhìn theo dáng Lan đang tất bật đi về phía chuồng bò.
Khu chuồng ở giữa đồng cỏ, nằm về phía bắc doanh trại 300 mét, lợp tôn, sạch sẽ. Chuồng xây xa nhà thì hợp vệ sinh, nhưng cũng có cái bất tiện. Bữa trước, Lan viết thư buồn bã báo cho Khang là một hôm, chị vừa đổi trực sang cậu Mực, cậu này ngủ gật để hổ xông vào bắt mất một con bò mập ú. Một lần, bọn Phunrô lẻn đến đốt chuồng cướp bò. Đơn vị đang ngủ, bật dậy, truy kích diệt hai tên, bắt sống một tên. Hắn khai, bọn hắn có liên lạc với bọn Pônpốt xâm lấn biên giới. Đơn vị cảnh giác hơn. Ngoài thời gian quy định huấn luyện quân sự hàng năm, giờ mỗi tuần anh em lại tập thêm ngày thứ bảy. Đi chăn bò cũng phải mang súng. Lan ngày càng bận, sức khỏe có yếu hơn trước. Lần này được trên bồi dưỡng cho mấy hộp sữa, anh mang về cho Lan. Khang nhớ lại mấy tháng trước, Lan gởi cho anh cái áo len. Chiếc áo được chắp vá đủ các màu xanh, tím, đỏ như áo trẻ con. Bạn bè cầm đi quảng cáo khắp nơi, cười vỡ bụng.
Khang bước lại nhà mấy cậu cùng chơi bóng với anh hồi chiều, tán gẫu. Ngồi một lúc lại thấy chán, anh quay về. Mâm cơm đặt trên bàn đã lạnh. Anh ngồi xuống ghế, rót nước uống, nghĩ đến các chuyện sắp nói với Lan. Anh sắp được nghỉ phép. Anh muốn Lan cùng đi. Từ ngày vào trong này, đã ba năm, chưa về phép. Lần cưới vội vã quá, bà ngoại Lan chưa biết mặt Khang, nhắc mãi. Ông bác Khang phàn nàn không gặp cháu dâu. Chiều nay, nói chuyện với anh Chủng, Đội trưởng, anh ấy cũng ủng hộ việc Lan đi. Anh định bàn với Lan đưa mẹ vào. Bố anh mất sớm, chị cả lấy chồng ở Phú Thọ, anh rể Khang hy sinh ở Khe Sanh. Mẹ Khang vò võ sống một mình ở quê hương ven sông Kinh Thầy.
Trời tối đã lâu rồi. Từ dải Chư Pa đến bờ Krông-Năng thảo nguyên trải dài trong màu tím sẫm. Ở vùng cao, bầu trời như rộng hơn, sâu thẳm và xanh biếc hơn mọi nơi. Những ngôi sao như to hơn những ngôi sao ở quê hương. Khang bước ra cửa, nhìn về phía chuồng bò. Bóng đèn dầu nho nhỏ cứ hiện rồi biến. Rồi ngọn đèn di động về phía anh. Ánh đèn lúc cao lúc thấp, tất bật như dáng bước của Lan. Anh chạy ra đón Lan. Lan cũng chạy vội về phía anh, reo lên vui vẻ:
– Con bò khoang trắng đỡ rồi. Đầu nó đã mát lại.
Chị đi thẳng ra vò nước rửa chân tay rồi bước vào nhà. Khuôn mặt chị bỗng hiền hậu dễ thương lạ. Dưới ánh đèn, môi chị như mọng đỏ lại. Khang thấy thương vợ quá. Anh kéo tay vợ về phía mình. Chị mỉm cười:
– Có bỏ tay ra không, chưa ăn uống gì, đói chết đây.
Nhân lúc hai tay chị vắt khăn lên dây, anh vội kéo chị vào ngực mình. Má chị khét nắng. Anh đặt môi vào đó. Chị để yên cho anh hôn rồi ngồi xuống ghế:
– Chà cơm ngon quá, thịt hộp ở đâu đấy?
– Làm tăng năng suất, đơn vị bồi dưỡng cho, đem về “u em” cùng ăn.
Chị lườm:
– Còn chân rỗi tay không mà cứ “u em” họ cười chết.
– Kêu sơm sớm cho nó vừa.
– Còn muôn năm.
Hai người cùng ăn một cách ngon lành. Anh gắp cho chị một tảng thịt, hỏi đùa:
– Sao, đói lắm à, anh em đâu mà mỗi mình em “tích cực” mãi vậy.
Lan rủ rỉ:
– Tình hình đơn vị em, anh biết rồi đấy. Trong đại đội toàn anh em trẻ, ham ngủ ham chơi. Có tay lười ở các đơn vị sản xuất thì họ đưa về đây, như nước dồn chỗ trũng. Dạo này, đơn vị càng phân tán. Một bộ phận lớn phải ra tận sông Krông Năng gây đồng cỏ mới, chuẩn bị cho kế hoạch chăn nuôi lớn của sư đoàn. Cỏ ở đây nhiều nhưng không tốt anh ạ. Chúng em cần trồng cỏ Păng-gô-la, cỏ sữa, cỏ ống, cỏ voi, bắp non… như ở các nông trường miền Bắc ấy. Một bộ phận lo làm phân, chuyển phân đến các đơn vị sản xuất. Tiếng là một C, giờ chỉ còn anh Chủng, em, cậu Thắng với số ốm dở, làm bữa được bữa không mà phải chăn dắt tới 600 con bò.
Chị dừng lại, húp một miếng nước rau rồi nói tiếp:
– Việc này chúng em có đề nghị lên trên giải quyết. Nhưng trên cũng thiếu người. Em với anh Chủng bàn về tổ chức mãi. Anh em còn trẻ, còn ngại khó. Mình cần phải tổ chức, động viên, đi trước, họ mới làm theo. Công việc mới chạy được.
Anh đặt bát xuống, cúi người về phía chị hỏi nhỏ:
– Sao hồi anh bảo em vào trong này em cứ nói em sợ sốt rét, với “bắt em xa Hợp tác xã mình em chết mất”. Giờ thì không chịu về chứ.
Chị nũng nịu:
– Cứ trêu tức mãi. Đấy về thì về. Đây còn muôn năm.
Chị lại cúi xuống, ăn ngon lành. Mắt anh âu yếm nhìn chị. Có lẽ chị đói lắm. Mà cả ngày đầy nắng, quần với lũ bò nghịch ngợm sao mà không đói được.
– Này, “mẹ cu”?.
– Đừng nói vậy, anh.
Anh nhượng bộ:
– Lan này, anh sắp về phép, em xin đơn vị cùng đi với anh nhé.
Chị đột ngột dừng đũa, kêu lên:
– Ối giời! Anh về trước đi. Mùa khô cỏ hiếm, bò tóp cả hông kia kìa. Mà mùa này bò lại đẻ rộ nữa chứ. Em sợ khéo không đạt chỉ tiêu mất-Chị nói nhỏ lại như giải thích-May mà đội này ở thung lũng gần sông Krông Năng nên cũng còn chút ít cỏ tươi chứ như ở vùng cao khác thì nguy. Mùa mưa vừa qua chúng em cắt cỏ dự trữ cũng khá. Này, bọn em phải đi lùng khắp các con suối để kiếm cỏ tươi về cho bò ăn thêm nên mới đỡ đỡ ấy chứ-Chị cười, tiếp-Mà mấy ông tướng nhà em có biết phân biệt cỏ nào ngon cỏ nào không đâu. Chúng nó là học sinh mới ra lò mà.
– Thì mình phải truyền kinh nghiệm chứ. Anh chống chế.
– Cũng muốn thế. Nhưng từ từ anh em mới làm theo được. Mùa mưa em đi vậy nhé. Chị nói nhẹ nhàng.
Anh nhìn chị chăm chăm:
– Còn việc nữa, anh tính đưa mẹ vào, Sư đoàn đã đồng ý, em nghĩ sao?
– Thế mà anh cũng hỏi. Bên em thì chả lo. Bố mẹ ở với anh chị Hòa. Còn mẹ thì sống một mình. Giờ đưa vào cũng là muộn rồi đấy.
Anh im lặng một chút rồi tiếp:
– Anh tính mua cho em một cái áo len mới. Áo em cũ quá rồi.
– Vẽ chuyện-chị lắc đầu-áo cũ mặc không được sao.
Thì thôi, anh chịu vậy. Nhưng anh lại bàn đến cái khác:
– Ta mua bộ ấm chén trà nhé. Mang tiếng là mình có gia đình nhưng anh em tới chơi không có cái cốc, uống bằng bát trông chướng quá.
– Tùy anh đấy.
Bữa cơm đã xong. Khi Lan xếp đặt giường chiếu để đi nghỉ thì bỗng Thắng, một cậu trai khoảng 18 tuổi, mặt non chọet, người ở Phú Khánh, vừa chạy vào vừa thở hổn hển:
– Chị Lan ơi, con bò cái cụt sừng đi đâu mất tiêu rồi. Hồi xẩm giờ em không thấy nó.
– Nó lạc à, em báo anh Chủng chưa. Có lẽ nó sắp đẻ. Con bò này khi đẻ hay đi đẻ trộm lắm đấy.
Thắng gãi gãi đầu:
– Dạ, em không dám báo cáo, em sợ.
– Sợ gì. Em báo cáo để anh Chủng cho thêm người đi với em vào hướng núi Voi gần suối Cầu Ba tìm. Chị sẽ đi về rừng khộp hướng sông Krông Năng, con bò này hay đi về hướng ấy.
Thắng vẫn đứng yên nói lúng túng:
– Dạ em sẽ đi. Hồi chiều em thấy con bò cái biếng ăn, bước lơn tơn, đụng đám cỏ nào cũng nếm qua mấy ngọn rồi đi. Vú nó sệ xuống. Em thấy nó có vẻ sắp đẻ, mà em quên báo chị. Em khuyết điểm quá-Thắng bước ra cửa-Thôi em đi báo anh Chủng chị nghen!
Thắng vụt biến. Khang chết điếng. Anh về nhà có một đêm, sáng mai đã đi rồi, mọi chuyện chưa kịp bàn gì với vợ cả lại xảy ra cái chuyện trời ơi đất hỡi này nữa. Chán thật.
Lan quay về phía Khang:
– Anh nghỉ trước, em đi tìm con bò tí nhé.
Lan với cây súng treo ở vách, cầm đèn bước ra ngoài. Cùng lúc ấy, có tiếng người ơi ới gọi nhau và ánh sáng những chiếc đèn lồng, đèn pin lướt qua nhà anh, đi về hướng núi Voi. Khang thấy bứt rứt không yên. Sao lại để Lan đi một mình. Anh giở xắc lấy đèn pin chạy theo gọi:
– Lan ơi, chờ anh đi với.
Trong giây lát, Khang thấy Lan đứng sững. Nhưng rồi chị lại tiếp tục chạy nhanh như cũ. Khang vội vã đuổi theo. Dưới vòm sao quen thuộc, thảo nguyên mơ màng, hiện ra trong màu trắng nhờ nhờ. Rải rác đó đây nổi lên những bóng đen bí hiểm. Nếu không phải là người đồng cỏ thì khó mà phân biệt được đâu là những gò đất, những nhà mả của đồng bào dân tộc, đâu là những tảng đá hay những lùm cây. Đột nhiên, tiếng những con chim cun cút, chim te te cất lên thấp thoáng ở một khóm cỏ đâu đó.
– Chú ý kẻo vấp đấy anh. Lan quay lại nói.
Bây giờ, Khang đã bước kề sau Lan. Chân anh vấp đá mấy lần. Anh nghĩ thương vợ. Biết bao đêm chị phải thức để tìm bò như kiểu này. Có lẽ, anh phải gửi mua cho chị một đôi ủng. Có ủng, thế nào Lan cũng mừng. Vừa nghĩ, anh vừa nhìn bóng vợ chập chờn ở phía trước. Thỉnh thoảng, chị dừng lại giơ đèn rọi vào bụi rậm, gọi “ù pò” khe khẽ. Lòng anh thấy vui vui khi anh sắp mang đến một niềm vui cho vợ. Bất ngờ, Khang vấp một búi cỏ rồi ngã nhào. Lan đứng lại nói:
– Không quen mà cũng đi. Nhỡ bọn trẻ nó biết nó bảo lúc nào chồng cũng bám theo vợ đấy.
– Vợ mình mình bám chứ bám ai nào. Khang bực bội.
Lan cười to. Tiếng cười của Lan bao giờ cũng ngọt ngào. Khang nghe mà tưởng mình có chết đi cũng ráng ngồi dậy uống lấy tiếng cười ấy. Nó đằm thắm làm sao.
Khang nhổm dậy phủi quần áo, miệng xuýt xoa, tấp tểnh chạy theo Lan. Chẳng mấy chốc, trước mặt hai người đã hiện ra một cánh rừng khộp. Lan đứng lại giơ đèn lên, ngẩng mặt ngắm suốt dãy rừng như suy tính điều gì. Sau đó chị chầm chậm bước vào, hết nhìn phía trước lại nhìn xung quanh miệng gọi bò khe khẽ. Khang bước sau vợ, bắt chước theo từng động tác. Một lúc sau, hai người đã đứng giữa cánh rừng. Mùa khô, khộp rụng lá trơ những thân cây. Một cơn gió nhẹ thổi qua, tốc lên những chiếc lá khô ròn nghe lạo xào. Cao ngang ngực họ là những vạt tranh úa, lá sắc và nhám. Mấy lùm gai xấu hổ dưới chân lá rụi, chìa ra những lưỡi gai như xương cá.
Lan bỗng dừng lại nói với Khang:
– Anh nên đi cách xa em một đoạn, lỡ có Phunrô nổ súng, hai đứa ở gần nhau không tiện đâu.
Lan bước đi mấy bước rồi quay lại:
– Ai hỏi mật hiệu: Trường. Anh đáp Sơn nhớ. Mình đề phòng kẻo anh em đi từ núi Voi ra, giáp mối họ bắn nhầm.
Khang mỉm cười, định nói với Lan một điều gì đó thật vui. Bất giác, anh quay nhìn về hướng núi Voi. Từ phía xa, những ánh đèn lồng, đèn pin loang loáng. Anh em hú gọi bò vang cả đồng cỏ. Những cánh rừng như hực sáng lên. Đời người lính-Khang nghĩ-khổ mà vui như vậy đấy. Mải nhìn, anh lạc mất Lan. Khang nhắm hướng hồi nãy Lan đi bương tới thì gặp một con khe. Mùa khô, khe cạn nước, để lộ ra những tảng đá to nhỏ lởm chởm. Lúng ta lúng túng một hồi lâu, anh vẫn chưa biết đi ngả nào. Chợt anh nghe tiếng hú của Lan ở phía trước. Anh níu một cây khộp bước ào lên bờ khe, lách qua những bụi sậy khô, những lùm gai xấu hổ. Càng nghe rõ tiếng hú, anh càng chạy nhanh. Một lúc sau, anh gặp Lan đang đứng bên gốc kơ-nia. Trong mùa khô, cây kơ-nia vẫn che một tán dù lá xanh tươi, không úa vàng như những loại cây khác. Trước mặt Lan, con bò gãy sừng, mình đẫm mồ hôi đang liếm một cái bọc trắng to, lầy nhầy. Thấy hai người, nó vui vẻ cất tiếng kêu “ù pò” như báo tin mình đã xong việc. Đôi mắt nó trông ngộ nghĩnh như mắt một đứa trẻ.
Lan trao súng cho Khang nói:
– Bò đẻ bọc, anh cầm đèn soi cho em mở bọc nhé.
– Xin chấp hành. Còn việc gì nữa “u em” ra lệnh tôi thực hiện nốt. Khang đùa.
Lan cúi xuống phía cái bọc rồi ngẩng lên:
– Soi đèn gần đây, anh!
“Nhất trí thôi” Khang cười nói rồi ngồi xổm xuống bên Lan. Anh thấy Lan thành thạo lắm. Hai tay cầm cái bọc xé ra như trẻ con xé chiếc bong bóng hơi. Từ sau tay Lan hiện ra một cái đầu bê rồi cả con bê.
– Anh bấm tắt đèn pin ba lần để báo tin anh em là ta đã tìm được bò, cho anh em về. Rồi, anh lùa hộ bò mẹ cho em ôm bê.
– Anh ôm bê cho, em yếu ôm không nổi đâu.
– Anh không quen làm việc này. Con bê của em còn yếu quá.
Đêm đã về khuya, trời se se lạnh. Một cơn gió thảo nguyên xoáy ào qua những trảng tranh. Lan ôm bê hổn hển đi trước. Khang mang súng, lùa bò mẹ theo sau. Thỉnh thoảng bò mẹ chạy rướn lên xô vào vòng tay Lan ngửi ngửi mình bê như người ta hôn con. Tới chuồng, anh em ở hướng núi Voi cũng vừa về. Anh Chủng, Đội trưởng, một người cao gầy, bị thương mờ mất một mắt, cười nói với Khang:
– Anh Khang vất vả quá. Anh về nghỉ trước đi. Bọn tôi lo công việc tiếp theo cho.
Khang còn ngần ngừ thì Lan giục:
– Thôi anh về nghỉ, mai lại đi. Bọn em còn lót rơm cho bò con nằm, pha nước đường cho bò mẹ uống-Chị định nói thêm điều gì, bỗng sững lại nhìn tay áo anh-Ơ, mà áo anh bị rách tay kìa, tý nữa về em vá.
Khang lững thững ra về. Khi anh đặt chân lên thềm nhà thì nghe tiếng gà đã gáy te te. Sắp sáng rồi. Anh lên giường cố nhắm mắt một chút, lấy sức để về tới đơn vị có thể bắt tay làm việc ngay. Nhưng mãi anh vẫn thao thức, nghĩ lan man từ chuyện này sang chuyện khác. Anh ngồi dậy, thắp đèn tranh thủ vá chỗ áo rách. Chợt nhớ ra điều gì, Khang tự nhủ:
– Mình nấu nước pha sữa cho Lan uống vậy.
Khang ngồi nhìn ngọn lửa bốc xanh dưới nồi. Trời bên ngoài sáng dần. Nước vừa sôi thì Lan bước vào. Áo quần đẫm mồ hôi, tóc rối bời, khuôn mặt chị hốc hác nhưng vẫn tươi tỉnh:
– Anh nấu nước uống đấy à, chết, nhà mình hết chè rồi anh ạ.
– Anh nấu nước pha sữa cho em đấy.
– Thôi đi, em không quen uống sữa.
– Đã thế thì thôi. Khang nói bực mình.
Lan mỉm cười:
– Em nói đùa đấy, anh đừng giận. Thôi, pha cho anh em uống cả thể. Em đi gọi anh Chủng với bọn nó đây.
– Có ít mà, gọi anh Chủng thôi.
Lan ngập ngừng:
– Em bảo này. Con bò cái cụt sừng mới đẻ yếu quá ta cho nó uống sữa nữa nhé.
– Ờ, tùy em. Khang nói nhỏ.
*
* *
Buổi sớm đầy sương mù báo hiệu một ngày nắng to trên thảo nguyên.
Lan vội vã thu dọn nhà cửa rồi xuống bếp tập thể lấy hai suất bắp bung về. Mọi lần, Lan ăn bắp với muối rang. Nay có chồng về, chị đãi thêm tấm đường đen của đơn vị phân phối. Hai người ăn vội rồi đứng dậy. Khang đi sửa cái vít lửa, Lan đi về phía chuồng bò. Khi Khang dắt xe ra khỏi doanh trại thì đã thấy Lan mang súng lùa bò ra đường 21 rồi. Sáng nay, Lan sẽ chăn bò về hướng cầu số 3. Nhân tiện chị tiễn đưa anh một đoạn đường.
Đã tới chân dốc Taki, Lan dừng lại nói bịn rịn:
– Thôi anh đi nhé. Cố giữ gìn sức khỏe. Anh đi…
Krông Pách 12-3-1978
NHỮNG CĂN PHÒNG KHÔNG BAO GIỜ MỞ CỬA
Lâu lắm tôi mới có dịp trở lại thành phố này. Sau bữa ăn chiều tại một quán cơm bình dân, tôi chợt nhớ khách sạn tôi đang ở gần nhà một người bạn nên tìm đến thăm chơi. Bạn ở trong một khu tập thể có nhiều nhà giống nhau. Tôi chỉ còn nhớ mang máng phòng bạn ở có con số 9, hình như là 29 thì phải. Ngôi nhà bạn ở sát đường lớn vào khu tập thể, đối diện với một vườn hoa, đâu như nhà A1 hay B1 gì đấy, sau nó kéo dài cả dãy A2, A3, B2, B3… Khi tìm đến khu tập thể tôi càng lúng túng hơn. Bây giờ ở mặt tiền các ngôi nhà, hàng quán mọc lên, lấn cả ra vỉa hè, che kín cả các cầu thang. Chẳng bì thời bao cấp, ở các khu nhà tập thể kiểu này thật vắng vẻ, đi lại chỉ gặp bọn trẻ con đá bóng trên đường.
Trước tiên, tôi tìm đến nhà A1. Chữ A1 to tướng ở ngay đầu hồi. Tôi đứng sững sờ trước nhà để nhớ lại mình phải vào cầu thang nào, vì mỗi nhà có 3 cầu thang. Có lẽ đó là cầu thang giữa. Tôi đang ngơ ngẩn nhìn qua các gian hàng để tìm cầu thang giữa thì một người đàn ông đeo kính cận dáng vẻ một nhà báo mà tôi quen từ trong một gian hàng bước ra. May quá, mình có thể hỏi nhờ được rồi. Ở các khu tập thể này hầu hết là cán bộ công nhân viên nhà nước mà.
– Làm gì ông ngó trừng trừng thế ! Ông quan sát gì thế? – Tôi chưa kịp mở miệng hỏi thăm thì người đó nói to.
– Tôi tìm phòng một người bạn không được sao ?
– Thì mặc ông – người đó gắt – nhưng đừng ngó trừng trừng vào các gian hàng như một tên do thám vậy.
Tôi tức điên, máu nóng bốc lên mặt, muốn xông đến tát cho hắn một cái nhưng tôi cố nín nhịn. Tôi lại gần cầu thang. Dưới ánh điện mờ mờ, tôi thấy một bà già có khuôn mặt khắc khổ, mặc bộ quần áo nâu bạc cũ đang ngồi bán nước chè tươi.
– Mời cậu xơi nước chè. Bà vẫy tôi.
– Dạ, cảm ơn, cháu chỉ muốn tìm phòng một người bạn.
Bà nhanh nhảu:
– Cậu tìm phòng số mấy.
– Dạ 29, hay 39 gì đấy ạ.
– 29 lên tầng 2, 39 lên tầng 3. Bà nói rồi chỉ lối cho tôi lên gác.
Tôi bước theo cầu thang tôi tối lên tầng 2. Phòng 29 ở đâu nhỉ ? Cả tầng 2 không có phòng nào đề số, tất cả các cửa đều đóng kín. Từ trong đó vẳng ra tiếng nhạc, tiếng người. Tôi định gõ cửa một căn phòng nào đó để hỏi thăm nhưng sợ phiền, đành rón rén đi đi lại lại nhìn nhìn ngó ngó các cánh cửa phòng. Chợt có một cánh cửa ở một căn phòng hé ra. Một người đàn ông chừng trên 40 tuổi, râu ria xồm xoàm, dáng to béo đang bê một thùng gì đó, có lẽ thùng đựng ti vi hay cát sét xăm xăm lại phía cầu thang.
– Thưa anh, cho hỏi phòng số 29
– Anh hỏi ai. Anh ta gắt.
– Anh Tùng ạ.
– Cả nhà này không có ai tên Tùng – Anh ta vừa đi xuống cầu thang vừa nói – Vô duyên.
Tôi bắt đầu nghi hoặc mình: Có lẽ không đúng nhà này rồi. Tôi bước xuống cầu thang ra đường giữa lúc bà bán nước hỏi với theo:
– Cậu tìm ra chưa ạ ?
– Dạ chưa. Ở đây không có anh Tùng bạn cháu bà ạ.
Bà chép miệng:
– Khổ, có lẽ nhà này không có ai tên Tùng thật. Cậu sang nhà bên thử có không.
Thế là tôi sang nhà B1. Nhà này cũng sát đường, cũng đối diện với vườn hoa. Nhưng ngày xưa dễ nhận ra vườn hoa hơn, giờ ở vườn hoa cũng đầy quán xá, nhất là các quán cà phê, giải khát chớp nháy đèn xanh đèn đỏ. Bây giờ, tôi rút kinh nghiệm là nên hỏi thăm những người phụ nữ lao động thì dễ hơn các ông quan và các ông bà chủ mới. Vừa lúc đó, tôi gặp một chị bán chè khoảng trên 50 tuổi dáng dấp cũng khắc khổ như bà bán nước chè ban nãy, cũng ngồi bán bên một cầu thang. Xúm bên chị có vài cậu bé chừng 7, 8 tuổi.
– Chị có biết ở phòng 29 nhà này có anh nào tên Tùng không chị? Tôi hỏi.
– Nhà này có 2, 3 anh Tùng, chẳng rõ ở phòng nào nhưng có đó. Anh lên gác thử xem.
Thế là tôi lại bước lên gác. Ở tầng 2, các phòng đều không có ghi số và cũng đều đóng cửa như ở nhà A1. Tôi đang định đánh liều gõ cửa một phòng để hỏi thì nghe có tiếng chân người từ tầng trên đi xuống. Tôi chạy lại cầu thang. Trước mắt tôi là một ông chừng 60 tuổi, gọn gàng cao ráo trong bộ đồ vét đen. Cạnh ông ta một bà chừng trên 40 tuổi, áo dài, mùi son phấn sực nức. Có lẽ họ đi dự đám cưới hay dự lễ hội.
– Xin bác cho hỏi anh Tùng phòng 29.
– Ở tầng 5. Ông ta nói nóng nảy.
– Dạ nghe nói phòng 29 ở tầng 2 mà.
– Vậy thì ông đi mà hỏi, đây chỉ biết Tùng ở tầng 5 thôi. Ông ta nói nhanh rồi kéo bà vợ xuống cầu thang.
Tôi do dự một lúc rồi cũng bước lên tầng 5. Vốn bị hen nên leo nhiều tầng cao tôi rất mệt. Lên đến tầng 5 tôi lại gặp tình trạng như cũ: các phòng đều không có số và đều đóng cửa. Trời nóng như thế này sao mọi cửa đều đóng nhỉ ? Tôi nghĩ. Có lẽ họ đóng cửa để mở điều hòa hay quạt máy. Thời kinh tế thị trường mà. Tôi nhớ những năm thời bao cấp, ở các nhà khu tập thể như thế này, đêm đến mọi người thường mở cửa thông thống, ở trần, xách ghế ra hành lang ngồi nói chuyện râm ran. Dạo đó, nếu ta hỏi thăm ai thì mọi người săn đón trả lời và từ tầng 1 gọi với lên tầng 2, tầng 3, tầng 4, tầng 5 báo trước cho người chủ nhà có khách đến như đó là khách chung của cả nhà vậy. Còn bây giờ…
Tôi đang đi đi lại lại ngoài hành lang mong chờ một ai đó xuất hiện để hỏi thăm thì chợt một cánh cửa mở đánh “rầm”. Ngay trước mặt tôi xuất hiện một phụ nữ chừng trên dưới 50 tuổi dáng dấp như một trưởng phòng cấp Bộ hay cán bộ cấp Sở mà ta vẫn thường gặp.
– Anh làm gì mà đi đi lại lại mãi ở tầng này thế – Chị ta hất hàm hỏi tôi – Tôi ngồi trong nhà nghe mà sốt ruột.
– Tôi tìm phòng 29 ạ. Tôi nói nhỏ nhẹ.
– Xuống tầng 2 – Chị ta nói như quát – Có ai tìm phòng 29 mà lên tầng 5 như anh không – Chị ta gằn giọng – mà anh muốn gì đây chứ.
Tôi đi xuống cầu thang, không ghé lại tầng 2, mà vội vội vàng vàng xuống thẳng mặt đất. Chị bán chè đon đả hỏi tôi:
– Anh tìm được anh Tùng chưa ạ ?
– Dạ, được rồi, cảm ơn chị.
Tôi nói rồi bước như chạy để tránh xa những ngôi nhà ấy, những ngôi nhà có những căn phòng không có số, cửa đóng im ỉm như chẳng bao giờ chịu mở ra để đón tiếp một ai cả.
Đà Nẵng, 4-1998
NGƯỜI KHÁCH ĐẾN PHÒNG TÔI
I-TRUYỆN THỨ I:
NGƯỜI KHÁCH ĐẾN PHÒNG TÔI
Vào một buổi chiều tháng Tư nóng nực, tôi đang ngồi định viết một cái truyện ngắn thì có một người đàn ông lạ mặt bước vào.
– Xin lỗi – Tôi nói giọng hơi bực mình – Anh ở đâu đến ?
– Xin lỗi – Anh ta nói – Tôi là Tĩnh, anh không biết tôi sao ?
– Tôi chưa hề nghe ai nói đến anh…
– Thế thì…- Anh ta nói – Anh nghe đây, tôi là Tĩnh, tôi là Tĩnh mà anh không biết ư ? Đúng anh là đồ…đồ…
Tôi sửng sốt nhìn anh ta. Còn anh ta không thèm nhìn tôi, cứ tự động kéo ghế ra ngồi. Anh ta khoảng chừng 37, 38 gì đó, dáng gầy, mí mắt thâm quầng, đôi mắt đùng đục hơi bị lạc. Theo kinh nghiệm nghề nghiệp, tôi đoán rằng anh ta là một người bị bệnh tâm thần. Trên tay anh ta cầm một xấp giấy, cứ thò thò thụt thụt nửa như muốn đưa cho tôi nửa lại thôi.
– Tôi không muốn đưa cho anh xấp giấy này – anh ta nói – Tôi là Tĩnh mà anh không biết. Anh là đồ…đồ quan liêu, tôi ghét bọn quan liêu, tôi ghét anh.
Tôi hơi mất bình tĩnh nhưng lại trấn tĩnh được vì nghĩ mình là nhà văn, mà nhà văn thì hay gặp người này người nọ: kẻ tỉnh cũng có, người điên cũng có, kẻ láu cá cũng có, người thật thà cũng có. Ngày nào mà tôi không gặp hàng chục người đến quấy rầy.
– Anh là đồ quan liêu, anh không chuyển cho tôi đâu, tôi không đưa cho anh – Anh ta nói.
– Nhưng mà cái gì mới được chứ ? – Tôi hỏi.
– Gì mới được chứ ? – Anh ta nhại lại – Đúng anh là đồ quan liêu, nên không biết trong tay tôi cầm thứ gì.
Tôi cảm thấy nhụt chí với cái kiểu nói chuyện cù cưa cú cứa này nhưng chợt nghĩ có lẽ anh ta đang bực bội điều gì đấy nên cố làm thân thử xem anh ta định làm gì. Đối với một nhà văn, âu đó cũng là điều hay.
– Hút thuốc lá nhé – Tôi mời.
– Thì hút – anh ta đáp và đưa tay rút một điếu Đà Lạt.
– Anh cầm gì đưa tôi xem – Tôi hỏi và giơ tay định rút xấp giấy trên tay anh.
– Tôi không đưa vì anh là đồ quan liêu, anh không biết tôi – Anh ta nhìn tôi mắt như nảy lửa – Anh không bao giờ nghe nói đến tôi, không bao giờ gặp tôi sao ?
– Có thể gặp anh rồi mà tôi không nhớ, nhiều người đến nhà tôi quá mà.
– Anh là nhà văn, tôi hỏi người ta rồi mới đến đây mà anh lại không biết tôi. Ai mà không biết tôi, không gặp tôi ? Kẻ nào đi kiện, chạy mọi nơi mà không được giải quyết là tôi đấy. Nhà văn phải biết đến những người nghèo khó, những người bị oan ức mà anh không biết tôi.
Tôi nghĩ mình đã đoán đúng việc của anh ta nên cố gắng gỡ tiếp mối dây mắc míu này.
– Nhưng mà chuyện của anh ra làm sao chứ ?
– Anh mà còn hỏi – Anh ta nói – Việc tỏ rành rành mà anh còn hỏi. Tôi đã từng là biệt động thành, đánh bao nhiêu trận, bị thương đầy mình, kẻ thù không giết được tôi, bây giờ đồng đội lại giết tôi.
– Giết ? – Tôi chồm người về phía anh ta – Có kẻ âm mưu giết anh ?
– Ừ, giết – Anh ta nhìn tôi, nói.
– Bằng cách nào ?
– Chúng tham ô, tôi tố cáo, chúng đuổi việc tôi, cho tôi chết, vợ tôi chết, con tôi chết. Tôi không về. Tôi nằm tại Công ty gào thét suốt năm ngày đêm liền. Chúng không giải quyết. Tôi quyết định mổ bụng để chúng thấy lòng dạ tôi theo Đảng. Chúng thây kệ. Chúng bảo mày đã mổ bụng thì cứ để cho mày chết.
– Cho chết ? – Tôi hỏi.
– Ừ, cho mày chết, chúng nó nói. Vợ tôi phải thuê xe xích lô chở tôi lên bệnh viện khâu lại. Lành vết thương là tôi đi kiện. Tôi kiện ầm hết mà anh không biết.
– Kiện? Ở đâu? – Tôi hỏi.
– Tôi đưa giấy tờ cho Ban Giám đốc, chúng bảo tôi bị tâm thần, chúng xé. Tôi chạy lên Ban Kiểm tra. Ban Kiểm tra bảo tôi bị tâm thần, họ cười. Tôi gởi lên tỉnh, họ bảo tôi bị tâm thần, họ im. Tôi lại viết đơn kiện. Giờ thì tôi không biết làm gì ?
– Kiện lên Trung ương – Tôi nói.
– Tôi không biết ai ở Trung ương – Anh ta nói – Họ bắt tôi lên ô tô đưa vào bệnh viện tâm thần, bắt tôi ở trong bệnh viện tâm thần. Lúc vắng người tôi lại ngồi viết đơn nhờ họ gởi cho bác Tổng Bí thư nhưng họ không gởi. Họ bảo tôi bị tâm thần họ không gởi.
– Bây giờ anh tính sao ? – Tôi hỏi.
– Tôi đến để nhờ anh gởi giùm mà anh không biết tôi. Tôi không đưa đơn cho anh. Những kẻ quan liêu đều không biết những người oan ức, những người khổ.
– Tôi cũng khổ, tôi không quan liêu đâu.
– Có người khổ cũng quan liêu. Tôi đi kiện khắp nơi mà anh không biết tôi, anh không biết ai hết.
– Có lúc tôi cũng bận chứ – Tôi nói – Làm sao mà theo dõi hết mọi chuyện được.
– Đáng ra – Anh ta nói – tôi vào nhà anh, anh phải hỏi ngay: Tĩnh đấy à, đơn viết xong chưa, đưa đây coi. Tao là nhà văn, tao sẽ sửa chữa chỗ này chỗ nọ cho nó lịch sự, cho nó trúng ý mày rồi tao gởi đi cho mày, mày yên trí. Việc của mày sẽ được giải quyết. Thế là vui. Cảm ơn anh. Không có chi. Tôi về. Ừ mày về nhé.
– Bây giờ tôi sẽ nhận đơn của anh để chuyển dùm cho anh nhé.
– Không, anh là đồ quan liêu, anh không chuyển cho tôi. Anh không biết tôi là Tĩnh, tôi chạy kiện nhiều nơi mà anh không biết.
Anh ta hầm hầm nhìn tôi rồi xô ghế cái ầm, đứng dậy và nói :
– Tôi về !
Tôi cũng nói nho nhỏ, giọng tắc nghẹn:
– Ừ, thôi anh về.
II- TRUYỆN THỨ II:
NGƯỜI CỘNG TÁC VIÊN CUỐI CÙNG
Tuần nào, cứ chiều thứ 4 và chiều thứ 6 anh ta cũng đến phòng tôi, đến rất đúng giờ, cái giờ mà người ta đã nghỉ việc. Trên tay anh ta là một xấp giấy. Quen rồi, nên tôi biết đó là xấp bản thảo thơ mà anh ta sáng tác:
– Anh cho tôi gửi vài bài thơ-anh ta nói-Những bài thơ này tôi tâm huyết lắm. Anh đọc giùm tôi, nếu thấy được thì đăng cho…
Tôi nhìn sững anh ta, chẳng biết nói gì. Đâu chỉ lần này, mà nhiều lần rồi, anh ta vẫn đến đưa thơ cho tôi và nói:
– Anh cho tôi gửi vài bài thơ. Thơ tôi hay lắm, tâm huyết lắm. Anh đăng cho.
– Ừ, ừ, tôi sẽ cố gắng đọc để đăng – Tôi nói dối anh ta vì làm sao có thể đăng thơ của một người bị bệnh tâm thần – Anh về nhé, tôi có khách mới đấy.-Tôi vừa nói vừa chỉ vào một bạn đồng nghiệp hoặc một cộng tác viên mà ở nhà tôi chẳng lúc nào vắng để tống khứ anh ta.
“Thằng cha tâm thần ấy mà”-Tôi nói với bạn bè như vậy và chúng tôi cùng nhau cười ha hả.
Nhưng đó là lúc tôi còn làm Tổng biên tập. Bây giờ cái chức ấy là của người khác, còn tôi, tôi được cho nghỉ hưu non. Cái việc không còn làm Tổng biên tập cũng gây cho tôi nhiều nỗi buồn. Các bạn đồng nghiệp chẳng còn ai đến chỗ tôi để thảo luận về bài vở nữa. Còn những cộng tác viên khác thì họ đến làm chi. Nghĩ cho cùng, tôi đâu còn là cái tích sự gì để họ dùng tôi. Vậy mà đã hai tháng nay, từ ngày tôi thôi làm Tổng biên tập, cứ hàng tuần anh ta lại đến, đúng ngày, đúng giờ để đưa thơ và mong tôi đăng bài cho.
Tôi cảm thấy bực mình vì sự quấy rầy dai dẳng của anh ta. Nhưng vờ lịch lãm như mình vẫn còn làm Tổng biên tập, rót nước mời anh ta uống và hỏi qua loa những câu chuyện mà tôi đã biết rồi để mau mau tống khứ anh ta ra khỏi phòng cho yên.
– Dạo này anh viết có nhiều không?
– Nhiều. Anh thấy đấy, tôi đâu còn việc gì mà làm.
– Sao lại thế?
– Ở cơ quan, tôi tố cáo bọn chúng tham nhũng. Chúng cho tôi thôi việc. Lấy cớ giảm biên chế để cho tôi thôi việc. Tôi hỏi lý do tại sao cả cơ quan chỉ có mình tôi thôi việc. Chúng bảo tôi thiếu năng lực. Tôi hỏi tại sao trước đây Ban Giám đốc khen tôi có năng lực. Chúng nó bảo trước đây thì khá, giờ kém đi. Cứ nhùng nhằng vậy vậy, tôi không chịu về. Tôi nằm ở Công ty la hét suốt năm ngày đêm yêu cầu Ban Giám đốc giải quyết mà họ không chịu giải quyết.
– Thế rồi sao nữa?
– Tôi tức quá viết đơn kiện. Nhưng chúng nó có thế thần bảo tôi bị tâm thần nên không ai chịu nghe tôi. Tôi ức quá, đụng đâu tôi cũng chửi chúng. Thế là một hôm, chúng cầm giấy của bác sĩ nói tôi bị bệnh tâm thần, cho tôi lên xe chở vào nhà thương tâm thần. Lúc rảnh tôi viết đơn kiện và làm thơ.
– Thơ? Anh viết cái gì?
– Thơ tôi tố cáo chúng. Anh cứ xem. Anh đăng nhé. Tôi thấy báo anh chống tiêu cực nhiều nên tôi mới gửi. Anh đăng cho mọi người biết. Tôi tin một Tổng biên tập như anh.
– Tin?
– Tin quá đi chớ. Ai mà không tin những người làm báo, những Tổng biên tập…
Khuôn mặt anh ta thật thà quá đỗi làm cho tôi áy náy. Quả thật, những lần trước, sau khi anh ta đi rồi, tôi có xem thơ anh. Đúng là thơ anh có viết những điều anh bị oan ức. Nhưng nó cũng rất lộn xộn…rất là tâm thần. Lần sau, anh ta lại đến đưa thơ mới, không hỏi gì các bài cũ, coi như cái việc đưa đến tay tôi là đã được đăng rồi. Vì thế, tôi không bị thúc ép, truy hỏi như các cộng tác viên khác. Nhưng lần này, lần này tôi không thể nói dối được:
– Tôi không thể đăng thơ cho anh!
– Sao? Sao không thể đăng được, anh là Tổng biên tập mà, anh có quyền mà, thơ tôi hay lắm, tâm huyết lắm, anh giúp tôi với…
– Tôi?
– Anh!
– Tôi không còn làm Tổng biên tập nữa!
Anh ta nhướn mắt lên như ngạc nhiên rồi mỉm cười:
– Tôi biết.
Bây giờ tới tôi ngạc nhiên trố mắt nhìn anh:
– Sao anh biết?
– Tôi biết chớ. Anh tưởng tôi bị tâm thần tôi không biết ư? Tôi đâu có bị tâm thần. Họ bắt tôi vô nhà thương tâm thần, bảo tôi bị tâm thần, thành ra tôi bị tâm thần…
– Anh biết vậy sao anh vẫn đến đây?
– Ủa – anh ta nhìn tôi vẻ ngạc nhiên-Anh không muốn tôi đến sao? Tôi đến không làm cho anh vui sao?
– Không, không phải vậy- Tôi nói, lần này thật sự cảm động vì anh ta biết tôi thôi làm Tổng biên tập mà vẫn đến-Tôi muốn nói là vì sao anh còn đến để đưa thơ cho tôi đăng khi tôi không còn là Tổng biên tập.
Anh ta mỉm cười:
– Tôi biết là hồi giờ anh đâu có chịu đăng thơ cho tôi. Tôi đã định không đến đưa thơ cho anh nữa rồi. Nhưng nghe anh không còn làm Tổng biên tập nên tôi lại…
– Để làm gì vậy?
Anh ta cười, vỗ vai tôi:
– Để làm gì à? Để anh thấy mình vẫn còn bạn bè, để anh thấy mình vẫn còn cộng tác viên…để anh…
Anh đứng bật dậy, nắm tay tôi lắc thật mạnh rồi bước ra cửa. Anh chẳng biết rằng, phía sau anh, tôi cứ đứng lặng lẽ nhìn theo…
III- TRUYỆN THỨ III:
TÔI VẪN CÒN LÀ TỔNG BIÊN TẬP
-Hé hé…
Tôi đang chăm chú đọc bản thảo truyện ngắn của một cộng tác viên để đưa vào số báo tới thì nghe có tiếng cười ở phía cửa, sau lưng tôi.
– Chào Tổng biên tập, làm gì mà chăm chú thế?
Bực mình vì bị quấy rầy, tôi giận dữ quay lại. Thì ra Tĩnh. Tôi cảm thấy người dịu lại, bỏ bút xuống, mỉm cười.
– Mời vào chơi.
– Vào chớ – Tĩnh nói – Được tin anh được vời ra làm lại Tổng biên tập cả tháng nay nhưng bị ốm không đến thăm được. Có lỗi quá, nay đến mừng anh.
Tôi cảm thấy vui vui nhưng giả bộ bất cần:
– Có gì đâu. Mấy tháng qua họ cho mình nghỉ, nay chưa có người thay họ bảo mình làm lại, thì mình làm, vậy thôi.
– Vậy tôi mới đến…
Nhớ lại lúc “bỉ cực” chỉ có anh ta là đến với mình thôi nên tôi vui vẻ rót nước trà ngon và chìa bao thuốc lá Con Mèo mà một cộng tác viên vắng mặt từ lâu, sáng nay đến đưa cái truyện ngắn tôi đang đọc và tặng trà thuốc cho tôi:
– Mời bạn thân mến.
Tĩnh đẩy bao thuốc lá về phía tôi:
– Sang quá. Tôi quen hút thuốc Đà Lạt như hồi anh thôi làm Tổng biên tập.
Tôi vẫn say sưa với niềm vui mới, chưa hiểu hết ý Tĩnh:
– Có gì đâu. Họ nhờ đọc cái truyện, biếu gói trà, bao thuốc lá để mình tỉnh táo “nghiên cứu cho kỹ”, được thì đăng. Cũng như mình đọc giùm thơ cậu dạo trước ấy mà…
– Nhưng anh đâu có đăng thơ tôi.
– Cái đó thì…-tôi ấp úng.
– Thì dở…thì của kẻ tâm thần chớ gì?
Tôi lại ấp úng phân bua:
– Không, không phải thế, đừng trách mình. Mình có đưa cho anh em biên tập thơ nhưng không thấy họ đưa lại. Nếu mình ép họ đăng thì họ bảo mình thiếu dân chủ…
Tĩnh vẫn khăng khăng:
– Nhưng anh là Tổng biên tập, anh có quyền quyết định mà.
– Nhưng…nhưng mà…
Tĩnh hỏi độp:
– Nhưng lần này…cái truyện của anh bạn vừa tặng trà thuốc thì anh đăng chớ?
– Được thì đăng chớ.
– Biên tập viên đã đồng ý chưa?-Tĩnh hỏi gặng.
Tôi cảm thấy hơi bực:
– Chưa đưa…Nhưng sao cậu cứ dây vào chuyện của tòa soạn người ta thế. Cậu quả là…
– Là kẻ tâm thần, là đồ dớ dẩn chớ gì – Tĩnh tiếp lời.
Tôi thật sự bực mình nhưng cố ghìm lại. Cái anh chàng có đôi mắt bị lạc này như một cái bóng gắn liền với đời tôi.
Cách đây mấy tháng, sau khi cho ra mấy số báo “có vấn đề”, tôi bị đình chỉ chức Tổng biên tập. Nhà tôi trước đây nhộn nhịp khách thì giờ đây trở thành cái chùa bà Đanh. Chỉ có anh ta – hàng tuần, vào chiều thứ hai và thứ sáu – lại đến an ủi tôi. Những ngày ấy, tôi không bao giờ thấy ở anh ta biểu hiện một chút gì của người bị bệnh tâm thần. Anh ta thật thông minh, tỉnh táo. Vậy mà giờ đây, trong mắt tôi, anh ta quả là một kẻ bị bệnh tâm thần nặng, nặng không thể chữa được.
– Hôm nay cậu đến có việc gì không? – Tôi sẵng giọng.
– Đến để…-Anh ta lấp lửng- Tôi nghĩ tôi đến để mừng anh.
– Cảm ơn. Chứ không đến để đưa thơ chống tiêu cực nữa chứ? – Tôi nói để ngăn chặn việc đưa thơ của anh ta.
– Đưa làm gì nữa. Báo anh độ này đâu cần thứ thơ tôi…
– Đúng – tôi dịu giọng – phải uyển chuyển theo thời cuộc chứ.
– Để được lòng…để giữ yên cái ghế Tổng biên tập chớ gì?
Tôi mếch lòng:
– Anh đừng nói thế. Báo chí mỗi lúc mỗi khác chứ.
– Vì chí khí của Tổng biên tập có khác trước phải không?
– Thì sao? – Tôi hỏi giọng khiêu khích.
Anh ta im lặng một chút rồi nói thủng thẳng:
– Thì làm Tổng biên tập làm cóc gì cho khổ…khi anh chỉ muốn vừa lòng…khi tờ báo của anh không còn bạn đọc nữa…
Tôi bực tức:
– Anh nói cứ như…
– Đồ tâm thần chứ gì- anh ta tiếp lời tôi – Họ bảo tôi như vậy từ lâu rồi. Tôi tưởng anh nhìn tôi khác hơn họ. Giờ thì anh cũng nhìn giống như họ. Anh cũng như họ. Anh không khác chi họ, khi anh…
– Xin mời anh…
– Ra cửa chứ gì! Tôi biết rõ sự việc sẽ như thế. Cũng như tay Giám đốc của tôi vậy. Khi tôi phát hiện ông ta tham nhũng, với tình đồng chí, tôi nói với ông ta…ông ta cũng bảo tôi như vậy- Anh ta đứng bật dậy-Chào anh.
– Rõ là đồ tâm thần- Tôi rủa theo khi anh ta bước ra cửa.
Nghe tiếng bước chân anh ta huỳnh huỵch đi xuống cầu thang, tôi biết anh ta sẽ chẳng bao giờ đến phòng tôi nữa. Tự nhiên, tôi muốn chạy theo gào lên, gào to lên để gọi anh ta trở lại. Nhưng chân tôi không nhúc nhích được, miệng tôi chẳng thể mở ra. Tôi ngã phịch ngay xuống chiếc ghế tôi vẫn ngồi làm việc…
Đà Nẵng 1990 – 1991
CHUYẾN MÁY BAY…CÒN LÂU MỚI BAY…
( hay Một truyện nhỏ thời bao cấp )
Tôi là một nhà nghiên cứu về di truyền học. Tôi đang công tác ở một vùng núi heo hút thì được điện của cơ quan báo đến.”Ngày 25-7 tỉnh N. mở hội nghị bàn việc phát triển giống cây cam lai vải của anh. Họ mời anh vào dự. Anh có thể tìm cách đi thẳng vào đấy, không cần về cơ quan, cho kịp ngày”. Từ mấy năm nay, cái giống cây lai này cứ ám ảnh, dằn vặt tôi hoài, bởi lẽ hầu hết đồng nghiệp trong cơ quan cũng như một số nhà khoa học cứ dè bỉu, cười cợt tôi đã làm một việc quái gở. Bản thân tôi, tôi cũng mất tự tin. Vậy mà may, cách đây mấy tháng, tôi được thư của các anh lãnh đạo từ tỉnh N. báo ra là thí nghiệm đã thành công, đang chuẩn bị để phát triển giống, vì vậy, cuộc họp này đối với tôi rất quan trọng. Nhưng cầm bức điện trên tay tôi hết sức bối rối. Sắp tới ngày họp rồi, mà phương tiện đi lại thời buổi này lại rất khó. Trước mắt tôi, hiện lên con đường dài đầy vất vả với những ngày dằng dặc nằm vật vã ở các bến xe, những đêm ôm gối chờ đợi đổi tàu , và những lúc đứng trong hàng dài bất tận trước phòng bán vé máy bay, để đến lượt mình nhận về chữ “hết”…
Tôi mượn xe đạp của một người bạn ra bến xe huyện để mua vé về thành phố H., từ đó tìm cách đi tiếp. Nhưng ở cái huyện heo hút này lại ít người đi xa, nên lâu lâu mới có một chuyến xe. Ba ngày liền, tôi bực dọc, lo lắng. Ngày thứ tư, như một trận gió, một người bạn công tác ở Ủy ban Huyện xông ào vào phòng tôi. Tôi phàn nàn việc đi lại thì anh cười:
– Tôi vừa đi công tác về. Tôi có nghe bà xã nói về chuyện vất vả chầu chực mua vé của anh nên đến đây báo tin này cho anh : ở thành phố K. bên cạnh có máy bay đi N. Mai cơ quan tôi có xe sang đó, tôi gửi anh đi kèm, đến đó anh mua vé rồi vù chứ có chi mà lo.
Tôi hết sức mừng rỡ, nhưng còn chưa tin hẳn:
– Làm gì có. Sân bay bên đó hư từ lâu đã sửa đâu.
– Đây, ai nói dối ông – bạn tôi rút từ trong cặp ra một tờ báo ném xuống bàn – báo bên đó đăng tường thuật lễ khánh thành sân bay và ghi ngày giờ các chuyến bay đi các nơi đây.
Tôi vồ lấy tờ báo, đọc ngấu nghiến, hết sức vui sướng, nhưng khi nghĩ đến việc chầu chực mua vé lại lo lắng:
– Có thì có nhưng ngơ ngơ như mình thì bao giờ mới mua được vé.
Anh bạn tôi mỉm cười, nói :
– Biết nhà khoa học chẳng chú ý gì đến đời sống cụ thể nên tôi có viết sẵn hai lá thư cho hai người bạn bên ấy. Hai người đều có thế lực. Ông đưa thư tôi, họ sai nhân viên mua ngay, hấp một cái ông đã tới N.
Anh rút từ trong cặp ra hai lá thư đưa cho tôi, cười bảo :
– Này, bùa hộ mệnh đây. Mai đi khỏe. Tôi về.
Tôi sung sướng, suốt đêm không ngủ được. Thì ra, lâu nay cứ lo lắng với công việc của mình, tôi không biết được rằng chung quanh tôi mọi cái đều phát triển.
Trưa hôm sau, tôi đã đến thành phố bên cạnh. Dù lâu ngày, muốn thăm lại thành phố, tôi vẫn kiên quyết lo vé cho yên tâm. Tôi cầm lá thư thứ nhất đến một ông Giám đốc Sở. Tôi gặp ông khi ông đang đứng bên một chiếc xe con. Xem xong thư, ông nói với vẻ quan trọng:
– Này anh ạ, không hoàn thành việc của bạn tôi giao, tôi áy náy lắm. Anh thông cảm cho, tôi đang có việc quan trọng…
Giữa sự bối rối hụt hẫng của tôi, ông ta thì thầm :
– Tôi vừa được điện của ông Chủ tịch Tỉnh gọi đến để đọc diễn văn nhân cuộc họp báo quan trọng bàn về việc xây dựng một tượng đài đồ sộ vào hạng…hạng nhất thế giới, còn anh – Ông đột ngột nói to lên – Anh cứ đến phòng vé mà mua, chả khó gì. Tôi chưa đến đó, nhưng nghe nói nó đồ sộ, khang trang, phục vụ nhanh nhạy lắm.
Ông ta lên xe và vù luôn. Lá thư thứ nhất bay vèo như chiếc lá mùa thu. Tôi vội đến một ông Giám đốc xí nghiệp để đưa lá thư thứ hai.
Ngay trước cổng xí nghiệp, cờ, khẩu hiệu được căng lên như ngày hội. Người gác cổng xem giấy tờ tôi rất lâu rồi nói :
– Xí nghiệp tôi đang tổng kết thành tích sáu tháng cuối năm, Giám đốc ra lệnh không cho ai gặp ông trong tuần này.
– Cho tôi gặp một chút thôi, tôi có thư – Tôi nằn nì.
Người gác cổng nhăn nhó :
– Ông này lạ thật. Đã bảo không gặp được là không gặp được. Một cuộc tổng kết thành tích sáu tháng chứ có phải chuyện chơi đâu.
Vốn biết những người gác cổng, những người thủ kho bao giờ cũng to hơn thủ trưởng, nên tôi tỏ ra nịnh nọt khen ngợi xí nghiệp rồi rút thuốc ra mời ông ta để hỏi đường đến phòng bán vé máy bay. Ông ta vui vẻ chỉ đường, rồi nói :
– Xí nghiệp tôi làm lợi cho Nhà nước hàng triệu đồng. Tuần này tổng kết, có trên xuống, bạn bè các xí nghiệp khác sang, ra vào tấp nập, lợn bò đổ gục hàng chục – ông nhìn tôi nói như quát – ông biết vì sao phải làm vậy không? Ông không biết đâu. Để cho cấp trên và quan khách vui lòng, phát huy thành tích mình lên cho các nơi hay biết.
Tôi đến phòng bán vé máy bay. Quả như ông Giám đốc Sở nọ đã nói. Đây là một ngôi nhà hai tầng, khang trang. Trước cửa có một tấm biển đồ sộ ghi các chuyến bay, ngày giờ cất cánh. Tôi mừng hú, bước vào một phòng rộng, không có người sắp hàng chen chúc, những tiếng quát tháo của nhân viên bán vé như ở một số nơi mà chỉ có một cô gái nhàn rỗi ngồi trên một chiếc ghế dài đọc sách say mê, nhìn bìa, có vẻ là một tập chưởng hay một truyện tình. Tôi vui sướng nghĩ bụng, có lẽ nơi đây ít người mua vé, nên mình đỡ vất vả…
– Thưa cô – Tôi cất giọng rụt rè.
Cô gái ngửng đầu nhìn tôi rồi lại cắm cúi đọc sách.
– Thưa cô.
Cô ta nói xẵng :
– Ủa, anh cần gì cứ nói đi.
Tôi vốn không quen xun xoe trước các thủ trưởng dù là thủ trưởng của mình, nhưng trước giai nhân này tôi phải mỉm cười nịnh nọt:
– Thưa cô, ở đây có phải phòng bán vé máy bay…
– Ủa, anh mù à. Không thấy biển đề à.
– Dạ, dạ, tôi muốn mua một vé đi N.
Mắt cô ta trô trố, con ngươi như muốn bay ra khỏi tròng mắt, nhìn tôi như một kẻ từ cung trăng mới xuống.
– Đi anh (N) với đi em (M). Ở đây làm gì có bán vé máy bay.
Tôi ấp úng:
– Tôi không lầm ạ. Biển đề rõ ràng…
Cô ta cất tiếng cười, mỗi lúc một to hơn. Rồi như không thể nào nhịn được nữa, cô ta ôm bụng mà cười, cười ngặt nghẽo.
Một lúc lâu sau, có lẽ do nhìn thấy vẻ lúng túng của tôi, động lòng thương hại, nên cô cố nhịn cười, làm cho tai cô, mặt cô đỏ tía :
– Sân với chả bay. Biển với quảng cáo. Có tiếng cả đấy. Nhưng làm gì có máy bay. Cái sân bay hư ba chục năm nay, ì ạch sửa mãi, chuẩn bị khánh thành, ông to bà lớn đến…xem lại thì nó bị lún mất, không bay được…Mười năm nữa, anh đến mà mua vé…
Cô ta lại ôm bụng cười tiếp cho hả cơn cười mà cô đã ráng nhịn để trả lời tôi. Còn tôi, lúc đó, tôi há miệng, đứng sững, không biết nên khóc hay nên cười trước cái tin đột ngột này. Mãi một lúc sau, tôi mới chợt hiểu ra và cay đắng nghĩ rằng : chỉ tại cái “ấy” mà gây nên tất cả. Cái tính phô trương, khoe khoang thành tích ở đâu đâu tôi cũng gặp phải, mà người ta đã dựng lên biết bao nhiêu là chuyện…Kể cả những chuyến máy bay…còn lâu mới bay…
1985
MỘT LẦN VÀ MÃI MÃI
Cứ trưa trưa, bọn trẻ chúng tôi lại rủ nhau tụ tập dưới tán những cây bàng ở giữa làng. Thằng Bá, một thằng mập ú, khôn ngoan và lanh lợi nhất trong bọn, đứng ra cầm đầu chúng tôi. Nó khinh khỉnh đưa mắt lướt qua để nhẩm đếm số lượng rồi phân chúng tôi ra làm hai nhóm. Xong đâu đấy, nó đưa hai ngón tay vào mồm huýt lên một hồi còi. Lập tức, chúng tôi xông vào cuộc quần nhau chí tử với quả bóng được bện bằng giẻ rách. Khi thấy chúng tôi mệt lử, thằng Bá lại đưa hai ngón tay vào mồm huýt lên một hồi còi nữa: ấy là hiệu lệnh cho nghỉ. Chúng tôi, đứa nào đứa nấy ngồi bệt xuống gốc cây bàng thở hổn hển. Một lúc sau, Bá lại đưa hai ngón tay vào mồm huýt lên một hồi còi nữa. Đó là hiệu lệnh bảo chúng tôi đến quán bà Bảy Nhiêu mua kẹo, mua đường “bồi dưỡng”. Lập tức đứa nào đứa ấy đều thò tay vào túi áo lôi ra những tờ bạc tín phiếu (1) nát nhàu mà chúng tôi cạy cục xin mẹ rồi chạy ù đi…
Quán bà Bảy Nhiêu nằm gần một khu mả đá, được bao bọc bởi những hàng rào bàn chải. Đó là một cái chòi tranh rách nát được dựng lên trước mặt một ngôi nhà tranh vách đất cũng rách nát như vậy. Trong chòi có đặt một cái bàn gỗ đã cũ, hai cái ghế băng cũng đã già nua như vậy, một cái đã hỏng mất một chân. Trên chiếc bàn gỗ có xếp mấy lọ kẹo, đường táng, những thứ mà bà con nông dân tự làm lấy.
Bà Bảy Nhiêu sống có một mình. Người trong làng không ai rõ chồng con bà đã mất từ lúc nào, mà cũng có thể là bà chưa hề có chồng con gì cả. Trước đây, mắt bà còn tinh nhưng độ hai năm nay bà bị lòa. Người ta bảo nhà bà ở gần động cát quá, nên gió thổi cát vào mắt nhiều lần, lâu ngày mà nó vậy.
Chúng tôi nhao nhao:
– Bán cho con một táng đường, bà.
– Bán cho con hai viên kẹo bi, bà.
– Bán cho con một táng đường, một viên kẹo bi, bà.
Bà Bảy Nhiêu run run đưa bàn tay trái lên cầm tiền của chúng tôi, bỏ ngay vào cái cơi trầu bà đặt dưới bàn, tay phải quờ quờ lục vào các lọ lấy kẹo, đường cho từng đứa. Hầu như không bao giờ bà đếm tiền. Bà tin chúng tôi.
Trưa hôm đó, sau hiệu lệnh của thằng Bá, tôi cho tay vào túi. Những tờ bạc lẻ mà mẹ tôi cho đã biến đâu mất. Tôi ngần ngừ một lúc nhưng nỗi thèm ngọt đã khiến cho tôi lủi thủi theo sau các bạn mong được “ăn ghẹ” của một đứa nào đấy. Giữa đường, nghĩ xấu hổ, tôi quay lại…
– Sao mày không đi mua đường, mua kẹo?-Thằng Bá đi phía sau hỏi tôi.
– Tao không có tiền.
Bá cười sằng sặc:
– Chớ hồi giờ tao đâu có tiền mà vẫn mua được kẹo.
Tôi ngạc nhiên:
– Chớ lâu nay mày mua bằng thứ gì?
Bá không trả lời ngay. Nó kéo tôi sát lại gần nó, rút trong túi ra mấy tờ giấy đã viết, được cắt gọn ghẽ như những tờ giấy bạc, nói thì thầm:
– Tao chuyên đưa bà Bảy những tờ giấy này. Bả mù, bả đâu có thấy – Nó ngừng một lát rồi tiếp – tao có ba tờ, tao cho mày một tờ. Mày đợi tụi nó mua xong, cuối cùng mình mới mua.
Tôi ngần ngại một lát nhưng cuối cùng cũng cầm tờ giấy lộn. Tôi có cảm giác khi cầm tờ “bạc giả” của tôi, mắt bà Bảy Nhiêu như có tia sáng loé lên. Nhưng bà không nói gì, vẫn bỏ nó vào cơi trầu và đưa táng đường đen cho tôi.
Ngày hôm sau, sự việc vẫn lặp lại y như hôm trước. Có điều, khi tôi và Bá đến quán thì không thấy có chuyện mua bán xảy ra. Các bạn đến trước đều đứng tụm lại giữa quán nhìn sững vào trong nhà bà Bảy. Trong nhà có tiếng người lao xao. Một bác nông dân quen biết trong làng đang ngồi trước cửa vừa giở cơi trầu của bà Bảy ra đếm tiền, vừa nói vọng ra:
– Tụi bay về đi. Bà Bảy trúng gió chết hồi hôm rồi.
Chúng tôi sững sờ, đứng im không nhúc nhích. Bác nông dân lẩm bẩm điều gì rồi quay vô nhà nói với ai đó:
– Số tiền này vừa đủ mua một chiếc chiếu gói bả đấy – im lặng một lúc rồi bác tiếp – bả mù mà tinh thật. Bọn xỏ lá nào đưa giấy lộn cho bả, bả cũng nhận rồi gói riêng ra…
Tôi và Bá đứng như chôn chân xuống đất. Sống lưng lạnh buốt.
Từ đó đến nay đã bốn mươi năm trôi qua. Bạn bè của tôi không còn đông đủ như trước. Mấy chục năm chiến tranh đã xáo trộn chúng tôi. Có những đứa hiền lành hồi đó, sau này lại trở thành những tên ác ôn khét tiếng đã bị ta diệt. Có những đứa vốn ngỗ ngược, sau này lại trở thành những du kích dũng cảm và đã hy sinh. Có nhiều đứa theo gia đình, bỏ quê xứ đi làm ăn xa. Thằng Bá bây giờ trở thành một nông dân, người gầy, rắn rỏi, ngày ngày đánh trâu cày trên những rộc cát khô khốc mong tìm từng củ khoai để nuôi bầy con cháu đông đúc. Riêng tôi may mắn, được đi tập kết, được học hành để trở thành một nhà văn. Cứ mỗi lần về quê, tôi lại rủ Bá ra thăm mả bà Bảy Nhiêu. Cả hai đứa đều đứng lặng, miệng lầm rầm cầu mong bà tha thứ…
Trong đời, có những điều ta đã lầm lỡ, không bao giờ còn có dịp để sửa chữa được nữa.
Đà Nẵng 1990
(Rút từ tập “Cuộc phiêu lưu của con chó nhỏ”-NXB Kim Đồng, Tháng 6/2003)
CHỊ BA CHẨN
Đã lâu, không thấy chị Ba Chẩn từ quê ra chơi, vợ tôi thỉnh thoảng lại nhắc:
– Sao lâu rồi chị Ba không ghé thăm vợ chồng mình hè? Chẳng biết chị có đau ốm gì không? Hay là lúc nào tụi mình về quê thăm chị một chút anh nghe.
Cái “lúc nào” ấy ít có dịp đến, bởi vốn đã làm cha mẹ của hai đứa con, chúng tôi lại vừa có thêm một bé gái nữa. Ngoài những lúc làm việc ở cơ quan hay đi công tác ra, về đến nhà, bu vào chăm sóc ba đứa nhóc giữa thời buổi khó khăn này cũng đã đủ phờ người ra rồi. Có được một lúc rảnh rỗi, đi dạo phố, ngồi uống một tách cà phê, tôi đã thấy đời lên hương, huống hồ vợ chồng con cái đèo bòng đi xa…
Chị Ba Chẩn là con ông bác ruột vợ tôi, nhưng chị với vợ tôi coi nhau như bạn bè, bởi hai người hình như đã hẹn hò ở đâu đó để sau này cùng khai chung một ngày sinh. Thuở còn sống, mẹ vợ tôi thường vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa tủm tỉm cười nói với vợ tôi: “Mày với con Chẩn chẳng khác gì chị em sinh đôi. Khi nó khóc oa oa bên kia hàng rào thì bên này mày đạp bụng tao ỷ ôi đòi ra. Thành thử từ khi mới biết chạy chơi, hai đứa đã quấn quít với nhau”. Bà cụ chỉ nói vui vậy thôi. Ai cũng biết là ngoài mối quan hệ ruột thịt, hai người thân nhau bởi cùng chung một cảnh ngộ. Hai ông cụ tham gia kháng chiến, cùng bị bọn Diệm bắt đi tù. Bà con làng xóm dẫu rất thương yêu cũng phải lánh xa hai tấm bảng đen ghi “gia đình Việt cộng” treo trước ngõ. Quanh quẩn cũng chỉ có hai nhà qua lại thăm viếng, giúp đỡ nhau. Đến ngày quê hương đồng khởi, hai chị em thường bá vai nhau đi sinh hoạt chi đoàn rồi sau đó cùng chụm đầu trên một trang giấy trắng viết đơn xin tham gia thanh niên xung phong. Điều thú vị hơn cả là nhiều lần cấp trên xốc đi xáo lại đội ngũ, cuối cùng hai người vẫn được phiên chế về một đơn vị vận tải thuộc Cục Hậu cần Quân khu.
Vợ tôi thường kể rằng: Hồi ấy các cô rất vất vả. Đơn vị làm nhiệm vụ cõng các loại hàng từ đường dây xã hội chủ nghĩa 1 xuống tận các đơn vị bộ đội đóng ở đồng bằng. Ngược lại, họ phải cõng gạo, muối, mì chính, dầu xà lách từ tít vùng sâu, len lỏi giữa những đồn giặc, băng qua những con đường máu, vượt bao sông bao núi lên tận cơ quan Quân khu. Nhiều lần các cô phải để xác đồng đội nằm lại bên một bờ rào dây thép gai, một trục đường lúc nhúc lính Mỹ. Bây giờ, các cô không còn nhớ nổi đã bao lần bị cối pháo dập giữa đội hình. Các cô băng bó, dìu nhau, gùi hàng bò lết đến bìa rừng. Có lúc, các cô bị trực thăng phát hiện, bắn xối xả, phải gùi hàng chạy ào giữa làn đạn. Đến nơi giao hàng xong, lại xuống tìm xác bạn. Mỗi người cõng một gùi đất, đắp mộ cho bạn. Xong đâu đấy, đứng bên mộ, khóc một hồi cho đỡ thương nhớ rồi bám đường đi tiếp. Có khi phải băng qua những con suối lũ, nước cuồn cuộn lao như một bầy trăn đỏ. Người đi trước vừa đặt chân lên bờ, nghe bạn kêu cứu ở phía sau, quay lại chỉ thấy dòng nước đục.
Các cô cứ đi như vậy ròng rã hết ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác. Có thời kỳ, tới ba bốn tháng ròng chưa được ngó mặt lán trại. Tấm tăng với chiếc võng ni lông mắc vào chỗ nào chỗ đó biến thành nhà. Lúc nào lưng cũng rát bỏng, còng xuống dưới sức nặng của hàng. Mùa nắng mùa mưa đều nham nháp mồ hôi. Da lưng ai cũng bị phồng lên, bọng nước rồi bật máu, lở từng vạt. Các cô thay nhau giơ lưng cho bạn đắp lá rừng giã nhỏ cho dịu bớt rồi lại đi cõng tiếp. Sau này, nhiều người cứ trở trời là lưng lại đau nhức. Có người bị đau cột sống, đau thận vì chiếc gùi cứ đập mãi ở sống lưng. Vậy mà chẳng bao giờ các cô có được một bữa no. Mỗi ngày, mỗi cô được cấp một khúc sắn luộc hay một túm bắp hầm, có khi là một túm dớn2 để ăn đường. Ăn đói mà cõng nặng nên nhiều người bị xây xẩm, ngất xỉu. Các cô phải phân công nhau hái rau rừng độn thêm. Một lần, các cô cõng gạo từ đồng bằng về Quân khu, đi đến dốc Ba Rẫy thì gặp địch đổ biệt kích, phải vòng lại đường khác xa hơn, mất thêm một ngày nữa. Vì vậy, số sắn mang theo ăn đường đã hết. Các cô bàn nhau nhổ củ nần luộc ăn. Không ngờ, cả bọn bị trúng độc, ói mửa, phải nằm gục bên một sườn dốc. May có mấy anh bộ đội đi qua, cho mỗi người mấy thìa đường mới cứu được.
Có bận, thèm mặn đến nhỏ giãi trong khi người nào gùi muối cũng đè nặng trên lưng. Một hôm, không nhịn được, mấy chị em tính nước liều, bàn nhau đi tụt lại sau đơn vị, tạt vào rừng, ngó trước ngó sau, mở gùi ra, mỗi người bốc một nắm muối. Nhưng khi sắp đưa lên miệng, không biết có cái gì đó như những bàn tay vô hình chặn lại. Mấy chị em sững sờ nhìn nhau, rồi không ai bảo ai, nuốt nước bọt, bỏ muối lại, cột gùi, lặng lẽ cõng chạy theo đơn vị. Về tới nhà, suốt cả tuần lễ, mỗi lần gặp nhau còn thấy ngượng ngùng. Bao nhiêu nỗi gian khổ ấy các cô vượt qua được, cũng chỉ mong muốn duy nhất là làm sao cho bộ đội được ăn no, đánh thắng giặc. Nhắc lại những ngày ấy, bao giờ vợ tôi cũng rưng rưng nước mắt. Cô ấy cho rằng, đó là quãng đời đẹp nhất của mình, sau này chẳng bao giờ có nữa.
Dạo mới đến đơn vị-cũng lời vợ tôi kể-Chẳng hiểu vì lạ nước lạ cái hay sao đó mà chị Ba Chẩn vốn to khỏe, da dẻ hồng hào lại bị sốt rét nặng nhất. Chị nằm bẹp cả tháng trời. Đầu chị tóc rụng sói trọi, môi thâm sì, da dẻ nhăn nheo, chân tay run rẩy, đi lại phải chống gậy. Mọi người cứ tưởng chị không “thọ” nổi ở căn cứ. Vậy mà sau đợt ấy, tự nhiên chị khỏe ra, ăn hàng rổ dớn và bắt đầu cõng khá lên, ngày cõng càng khỏe, cõng vượt cả người khỏe nhất. Chị em trong đơn vị ngạc nhiên không thấy chị xin nghỉ ngày nào. Cõng hàng ở đâu, dù xa mấy, chị cũng đòi đi. Có lần, vợ tôi khuyên chị nên giữ sức để làm việc lâu dài. Chị cười bảo, chị làm rất vừa sức, chẳng có gì mà lo.
Vào mùa khô năm 1972, ta mở chiến dịch lớn ở đồng bằng. Đơn vị phục vụ rất căng. Có một đợt, trên đưa xuống những bàn đế súng cối rất nặng. Một người không thể cõng nổi, phải khiêng tới bốn người, đường dốc núi, cây leo chằng chịt càng khó đi. Cán bộ phụ trách đơn vị lo sốt vó mà chưa biết tính sao. Chị Ba Chẩn thấy vậy liền xin cõng một mình trước để thí điểm cho chị em làm theo. Mọi người lè lưỡi.
– Chị cõng nổi không?
– Nổi chớ-chị mỉm cười-Nhưng đề nghị có hai đồng chí, một đi trước, một đi sau tôi, cõng nhè nhẹ để phát dùm cây, dây làm vướng đường và có gì đỡ cho tôi với.
Sáng hôm ấy, đơn vị xuất quân. Chị ràng buộc bàn đế cối cẩn thận rồi nhờ chị em đỡ lên lưng. Khi đứng dậy, chị bổ nhào về phía trước làm mọi người sửng sốt, xanh xám mặt mày. Nhưng chị gượng được, mỉm cười bước đi giữa tiếng reo hò của chị em. Chị đi, lúc mệt thì nhờ bạn bè đỡ mình ngồi xuống một tảng đá, một bờ đất để nghỉ xong lại nhờ chị em đỡ mình dậy, cõng đi tiếp. Chị đi, hết ngày này sang ngày khác, hàng tuần lễ như vậy. Những ngày ấy, mưa rất to, đường dốc trơn lầy. Đi người không cũng bước trụt, bước trùi bở hơi tai, huống hồ là cõng nặng. Chị em trong đơn vị cứ sợ chi ngã, đi gần chị để đỡ cho chị. Ngã xuống lúc cõng nặng, khó mà tránh khỏi nạn gãy cột sống.
– Vậy mà anh có biết sao không?-Vợ tôi đột ngột hỏi-chị đã cõng tới nơi an toàn. Khi các anh bộ đội đến nhận hàng, ai cũng quay mặt khóc vì thương chị quá.
Đêm đó, mọi người còn nghe chị kể chuyện tiếu lâm, cười rúc rích…
Chị vốn rất hóm. Nhiều khi cõng hàng suốt ngày, mệt bã người, đêm đến ai cũng nằm trên võng thở dốc. Bỗng nhiên, ở một góc lán có tiếng mèo kêu “meo meo”, tiếng chó sủa “gâu gâu” kèm theo giọng cười khúc khích thì mọi người chồm cả dậy, bỏ lại những chiếc võng buồn teo, ùa đến bảo “kể chuyện vui đi chị Ba”-“Chuyện anh chàng sợ vợ ấy”-“không không, chuyện hai anh chị đang thề thốt kia”. Một tiếng đằng hắng rõ dài rõ cố ý, một giọng kể ồ ồ, lập tức tiếng cười rộn lên. Mệt mỏi như trốn chạy.
Chị em trong đơn vị rất mến chị. Có phải vì chị làm việc giỏi không? Vì trong bụng chị có cả một kho truyện tiếu lâm chăng? Mà vì chị Ba Chẩn vốn thương người, hay lo cho người khác, ít chú ý đến bản thân mình. Trong những đợt gùi hàng, lúc qua sông, vượt dốc chị thường băng đi trước rồi quay lại cõng giúp cho chị em yếu sức. Khi cõng đến một cung trạm, chị bảo chị em mắc võng nằm nghỉ, còn mình lo quơ củi, tìm rau, nấu ăn. Xong đâu đấy, chị mới gọi chị em dậy. Ở đơn vị, lâu lâu mọi người được trên bồi dưỡng lúc cân đường, khi hộp sữa, chị thường đem phần mình đến tặng chị em đau ốm. Chị em không nhận, chị cười: “Tao mập ù như cái cột đình vầy mà ăn đường sữa, nó phình to như cái bồ lúa thì ế chồng mất. Mày thương giùm tao với”. Con người vui vẻ, thương người ấy lại rất trực tính, phê phán gay gắt những ai lười biếng, dối trá. Có lẽ điều này làm cho chị lao đao suốt đời. Một lần, trong cuộc họp, chị đã chỉ trích chị Chính trị viên, vì chị này cứ giả vờ ở nhà làm bích báo, báo cáo, tránh đi cõng hàng. Ở đơn vị, có một chị lâu nay ngại gian khổ, chuyên lánh nặng tìm nhẹ, chị Ba đã nhiều lần góp ý vẫn không chịu sửa. Hôm ấy, chị ta không cõng hàng đến nơi mà tạt vào rừng giấu hàng, nằm chơi, chờ đến lúc chị em trở về thì về theo. Chị Ba đã mắng như tát nước vào mặt. Sau này, chị kia được ra Bắc, lên đài khoe khoang mình đủ thứ thành tích. Giữa lúc đang cõng nặng, nghe người bạn đi cạnh mở đài, chị đặt gùi xuống chửi đổng:
– Đồ lười như khỉ mà còn dám ăn nói láo.
Nếu chị em không can, chắc chị đã giật lấy chiếc đài từ trên vai người bạn xuống, đập tan nát rồi.
Chuyện về chị Ba Chẩn, vợ tôi kể hoài không hết. Cô ấy bảo đáng ra, chị đã được phong anh hùng rồi. Nhưng tại chị đã làm cho trên thành kiến nên mấy lần chị bị gạt khỏi danh sách. Một lần là chuyện yêu đương của chị. Hồi ấy, trong đơn vị, chị Ba Chẩn vừa có thành tích vừa to khỏe, hồng hào, mặt lúc nào cũng đỏ hây hây, trong khi các chị khác xanh rớt như những con mèo ướt, nên nhiều anh cán bộ ở Cục và chỉ huy các đơn vị xung quanh hay vây lấy chị. Vừa đi cõng về, chưa kịp nghỉ ngơi, tắm giặt đã có những anh đến thăm sức khỏe chị em, nhưng chỉ được một lúc là xăm xăm bắt chuyện với chị. Chuyện đó làm cho một số chị em, nhất là chị Chính trị viên ghen tức. Có thể là do chị Ba hay phê phán chị, cũng có thể là do chị lớn tuổi hơn mà không ai để ý nên thấy chị Ba ngồi với anh nào là mặt chị hầm hầm. Trong các cuộc họp, chị ta thường nói bóng nói gió nào là: “Chúng ta phải lo công tác, lúc này không phải là lúc yêu đương lăng nhăng”, nào là “yêu đương cần có tư cách”. Lúc đầu chị Ba Chẩn nghĩ là chị ta căn dặn chung chung, sau đó nghe chị em bảo đó là lời ám chỉ chị. Trong một cuộc họp, chị nói:
– Yêu đương là chuyện bình thường, người nào cũng phải trải qua. Miễn phục vụ tốt, yêu đương chính đáng thì thôi chứ có gì mà chị cứ dằn đi nhắc lại mãi vậy.
Chị Chính trị viên tím mặt. Thế rồi, một hôm, đồng chí cán bộ phụ trách tổ chức của Cục kêu chị lên. Sau khi ban phát cho chị những lời vàng ngọc về tình yêu, cách lựa người yêu, ông ta nói ở Cục có một cán bộ đã lớn tuổi, hy sinh nhiều cho cách mạng mà chưa có gia đình. Nhiệm vụ của ông và chị Ba là phải lo cho đồng chí ấy. Chị Ba ngây thơ tán đồng ý kiến đó. Tức thì, ông cán bộ tổ chức lui ra và trong phòng xuất hiện một người đàn ông độ 55 tuổi, người gầy guộc, tóc bạc quá nửa đầu, mặt hằn nhiều vết nhăn. Ông ngượng ngùng ngồi đối diện với chị, tay chân không biết để đâu. Một lúc sau, ông mới hỏi giật cục từng vấn đề, về lý lịch gia đình, dòng họ chị Ba. Lúc đầu chị Ba Chẩn tưởng đồng chí lãnh đạo hỏi han về mình để nắm tình hình. Nhưng ông kết luận rằng, qua lý lịch chị, qua thành tích của chị ông rất thống nhất với tổ chức là bằng lòng đặt vấn đề với chị. Chị Ba Chẩn đỏ mặt lên, ấp úng:
– Thưa chú, chú tha lỗi cho con. Con chỉ đáng tuổi con chú!
Ông này lúng túng bước ra. Lập tức ông cán bộ tổ chức lại xuất hiện. Ông thuyết phục chị về tình yêu, về việc lựa chọn người chồng. Cuối cùng, thấy chị không nghe theo ý mình, ông làu bàu:
– Tùy cô. Đáng ra cô được trên khen thưởng. Nhưng cô không có quan điểm đúng đắn về tình yêu thì cô chịu vậy. Thôi cô về.
Chị Ba Chẩn không muốn quan hệ với người cán bộ kia, ngoài việc ông ta lớn tuổi ra, còn có lý do khác nữa. Chị đã yêu một anh chiến sĩ ở đơn vị thanh niên xung phong bên cạnh. Anh này cũng cao to nhanh nhẹn như chị. Trông họ rất xứng đôi. Chị em trong đơn vị hầu hết ai cũng biết mối tình này, ngầm ủng hộ chị. Nhưng đôi tình nhân đó như Sao Hôm Sao Mai, như mặt trăng với mặt trời. Hễ anh đi công tác xa thì chị trở về, chị đi công tác xa anh lại ở nhà. Một hôm, họ may mắn gặp gỡ nhau. Hai người rủ nhau ra bờ suối. Đêm đó, có lẽ là một đêm mùa thu. Trời rất trong. Gió mát rượi. Những chùm sao như rủ nhau đậu xuống đỉnh núi trước mặt. Ánh trăng xuyên qua vòm lá, lấp loáng trên dòng nước. Hai người ngồi trên một tảng đá kể cho nhau nghe chuyện công tác của mình. Họ nói gần nói xa mà chưa ai dám đi vào chuyện chính của họ. Đột ngột, anh liều lĩnh cầm tay chị, hỏi nhỏ:
– Em có yêu anh không?
Chị không trả lời mà ôm siết anh vào lòng mình hôn như mưa như gió. Chợt họ nghe có tiếng cười trong một bụi cây bên cạnh. Hai người giật mình, bỏ nhau ra, ngơ ngác nhìn quanh…
Thì ra…chị Chính trị viên đã rình rập họ tự lúc nào. Trong một cuộc họp, chị ta đã phê phán chị Ba là yêu đương bất chính, là chọn một người yêu không phù hợp lý tưởng. Chị ta cho đơn vị biết rằng, người yêu chị Ba Chẩn chỉ là đoàn viên, còn chị Ba là một đảng viên. Trong khi đó, anh ta đã từng bị địch bắt ở tù, tổ chức cho biết là lý lịch chưa rõ ràng. Chị Ba Chẩn và chị Chính trị viên cãi nhau, đập bàn đập ghế. Tổ chức Cục phải cử người xuống tham gia cuộc họp để giải quyết. Ông cán bộ tổ chức mở đầu cuộc họp bằng việc phê phán chị Ba đã ỷ mình có một số thành tích, coi thường tập thể, coi thường lãnh đạo đơn vị, không chịu suy nghĩ trước những ý kiến sáng suốt của lãnh đạo để khắc phục sửa chữa mà nóng nảy, đốp chát như một kẻ vô chính phủ. Ông yêu cầu chị, với tư cách là một đảng viên, hãy phát biểu chính ý kiến của mình về những việc đã xảy ra. Chị Ba Chẩn đã xin lỗi tập thể về thái độ nóng nảy của mình rồi nói:
– Tôi thấy là tôi không hề ỷ mình có một số thành tích mà coi thường tập thể, coi thường lãnh đạo. Tôi tự biết là thành tích của mình còn ít, còn phải cố gắng làm việc nhiều hơn nữa. Nhưng tôi không đồng ý những việc đồng chí Chính trị viên phê phán tôi. Tại sao lại cho việc chúng tôi ngồi riêng với nhau, thậm chí hôn nhau lại là việc yêu đương bất chính? Việc tôi là đảng viên yêu anh N. là đoàn viên tại sao lại gọi là chọn người yêu không phù hợp lý tưởng? Lý tưởng của người đoàn viên với người đảng viên có gì khác nhau? Xin hỏi Chính trị viên, đồng chí cán bộ ở Cục và tập thể, việc tôi vừa nói đúng hay sai? Còn việc Chính trị viên nói anh N. từng bị địch bắt, ở tù, tổ chức cho biết là có lý lịch chưa rõ ràng. Xin hỏi: tổ chức nào? Tổ chức ở cấp trên hay bên đơn vị anh N. nói. Người đó có trách nhiệm không? Không thể nghe một người nào đó không có trách nhiệm nói lờ mờ, hoặc ác ý được. Tôi cũng đã tìm hiểu. Tôi chưa nghe một cơ quan có trách nhiệm nào nói như vậy cả. Nếu như sau này, tổ chức phát hiện anh N. có gì khai báo, phản bội khi ở tù, thì vì lý tưởng tôi sẽ cắt đứt với ảnh ngay. Còn giờ đây tôi thấy đơn vị anh ấy vẫn khen anh ấy là người tốt, có thành tích, được bầu là chiến sĩ thi đua thì tại sao lại phê phán tôi là chọn người yêu không phù hợp với lý tưởng. Đề nghị đồng chí Chính trị viên và đồng chí tổ chức ở Cục cho biết.
Chị Chính trị viên đỏ mặt ngồi im, còn ông cán bộ tổ chức Cục, người định làm mối chị cho người bạn không được rất bực tức, muốn nhân dịp này để “trị” chị. Ông lại đưa ra một tràng lý luận về tình yêu, về cách chọn người yêu của người cộng sản rồi hùng hồn kết luận:
– Tôi cho rằng, việc chị Ba Chẩn và anh N. gặp nhau riêng lẻ ở bờ ở bụi là không lành mạnh, là có “hiện tượng hủ hóa”. Còn việc anh N. bị địch bắt ở tù là việc “tế nhị”. Tuy không có bằng cớ gì là anh đã khai báo hay nhận nhiệm vụ của địch, nhưng theo tôi, ai ở tù ra cũng phải có “vấn đề gì đó” đáng nghi vấn…
Chị Ba Chẩn ngồi nghe nóng cả mặt. Ông vừa dứt lời thì chị đốp lại:
– Tôi không đồng ý ý kiến của đồng chí tổ chức. Tại sao nghi vấn anh N. mà vẫn để ảnh làm việc, vẫn là đoàn viên, vẫn công nhận ảnh là chiến sĩ thi đua? Đó là một việc. Việc căn bản hơn, tại sao lại nghi ngờ tất cả mọi người ở tù ra? Đồng chí có biết làm công tác tổ chức không? Cán bộ tổ chức tại sao ăn nói hồ đồ như vậy?
Chị còn bác lại việc ông cho chị và anh N. gặp nhau ở bờ suối là thiếu lành mạnh, là “có hiện tượng hủ hóa”. Sau này, mọi việc diễn ra đã chứng minh rõ những điều chị nói. Hai người yêu nhau rất chân chính, được cả hai đơn vị thừa nhận. Anh N. người yêu chị công tác rất tốt, được đơn vị và cấp trên kết nạp vào Đảng. Nhưng tiếc thay, một lần đi công tác đồng bằng, anh đã bị địch bắn chết. Đó là việc sau này. Còn lúc ấy, chị bực tức, nói ầm ầm, không kiêng nể gì cả. Tính chị xưa nay vẫn vậy. Ông cán bộ tổ chức đỏ mặt, nhưng không có cách nói lại. Ông đành lý luận rằng, lúc này là lúc chiến tranh, vì vậy mọi người phải lo việc đánh giặc trước, việc riêng nên gác lại…
Lần khác, trên chuẩn bị mở đại hội chiến sĩ thi đua. Cục cử xuống một cán bộ để hướng dẫn một số chị em làm báo cáo thành tích, trong đó có chị Ba Chẩn. Ỷ là cán bộ cấp trên, anh này bắt đơn vị hầu hạ đủ thứ, nhất là số chị em có thành tích. Ai cũng muốn lấy lòng anh ta để được “cái gì đó!”. Chị Ba Chẩn, lúc này là đại đội phó, thấy rất ngứa mắt, nhưng hậm hực trong lòng chưa nói ra. Một hôm, đơn vị vừa cõng sữa ở đường dây Xã-hội-chủ-nghĩa về, chuẩn bị hôm sau đưa đến quân y viện. Anh này bảo chị An, đại đội phó, lấy cho anh ta mấy hộp để “bồi dưỡng vì làm việc căng thẳng”. Nghe được chuyện này, đang ăn cơm, chị Ba bỏ bát đến chỗ anh ta la toáng lên. Chị bảo sữa đó là của thương binh, ông to bà lớn gì cũng không được đụng tới. Anh này tím mặt không nói gì. Thế rồi, chẳng hiểu sao, thành tích chị nhiều như vậy mà chẳng thấy Cục gọi đi báo cáo…
– Tiếc là con An thành tích chỉ bằng cái móng tay chị mà lại được phong anh hùng-Vợ tôi cáu kỉnh nói-Chị không khôn tí nào. Đáng ra lúc ấy chị nhún xuống một chút cũng chả sao. Bao giờ tính chị cũng vậy hoài.
Cuối năm 1973, đơn vị giải tán. Chị xin về công tác ở quê hương, còn vợ tôi thì về Ban Tuyên huấn Khu ủy. Chính ở đó, chúng tôi đã gặp nhau. Từ đây, hai chị em bặt tin nhau. Đến ngày giải phóng, chúng tôi về thăm quê mới gặp chị. Chị Ba Chẩn bây giờ trông gầy yếu, mắt thâm quầng, người quắt lại. Chị bảo do trước kia chị cõng nhiều quá nên sau này vừa đau thận vừa đau cột sống. Đã ba mươi bảy tuổi chị vẫn sống một mình.
– Bây giờ chị công tác ở đâu?-Vợ tôi hỏi.
– Làm bậy bạ ở Ban Văn hóa Thị.
Chị không nói gì thêm sau câu trả lời qua loa ấy mà quay sang hỏi thăm chúng tôi. Từ đó, đôi khi ra thành phố, ghé chúng tôi, chị cũng chỉ ngồi chốc lát, cho các cháu ít hoa quả ở thị xã quê hương rồi ra về. Hỏi về đời sống, công việc, chị chỉ cười hóm hỉnh:
– Ổn cả.
– Nghe nói chị hay quạt cấp trên lắm hả?-Vợ tôi hỏi.
– Thì tính tôi dì biết rồi, thấy gai mắt thì nói chớ có “quạt” ai.
Lâu lâu không thấy chị ra chơi, quả thật có lúc tôi cũng quên lãng chị. Đôi khi nghe vợ nhắc, tôi sực nhớ, ân hận, tự trách mình, dằn vặt mình. Phải chăng trong cuộc đời, những người tốt nhất chính là những người dễ bị ta quên nhất?
– Đáng ra mình phải đi thăm chị Ba mới phải, chắc chị lại đau trong ấy-Tôi nói với vợ.
– Ừ, lúc nào mình phải thu xếp đi thăm chị mới được – Vợ tôi tán thành.
Vậy mà cái “lúc nào” đó đã đi qua bao năm tháng…
*
* *
Trưa hôm ấy, đi làm về, ăn cơm xong, chẳng hiểu sao vợ tôi lại nhắc:
– Lâu quá không thấy chị Ba Chẩn ra chơi hè.
Như có điều gì thật kỳ lạ, đúng lúc ấy có tiếng gõ cửa. Vợ tôi ra mở cửa và rú lên:
– Trời ơi, em vừa nhắc tới chị, chị đã đến ngay, sao mà linh dữ vậy!
Chị Ba Chẩn bước vào phòng, dáng gầy guộc, mặt xanh bủng, mệt mỏi.
Vợ tôi hỏi chị ăn cơm chưa để đi nấu thì chị lắc đầu bảo no rồi. Đối với chị, bây giờ cơm nước không thành vấn đề, đụng đâu ăn đấy, gặp thứ gì ăn thứ ấy co chi mà lo. Chị mở túi cói, lấy ra mấy trái bưởi đưa cho con gái tôi rồi bước đi khắp phòng, nhìn từ cái giường, cái ghế đến cái tủ đứng mà trong cảnh nghèo vợ chồng tôi ráng dành dụm để sắm, gật gật đầu cười:
– Được, được, vợ chồng dì khá. Tưởng đâu cũng lắm của cải chớ. Ông nhà đã làm quan to mà cũng chẳng có gì. Vậy mà tôi cứ tưởng ai đã làm quan to cũng giàu sụ, vì cái chi cũng vơ vét cho mình cả.
Tôi cười. Chị cũng cười rồi bước đến bàn nước, ngồi xuống một chiếc ghế, giơ chiếc nón rách ra quạt, mặc dù tôi đã có ý mở cái quạt máy tàng tàng vừa tậu cho lũ con đỡ nóng nực.
– Chà, lâu quá cũng muốn ra thăm dì dượng nhưng không có dịp, nay mới ghé được.
Vợ tôi dỗi:
– Chị lo làm giàu thì còn thì giờ đâu mà đi thăm ai.
Chị cười:
– Làm giàu chi cái ngữ tôi hả dì?
Chị hít hà, uống một ngụm nước rồi đưa mắt nhìn vợ tôi. “Chắc chị muốn nói riêng điều gì với vợ mình, có mặt mình nên ngại”. Nghĩ vậy nên tôi nói:
– Thôi, hai chị em nói chuyện, tôi đi nghỉ một chút. Tối nay tôi bận viết bài.
– Không, chẳng có chuyện gì phải giấu dượng đâu. Dượng ngồi đây cho vui-Chị Ba nhận ra ý nghĩ của tôi nên cản lại rồi hỏi-Mấy giờ rồi hè?
– Mười hai rưỡi-vợ tôi trả lời rồi tiếp- Chiều nay em ở nhà, tối nay em trực.
– Còn dượng?
– Tôi thì lúc nào cũng rảnh. Việc tôi làm cũng như chơi, chơi cũng như làm mà.
– Thế thì được.
Chị giở túi cói lấy ra mấy lá thuốc, quấn một điếu to bằng ngón tay, châm lửa hút, lưỡng lự một chút:
– Lâu quá không ra chơi. Đáng lẽ có chuyện vui để nói với dì dượng, vậy mà…
Vợ tôi giật thót người:
– Có chuyện gì trục trặc vậy chị Ba?
– Rồi tôi kể cho dì dượng nghe.
Chị hít hà, ngồi sững một lúc như đang sắp xếp lại những điều mình sắp kể. Sau đó với dáng điệu quả quyết, chị rít mạnh mấy hơi thuốc, vứt mẩu ra cửa sổ rồi nói:
– Đúng ra, tôi cũng chẳng kể cho dì dượng nghe chuyện này làm gì, nghe nó buồn thêm. Lâu nay tôi đã chịu đựng được nên đâm lỳ mất rồi. Nhưng thôi, dì dượng là những người thân duy nhất còn lại, tôi không tâm sự với dì dượng thì biết tâm sự với ai. Với lại, không nói ra, để trong lòng miết nó thêm nặng nề. Tính tôi xưa nay, hễ có gì bực bội trong lòng là cứ nói toạc ra. Vậy mà gần đây đâm ra ít nói, cứ lầm lầm lì lì, mà hễ lúc nào xổ ra là xổ ra một cách nóng nảy. Có lẽ mình sống cô độc miết, thành bà cô già, đâm khó tính rồi-Chị mỉm cười, nháy mắt với vợ tôi-Còn cái chuyện tôi định kể, nó hơi dài, dì dượng ráng chịu khó nghe, tôi kể cho có gốc có ngọn…
Chị dừng lại, uống một ngụm nước:
– Chắc lâu nay dì dượng cũng chẳng biết tôi đã trải qua “lắm nghề” chớ gì. Thôi, dì dượng bận, con cái nhỏ, tôi cũng chẳng dám trách. Tôi trải qua lắm nghề, chẳng phải vì nhiều tài làm gì cũng được, cấp trên điều lúc chỗ này, lúc chỗ khác để chữa cháy. Mà là tôi làm ở cơ quan nào, được một thời gian thủ trưởng lại nhận xét: “kém khả năng, không đảm trách được công việc”, nên mình như trái bóng lúc bị đá hất sang chỗ này, lúc bị sút tạt sang chỗ khác. Tôi đã nói với dì dượng rồi, hồi mới giải phóng người ta đưa tôi về Ban Văn hóa Thị, chẳng phải để làm nghiên cứu viết lách gì như dượng đâu. Tôi đâu có khả năng ấy. Tôi làm thủ quỹ. Tôi làm việc tỉ mỉ hầu như suốt mấy năm không lầm lẫn mất mát đồng nào. Theo tôi nghĩ, làm chức trách thủ quỹ như thế là tốt rồi. Vậy mà, tôi lại được đánh giá là “kém khả năng” đấy. Tôi nói cho dì dượng nghe đầu đuôi câu chuyện nó ra làm sao. Chuyện vầy: Một hôm, một đồng chí ở cơ quan phát hiện tại một nhà hàng có mấy cái máy cát sét mở nhạc đồi trụy. Lẽ ra, họ báo cho công an đến tịch thu thì đúng hơn. Nhưng mấy ông ở cơ quan tôi chộ nhà hàng, bắt họ phải nộp máy, không thì sẽ báo công an. Họ đưa cho mấy ổng quách vì sợ để mấy ổng báo cho công an thì vừa bị mất máy vừa lôi thôi to. Xong việc, tôi ngỡ mấy ổng nộp máy lên trên. Ai ngờ ông Trưởng ban đã ra lệnh bán máy chia tiền cho anh chị em cơ quan. Tôi khăng khăng không nhận số tiền ấy và đòi đã lỡ bán thì phải nộp tiền lên trên. Ông Trưởng ban không giao cho tôi giữ tiền nữa mà giao cho cô kế toán, người nhà của ông ta giữ để chia. Tôi phản đối việc làm sai nguyên tắc đó. Ông Trưởng ban gọi tôi lên phòng, rót nước, đưa thuốc có “cán” mời tôi rồi nói:
– Chị Ba à, cái việc bán máy chia tiền cho anh chị em cơ quan có thể là không đúng, nhưng do tôi bị thúc ép, thấy đời sống anh em cơ quan khổ quá. Làm việc ấy, tôi nghĩ cũng là để cải thiện cho anh chị em thôi. Chị phản đối việc ấy cũng có phần đúng. Nhưng chị làm ầm ĩ quá nên mất lòng nhiều người. Như vậy là chị làm việc ở đây không hợp nữa. Tôi thấy khả năng làm thủ quỹ của chị cũng còn bị hạn chế. Chị thiếu một cái nhìn bao quát. Làm việc ở một cơ quan Văn hóa mà chị không biết sống cho nó phóng khoáng, chị nên suy nghĩ lại.
Tôi thấy như vậy là không ổn rồi. Tôi phải đi tìm chỗ khác để làm việc cho hợp với “khả năng” của mình thôi, nhưng biết tìm nơi nào bây giờ. Lâu nay tôi không quen tiếp xúc với các cơ quan chung quanh. Hành trình của tôi chỉ từ Ban Văn hóa lên Ngân hàng rồi về. Vì vậy tôi rất lúng túng. Một hôm, tôi gặp con Mai ở cùng “xê” mình cũ đó dì à. Tôi kể cho nó nghe chuyện của tôi. Nó bảo tôi sang làm việc ở cửa hàng Lương thực với nó. Ờ thì ở đó có bè có bạn, tôi sang làm cho vui. Ở cửa hàng một thời gian, tôi lại phát hiện các cô bán hàng đong đo gian lận cho khách hàng. Lúc đầu, tôi cũng nghĩ họ nhầm lẫn sơ sơ nên bỏ qua. Càng ngày, tôi thấy họ làm ngang nhiên, quá quắt. Tôi đem ra góp ý trong một cuộc họp. Chị cửa hàng trưởng lại bảo tôi “không có khả năng” làm việc ở cửa hàng. Con Mai cũng trách tôi: “Tao thấy mày vất vả, cố nèo trên xin mày về, mày vẫn cứ tính nào tật ấy, cứ phê phê phán phán. Mày cũng phải để cho người ta kiếm tí cháo chớ. Thời buổi này…” Đến nỗi con Mai mà cũng đồng tình với chuyện ấy, tôi xin đi nơi khác cho xong. Nhưng tôi chưa kịp xin, thì một hôm, ông Trưởng ban Lương thực kêu tôi lên, nói rất trịnh trọng:
– Chị Ba à, vừa qua, khi theo dõi ở các cửa hàng Lương thực trong thị xã, tôi thấy chị là một người trung thực, khẳng khái. Chị vừa có trách nhiệm cao, vừa là người đã từng trải qua chiến đấu. Tôi rất kính trọng chị. Hiện nay, theo đề nghị của các đồng chí chuyên gia đang công tác ở K., ban ta cần phải cử một đồng chí sang đó phục vụ. Tôi nghĩ mãi, cân nhắc mãi. Thấy chị cũng đau yếu, nhưng không ai có tinh thần và kinh nghiệm như chị. Tôi định cử chị sang đó một thời gian. Lúc về sẽ bố trí chị công tác ở ban cho nhẹ nhàng, ý chị thế nào?
Nghe ông Trưởng ban nói như thế, tôi thật xúc động, dì dượng ạ, từ lâu, tôi cũng có ý muốn đi phục vụ chiến trường. Nhưng anh Tấn, Bí thư Thị ủy bảo tôi đau ốm, không cho đi. Tôi không phải là người muốn tỏ ra này nọ. Nhưng tôi thấy cuộc sống chiến trường phù hợp với tôi hơn. Tôi biết trong cuộc chống Mỹ vừa qua, tôi cũng đã trải qua những bất hạnh. Nhưng đó cũng chỉ lẻ tẻ do vài người gây ra cho tôi. Còn anh chị em chiến sĩ với nhau thì, chỉ nghĩ đến thôi, tôi không sao cầm được nước mắt. Tôi thấy những con người sống cùng tôi trong chiến tranh tốt hơn những người bây giờ. Chẳng biết tôi nghĩ có chủ quan không, nhưng thực thà tôi có nghĩ vậy. Do đó, tôi nghĩ, tôi đi phục vụ chiến trường, sống với các chiến sĩ là đúng hơn cả. Vả lại, lúc này tôi chán cái cửa hàng Lương thực của tôi quá rồi, nên nghe ông trưởng ban gợi ý tôi đồng ý ngay. Thế là mấy hôm sau, tôi có quyết định đi K.
Vừa đặt chân tới chiến trường thì tôi gặp ngay anh Mười ở Tỉnh ủy. Anh có quen tôi hồi kháng chiến. Anh lắc đầu bảo tôi:
– Bên ni cực lắm. Sức cô không chịu nổi đâu. Ai đưa cô sang đây? Tôi sẽ trả cô về…
Tôi năn nỉ anh mãi nhưng anh vẫn không cho tôi ở lại. Tôi được đưa về nước cùng một chuyến trực thăng với một số thương binh. Về tới Thị xã, tôi cầm giấy đến Ban Tổ chức. Ban Tổ chức lại trả tôi về Ban Lương thực. Ngày nào ông Trưởng ban còn nói ngon nói ngọt để bảo tôi đi K., hứa về sẽ bố trí công tác tại ban, thì nay cũng chính ông, mặt quàu quạu nhìn tôi như nhìn một người lạ mới đến xin việc. Ông bảo tôi đã có người khác thế chỗ tôi rồi. Sau này, một số anh chị em tốt ở Ban Lương thực cho tôi biết là ông Trưởng ban kết với chị cửa hàng trưởng đẩy tôi đi K. cho xong chuyện. Thế là tôi lại chạy đến Ban Tổ chức Thị. Họ bảo chưa giải quyết được, cứ nghỉ. Tôi nghỉ nửa tháng xong lại đến Ban Tổ chức. Họ cũng bảo cứ nghỉ. Vậy là không ổn rồi. Tôi phải chạy mọi nơi xin việc. Vòng vo tam quốc, cuối cùng tôi được anh Tám, người mà tôi thấy có cảm tình nhất ở Tổ chức đưa tôi về Ban Nhà đất…
– Ở nhà đất ổn rồi chớ? – Vợ tôi hỏi.
– Rối như tơ, tôi mới ra gặp dì dượng đây.
Vợ tôi nhăn mặt:
– Sao mà đời chị khổ vậy. Chị cứ thẳng ruột ngựa mãi. Chị không nhún xuống một chút được sao?
Chị Ba ngẩng mặt nhìn vợ tôi:
– Nhún. Dì bảo tôi luồn cúi hả. Hồi xưa tôi đã cúi xuống để cõng đạn, cột sống muốn rệu rồi. Nhưng hồi đó tôi đã tự nguyện cúi xuống làm việc có ích. Còn bây giờ…Tôi coi bộ dì cũng đã “khôn ngoan” rồi ta. Còn tôi, tôi cũng cố “khôn” mà “khôn” không nổi. Tôi thường nghĩ rằng sau chiến tranh, điều kiện sống có thay đổi, làm cho người ta cũng thay lòng đổi dạ. Có những người trước kia, vì điều kiện chiến tranh khắc nghiệt, tập thể luôn luôn sát kề kèm cặp, nên họ không lộ ra những cái xấu vốn có trong họ trước đó. Bây giờ hòa bình rồi, mọi người có những lo toan, tính toán cho một cuộc sống, một gia đình riêng nên cái xấu bị kiềm chế trước kia được xổ ra. Cũng có những người trước kia rất tốt, nhưng nay do điều kiện sống thay đổi, họ cũng như con kỳ nhông thay đổi màu da cho hợp với thời cuộc. Tôi cảm thấy lo lo một cái gì đó cho một số cán bộ, nhất là số có chức có quyền. Khi đã có chức có quyền trong tay thì họ không còn là họ nữa. Họ dần dần quên những ngày gian khổ, quên những người đã cưu mang họ, nhận cái chết về mình để cho họ được sống…
Chị đang nói dằn dỗi chợt nhìn vẻ lúng túng của vợ tôi, biết cô ta cũng chỉ lo cho chị thôi chớ chẳng phải “khôn ngoan” gì nên nói nhỏ lại:
– Xin lỗi dì, tôi đang bực một số người chớ không có ý nói đến dì đâu, mong dì thông cảm.
Ba chúng tôi cùng im lặng một hồi lâu. Mỗi người như đang theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Buổi trưa tháng sáu vốn nồng nực mỗi lúc càng thêm ngột ngạt đến khó thở.
*
* *
– Được về Ban Nhà đất- Chị Ba Chẩn lại kể tiếp-tôi tự nhủ mình phải dè dặt, phải biết nhún nhường hơn trước. Mình lo cố gắng làm tròn nhiệm vụ rồi lo bồi dưỡng sức khỏe, ai làm gì thì làm…chị cười-Vậy mà sau đó, tôi cũng chẳng làm được như mình nghĩ.
Hôm đến Ban Nhà đất để nhận việc, tôi thấy trong lòng thật thư thái. Tôi dậy sớm, soi gương, chải tóc thật lâu. Xưa nay, tôi có bao giờ để ý đến đầu tóc của mình đâu, có khi đi làm tôi chỉ đua tay vuốt sơ, chẳng chải chuốt gì cả. Vậy mà hôm đó, tự nhiên tôi thấy tóc mình sao rối quá, sao thưa quá, có lẽ lúc nào đó tôi phải đi uốn lại mới được. Tôi lục soạn mấy bộ quần áo nghèo nàn của mình ra, tính đi tính lại mới chọn được một bộ ưng ý, quần pho xanh, áo catê trắng để mặc. Dì biết tôi quen lì xì từ xưa giờ, đụng gì mặc nấy, chẳng là lượt chi hết. Nhưng hôm đó, sau khi mượn bàn là của con bạn là xong tôi còn moi từ dưới đáy rương lên một lọ nước hoa ai cho hồi nào chẳng rõ, rưới một ít cho nó thơm tho. Tôi loay hoay mãi mới tìm ra chiếc túi xách mới toanh mà tôi vô tình mua từ lúc nào đó rồi quăng bậy bạ không nhớ ở đâu để đựng một quyển sổ tay, một cây bút máy đi làm. Lâu nay, tôi không hề dùng túi xách. Có thứ gì quan trọng đâu mà đựng. Tôi chỉ cầm tay hoặc buộc mọi thứ sau poọcbaga xe đạp. Tất cả mọi thay đổi đó dì dượng biết vì sao không? Từ lâu, các anh lãnh đạo ở Thị xã đã lấy Ban Nhà đất làm đơn vị tiên tiến điển hình, có thành tích nhiều mặt để các cơ quan khác học tập. Báo chí của tỉnh cũng đã nhiều lần viết bài về Ban này. Vì vậy, khi đến đây nhận việc, tôi cũng phải tỏ sự hãnh diện của mình với những cơ quan cũ. Tôi đang được làm việc ở một đơn vị tiên tiến kia mà!
Đến nơi, vào Văn phòng, tôi xin được gặp ngay đồng chí Trưởng ban để nhận nhiệm vụ. Tôi rất sốt ruột được làm việc. Bởi sau khi ở K. về, tôi chưa có chỗ làm nên ở tạm nhà một người bạn, chật chội quá, mà cũng mất tự do nữa. Tôi muốn làm việc ngay để xin vào ở khu tập thể của Ban Nhà đất. Nhưng các cán bộ văn phòng cứ bảo đồng chí Trưởng ban còn bận việc quan trọng nên tôi phải ngồi chờ. Sốt ruột, tôi đi ra đường, dạo loanh quanh một lúc lại quay vào. Chờ một lúc, tôi lại quay ra đường. Tôi cứ đi ra đi vào như thế năm sáu lượt. Tới gần trưa, họ mới bảo tôi vào gặp đồng chí Trưởng ban. Tôi hồi hộp bước vào một phòng nhỏ, ở cửa có treo một tấm biển bằng sắt tây màu trắng, chữ đỏ, ghi “Trưởng ban”. Đồng chí Trưởng ban chẳng phải ai xa lạ. Té ra là ông Sự. Dì biết chớ, hồi mình mới lên căn cứ, ổng làm ở Cục Hậu cần. Sau đó, ổng ra Bắc học gì gì, về đây lúc nào tôi không biết. Có lẽ do tôi ở cơ quan, rồi về nhà, túi bụi chẳng đi đâu nên cùng một thị xã mà chẳng biết ổng làm ở đây. Hồi trước, ổng ốm nhom, mặt bủng rẹt, môi thâm sì. Vậy mà giờ đây trông ổng mập ra, bụng hơi phệ, cười nói bô bô. Cứ như thể những người có chức có quyền thì phải cười to hơn người khác, nói to hơn người khác, bộ mặt lúc nào cũng quan trọng hơn người khác. Ông ta ngồi bên một chiếc bàn đánh vécni bóng loáng. Trên bàn có nhiều cặp tài liệu với những dòng chữ “trình ký”, cái màu xanh, cái màu đỏ. Tôi rụt rè ngồi xuống chiếc ghế đối diện, lo lắng nhìn ông. Ông cười vang:
– Sao cô nhìn tôi dữ vậy? Tôi có khỏe hơn trước chớ gì? Chẳng qua là ra Bắc tôi được bồi dưỡng, rồi sang Liên Xô mấy năm, về đây bà xã cũng có của ăn của để, thương tôi cực khổ nên tẩm bổ chớ tôi có ăn của ai đâu mà cô…
Ông tỏ ra thân mật hỏi thăm về ba má anh em tôi đã hy sinh như thế nào, về sức khỏe và nguyện vọng của tôi rồi đột nhiên nghiêm sắc mặt, dáng trịnh trọng hẳn:
– Tôi biết cô từ hồi ở rừng. Khi nhận cô về cơ quan tôi cũng có nghe nói về cô. Tôi biết cô hay đấu tranh với những cái xấu, tốt lắm. Người cách mạng phải như vậy. Nhưng ở đây, cơ quan ta, toàn những người được lựa chọn, lại có ban phụ trách chúng tôi…Có gì sục sịch cô cứ nói với tôi, cánh chiến khu với nhau cả, đừng vạch áo cho người ta xem lưng. Bản thân cô, tôi rất qúy. Tôi biết cô hồi chống Mỹ rất tích cực. Bây giờ sức khỏe sút rồi, cô học chưa được nhiều. Cô cố gắng mà tự học, cố gắng công tác, cố gắng bồi dưỡng sức khỏe và lo việc chồng con đi. Chúng tôi sẽ tạo mọi điều kiện cho cô. Thôi-ông đột ngột đứng dậy, đưa tay bắt tay tôi-Tôi bận quá. Tôi đã phân cô về tổ chính sách, có anh Vấn ấy, cố mà làm việc nhé…
Tôi được ông Sự cấp cho một cái phòng nhỏ trong khu tập thể của những người độc thân ở phía sau cơ quan. Căn phòng có một cái giường con, một cái bàn, một cái ghế. Vậy cũng là ổn. Chủ nhật ấy, tôi đã ra cửa hàng bách hóa mua mấy mét vải hoa về may một cái riđô để cho căn phòng vừa kín đáo vừa đẹp mắt. Tôi còn mua một bộ ấm chén trà, một cái phích và một lọ hoa nhỏ. Hàng ngày, đi làm về, tôi ra chợ thị xã mua vài bông hoa về cắm vào lọ. Nói ra thì dì dượng cười, bảo bà già còn làm duyên, chớ thực bụng tôi cũng muốn có bạn bè đến chơi lắm chớ. Tôi không thể sống cô độc mãi được. Hồi này, tôi đâm vớ vẩn như vậy đó, tại sao tôi cũng không biết nữa.
Hàng ngày, tôi đến phòng làm việc dành cho tổ, đọc đơn từ của các cá nhân, các cơ quan xin nhà, xin sửa chữa, ghi ý kiến mình vào đó rồi đưa cho anh Vấn tổ trưởng. Anh ấy với ông Sự giải quyết. Nói thế chớ không phải tôi không suy xét gì mà cứ ghi đại ý kiến vào đó rồi để trên làm gì thì làm đâu. Tôi đã bỏ thời giờ đến tận nơi có người xin sửa chữa, xin nhà để nắm thực chất vấn đề, sự việc. Tôi học hỏi thêm anh em đi trước mình về nghề này. Tôi đọc tài liệu nghiệp vụ. Chủ yếu là mình phải vận dụng chính sách sao cho công bằng, có lý có tình. Theo tôi đó là điều chủ yếu nhất của người làm công tác nhà đất cũng như bất cứ công việc gì.
Làm việc được một tháng, thì tôi bị đau lưng, phải vào viện. Ông Sự đem đường, sữa đến thăm làm tôi rất cảm động. Nói thật, từ ngày giải phóng đến giờ, tôi chưa được một thủ trưởng nào đến thăm như thế. Tôi nhớ ông ta nói với tôi:
– Cô cố gắng chữa cho mau lành để về công tác. Tôi thấy cô về đây rất cần cù công tác, lại chịu khó học tập, nghe cấp trên chỉ bảo, thế là tốt. Cô cứ phát huy thêm.
Ông ta đi rồi, tôi còn nhìn theo, nước mắt cứ ứa ra. Đôi lúc nằm một mình nghĩ ngợi, tôi thấy, cuối cùng mình đã may mắn về được một nơi thật dễ chịu. Ấy vậy mà…
Chị dừng lại, nhìn hai vợ chồng tôi. Ánh mắt chị có cái gì đó vừa thật ngây thơ vừa là sự giễu cợt. Có lẽ đó là sự tự trách mình quá cả tin, lại giận kẻ mình đã đặt niềm tin nhưng họ chẳng biết giữ niềm tin của người khác. Chị chậc lưỡi, hít hà, ngồi im một lúc rồi kể tiếp:
– Một hôm, con Thu làm cùng tổ với tôi đến viện thăm tôi. Sau khi đặt mấy trái cam lên bàn, nó ngồi im nhìn tôi như muốn nói điều gì đó nhưng còn đang lưỡng lự. Tôi gợi ý:
– Em có gì khúc mắc vậy Thu?
Nó tiếp luôn:
– Dạ, cũng có. Em đến thăm chị rồi em về xin đi chỗ khác đây.
– Sao em không ở cơ quan nữa?
– Dạ, dạ…chị mới về cơ quan, chị chưa biết gì, nhưng em nghe nói chị là người tốt nên em nói chị chuyện này…
– Chuyện gì vậy?
– Dạ, vừa qua ở phường Nam An có một gia đình vượt biên. Ngôi nhà này được giao cho cơ quan ta quản lý. Cách đây mấy tuần, em có nhận được hai cái đơn xin giải quyết nhà ở. Một cái của một anh cán bộ. Anh ta đông con, cơ quan chưa giải quyết được nhà, phải ở nhờ nhà chị dâu. Chuyện cãi cọ xảy ra luôn, bà chị dâu đang đuổi họ đi. Lá đơn thứ hai của một người vốn buôn bán, nay xin mở tổ hợp làm xà phòng chi chi đấy. Thực chất, em biết, là anh ta rủ một số bà con hùn tiền buôn bán. Vì vậy, em làm thủ tục cho anh cán bộ thuê nhà. Anh nhà buôn kia biết được đã chạy thẳng lên chú Sự. Khi em đưa giấy tờ lên cho chú ký, chú không chịu ký mà đòi đưa lá đơn anh nhà buôn cho chú xem. Em với chú cãi nhau về cách giải quyết nhưng cuối cùng em cũng phải đưa lá đơn kia cho chú. Chú là thủ trưởng mà. Thế rồi, một hôm, em nghe con Sáu ở văn phòng nói chú đã ký đơn cho anh làm tổ hợp, đưa nó đóng dấu rồi. Nhưng chú chưa đưa cho anh nhà buôn mà cứ để cho anh ta chạy lên chạy xuống mấy lần.
– Chắc ông ấy dừng lại để hỏi thêm ý kiến cấp dưới đó em à.
Con Thu bĩu môi, giơ tay đếm đếm. Tôi nhỏm dậy.
– Em đã tố cáo-Tôi cảnh giác-Em đã điều tra kỹ chưa?
– Không, em đâu dám làm vậy. Em chỉ nói lại với một số anh chị em trong cơ quan. Họ xì xầm tới tai chú. Chú kêu em lên và nói rằng, trong đợt kiểm tra lý lịch vừa qua, thấy em khó có thể công tác ở một cơ quan quan trọng như cơ quan mình, vì em có một ông anh làm y tá thời ngụy. Em xin đi thôi, em không thể ở được…
– Em cứ ở lại. Họp chi bộ chị sẽ hỏi lại thử ra sao. Có thể có nhầm lẫn nào đó.
Con Thu xua tay:
– Chị em tâm sự với nhau thôi. Chị đừng đem ra chi bộ hỏi hiếc gì cả. Chú ấy trù luôn cả chị đấy. Em có chỗ nhận rồi, em sẽ đi. Chị ở lại mà nói thì nguy lắm. Chị mới về, mọi người còn “coi thử” chị ra sao nên chưa nói mọi chuyện cho chị thôi. Ở cơ quan ta, bây giờ ai cũng sợ chú Sự, bởi trước đây có một số người phê bình chú, đã bị chú đẩy đi hoặc gài bẫy cho mất uy tín. Chị chưa biết chú bảy Hiên Phó ban đấy. Chú phê bình chú Sự mấy lần, chú ấy căm lắm. Một hôm, có một anh xin cơ quan ta cấp vật liệu sửa nhà. Chú Sự đẩy cho chú Bảy giải quyết. Tối hôm đó, chú Sự bảo anh kia đem bánh kẹo và hai trăm đồng đến tặng con chú Bảy để chú Bảy giải quyết trước những người khác vì lúc này vật liệu rất thiếu. Chú Bảy đông con, cầm lòng không đặng, nhận quà, giải quyết cho anh kia. Sau khi sửa nhà xong, chú Sự dọa dẫm anh kia, bắt anh kia viết thư tố cáo với cơ quan là chú Bảy đòi tiền hối lộ. Thế là…có cớ cho chú Sự đưa việc này lên Tổ chức chính quyền. Chú Bảy bị cách chức, chuyển đi nơi khác. Vậy mà em nghe nói chính trước kia chú Sự xin chú Bảy về cơ quan, hai người cũng đã quen biết nhau từ hồi chống Mỹ kia đấy. Chị cẩn thận, chú Sự hiểm lắm, em xin chị đừng đưa ra.
Nghe con Thu kể chuyện như vậy, tôi suy nghĩ rất nhiều. Chẳng lẽ ông Sự, một đồng chí đã từng tham gia kháng chiến không kể gì sống chết một thời, nay có chút ít quyền lực lại sa đọa đến mức như vậy ư? Có thể ông ta đã biến chất thực, cũng có thể do bực bội cá nhân mà con Thu nói vậy. Trong khi chưa hiểu gì về con Thu nên tôi cũng phải đề phòng sự phóng đại của nó. Rút kinh nghiệm những lần lụp chụp ở hai cơ quan trước, chỉ mới thấy hiện tượng, chưa nắm vững các nguyên nhân, chi tiết đã phản ứng, lần này, tôi hỏi con Thu rất cặn kẽ về sự việc phân nhà. Sau khi con Thu về, tôi lại tiếp tục suy nghĩ, cân nhắc. Tôi thấy là mình nên đưa việc này ra chi bộ với tính cách thăm dò. Nếu ông Sự có khuyết điểm, các đồng chí phân tích thêm, ổng nhận ra sẽ sửa chữa để làm việc tốt hơn. Nếu sự việc khác đi thì cũng là một dịp nêu lên ý kiến quần chúng cho cán bộ lãnh đạo đề phòng. Tôi tin các đồng chí trong chi bộ sẽ hiểu rõ mọi việc hơn tôi. Vậy là, sau khi ra viện, nhân một cuộc họp chi bộ, thận trọng rào trước đón sau, tôi đã đưa việc phân nhà cho anh nhà buôn ra. Ngỡ ông Sự sẽ lắng nghe, giải thích như thế nào, ai ngờ, sau khi tôi nói xong, ông tức tối rút đánh xọet một xấp giấy từ cặp da ra vứt mạnh xuống bàn:
– Đồng chí nghe ý kiến cô Thu hả? Cô Thu là một quần chúng, gia đình có nợ máu với cách mạng, lại nghi ngờ tôi, một người từng sống chết hy sinh. Đây-ông chỉ vào xấp giấy-giấy tờ còn đây. Tôi đã giải quyết cho anh tổ hợp kia đâu. Theo tôi nghĩ, việc phân phối nhà cửa, trước mắt phải chú ý đến vấn đề phát triển sản xuất. Nếu tôi giải quyết cho người lập tổ hợp này là đúng với chính sách của Đảng. Nhưng tôi cũng chú ý đến đời sống cán bộ ta nên còn tính toán đây-ông thở phì phò nói tiếp-Tôi thấy đồng chí nên suy xét khi nghe ý kiến quần chúng, không nên nghe một chiều.
Tôi nói tôi tin ông nên mới đưa ra chi bộ để rút kinh nghiệm thôi chớ không có gì phê phán ông cả. Nhưng ông vẫn bực bội, không nhìn tôi và đề nghị chi bộ cho ý kiến về vấn đề này. Cả chi bộ cùng ủng hộ ý kiến ông, lên án con Thu vu cáo lãnh đạo. Còn tôi thì được góp ý là thiếu cân nhắc trong việc tiếp thu ý kiến quần chúng.
– Khổ quá, những người như ông Sự có nhiều mưu mô lắm, sao chị nghe con Thu rồi mà không đề phòng, không tranh thủ sự đồng tình của anh chị em trong chi bộ trước để lúc đưa ra ổng khống chế trọi lỏi vậy?-Vợ tôi cằn nhằn với chị Ba Chẩn.
Chị Ba bối rối nhìn vợ tôi như một đứa trẻ làm việc gì đó sai trái bị anh chị mắng, gương mặt thật thà quá đỗi…
– Tôi ngu quá dì ơi. Sau này tôi mới hiểu ra. Nhưng cái sai của tôi không phải như dì nói, mà ở chỗ tôi không chịu tìm hiểu trước để biết là các đồng chí trong chi bộ từ lâu bị ông Sự khống chế nên đã mất hết ý chí đấu tranh. Biết được chuyện đó chắc tôi sẽ tìm ra cách khác.
– Rồi sau đó ông Sự có giải quyết nhà cho anh nhà buôn kia không? Có tìm cách đẩy chị đi cơ quan khác không?-Vợ tôi lo lắng hỏi.
Chị Ba mỉm cười gượng gạo:
– Dì ạ, qua những lời xì xào của anh em cơ quan, tôi biết ông Sự vẫn giải quyết nhà cho anh nhà buôn kia mà không thông qua Ủy ban. Còn tôi thì ông có mời lên gặp ông. Ông mời tôi uống nước rồi xin lỗi thái độ nóng nảy bữa trước của ông ở chi bộ. Ông đánh giá tôi có tinh thần đấu tranh, nhưng dù sao việc đưa ra chi bộ chuyện của ông cũng hơi nặng nề. Đáng ra, anh em cùng ở chiến khu với nhau, có gì nói với nhau là ổn thỏa cả, việc gì vạch áo cho người ta xem lưng…
Ông nhắc đến tình cảm đồng chí hồi ở chiến khu, ca thán là cơ quan có nhiều người lý lịch không rõ ràng, nhiều động cơ phức tạp. Bất đắc dĩ, do trên yêu cầu, ông mới ở đây, chứ đáng ra ông đi cơ quan khác, làm việc khỏe mà thu nhập cũng khá hơn. Một lúc sau, như sực nhớ ra điều gì, ông nói:
– À mà này, thấy cô sức khỏe yếu, lại ở phòng sát nhà vệ sinh tập thể quá, không có lợi. Nên ban lãnh đạo quyết định cô đến ở phòng rộng hơn-ông ta cười-Vả lại, cô cũng cần phải lo gia đình, ở chật quá…
“Ông ta mua chuộc mình hay ông ta thật bụng tỏ ra hối hận sau việc vừa qua”. Tôi chưa thể nghĩ ra được. Tôi nói:
– Cảm ơn anh. Tôi ở thế cũng được. Khi nào có gia đình sẽ xin các anh sau…
Ông ta vui vẻ:
– Cô thì cô tốt, không lo chuyện cá nhân, nhưng tập thể cứ phải lo. Mai cô chuyển qua đó nhé. Còn việc này nữa-ông ta dừng lại nhìn tôi-xin cô đừng nghĩ xa xôi. Do sắp xếp bố trí cán bộ thôi. Tụi tôi thiếu người đi lưu động thu tiền nhà, mà bộ phận này cần người thực thà. Tụi tôi tin cô, cô đi có được không?
Thú thật với dì dượng, lúc đó tôi cũng thật thà, thấy ổng nói bộ phận thu tiền nhà thiếu người, cần mình thì mình nhận thôi. Không ngờ đó là mưu mô gạt mình khỏi bộ phận quan trọng, có dính líu đến việc làm ăn của ông ta. Đểu thật. Cái dở hơn là mấy ngày sau, do mấy ổng thúc ép, tôi lại nhận cái phòng rộng hơn. Lúc ấy, có một lý do làm tôi hóa mù…Mà cũng do ông Sự gài bẫy…Tôi sẽ nói dì dượng nghe sau…
– Chị mất cảnh giác quá-Vợ tôi bực bội nói-Họ gạt mình mà cũng không biết.
Chị Ba cười gượng:
– Quả là tôi cũng bị lừa thật. Nhưng nếu biết họ lừa thì tôi cũng sẽ đi làm việc ấy. Vì…
– Chị bắt đầu an phận rồi sao?-Vợ tôi lại hỏi.
– Có thể như vậy-chị Ba mỉm cười-Thú thật với dì dượng là biết mình không có chữ nghĩa bao nhiêu nên được phân đi lưu động thu tiền nhà, tôi rất an tâm. Nhiều anh chị em trong cơ quan có bảo tôi: “Kiện” ban lãnh đạo, đòi phân việc khác, vì tôi có quá trình công tác, có cống hiến từ thời chống Mỹ, lương cũng khá hơn một số anh chị em mà phải làm việc của một nhân viên có lương thấp nhất cơ quan, loại chạy ngoài như vậy. Nhưng tôi gạt đi. Một lẽ, tôi biết ông Sự không ưa mình, đưa mình làm việc đó, mình thắc mắc ổng sẽ viện cớ bảo mình ưa “địa vị” này nọ. Lẽ nữa, là tôi thấy việc này hợp với khả năng và sức khỏe của mình. Dạo đó, sau khi chữa bệnh đau lưng xong, tôi yếu lắm. Tôi thấy ngồi một chỗ thật khó chịu, người mình mau tê dại, lưng nhức buốt. Làm việc này đi lại nó khỏe khoắn hơn. Công việc, thời gian do mình tự quy định, miễn đem tiền về đúng hạn là được. Có lúc về nhà sớm, tranh thủ nấu miếng cơm miếng nước chi cũng tiện. Tôi còn thấy mình được tiếp xúc với mọi người nhiều hơn, thấy được nhiều sự thật hơn, mà lâu nay ngồi bàn giấy, dù có cố gắng tìm hiểu, mình vẫn bị hạn chế. Đôi lúc đến một nhà nào đó, đưa biên lai cho chủ xong, trong khi chờ họ tìm tiền để trả tôi còn được khề khà uống trà nói chuyện với người nhà. Lâu nay, do ít đi lại, chỉ sống một thân một mình, có khi ở nhà tập thể, có khi đụng đâu ngả lưng ở đấy, quen rồi, nên tôi ít có dịp chú ý đến tình hình nhà cửa của cán bộ và nhân dân thị xã. Đúng là có một sự bất công ghê gớm. Bên cạnh những vila, những ngôi nhà đẹp đẽ khang trang của những cán bộ có chức có quyền, của bọn phe mánh giàu có (nhà họ có đủ các loại phòng ăn, phòng đọc sách, phòng xem ti vi, phòng ngủ, phòng con trai, con gái, phòng tiếp khách, chỗ nấu ăn, chỗ nuôi heo, nuôi gà vân vân và vân vân) thì hầu hết cán bộ và nhân dân sống rất vất vả. Tôi thấy có những gia đình cán bộ bị nhốt trong một cái chuồng cu chừng mười hai mét vuông nào vợ, chồng, ba đứa con, cha mẹ già, em vợ. Họ ngồi ăn trên sàn nhà, tối quét đi, trải chiếu nằm luôn đó. Nóng như thiêu như đốt.
Ngột ngạt, mất vệ sinh quá đỗi. Nhà không có chỗ đi vệ sinh, ban ngày ai đi làm thì đến cơ quan “đi cầu”. Ban đêm, họ ngồi bô như con nít, gần sáng ra đường đổ vậy. Họ tâm sự với tôi rằng, xin lỗi dì dượng, đôi khi vợ chồng muốn sinh hoạt phải lợi dụng cả nhà đi vắng, hay nhắm mắt làm lơ…Coi như chỗ không có người vậy. Có những cán bộ, nhân viên, cơ quan không cấp được nhà ở, phải đi ở nhờ bà con, người quen. Mà thói thường, hễ ở nhờ là phải chịu khổ trăm bề, nay bị nói cạnh, mai bị nói khóe, cố nuốt nước mắt mà ở. Tôi chưa đọc được nhiều sách này nọ như dì dượng, nhưng tôi thấy vấn đề nhà ở là vấn đề khó khăn ghê gớm, có lẽ tới chủ nghĩa cộng sản, loài người mới giải quyết vấn đề này thật công bằng được. Vì vậy, khi tôi nói chuyện với họ, thường nghe họ ta thán là nhà hư, dột, chật, có đơn xin sửa, xin nhà từ lâu mà ông Sự không giải quyết. Có người thấp thỏm lo bị đuổi nhà, vì ông Sự cho người đến bảo “cố lo cái gì đó” chớ không thì phải chuyển nhà vì ở quá tiêu chuẩn, dù nhà họ rất chật chội. Có người còn đá móc tôi, là người của nhà đất, chắc có vila riêng, chí ít cũng có mấy phòng. Tôi nghe mọi chuyện đó, cảm thấy tai mình ù lên. Tôi tự trách mình là lâu nay thật bàng quan, thật vô trách nhiệm. Có lúc tôi nghĩ là mình thật ích kỷ, chỉ lo bản thân mình thôi.
Chị Ba dừng lại, nhắp một hớp nước trà rồi tiếp:
– Còn ở cơ quan thì sao? Đúng là lâu nay tôi như người từ trên trời rơi xuống, chẳng biết tình hình gì cả. Có lẽ đúng như con Thu nói, thấy tôi mới về, mọi người “còn dò” thử tôi ra sao đã nên chưa nói cho tôi biết mọi chuyện. Nay thấy tôi dám đem việc con Thu ra, lại bị trù ém, như vậy là đã ở cùng phe với mọi người nên anh chị em mới bắt đầu kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện về ông Sự: Nào là ông Sự có một “băng” riêng ở cơ quan chuyên mối lái các vụ hối lộ trong việc sửa hợp đồng cho thuê nhà cửa. Nào là, ông ta nắm giữ hàng trăm ngôi nhà, không thông qua Ủy ban, cho bọn phe mánh thuê lấy tiền chia nhau nhậu nhẹt. Ông ta dành riêng cho ba cô bồ của mình ba ngôi nhà, đêm đêm kéo bè đảng đến nhậu nhẹt, sa đọa. Nào là, ông ta đã lợi dụng sự quan liêu của một số cán bộ ở Ủy ban để đưa ký những giấy tờ không hợp pháp va cúc cung phục vụ ông Phó Chủ tịch phụ trách Nhà đất để được bao che trong những việc làm sai trái. Người ta đồn rằng, ông Phó Chủ tịch có một người anh là Thường vụ Tỉnh ủy nên ông có thế lực ở thị xã, đôi lúc ông Bí thư và ông Chủ tịch Thị cũng phải kiềng mặt. Tôi hỏi tại sao anh chị em không đưa những vấn đề này ra các cuộc họp? Họ bảo hầu hết là những người mới tham gia công tác sau giải phóng nên e ngại, đưa ra sợ ông Sự kết với Tổ chức cho nghỉ việc. Có khi, vì chuyện không đâu mà bị công an đến nhà hạch hỏi này nọ, tự nhiên được ngồi tù nữa, đâm rắc rối bất ổn ra. Trong chi bộ, ông Sự là bí thư nên khống chế hết cả. Ông Phó Bí thư vốn là người ba phải, chỉ lo an phận. Nghe đâu ông ta có lần quan hệ bất chính với vợ một sĩ quan ngụy đi cải tạo, ông Sự bắt được và che cho nên ông ta lúc nào cũng nơm nớp sợ ông Sự. Các đảng viên, người nào tốt, có đấu tranh thì bị ông Sự gài bẫy hoặc tìm cách đẩy đi, số còn lại thì sợ bị trù dập, mất hết ý chí đấu tranh, nên chi bộ không còn hiệu lực. Có người còn nói, ông Sự có dù có ô đâu tận tỉnh, tận Trung ương nên ai cũng ngại…
Từ hồi ở các cơ quan khác, tôi được nghe cấp trên khen ngợi Ban Nhà đất là nơi thực hiện chính sách tốt, biết giữ vững nguyên tắc, báo chí cũng khen ngợi nhiều. Xin lỗi dượng, có lẽ báo của dượng cũng có đôi bài khen đấy, nên khi được về đây tôi rất tự hào. Khi nghe chuyện con Thu, tôi chỉ mới ngờ ngợ, đưa ra chi bộ thử xem vì nghĩ là ông Sự và chi bộ tốt, có gì sẽ rút kinh nghiệm. Nhưng sự việc lại xảy ra như thế. Giờ đây, nghe những chuyện anh em trong cơ quan kể, tôi thật choáng váng. Có người nói rằng, những người tốt thường hay bối rối trước những cái xấu và nhận ra cái xấu rất chậm. Tôi không dám khen mình, nhưng tôi tin tôi là người tốt, nên tôi cũng nhận ra mọi việc quá chậm vậy chăng?
*
* *
Chị Ba Chẩn đột ngột dừng lại, giở túi xách lấy ra mấy lá thuốc vấn một điếu bự châm lửa hút. Ngay lúc ấy, cơ quan ở bên cạnh nhà tôi vang lên một hồi kẻng dài báo giờ làm việc. Ngồi bên bàn nước cạnh cửa sổ nhìn ra đường phố, chúng tôi thấy anh chị em cán bộ công nhân viên còng lưng đạp xe dưới nắng gắt. Chắc ai cũng sợ muộn giờ nên chen lấn nhau, đâm xe vào nhau. Cãi nhau chí chóe. Chị Ba Chẩn chỉ tay về phía ấy:
– Đấy, dì dượng thấy không? Cán bộ, nhân viên chúng ta vất vả bao nhiêu. Có lẽ sau khi đi làm về, suốt trưa lục cục lo con cái, nấu nướng rồi lùa vội dăm ba miếng để bây giờ…
– Người nào sống dựa vào đồng lương cũng vất vả-vợ tôi nói chua chát-Chỉ có bọn phe mánh với những người như ông Sự thì…
– Thì sao? Thì được cấp trên o bế, báo chí ca ngợi chứ gì?-Chị Ba hóm hỉnh nháy mắt với tôi-Tôi hỏi nhà báo, cái lũ này từ đâu mà chui ra lắm thế?
– Từ trong mỗi chúng ta chứ đâu. Nếu chị mà lùi bước thì…-Tôi nói đùa.
Ba chúng tôi cùng bật cười. Bên ngoài cửa sổ, nắng vẫn đổ lửa trên những mái nhà, đường phố…
– Nắm được tình hình, tâm sự với anh chị em trong cơ quan, với một số bà con trong thị xã-Chị Ba bập liền mấy hơi thuốc, vứt mẩu ra ngoài cửa rồi tiếp-Tôi thấy ông Sự quả là sa đọa mất phẩm chất. Cần phải đưa ra trước tập thể phê phán. Nếu ông ấy còn ngoan cố thì phải đấu tranh quyết liệt để cho rõ trắng đen. Khác với lần trước ở chi bộ, lần này, tôi có một niềm tin vững chắc là khi mình đưa ra sẽ được anh chị em trong cơ quan ủng hộ. Nhiều người còn hứa với tôi là khi tôi phát biểu xong, họ sẽ dẫn chứng cụ thể thêm. Từ lâu, tôi vốn tin quần chúng, cái sức mạnh không có bọn ngoan cố nào cưỡng nổi. Quen sống trong tập thể, nhất là những tập thể tốt trước đây, tôi cảm thấy khi mình đứng về lẽ phải thì bao giờ quần chúng cũng ủng hộ. Nhưng lần này tôi không thể bộp chộp như lần trước, quá tin vào những sự việc mình đã thu lượm được, vì đấu tranh với một đối tượng như ông Sự là một việc rất khó. Ông ta có đầy đủ lý lẽ, mưu mô để “chuội” khỏi những khuyết điểm. Nói điều này, không phải là tôi có mưu mô, kế hoạch gì để “đánh nhau” với ông ta đâu. Mà tôi muốn phải có dẫn chứng cụ thể, để trước mọi người, ông ta phải nhận khuyết điểm, từ đó sẽ dần dần suy nghĩ lại, sống cho xứng đáng với những năm gian khổ của ông ta trước đây. Tôi nghĩ mình phải tìm hiểu thêm mọi việc để khi mình nói ra thì lời nói có trọng lượng hơn, nên tôi đã bỏ qua hai cuộc họp cơ quan mà không nêu vấn đề ông Sự ra. Có lúc, trong cuộc họp, tôi thấy một số anh chị em nháy tôi, bảo tôi phát biểu, tôi vẫn ngồi im. Họp xong, tôi thấy mình hèn nhát quá, lại ân hận vì không đáp ứng được lòng tin của quần chúng. Đùng một cái, có một chuyện xảy ra, thúc bách tôi, khiến tôi nổi giận và quyết tâm hành động ngay. Một hôm, tôi đi thu tiền nhà về thì gặp dì Tư. Dì là mẹ của ba liệt sĩ, bản thân là cơ sở của ta hồi chống Mỹ mà cả thị xã ai cũng biết. Dì chăn tôi lại giữa đường:
– Ba, mày ở Nhà đất mày binh tao với. Tao bị đuổi nhà.
Tôi ngạc nhiên quá:
– Ủa, sao vậy dì? Nhà dì dượng mua từ hồi mới giải phóng, cả thị xã ai cũng biết sao lại bị đuổi?
– Tao già rồi có biết gì đâu. Hôm kia ông Sự cho người xuống bảo tao phải dọn đi vì ở trái phép.
– Dì mua có giấy tờ chớ?
Dì Tư ca cẩm:
– Mày biết không, hồi mới giải phóng, ông nhà tao ở miền Bắc về, thấy tao ở trong một cái lều bên chợ Dừa nên có ít tiền dành dụm ông bàn mua nhà. Hồi đó nhà cũng rẻ. Ông Ánh có con ở Sài Gòn rủ vào nên bán cho tụi tao. Ổng đưa giấy trước bạ với một giấy viết tay bán nhà. Ông nhà tao quen với ông Chủ tịch Phường, đến xin giấy sang tên chính thức. Ông Chủ tịch bảo cứ yên trí, chưa làm, lúc nào làm ông ấy bảo. Rồi ông Chủ tịch chuyển công tác, rồi ông nhà tao mất. Tao với đứa cháu gái có biết gì đâu…
Cách đây mấy tháng, có mụ em họ ổng từ ngoài Bắc chuyển về công tác ở Ban Giao thông. Mụ không có nhà nên lạy lục xin tao cho ở tạm một thời gian để mua nhà. Tao cho mụ ở nửa nhà. Lần lần, mụ than vãn là nhà đắt không đủ tiền mua, chồng chết, con trai đi xa, chỉ còn mụ với hai đứa con gái chẳng biết làm sao. Mụ xin tao chia cho mụ nửa nhà. Tao nói mụ cứ ở cho đến lúc mua nhà chớ chẳng chia chác chi. Vậy là mụ bảo:
– Chị cho em ở thì cho em đăng ký hộ khẩu thường trú chớ không công an họ nói.
Tao đưa giấy tờ cho mụ. Đăng ký xong, mụ chẳng chịu trả giấy tờ cho tao mà thì thụt lên chỗ ông Sự. Đột nhiên khi về, mụ thuê thợ sửa nhà, đóng gõ lung tung. Hai đứa con gái mụ nói với cháu tao là nấu chung bếp mất tự do nên đòi chia đôi bếp. Vườn sau của tao mụ cũng đòi chia. Mụ với hai đứa con chuyên gây sự đủ thứ với bà cháu tao. Khi thì đổ thừa con nhỏ lấy trộm trứng gà, khi thì bảo tao vứt giấy bừa bãi sang nhà mụ. Mụ làm như đấy là nhà mụ còn tao là kẻ ở nhờ. Tao nói với mụ là mụ ở nhờ tao, nếu mụ cứ càn quấy thì tao không cho ở. Mụ sừng sộ la làng lên là mụ có giấy nhà đất cấp cho ở cả nhà này rồi. Tao nói sao có chuyện lạ vậy thì hôm sau có người của Nhà đất mang giấy của ông Sự xuống bảo tao phải dọn nhà cho cán bộ ở, vì nhà tao mua không có giấy tờ hợp pháp, trên tịch thu.
Dì sụt sịt:
– Trước chuyện này, mụ kia càng vênh váo, nói cạnh nói khóe tao đủ thứ. Càng ngày, tao càng không thể chịu đựng nổi. Thôi, tao dọn đi quách. Tao chỉ ức là mình đã giúp đỡ người ta, người ta lại phản mình. Nằm gác tay lên trán, đêm ngủ không được, tao thường chua chát nghĩ: Hình như trong đời, những kẻ xấu thường lợi dụng lòng thương người của kẻ tốt để thực hiện những mưu đồ của họ. Cho đến lúc thực hiện được rồi, họ quay lại hại chính người đã cưu mang họ. Tao hiểu cái sự đời như vậy rồi. Giờ bị đuổi nhà, tao có ức nhưng cũng không lo buồn chi lắm. Xưa giờ, tao ở bờ ở bụi quen rồi. Chỉ tiếc-bà cụ rưng rưng nước mắt-Tao hỏi mày, giờ ngồi ngoài đường, tao lấy chỗ nào mà thờ ảnh Cụ Hồ với ba đứa con tao?
Nghe dì Tư kể, tôi tức lắm. Việc này trái đạo lý quá. Vốn nghĩ là mình đã nắm được quần chúng trong cơ quan, nay thêm chuyện dì Tư nữa, nên nhân một cuộc họp cơ quan, tôi đưa việc dì Tư ra, đưa cả những chuyện anh chị em kể về ông Sự. Vừa phát biểu, tôi vừa đưa mắt nhìn những người “cốt cán” của tôi. Tôi còn gợi ý là sau ý kiến tôi, anh chị em trong cơ quan sẽ phát biểu thêm. Nhưng tôi cũng không ngờ, cả mấy chục người ngồi họp vẫn lặng thinh. Ông Sự tím mặt, gằn giọng nói:
– Cảm ơn đồng chí đã góp ý. Về cái việc mà đồng chí nói và dẫn chứng lời kể của anh chị em trong cơ quan, xin phép cho tôi hỏi lại từng người. Nếu họ không nói, đồng chí sẽ chịu trách nhiệm. Tôi xin nói cho đồng chí biết, trước đây, tôi nghe nói đồng chí hay thóc mách ở các cơ quan cũ, họ không chịu nổi, đồng chí phải đi. Tôi đã không muốn nhận đồng chí. Nhưng anh Tám, Phó Ban Tổ chức chính quyền giờ về hưu rồi cứ ép tôi, bảo đồng chí là tốt, có công với cách mạng, đã chịu sửa chữa tính tình nên tôi bấm bụng mà nhận. Hy vọng đồng chí sẽ biết điều, lo công tác cho tốt. Ngay ban lãnh đạo cũng rất chiếu cố đồng chí. Thử hỏi trong cơ quan có ai độc thân lại được chia phòng rộng như đồng chí không? Vậy mà vì những động cơ gì đó mà đồng chí phản lại những người làm ơn cho mình. Về công việc, tôi thấy đồng chí làm việc khó khăn, không nắm được nghiệp vụ lại hay mách lẻo chuyện người khác. Chắc tôi phải nghĩ lại-ông gằn giọng-Tôi đây, tôi có nghề trong tay, đã qua đại học, nắm giữ chính sách của Đảng mà tôi không biết hay sao. Tôi nói sang chuyện đồng chí thắc mắc về bà cụ Tư. Đứng về nguyên tắc, bà cụ không có giấy tờ hợp pháp để minh chứng, tôi giải quyết thế là đúng. Cái đúng nữa là bà cụ là dân thường còn chị kia là cán bộ nhà nước, tôi phải giải quyết cho chị ta an tâm công tác. Nhưng nói thật với đồng chí, tôi không phải là người khô khan đâu. Tôi bảo với chị kia là nhà đó còn có một cái nhà kho, chị nhường cho hai bà cháu ở…
Tôi tức tối, đứng dậy, không xin phép ai, nói về dì Tư, về những năm tháng dì làm cơ sở mà tôi đã biết. Nếu không có những người “dân thường” như dì thì làm sao cách mạng thành công. Nhưng cả cơ quan đều im lặng. Ông Sự chủ trì cuộc họp kết luận sự việc tôi vừa nêu lên thiếu căn cứ, là càn quấy, là vu cáo, có những động cơ xấu đối với cán bộ lãnh đạo.
– Không thể để như thế này được. Chẳng lẽ ta cứ mặc sức cho những người như ông Sự tác oai tác quái hoài sao- Vợ tôi bực bội kêu lên rồi quay sang phía tôi-Còn anh, nhất thiết anh phải đưa chuyện này lên báo. Các anh cứ loanh quanh với các ông thủ trưởng, họ đãi cho các anh một chầu bia thì cái gì các anh chẳng cho là tốt.
– Sao em ăn nói vô căn cứ vậy-Tôi rất căm phẫn thái độ của ông Sự đối với chị Ba và bà cụ Tư nhưng nghe vợ mỉa mai mình nên nổi máu tự ái nghề nghiệp, quạt trở lại- Mọi việc cũng phải tìm hiểu cho có gốc có ngọn đã chứ. Đưa lên báo mà không chính xác thì họ quật mình chết tươi ngay. Em cứ để chị Ba kể tiếp rồi tính.
Vợ tôi đay lại:
– Để…để chị Ba với bà cụ Tư chết rồi anh mới…
Chị Ba Chẩn ngồi sững sờ, nghe vợ chồng tôi cãi nhau một lúc rồi mỉm cười phân trần:
– Ủa, dì dượng cãi nhau cái chi vậy hè. Tôi kể cho dì dượng nghe chuyện riêng của tôi với ý thức là chị em trong nhà nói cho nhau nghe để dì dượng biết cái uẩn khúc của tôi, thông cảm cho tôi, có gì thì cho thêm ý kiến để tôi làm tiếp cái việc tôi đang làm chớ tôi có biểu đưa lên báo chí chi mà cãi. Dượng là nhà báo ở chỗ khác chớ ở đây là em rể tôi thôi chớ-Chị dừng lại một lúc rồi tiếp-Mà chuyện đưa lên báo lên chí đâu phải dễ. Nó là cái gì to tát kia, chớ đây chỉ là chuyện thỏn mỏn, cá nhân, mình đưa lên người ta cười cho-chị cười-Với lại, nếu mà kể cho các nhà báo nghe thì tôi kể khác chứ nói chi tuột luột như vầy.
– Chuyện đáng đưa lên báo thì phải đưa chứ-Vợ tôi có lẽ còn bực tức với tôi nói xen vô-Hay chị kể thêm kể bớt, sợ đưa lên không đúng người ta cười…
Chị Ba Chẩn vụt nhìn vợ tôi, vẻ trách móc:
– Dì không tin tôi sao? Tôi nói thêm nói bớt để được cái gì với dì dượng chứ. Dì biết tính tôi rồi, tôi đã kể là phải kể tuột luột ra. Nhưng tôi nghĩ đưa lên báo có lợi gì? Tôi muốn đây là chuyện giải quyết trong nội bộ Đảng. Đăng lên báo chí mọi chuyện tùm lum ra ảnh hưởng cho các anh lãnh đạo địa phương cũng khó làm việc chớ.
Ba chúng tôi im lặng một lúc lâu rồi vợ tôi lại càm ràm:
– Chị không muốn đưa lên báo chí thì việc của chị, còn anh ấy thì anh ấy phải đưa. Nhưng em muốn hỏi tại sao chị không đem việc này báo cáo với các anh ở Thị ủy để họ trị cho lão Sự một mẻ. Ít ra chị cũng ra đây bàn với tụi em chứ. Sao chị cứ đơn độc mà chọi với lão ta vậy? Chị không biết lão đã khống chế được chi bộ thì lão cũng có cách khống chế luôn cả cơ quan à?
Chị Ba Chẩn nhìn vợ tôi, vẻ lúng túng. Từ hồi nào đến giờ, tôi ngầm nhận xét là chị luôn bị cô em, tức vợ tôi “ăn hiếp”. Khuôn mặt gầy xanh hốc hác của chị lộ vẻ bối rối, ngơ ngác. Đó là khuôn mặt của những người suốt đời trung thực, chỉ lo làm việc, chỉ lo nghĩ đến những điều tốt-khuôn mặt thánh thiện-mà không hề nghĩ chung quanh mình biết bao kẻ xấu, kẻ ác đang rình rập hãm hại, trong khi mình không có gì để chống đỡ. Nhìn chị, tự nhiên tôi nghĩ đến những chuyện cổ tích, bao giờ kết thúc, kẻ ác cũng thua, người hiền luôn bị bầm dập nhưng cuối cùng sẽ chiến thắng. Có lẽ những câu chuyện ấy chỉ là sự mơ ước của con người chăng? Vì kẻ ác nhiều quá, kẻ thiện phải thua, nên chỉ còn biết mơ ước…Nếu không như vậy, thì từ xưa giờ, chúng đã bị tiêu diệt cả rồi, để chi đến ngày nay, kẻ ác vẫn còn nhiều, sự đểu cáng vẫn còn nhiều quá. Tôi thấy chị Ba di di mãi cốc nước trên tay, một lúc sau mới trả lời vợ tôi, giọng khàn khàn:
– Có. Tôi có chạy chớ. Rồi tôi nói dì nghe. Nhưng dì thông cảm là lúc ấy tôi nghĩ, ở chi bộ có một nhúm người, ổng khống chế được. Nhưng ở cơ quan, ổng không thể bịt mồm mọi người được. Anh chị em đã tâm sự với tôi đầy uất ức. Họ còn nhận là sẽ dẫn chứng thêm cho tôi. Vì vậy, tôi nghĩ đưa những chuyện trên ra cuộc họp cơ quan là phải, là nhân đó, anh chị em có dịp phát biểu ý kiến, mở rộng quyền làm chủ tập thể, dùng sức mạnh của quần chúng chỉ ra cho ông Sự thấy những khuyết điểm, giúp ông có dịp suy nghĩ để sửa chữa. Ai ngờ, ngay trong cuộc họp, tôi bị cô lập. Không ai nói gì hết. Ngay cả những người đã hăng hái kể cho tôi nghe những chuyện về ông Sự, khi tôi dẫn chứng ra thì gườm gườm nhìn tôi. Có lẽ họ sợ thủ trưởng trù dập. Sao lại sợ trù dập? Dì dượng nói tôi nghe thử-Chị nhìn vợ chồng tôi-Ta đang làm việc dưới chế độ ta, nếu ta không đấu tranh cho cái tốt đẹp thì ta đổ máu bao nhiêu năm giành chính quyền về tay ta để làm gì?
*
* *
– Sau cuộc họp-chị Ba Chẩn kể tiếp-tôi thấy có người thì thụt lên phòng ông Sự xin lỗi, chửi bới tôi vu oan họ. Có người đỡ hơn thì gặp tôi thanh minh là hôm ấy họ chỉ nói chơi, tôi đem ra cuộc họp làm gì cho ông Sự giận họ. Một số tốt hơn thì tỏ ý thông cảm, lắc đầu lo ngại nhìn tôi. Họ như muốn nói với tôi rằng: chúng ta chẳng làm gì được ông Sự đâu. Chúng ta chịu thua thôi. Tất cả những việc ấy làm tôi bối rối, chẳng hiểu ra làm sao cả. Sau này tôi mới hiểu ra rằng, nói cho cùng, cái lực lượng quần chúng trung gian này vừa đơn giản, vừa phức tạp. Họ có bản chất tốt, ưa chân lý, nhưng tạm thời trước mắt, họ sẽ đứng về phía nào thắng. Lúc đầu, với ý thức tốt, bực bội trước những cái sai của ông Sự, họ nghĩ rằng tôi là người nắm lẽ phải, có thể đấu tranh nên ủng hộ tôi. Nhưng khi tôi bị ông Sự quật lại thì họ chùn bước, lúng túng, có người quay lại phía ông Sự chống tôi. Có lẽ, có một lúc nào đó, khi có cấp trên bảo vệ và tôi lại thắng thế, chắc họ lại đấu tranh với ông Sự, sẽ tố cáo ông ta, ủng hộ tôi. Nhưng bây giờ, tôi bị thất thế là vì chưa kéo được họ đứng hẳn về phía mình, kiên quyết đấu tranh với ông Sự. Vì sao vậy? Vì ông Sự còn trấn áp được họ. Họ sợ bị trù dập. Mà sự trù dập ở đây lại được mệnh danh là “Bảo vệ Đảng” nên càng đáng sợ hơn. Bởi vì, ở đây, chống lãnh đạo là chống lại Đảng, chống Bí thư Chi bộ là chống lại Đảng. Không ai tính rõ người lãnh đạo ấy là con người cụ thể nào, là Bí thư cụ thể nào. Cả một hệ thống quan niệm quan liêu như vậy làm cho những người trung gian lo sợ. Từ khi có Đảng đến giờ, đa số họ đã tin ở Đảng, ở các cán bộ lãnh đạo. Họ coi Đảng là thiêng liêng. Cho nên, hiện nay, trong giai đoạn Đảng cầm quyền, nếu một số cán bộ lợi dụng danh nghĩa “bảo vệ Đảng” mà trù dập họ thì họ sẽ không biết làm sao…Đó là những điều thực đau xót nhưng dù sao cũng là kinh nghiệm mà tôi rút ra được dì dượng ạ.
Chị Ba Chẩn dừng lại, cầm nón quạt liên hồi. Bên ngoài, trời vẫn nắng hừng hực. Những hàng phượng bên hè phố đỏ rực trông như những bó đuốc đốt lên bầu trời xanh không một gợn mây.
– Còn về tôi-chị Ba Chẩn tiếp-sau vụ ấy, ông Sự và ban phụ trách xét nét hơn. Họ không muốn tôi có mặt ở cơ quan để “xoi mói”, “nhòm ngó” vào công việc của họ nữa. Họ cử tôi đi mua hàng, dọn hố xí, quét rác rưởi quanh cơ quan, chẳng việc gì ra việc gì cả. Có lẽ đó cũng là cách họ “trị” tôi để tôi hiểu ra, khi tôi đấu tranh với họ thì sẽ được cái gì.
Tôi chạy lên anh Tân Bí thư Thị ủy, kể hết mọi chuyện cho ảnh nghe. Trời ơi, ngay anh Tân, một đồng chí từng lăn lộn vào sanh ra tử thời chống Mỹ, người hiểu tôi hơn cả trong Thị ủy, vậy mà cũng chăng nắm được gì về ban Nhà đất cả. Có lẽ ảnh đã bị những người tham mưu bịt mắt. Mà những người tham mưu, dì dượng ạ, ông Sự chỉ cần bỏ một bữa bia là mua được tất. Nhìn ở thị xã thôi, suy ra cả nước ta, cái thứ tham mưu ấy nhiều vô kể, phá hoại biết bao việc lớn. Ở chỗ tôi nhỏ, có hại gì thì chỉ một mình tôi, cơ quan tôi chớ rồi nghĩ dại, nếu ở trên thì những người này làm hại cả quốc gia. Tôi nói vậy, có gì sai, xin dì dượng hiểu biết hơn tha thứ cho. Nên dù hiểu tôi, nhưng khi tôi kể chuyện, anh Tân cứ hừ hừ hử hử ngạc nhiên lắm. Anh bị họ che giấu hết mọi sự thật mà.
Sau khi tôi về, ảnh cho mời ông Sự lên, nghe nói ảnh hỏi ông về việc này việc nọ, sạt ông ta đủ thứ. Có lẽ anh Tân cũng muốn tìm hiểu sự thật thôi. Nhưng với ông Sự, như thế cũng đủ làm cho ông ta bực rồi. Vì lâu nay có ai hạch hỏi gì ông ta đâu. Ông ta chỉ được nghe lời khen thôi. Vốn kẻ nạt dưới thường hay sợ trên nên việc ấy cũng là một cú báo động với ông ta. Thấy vẻ mặt ỉu xìu của ông Sự khi về, tôi cũng hơi mừng mừng vì nghĩ ông ta được các anh Thị ủy giúp đỡ, hẳn sẽ thấy sai lầm mà sửa chữa. Nhưng mấy hôm sau, mặt ông ta lại vênh váo trở lại, cười nói bô bô:
– Cái thằng du kích khú đỉn ấy sắp mất chức rồi. Làm chó gì được.
Vài ngàỳ sau, tôi nghe tin anh Tân xin về hưu sau khóa bầu cử vừa qua. Thế là có một điều bất lợi cho tôi. Anh Tân là người hiểu tôi nhất trong Thị ủy. Dù bây giờ anh chưa rõ mọi điều, nhưng dần dà, tôi trình bày thêm, thế nào anh cũng rõ. Qua anh, nhất định các anh ở Thị ủy sẽ hiểu tôi hơn. Giờ đây, anh nghỉ rồi, ai sẽ là người hiểu cho tôi đây? Nhưng việc ấy cũng không thể gây ra cho tôi những cái khốn khổ như sau này. Mà chính là do khuyết điểm của tôi gây ra, làm cho mọi chuyện rối ben thêm…
Chị liếc nhìn tôi bối rối…Còn vợ tôi thì sửng sốt, trố mắt nhìn chị, vẻ mặt đầy lo ngại.
– Đáng ra thì tôi chỉ nói chuyện này với dì thôi, chị em gái với nhau mà. Nhưng dượng nghe cũng được, dượng là nhà báo chắc dượng thông cảm. Quả là tôi có sai với Đảng, sai nhiều lắm, tôi không dám giấu…-Chị dừng lại, giọng ngắc ngứ rồi tiếp-Dì dượng cũng đã biết hoàn cảnh của tôi. Cha mẹ không còn, anh em hy sinh hết. Cả nhà chỉ còn có một mình tôi. Tôi ao ước có một gia đình, sinh con đẻ cái nối dòng nối dõi. Vậy mà chẳng có ai đến với tôi cả. Chắc dì biết rồi. Hồi ở căn cứ, khi tôi còn khỏe mạnh, uy tín lừng lẫy thì lắm anh theo. Đến nỗi, khi biết tôi yêu anh N. rồi, mà cũng còn hàng tá anh xông vô,”hòng đánh bật” N. Rồi N. đi công tác dưới đồng bằng, bị địch phục kích bắn chết, giữa lúc tôi buồn khổ ấy, chắc dì cũng thấy nhiều anh đến an ủi tôi. Giờ tôi là gái về già, lại hay đau ốm nữa thì có bói cũng không ra ai màng đến. Lớp trẻ thì là đàn em út rồi. Lớp ngang mình bây giờ đã có vợ có con. Còn lớp già thì khỏi nói. Họ có con đàn cháu giống rồi, mệt mỏi rồi. Nếu người nào muốn lập gia đình thì cũng tìm một cô trẻ hơn, có thể chăm lo họ được. Trong khi đó, mình cứ sống loanh quanh ở thị xã này, làm sao mà gặp ai. Xét vậy, tôi nghĩ là mình không thể lấy chồng được. Nhưng tôi thèm có một đứa con quá. Nhìn những đứa trẻ đùa chơi, tôi cứ muốn lao đến ôm chầm, hôn hít. Có lần, tôi riết tôi hôn một cháu nhỏ, con một chị ở cơ quan quá mạnh, làm nó khóc ré lên, tung khỏi tay tôi bỏ chạy. Sau này, thấy tôi nó cứ bảo “bà điên” rồi òa khóc. Nhiều đêm, nằm lắng nghe nhà hàng xóm ru con mà tôi ứa nước mắt, thở dài, không ngủ được, cứ trở dậy hết ra sân lại vào phòng. Có lúc, tôi không chịu nổi tiếng ru con nữa, phải bỏ ra đường, đi lang thang như con chó giữa đêm mưa rét mướt. Thế là tôi quyết định đi tìm một đứa con nuôi. Tôi tìm đến những nhà đông con, khó khăn, năn nỉ cho mình xin một đứa. Nhưng chẳng nhà nào chịu cho. Họ nghèo khổ, khó khăn thật đấy, nhưng cho người khác nuôi con mình, dù ăn vàng ăn bạc họ cũng chẳng muốn. Tôi mới hiểu ra rằng, những người nghèo thường thương con cái, có điều, họ nghèo quá nên không có thời gian chăm sóc mà thôi. Đi săn tìm mãi, cuối cùng tôi gặp một chị nông dân đông con. Tôi phải hứa là tôi nuôi cháu, khi nào chị muốn thì cứ đưa về. Chị đồng ý cho tôi nuôi một cháu chừng năm tuổi. Tới lúc rủ cháu đi với mình thì gặp khó khăn. Cháu không muốn xa anh, chị em cháu. Tôi phải dùng quà bánh dụ dỗ, cháu mới theo tôi. Nhưng ngay đêm ấy, cháu khóc đòi về nhà. Ngày hôm sau thì cháu giận dữ, ngỡ tôi lừa cháu nên không chịu ăn uống ngủ nghê gì cả. Cháu gào khóc miết. Tới ngày thứ ba, tôi phải đưa cháu về với mẹ cháu. Tôi nghĩ nuôi con người khác thật là khó. Vì vậy, tôi quyết định phải có một đứa con, con rứt ruột của mình.. Thế là tôi nảy ra ý tán tỉnh một anh nào đó, già cũng được, ăn ở với mình chốc lát, miễn là anh ta cho mình một đứa con. Nghĩ ra vậy thôi, nhưng tôi tự gạt đi, thấy xấu hổ quá. Nhưng rồi, lâu lâu ý nghĩ ấy lại trở lại. Tôi gạt đi. Nó lại trở lại. Vậy là tôi tặc lưỡi quyết làm liều. Nhưng tán tỉnh dụ dỗ ai bây giờ khi tôi ngó xấu xí, đau yếu như một bà già vầy? Ở cơ quan, chẳng ai thèm ngó tôi rồi. Quanh quanh thị xã ngó chừng cũng không xong. Có nhiều đêm tôi lang thang ra vườn hoa thị xã, mong gặp một người đàn ông nào đó lẻ chiếc cũng tìm bạn như tôi.
Vườn hoa nằm ở trung tâm thị xã. Xưa kia là bãi rác. Sau ngày giải phóng, ta vận động hàng ngàn công lao động xã hội chủ nghĩa xây dựng nên. Giữa vườn hoa là một cái hồ bán nguyệt, xung quanh là những luống hoa được chia cắt bằng những lối đi rải sỏi. Tôi thường thơ thẩn trên những lối đi rồi đến ngồi trên một ghế đá bờ hồ, tựa lưng vào một gốc dừa. Chung quanh tôi, những cặp tình nhân, những cặp vợ chồng dắt con cái đi qua. Nhìn họ, sao mà hạnh phúc. Họ vui vẻ, cười nói, hôn nhau, cùng nhau vào những quán giải khát che dù xanh dù đỏ ở gần đấy. Ở đây, cũng có những người lẻ chiếc vừa đi vừa ngắm phong cảnh, mặt đầy vẻ suy nghĩ. Họ có mắc mứu gì ở cơ quan, bực dọc gì ở gia đình hay đang suy nghĩ trù tính về công việc, làm ăn? Tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết mặt họ luôn đăm chiêu, chẳng nhìn ai cả. Ở đây, tôi cũng đã từng gặp bọn săn gái. Bây giờ, hỏi tôi làm sao phân biệt được trong số những người dạo ở vườn hoa, ai là kẻ săn gái, ai là không thì tôi xin chịu. Tôi chỉ biết là bọn này có bộ mặt khả ố lạ lắm, đôi mắt chúng hau háu như muốn lột trần người ta ra. Một lần, tôi đang ngồi như bao lần tựa gốc dừa nhìn ra hồ thì có một gã tuổi cũng gần năm mươi bước đến ngồi bên tôi. Tôi xịch ra cho hắn ngồi, nhưng hắn giơ hai ngón tay và chỉ tôi vào một góc tối. Tôi khoát tay, bực bội. Có lẽ hắn hiểu sai ý tôi nên giơ cả năm ngón. Tôi không hiểu gì cả, hắn liền a vào ôm tôi và rút ra một tờ giấy năm mươi đồng. Nỗi giận tràn lên chẹn cổ tôi. Trời ơi, hắn tưởng tôi là gái làm tiền sao. Tôi vùng ra khỏi người hắn, vung tay tát vào mặt hắn rồi bỏ chạy. Tôi còn nghe sau lưng mình tiếng cười khả ố của hắn.
Từ đó tôi không bao giờ đến vườn hoa nữa.
Một hôm, tôi chợt nhớ đến một người bạn cũ cách thị xã chừng hai mươi cây số. Anh này hồi chống Mỹ, có lúc yêu tôi, tôi cũng có cảm tình với anh ấy. Sau đó, anh bị địch bắt nên hai bên xa nhau luôn. Bây giờ, anh đã có vợ, một con, nhưng tôi nghe nói hai người bỏ nhau. Tôi hy vọng giữa lúc bất ổn về tinh thần, anh sẽ đồng ý quay lại sống với tôi. Tôi xin cơ quan nghỉ phép hai ngày và đến nhà anh ấy. Gặp tôi, ảnh rất mừng, nhưng không phải vì quyến luyến tôi mà vì có người để tâm sự nỗi buồn khổ khi phải xa người vợ cũ. Anh còn yêu vợ lắm. Tôi thất vọng quay về. Nỗi ham muốn có con càng dày vò tôi. Thế là…xin dì dượng tha thứ…tôi đã ăn nằm với một người mà…
Việc ấy đã xảy ra như thế này:
Dạo ấy, Ủy ban Thị có quyết định xây một nhà bảo tàng cho thị xã. Ủy ban có nhờ một đội thợ xây thuộc công ty xây dựng của tỉnh về làm giúp. Khu vực xây nhà bảo tàng sát với cơ quan tôi. Đội thợ xây đóng quân ở ngay khu vực làm việc. Ở đó, không có nước, nên họ vào nhờ cơ quan tôi cho lấy nước nấu ăn, tắm giặt. Trong số thợ xây, có một người gần 50 tuổi, dáng dấp nhanh nhẹn, đôi mắt thông minh. Cũng như mọi người trong đội, cứ chiều tối anh đến tắm nhờ. Sau giờ làm việc, những anh chị có gia đình về cả, số thanh niên độc thân ở tập thể hay đi chơi, chỉ có tôi ở nhà. Anh ta thường mượn thau, xô của tôi để tăm giặt. Khi đem trả, anh ta thường nấn ná nói chuyện phiếm với tôi. Anh ta thường hỏi tôi về gia đình, về đời sống ra sao. Anh cũng kể cho tôi nghe, anh mồ côi từ nhỏ, làm thợ xây kiếm ăn, nay vào làm nhà nước. Qua chuyện kể, té ra, anh cũng là người gốc ở thị xã này. Có lần anh tâm sự, anh chán đi lưu động, muốn kiếm một chỗ làm yên ổn, Ban Nhà đất có còn cần người không? Tôi bảo anh nên hỏi ông Sự thì sẽ rõ. Hôm sau, anh khoe với tôi là ông Sự đã chấp nhận, làm xong nhà bảo tàng, anh sẽ xin về cơ quan. Ngày này qua ngày khác, tôi càng thấy anh ta gần gũi với tôi hơn. Có những chiều, vì lý do gì đó, anh không tới, tôi mượn cớ ra chơi với đám thợ để hỏi về anh. Rồi một hôm, sau khi anh tắm xong…Sự việc ấy đã xảy ra. Trong lúc nằm bên nhau, anh nói anh cũng yêu tôi, thương hoàn cảnh của tôi và nói về đời sống sau này khi có con cái. Anh còn thúc tôi xin một phòng rộng hơn cho tiện đời sống gia đình. Chính những ngày đó, tôi đã kể cho dì dượng nghe ở trên, ông Sự gợi ý việc đổi phòng, tôi đã nhận phòng khác…
Thế rồi, đùng một cái, anh ta biến mất. Tôi dò la, những người thợ xây bảo anh ta cùng một số kẻ xấu đi vượt biên, đã bị công an tóm đi tù rồi. Họ còn cho biết thêm: anh ta vốn là sĩ quan ngụy, cải tạo xong, về nhà, cả gia đình đã vượt biên. Nhà cửa bị tịch thu nên anh ta sống lay lắt, sau nhờ ai đó xin vào làm hợp đồng với đội thợ xây…Bây giờ…
Nghe chuyện, tôi điếng hồn. Nhiều đêm cứ trằn trọc day dứt không ngủ được. Tại sao tôi lại cả tin, đi ăn nằm với một người có lý lịch như vậy? Chẳng thà tôi gặp một người khác còn hơn? Tại sao? Tại sao? Tôi đau đớn, dằn vặt…Trời ơi, tôi thật có khuyết điểm với Đảng, xấu hổ với dì dượng quá, nên trong lúc có chuyện bí bức ở cơ quan, muốn ra xin dì dượng một lời khuyên mà không dám ra…
Chị gượng cười, nhìn vợ chồng tôi rồi tiếp:
– Sau vụ ấy, không ai biết cả…Nhưng tôi thấy trong người mình có gì khác khác. Lần lần, tôi cảm giác một hình hài trong tôi lớn dần…Tôi dị quá, nịt bụng lại; nhưng rồi cũng lộ ra. Chuyện ấy bục ra sau vụ tôi với ông Sự căng nhau về chuyện dì Tư và các chuyện khác mà tôi đã đưa ra hội nghị cơ quan.
– Cô đã hủ hóa với ai? Ông Sự truy tôi trong một cuộc họp chi bộ.
Tôi không dám khai chuyện tôi đã ăn nằm với một sĩ quan ngụy cũ, đã vượt biên và bị bắt. Tôi vòng vo nói là có một thanh niên đã quyến rũ tôi. Ông Sự hỏi đó là ai? Ở đâu? Tôi ấp úng. Ông mở liên miên hết cuộc họp này đến cuộc họp khác. Ông chất vấn, bắt viết kiểm điểm, tờ này sang tờ khác. Tôi đành khai thật là tôi xấu xí, không ai thèm lấy, nên ăn nằm với một người thợ xây để kiếm chút con. Người thợ xây đó là ai? Tôi đành khai cái anh đã vượt biên. Ông Sự lập tức truy tôi là có quan hệ với kẻ phản quốc, thiếu lập trường giai cấp, có thể có những vấn đề dính líu đến chính trị và bắt tôi khai ra. Tôi nói, tôi cả tin, tưởng anh ta là kẻ mồ côi làm thợ, không biết lý lịch anh ta. Ông Sự bảo tôi man trá, lại chất vấn, lại bắt viết kiểm điểm. Tôi vốn nóng tính, dì biết rồi, nên bực tức nói một câu mà sau này, tôi nghĩ lại thấy sai quá:
– Thôi, nếu các đồng chí thấy tôi không xứng đáng là một đảng viên thì cho tôi ra Đảng chớ tôi không chịu nổi sự truy ép này nữa.
Thế là, vài hôm sau, tôi được ông Sự triệu tập đến họp chi bộ. Trong cuộc họp, ông nói đủ thứ về phẩm chất người Đảng viên, trích dẫn những câu nói của Mác, Lênin, Bác Hồ ra phân tích. Ông nói tràng giang đại hải, nói hùng hồn lắm. Cuối cùng, ông nghiêm sắc mặt, nói rằng tôi không đủ phẩm chất người cộng sản nữa, chi bộ quyết định khai trừ tôi ra khỏi Đảng. Giữa cuộc họp, tôi khóc nấc, nói tôi có khuyết điểm, nhưng do hoàn cảnh, do cả tin, xin Đảng thương tôi lần cuối. Tôi có nóng tính, nói không đúng nhưng tôi tha thiết yêu Đảng. Bao nhiêu năm đi theo Đảng, giờ phải xa Đảng làm sao tôi sống được. Nhưng ông Sự, Bí thư Chi bộ nói:
– Chị có khuyết điểm, tự xin ra Đảng. Đảng cho ra là hợp lý, có gì mà khóc…
Sau này, có một bác thợ xây cho tôi biết. Có lần anh kia đã rủ bác đi uống bia và tâm sự với bác rằng, anh ta được ông Sự cho tiền để quyến rũ một cô gái già “mót chồng”. Và…
Chị Ba Chẩn gục đầu xuống mặt bàn, im lặng. Còn vợ tôi thì thét lên:
– Trời ơi, đồ đểu, em phát điên mất…Thị ủy đâu? Ban Kiểm tra Đảng đâu mà để như vậy? Cả đời người ta cống hiến cho cách mạng mà chỉ có một khuyết điểm nhỏ do hoàn cảnh lại đem đổ sông đổ biển ráo-Vợ tôi thét lên, hầm hầm nhìn tôi như chính tôi là người đọc quyết định khai trừ chị Ba Chẩn vậy.
Tôi biết vợ tôi vốn là người trung thực, lại biết ứng xử với từng người từng lúc, nói như chị Ba Chẩn là “biết khôn ngoan” chứ không trực tính như chị Ba. Nhưng lúc này, thần kinh căng thẳng, vợ tôi lại không đủ sức chịu đựng như chị Ba Chẩn đã chịu đựng những đau khổ của chị để bây giờ ngồi trầm tĩnh kể lại chuyện mình như kể chuyện về một người nào đó. Bản thân tôi, tôi cũng thấy cả người mình run lên. Có một cái gì đó cứ chẹn ngang cổ tôi. Nhưng vốn có bản lĩnh nghề nghiệp, biết cố nén những tình cảm bột phát để đủ sức tỉnh táo tìm hiểu những sự việc gay cấn mà tôi thường gặp trong công tác. Tôi rót hai cốc nước, đặt trước mặt chị Ba và vợ tôi rồi điềm tĩnh hỏi:
– Chị đã lên Ban Kiểm tra Đảng Thị chưa?
– Có rồi-chị Ba cũng điềm tĩnh đáp-Tôi đã chạy đến Ban Kiểm tra Đảng Thị chầu chực suốt một buổi mới gặp ông Trưởng ban. Ông này trông to lớn, bệ vệ. Ông ta trịnh trọng ngồi xuống một chiếc ghế tựa, đưa tay chỉ tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện rồi hất hàm ý hỏi tôi đến làm gì. Tôi trình bày hoàn cảnh tôi. Ông ta gừ gừ trong cổ họng rồi nói:
– Tôi có nghe việc này. Họ khai trừ chị là đúng.
Tôi điếng người, lả dần, khuỵu xuống như không còn xương sống. Tôi giơ tay như người bị nước cuốn van xin ông ta. Nhưng ông Kiểm tra chẳng nói chẳng rằng, bỏ tôi ngồi một mình, bước ra ngoài. Tôi đau đớn nghĩ rằng mình là kẻ bỏ đi nên đồng chí mình mới coi khinh mình như vậy. Chân tay run lẩy bẩy, tôi bước ra khỏi Ban Kiểm tra, không dám nhìn một ai. Sau này, tôi mới biết, ông Sự đã chạy cho ông Trưởng Ban Kiểm tra một ngôi nhà to quá, làm gì mà…
Quay về nhà, tôi phát ốm, phải đi viện nằm mất cả tháng. Thế rồi tôi đẻ non và cháu bị mất. Niềm hy vọng to lớn của tôi như thế là bị sụp đổ. Tôi đau khổ, khóc mãi, không chịu ăn uống gì. Người tôi gầy rộc, mắt hõm sâu, tay chân run rẩy, nhiều người khó tin là tôi có thể sống được. May nhờ có cô y tá phục vụ luôn an ủi tôi. Dần dần tôi tỉnh trí lại, ăn uống được và bình phục. Các bác sĩ cho tôi đi an dưỡng ở nhà nghỉ mát của Thị thêm một tháng nữa.
Thời gian an dưỡng là thời gian tôi dằn vặt suy nghĩ ghê lắm. Tôi bắt đầu tự kiểm điểm lại quãng đời từ khi tôi tham gia cách mạng cho đến nay. Tôi nhớ lại từng khuyết điểm nhỏ. Hồi ở thanh niên xung phong, có lúc tôi nóng nảy chửi bới chị em, đáng ra mình chỉ góp ý nhẹ nhàng thì có hiệu quả hơn. Có khi mình ép chị em cõng nặng quá, trong lúc không chịu tìm thứ gì để bồi dưỡng cho chị em. Cho đến việc ở Ban Văn hóa, Ban Lương thực. Có lẽ lúc ấy mình thuyết phục nhỏ nhẹ hơn thì mọi người sẽ đồng tình với mình. Còn việc vừa qua, cái dở nhất của tôi là, dù nóng nảy, cũng không nên đụng đến Đảng, xin ra Đảng. Về việc này, tôi tự vấn kỹ. Không phải mình xuê xoa cho mình, mà tự thấy, dù có khuyết điểm, tôi vẫn còn đủ tư cách một đảng viên. Tại sao ông Sự lại chấp nhặt ý kiến tôi phát biểu trong lúc nóng nảy? Có lẽ lâu nay ông biết tôi vốn nóng tính nên nhân khuyết điểm của tôi, ông có thủ đoạn truy bức để tôi nói ra những lời ấy, có cớ để ông gạt tôi ra khỏi Đảng. Nghĩ đến điều này, tôi cảm thấy bực điên lên. Tôi nghĩ rằng, sau khi điều dưỡng, tôi phải đấu tranh để bảo vệ uy tín của mình, để mọi việc phải trái được phân minh, tôi không biết mình đã nghe ai nói nhưng nghĩ lại trường hợp tôi, tôi thấy trong những ngày đau ốm, mình có những suy nghĩ bằng cả một đời người.
Khi nghỉ dưỡng xong, tôi lần mò đi khắp các cơ quan có thẩm quyền xét đến việc của tôi để khiếu nại. Nhưng tôi không ngờ, trong thời gian tôi đau ốm, ông Sự đã có dịp trình báo với mọi nơi, tất nhiên là pha thêm nhiều mắm muối, chủ yếu là ông khai thác ở tính nóng nảy của tôi. Sau này, tôi nghe một người bạn ở Ban Tổ chức nói, ông đã báo cáo với ông Trưởng ban rằng: “Trong khi tôi bị khuyết điểm, ông nhẹ nhàng bảo tôi viết kiểm điểm thì tôi không chịu viết, phản ứng vung vít, không thèm làm này nọ. Khi bị tập thể Chi bộ quyết định phải viết kiểm điểm thì tôi nóng nảy, đập bàn, xô ghế, bảo Chi bộ như con này, con nọ. Chi bộ thân ái góp ý thì tôi chửi lại, còn đe thêm là có đưa lên tới Trung ương tôi cũng chửi, bởi Đảng bây giờ là Đảng của bọn cơ hội, bọn có chức có quyền chứ có phải Đảng của những người cộng sản chân chính đâu! Không phải chỉ có báo cáo láo với Ban Tổ chức mà đi đâu, gặp ai, ông Sự cũng nói như vậy. Dì dượng hẳn biết rồi, bây giờ chẳng ai có thời gian để mà đi điều tra với thẩm định sự việc có đúng hay không. Họ nghe nói tôi đụng đến Đảng là có tội tày trời rồi. Vả lại, điều ấy do một người có chức có quyền nói ra thì người ta càng tin hơn. Rồi từ hai cơ quan cũ của tôi, họ cũng được dịp moi móc nói xấu tôi thêm, cứ thế mà lan tràn khắp thị xã. Do đó, có một số đồng chí tốt, biết tôi thì nghi nghi hoặc hoặc, họ nghĩ, có thể biết đâu tôi đã làm những việc ấy thì sao, kẻ nóng nảy thì hay nói càn lắm. Cho nên, họ im lặng. Còn bọn xấu thì được dịp bàn tán, hân hoan trên hoạn nạn của người khác. Vì vậy, đi tới đâu, tôi cũng nghe người ta dè bỉu sau lưng: “Đáng kiếp. Thế là phải. Đã có quan hệ bất chính với bọn phản động lại ăn nói càn quấy”. Bên cạnh sự rêu rao ấy, sau này tôi mới biết, là từ trước đến nay, ông Sự đã khôn ngoan, luồn lách như lươn như chạch, luôn đánh hơi để dâng cho một số ông có chức có quyền những nhà cao cửa rộng, nên giờ họ kéo bè kéo cánh ủng hộ ông ta mà dìm dập tôi. Tôi có gặp một số đồng chí chủ chốt ở Thị ủy và Ủy ban để bày tỏ sự oan ức. Có đồng chí rất tốt, tỏ ra thông cảm với tôi, nhưng bận nhiều việc, nên giao cho số tham mưu tìm hiểu để báo cáo lại. Nhưng số tham mưu thì bị ông Sự “mua” rồi, nên báo cáo sai tóet, làm cho các đồng chí lúng túng, chưa biết cách giải quyết. Có đồng chí, tôi đoán là biết việc oan trái của tôi, biết cái xấu của ông Sự, nhưng ngại nếu ủng hộ tôi, tôi sẽ càng được thể nói ra nhiều chuyện, mang tiếng xấu cho một người mà họ đã ký quyết định bổ nhiệm, cho một cơ quan dưới quyền lãnh đạo của họ, nhất là cái cơ quan họ đã bồi dưỡng thành đơn vị tiên tiến, được họ đỡ đầu, tâng bốc lên với cấp trên và với giới báo chí. Dì dượng hẳn rõ cả, thời buổi này, ai mà chẳng ưa chạy theo thành tích. Ai mà không muốn ở địa phương có những đơn vị tiên tiến, những cá nhân anh hùng, từ đó làm nổi thành tích lãnh đạo của họ lên cho cấp trên biết. Làm đổ sụp bức tường mà họ dựng lên tức là làm đổ sụp uy tín, năng lực lãnh đạo của họ trước cấp trên. Vì thế, dù nó thơm thối chi, họ cũng khư khư giữ lấy cái con người đó, cái cơ quan đó. Ông Sự đã nắm được tâm lý này của lãnh đạo mà luồn lách vì biết họ sẽ che chở mình tai qua nạn khỏi. Thú thật với dì dượng, những điều này, không phải lúc đầu tôi nhận ra ngay đâu, mà sau này, gặp một hoàn cảnh éo le nữa tôi mới nghĩ ra. Nhưng tý nữa tôi sẽ kể tiếp cho dì dượng nghe. Còn bây giờ thì phải nói là tôi đi đến đâu, trình bày đến rát cổ, họ cũng cứ vâng vâng dạ dạ “để chúng tôi giải quyết, xin chị cứ an tâm”, Nhưng họ không làm gì cả. Họ cứ để mặc cho ông Sự muốn làm gì tôi thì làm.
*
* *
Chị Ba Chẩn dừng lại, nhìn ra phía ngoài cửa sổ rồi bất chợt hỏi:
– Mấy giờ rồi dượng hè?
– Hai giờ rồi chị ạ.
Chị cười:
– Tôi hành hạ dì dượng quá. Nhưng chớ lo. Dì dượng sắp thoát nạn rồi đấy.
Vợ tôi xua tay:
– Có gì mà hành hạ, chị. Lâu nay chị cứ giấu trong lòng mãi, nay mới nói ra, tụi em mới biết. Chị cứ nói hết cho tụi em hiểu rồi xem thử có cách gì giải quyết không?
– Thế thì được. Ráng nghe nhé.
Chị Ba Chẩn mỉm cười, rót một cốc nước uống cạn rồi kể tiếp:
– Đó là những chuyện tôi gặp ở cấp trên với các cơ quan liên quan. Còn ở cơ quan tôi thì sao? Những người vốn nịnh bợ ông Sự thì khỏi phải nói rồi. Họ trừng, họ nguýt, nói cạnh nói khóe tôi đủ điều. Cái lạ nhất là những người vốn quý tôi trước đây, bây giờ lại lảng xa tôi. Họ làm như tôi đang mang một con bệnh dịch hạch vậy. Có người, tôi chào hỏi họ, họ cũng giả lả chào lại rồi xin lỗi bận việc, lánh đi nơi khác, hay vờ cắm cúi xuống trang giấy. Có người vừa thấy tôi là họ lủi luôn. Nói chung là không ai dám nói chuyện với tôi cả. Lúc đó tôi cứ thầm trách móc họ. Nhưng sau này, mới rõ sự việc hơn, tôi có chiều thông cảm với họ. Tôi biết được trong thời gian tôi đi nằm viện, ông Sự cùng với băng của ông là các tổ trưởng đã khống chế họ dữ. Thậm chí, mấy ông ấy còn nói tôi là phần tử xấu, liên hệ với bọn phản động phá hoại cơ quan nên ai gặp tôi chuyện trò là có ý đồ xấu, có động cơ bè phái chống lại Đảng và chính quyền, họ sẽ đưa ra biên chế. Mà phải ra biên chế thì ai lại không sợ. Thứ nhất là họ bị mất nồi gạo, miếng ăn hàng ngày. Thứ hai là họ sợ ảnh hưởng lý lịch con cái sau này. Ở nước ta, hễ ai bị một cơ quan đưa ra biên chế thì không còn nơi nào nhận nữa. Cơ quan mới không cần biết lý do vì sao anh bị ra biên chế. Vì tham ô ư? Vì hủ hóa ư? Vì chống lại thủ trưởng ư? Kẻ chống lại thủ trưởng ở nơi kia thì chắc gì sau này sẽ không chống lại mình? Vì vậy họ khó nhận anh vào cơ quan lắm. Nên mọi người phải sợ. Mà sợ là phải. Ông Sự tìm mọi cách để đẩy khỏi cơ quan những ai chống lại ông. Ông viện cớ họ có vết này vết nọ để làm việc đó. Mà ai lại không có vết, nếu như ông đã cố ý vạch lá tìm sâu. Có người thì bị dính líu đến đế quốc phong kiến dù đã ba đời rồi. Có người trong thời chống Mỹ, không đóng góp gì cho cách mạng mà lo làm giàu, có người có bà con di tản hay đi vượt biên. Ở miền Nam này, mấy ai không dính những vết nhơ trên. Còn số anh em từ chiến khu xuống hay từ miền Bắc về thì cũng có những người dính líu với gia đình, bà con có những vết nhơ kia. Số còn lại mấy ai không bị kỷ luật vì tham ô, hủ hóa, cưới hai vợ, không phục tùng tổ chức vì đi trễ phép, có khi nóng nảy phát biểu sai lập trường, có khi rụt rè thiếu đấu tranh. Tất cả, ai cũng có “vết” và có thể bị đưa ra khỏi cơ quan nếu ông Sự và băng của ông muốn. Họ nghĩ đến Bảy Hiên, phó ban, bạn ông khi chống ông, ông đã đẩy đi êm ro. Ông được lòng cấp trên, được lòng Tổ chức, vì ông biết họ muốn gì ở ông, ông phục vụ họ ngay và ngược lại, ông cũng khéo léo đưa đẩy những người “mang ơn” ông theo ý đồ của ông. Nếu gặp một cấp trên cứng rắn thì ông luồn sang người khác, nịnh kẻ này, bêu xấu người kia. Có lẽ nếu họ họp nhau lại, cùng một chí hướng tốt, thì ông sẽ bị lòi mặt chuột. Nhưng thói đời, ai được nịnh mà không thích, được dìm kẻ khác lại càng thích hơn. Nên một người như ông Sự lại được nhiều người che chở. Do đó, anh chị em trong cơ quan rất ngại ông. Vì vậy, ông đã kéo được những người lừng chừng về phía ông. Còn những người trung thực thì bị biến thành những kẻ bàng quang, chỉ lo cho bản thân họ. Trong cơ quan, tôi không còn chỗ dựa nữa. Thú thật với dì dượng, trên đời này, tôi không sợ cái xấu. Nhưng tôi sợ nhất là sự lãnh đạm của những người bình thường và sự quan liêu của cấp trên trước cái xấu. Nó làm giảm sút ý chí chiến đấu của người tốt và tạo cơ sở cho kẻ xấu hoành hành.
Lúc này, tôi sống thật chông chênh. Không ai giao tôi làm việc gì cả. Khi tôi bảo ông Hòa, tổ trưởng tổ hành chính quản trị phân công việc cho tôi, ông bảo “cứ thế mà làm”. Tôi không biết “cứ thế mà làm” là làm cái gì. Tôi ra dọn hố xí thì thấy chị Lam đã dọn rồi. Tôi hỏi có cần tôi đi mua hàng họ gì không thì họ bảo có người khác làm rồi. Họ coi như không có tôi ở cơ quan, cứ bắt tôi tới tới lui lui mà không có việc gì làm cả. Tôi đành về phòng ngồi chờ họ gọi, nhưng chẳng ai gọi cả. Tôi nghĩ tủi cực đến phát khóc lên được. Tôi đến gặp ông Sự. Nói thật, sau vụ trên, tôi và ông ta cố tránh mặt nhau. Nhưng ở cái thế bí này, nếu mình không đến gặp ông ta để hỏi công việc, có lúc ông ta sẽ trùy mình, nên đành phải đến. Dì dượng biết ông ta nói sao không. Ông ta giả bộ ngơ ngác:
– Ủa, tôi cứ tưởng cô lo đi hầu kiện chớ chẳng thiết gì công việc nên tôi cứ để cô nghỉ, chớ ối chi công việc mà cô bảo không có. Thôi cô về đi, tôi sẽ nói với anh Hòa giao việc cho cô.
Nhưng ông Hòa lại chẳng giao việc gì cả. Tôi hỏi tới thì ông cứ ỳ è. Mình làm việc cho nhà nước mà cứ như đi làm thuê. Tôi bực quá, nghỉ luôn mấy ngày. Tôi quyết định về quê chơi. Chẳng rõ với dì dượng thì sao, còn tôi, tôi thấy ở quê có gì đó làm ấm lòng lạ. Mỗi buổi mai, tôi được giẫm đôi chân trần lên những bãi cỏ mượt ướt sương cùng bà con ra đồng như trở lại những năm tháng tuổi trẻ của đời mình. Trưa đến, sau khi ăn chút cơm mắm, tương cà, tôi ngả lưng dưới bóng mát của cây đa quê, ngủ mơ mơ trong lúc gió đồng cứ đùa giỡn trên mái tóc. Sau ngày làm việc, tôi cùng các chị rủ nhau xuống con sông trước làng ngụp lặn. Con sông ấy một thời tôi với dì cùng bạn bè trang lứa đã té nước nô đùa. Giờ đây, tôi thấy nó không còn rộng lớn dữ tợn như xưa, mà nó nhỏ lại, hiền hòa hơn. Tôi không thể nào quên những đêm trăng tôi với chị em trong làng đem chiếc chõng tre ra giữa sân ngồi bắt chấy, nói chuyện, ăn củ khoai lang luộc. Có lúc, tụi tôi chia hai nhóm hát ghẹo nhau như thời còn trẻ. Trăng ở quê mình sáng quá. Có lẽ ở thành phố, thị xã có ánh điện nên lâu ngày ta vô tình với trăng, không quý trăng như ở quê. Sau đó tụi tôi ôm nhau ngủ trong tiếng rì rào quen thuộc của gió, của đất, của đồng nội. Có đêm, tụi tôi ngồi tranh luận với nhau về cách làm ăn của hợp tác xã, về việc đóng góp lương thực. Mọi người bàn rất say sưa. Sáng hôm sau, tôi còn cao hứng cùng một bà chị họ, chị Sáu Nhơn đấy dì ạ, lên xã “đấu” mấy ông lãnh đạo cứ chạy theo thành tích thu mua vượt chỉ tiêu lương thực mà quên chăm lo đời sống của bà con.
Những ngày ấy, tôi thấy đầu óc mình thật thoải mái. Tôi như được sống lại tuổi thơ, sống lại với chính mình những ngày mới tham gia cách mạng. Dì ạ, dì cố gắng về quê chơi một chuyến đi. Dì sẽ thấy bà con mình thú lắm.
Sau mấy ngày, tôi về lại cơ quan. Tức thì ông Sự mở ngay một cuộc họp. Ông phê phán tôi chểnh mảng công tác, không tự giác tìm việc mà làm, dù cơ quan có ối việc, mượn cớ cơ quan không phân việc để đi chơi. Tôi phân bua:
– Tôi cứ hỏi mãi mà không thấy ai phân công việc gì cả, nên rảnh rỗi tranh thủ về quê thăm bà con, có gì sai tôi xin nhận khuyết điểm.
Ông Sự gằn giọng:
– Tôi nói cho cô hay. Nếu cô nghe theo chúng tôi, sống như mọi người thì bây giờ cô sẽ có tất cả, sẽ yên ổn làm việc sinh sống, có hạnh phúc gia đình. Nhưng cô có chịu làm vậy đâu. Cô cứ làm theo ý cô nên phạm khuyết điểm, bị khai trừ Đảng. Đáng lẽ cô phải phấn đấu trở lại. Nhưng càng ngày, cô càng sa sút phẩm chất. Không nói là phẩm chất đảng viên nữa, mà ngay phẩm chất một cán bộ nhân viên cũng không còn-ông đập tay xuống bàn-Còn đây nữa, tôi vừa nhận một giấy báo cáo của Ủy ban xã cô. Vừa qua, khi về quê, cô đã xúi giục bà con nông dân chống lại chính sách thu mua lương thực của nhà nước. Cô có ý đồ xấu, Ủy ban xã đánh giá như vậy.
Tôi sững người, không còn thốt ra được một lời nào nữa. Tôi thấy việc tôi cùng bà con góp ý với Ủy ban xã đâu có gì sai. Thế mà ngay ở quê hương, người ta cũng hại tôi nữa.
– Cô thấy chưa-ông Sự lại nói-cô đã làm những việc xằng bậy, bêu xấu cả cơ quan. Cô biết không? Việc này, chúng tôi với Thị ủy, Ủy ban không thể để yên đâu.
Theo đóm ăn tàn, những kẻ xấu bụng trong cơ quan như bầy ruồi bâu vào phê phán tôi là lười biếng, là thiếu sáng tạo, là…vân vân và vân vân.
Nghĩ đến việc bị khai trừ Đảng oan ức mà chưa gỡ được, giờ họ lại tròng thêm cho tôi một cái tròng nữa, tôi rất phẫn uất. Nhiều lúc tôi quẫn trí, muốn đi tìm thuốc ngủ về uống để ngủ vĩnh viễn luôn. Sáng mai ra, khi thức dậy, tôi sẽ không còn thấy gì nữa, không còn tức bực lo lắng gì nữa. Nhưng nghĩ đến bộ mặt nhơn nhơn của ông Sự và bọn tay chân của ông là tôi bực lên. Tôi không thể tự tử được. Dại gì tôi chịu thua họ một cách nhục nhã như vậy. Thế là tôi quyết định làm ầm chuyện này lên cho cấp trên nghe thấy. Tôi đến ngồi giữa văn phòng ban, nhịn đói và thét kêu nỗi oan trái của tôi. Một số người khuyên tôi đừng làm vậy hại sức khỏe, hại uy tín bản thân và ảnh hưởng xấu cho cơ quan. Tôi biết họ sợ cái danh hiệu đơn vị tiên tiến của họ bị bôi thôi. Còn tôi, tôi cóc cần, tôi cứ la thét, đến nỗi bọn trẻ nít và những người đi đường ùa tới xem mỗi lúc một đông. Lúc đầu ông Sự và tay chân ông cứ bỏ mặc, cười khì. Nhưng sau, tôi thấy họ có vẻ lo ngại, mặt mày đầy hoảng hốt. Chiều đó, ông Thái, Phó Ban đến nói với tôi:
– Thôi chị đừng la nữa. Cấp trên biết rồi. Mời chị lên xe đi gặp cấp trên giải quyết.
Tôi vội vã lên xe. Thế là việc làm của tôi đã có kết quả. Nhưng lên xe, tôi mới biết mình nhầm. Họ đóng kín cửa, trói chân tay tôi lại và đưa thẳng đến nhà thương tâm thần.
– Trời ơi, thiệt vậy sao?
Vợ tôi đang rũ người, tựa cằm vào thành ghế từ nãy giờ, bỗng dứng bật dậy, đập tay xuống bàn thét to. Tôi nhìn vợ tôi và cũng chợt rùng mình mà nhận ra rằng, những phần tử thoái hóa có thể nhúng tay vào những thủ đoạn đê tiện nhất, chẳng khác gì kẻ địch.
Trong khi đó, chị Ba vẫn lạnh lùng:
– Có gì mà lạ dì. Họ làm vậy là vì họ muốn cho mọi người nghĩ tôi bị tâm thần nên mọi lời nói của tôi nói ra chẳng có nghĩa lý gì hết.
Chị Ba dừng lại, rút mấy lá thuốc, quấn một điếu to nhưng không hút mà đặt xuống bàn:
– Vô nhà thương, tôi nói với các bác sĩ là tôi không có bệnh gì cả. Tôi căm uất những chuyện ở cơ quan mà làm vậy thôi. Các bác sĩ nghe, tỏ vẻ thông cảm lắm. Nhưng họ vẫn không cho tôi ra ngay mà giữ lại để theo dõi vì có giấy xác nhận của bệnh viện Thị là tôi bị tâm thần. Tôi biết đây cũng là sự móc ngoặc của ông Sự với mấy ông thầy thuốc ở đó. Đã bị giữ lại thì không biết bao giờ mới cho ra. Ở nước ta, các thủ tục rề rà lắm, chẳng biết đâu mà lần. Vì thế, tôi quyết định tìm cách trốn. Ở bệnh viện tâm thần, người ta làm tường cao lắm. Tôi để ý đến một đoạn gần nhà bếp, tường bị sụt. Bên kia bệnh viện là một cơ quan gì đó, tôi không rõ. Thế là, tối đó, lần mò ngó trước ngó sau, như một tên trộm tôi leo tường. Vừa xuống tới đất, tôi sảng hồn cha bởi tiếng quát: “Ai đó, dừng lại”. Một người bảo vệ cơ quan, tay cầm súng lại gần tôi. Họ tưởng tôi là kẻ trộm. Tôi nói sơ qua việc của tôi và xin được gặp thủ trưởng để nói một chuyện quan trọng. Họ nhìn tôi có vẻ người lương thiện sao ấy, nên đưa tôi gặp ông Giám đốc, một bác già, tóc bạc, khuôn mặt hiền từ. Tôi kể hết với ông mọi chuyện. May mắn, tôi đã gặp được một người tốt. Ông sai người đem giấy bút đến cho tôi, bảo tôi viết đơn khiếu nại lên Ban Kiểm tra Đảng tỉnh, ông sẽ chuyển cho. Ông sắp xếp tôi nghỉ cùng phòng với một chị độc thân. Sáng hôm sau, tự ông đưa tôi trở lại bệnh viện, đề nghị người bệnh viện trưởng, hình như là bạn thân của ông, làm chứng nhận tôi không mắc bệnh tâm thần, gấp rút cho tôi ra, vì nếu không có giấy sẽ khó khăn với bệnh viện Thị.
– Bây giờ thế nào rồi, chị? – Vợ tôi mấp máy môi như một người đuối sức hỏi.
– Tôi bị đưa ra ngoài biên chế rồi. Sau khi bác sĩ cho ra, tôi về cơ quan thì ông Sự bảo tôi bị tâm thần nên ông đã đề nghị tổ chức giải quyết cho tôi nghỉ mất sức. Bây giờ, mọi việc do bên Thương binh xã hội lo. Ông đã tìm người khác thay thế cho tôi rồi.
Chị Ba Chẩn nói tửng tửng, vẻ hóm hỉnh, vốn có ở chị xưa giờ, ngỡ cái việc chị đã trải qua chẳng có gì là ghê gớm, bây giờ nhắc lại như một chuyện vui. Trong khi đó, vợ tôi mặt mày xanh lét, cắt không còn giọt máu. Tôi nhìn vẻ mặt trầm tĩnh của chị mà tự hỏi: tại sao một người tốt như chị lại phải chịu nhiều oan trái vậy? Chẳng lẽ trên đời này chẳng còn công lý nữa hay sao? Chẳng lẽ trong xã hội ta, khi chế độ làm chủ tập thể đã thấm sâu vào ý thức của mỗi người, lại có những kẻ liều lĩnh tự mình muốn làm gì thì làm hay sao? Chẳng lẽ những cái tốt, những người tốt cứ bị vùi dập mãi hay sao? Tôi muốn thét to lên những điều mình đang nghĩ với lòng phẫn nộ ghê gớm như một quả bom cảnh tỉnh cho những người cách mạng: cái gì đã dung túng, đã bao che cho bọn xấu đang nằm trong hàng ngũ của chúng ta để chúng tự do hoành hành trong tội ác? Cái gì? Ai? Phải vạch mặt nó ra, bóc trần tấm màn giả hiệu của chúng, để trị kẻ có tội, chỉ hướng cho những người nhầm lẫn, cho những ai còn u u minh minh, không thấy rõ đâu là hành động của người cách mạng, đâu là hành động của kẻ biến chất đáng loại bỏ. Tôi là một nhà báo, một Phó Tổng biên tập. Tôi biết sức mạnh của báo chí. Nó vừa phản ảnh chủ trương chính sách của Đảng vừa nói lên phong trào và nguyện vọng của quần chúng. Lãnh đạo và nhân dân phải gặp nhau ở tờ báo. Trước đây, chúng tôi chỉ làm theo kiểu công chức, đăng những bài xã luận, những báo cáo chung chung mà chưa đi sâu vào việc phản ảnh cuộc sống hiện thực của quần chúng, trên mọi khía cạnh của nó. Cấp ủy đã phê phán nhiều. Chúng tôi đang dần dần sửa chữa. Lúc này, bên cạnh việc nêu gương những điển hình tốt, tờ báo chúng tôi đang mở rộng việc lên án những lối trù dập như thế này ở một số cán bộ, một số nơi. Dù chị Ba không muốn, nhưng xét thấy vấn đề cần thiết cho công tác xây dựng Đảng, nên chúng tôi sẽ cử phóng viên điều tra tỉ mỉ hơn để viết bài đưa việc chị Ba Chẩn ra dư luận. Tôi tin những người chân chính sẽ ủng hộ việc làm của chúng tôi, đưa ra những ý kiến phê phán xác đáng. Dư luận ấy sẽ tung về thị xã. Chắc ở thị xã, các đồng chí đang nhầm lẫn sẽ nhận ra và giải quyết việc này cho đúng đắn, cho hợp đạo lý của người cộng sản. Trong lúc sự việc chưa được sáng rõ, tôi thấy vấn đề cấp bách là phải đưa chị Ba đi khỏi nơi cũ một thời gian để chị ổn định tinh thần.
– Bây giờ chị nên ở lại đây. Tôi có quen một số nơi, tôi sẽ xin cho chị một chỗ làm.
– Cảm ơn dượng đã lo cho tôi. Nhưng tôi không nhờ dượng tìm việc đâu, tôi muốn dượng ủng hộ về mặt tinh thần. Trước đây, thấy cơ quan nào có vấn đề, tôi phê phán rồi bỏ chạy sang cơ quan khác. Tôi thấy tôi nhầm quá rồi. Giờ thì dù bị họ đuổi ra khỏi biên chế nhưng tôi vẫn kiên quyết về chỗ cũ đấu tranh cho ra lẽ…Chị im lặng một lúc rồi tiếp-Nhưng thú thật với dượng là bây giờ, sau khi gặp một số đồng chí chủ chốt ở thị xã để kêu cứu mà không ăn thua gì, tôi chưa biết sắp tới sẽ làm sao, mong dượng chỉ cho…
– Vấn đề bây giờ không phải là đi kêu cứu mà phải đấu cho ra lẽ-tôi góp ý-Việc lão Sự đưa chị ra Đảng và ra biên chế là một việc làm sai. Chị cứ làm tới đi. Có gì báo chí tụi tôi sẽ ủng hộ. Nếu cần đưa việc này lên tới ban Kiểm tra Trung ương thì cũng phải đưa.
Chị Ba Chẩn gật gật đầu tỏ vẻ đồng ý rồi đột ngột nhìn ra cửa sổ:
– Đã ba giờ chưa dì? Tôi phải đi đây.
– Ba giờ kém rồi. Chị ở lại chơi đã. Bây giờ có muốn về thị xã cũng không còn xe đâu- Vợ tôi nài-Mấy năm nay chị em không được gặp nhau, em không hiểu gì về hoàn cảnh của chị. Mong chị thông cảm.
Chị Ba Chẩn mỉm cười:
– Tôi đâu dám trách dì dượng. Dì dượng bận quá, các cháu lại còn nhỏ…Còn bây giờ tôi chưa về trỏng đâu. Tôi đến ban Kiểm tra Đảng của Tỉnh ủy đây. Họ có giấy mời…Nếu việc này không xong, có lẽ tôi còn đi lên cấp trên nữa. Tôi thấy việc này không phải chỉ có ảnh hưởng đến tôi thôi đâu. Nếu còn để xảy ra những việc tương tự như thế này, sẽ còn nhiều người mắc nạn nữa. Có dượng với mọi người ủng hộ rồi, tới đâu tôi cũng đi.
Chúng tôi đưa chị ra ngõ. Chị gật đầu chào vợ chồng tôi rồi cắm cúi đi, không ngoái lại. Dáng chị hơi còng xuống nhưng cứng cỏi, vẫn là dáng của con người những năm nào, cõng trên lưng cả khối hàng gấp mấy lần trọng lượng bản thân vượt qua bao đèo dốc. Giờ đây, trên vai chị đang đảm đương một gánh nặng khác, gánh nặng của lẽ phải không chỉ liên quan đến số phận của riêng mình.
Đà Nẵng
1985-1986
HAI CHỊ EM
1
Họ rúc vào những đám mía xùm xòa lá sắc, phóng ào ào về phía trước. Lá mía cắt mặt, mũi, tay, chân họ rỉ máu, xót xót. Nhưng mãi sau này họ mới nhận ra. Còn lúc ấy, họ chỉ biết bươn tới với sức mạnh mà trước đó họ chẳng bao giờ có. Họ chạy một cách may rủi, càng xa làng càng tốt. Có lúc họ bị những thân mía chìa ra khỏi luống cản đường hoặc vấp những bờ ruộng, những mô đất. Họ ngã lăn quay ra, bò, lết, ngồi dậy xuýt xoa rồi lại chạy tiếp. Sau lưng họ, tiếng súng AR.15 nổ loạn xạ. Đạn găm vào thân mía lụp bụp, có viên rít sát bên họ, nghe đến chói tai. Bọn giặc vừa la ó vừa rọi đèn pin sục sạo. Họ có cảm giác như cả bãi mía tràn ngập tiếng nổ, tiếng la hét.
Ra khỏi bãi mía, họ nghe những tiếng la ó nhỏ dần. Tiếng súng AR15 cũng chỉ còn như tiếng nổ trên chảo bắp rang. Bấy giờ họ mới chạy chậm lại. Thoát nạn rồi. Hà khoan khoái vừa thở vừa nhìn lên trời. Bầu trời đang vần vũ, đầy mây. Gió thổi rào rào qua đồng trống. Thỉnh thoảng từ phía tây, những lằn chớp ngoằn ngoèo vạch trên nền trời, tạo nên những khoảnh khắc lúc sáng lúc tối, lúc tối lúc sáng. Trên nguồn đang mưa, Hà nghĩ vậy. Nay mai, ở đồng bằng miền Trung này những trận mưa sẽ ồn ã xối như trút. Mỗi lần thấy ánh chớp, Hà bất giác run bắn lên, người nổi gai ốc. Cô đưa mắt nhìn lên trời, miệng lẩm bẩm như đang cầu khẩn một điều gì mà chính cô cũng không rõ nữa.
Đáng ra, cô không nên xuống làng trong đêm nay, cô ở lại bờ sông là phải hơn cả.
Hơn nửa tháng nay, bọn địch thực hiện “Bình định cấp tốc” ở xã Nghĩa Trung của Hà. Nghĩa Trung nằm lọt thỏm giữa thị xã và thị trấn quận lỵ. Năm ngoái, trong đợt tổng tiến công vào dịp tết Mậu Thân, một số đơn vị quân giải phóng về đứng chân tại xã để tiến đánh vào thị xã và thị trấn, nên bọn địch uất lắm. Chúng muốn cào sạch lực lượng ta ở cái xã này. Chúng đưa về một trung đội cảnh sát dã chiến sục sạo, xăm hầm diệt cán bộ nằm vùng, bắt bớ phá tan các cơ sở của ta. Chúng củng cố bộ máy tề xã, cắt cử các thôn trưởng và liên gia trưởng kìm sát sao từng người dân. Tại xã, chúng lập ra hai trung đội dân vệ, trang bị đầy đủ súng ống. Chúng bắt dân thay nhau canh gác, gõ mõ la làng khi thấy có động.
Đội du kích xã không bám dược vào dân. Họ sống lang thang trong những bờ lau ven sông Vệ, chui rúc như chồn, chuột trong những đám ruộng hoang cỏ lút đầu, trong những bãi mía. Đêm đêm, họ cử người bám xuống làng để gặp dân, nắm tình hình, tìm lương thực. Nhưng chưa lần nào họ vào được làng, họ luôn bị phục kích. Cán bộ, du kích bị bắt, bị chết dần mòn. Cách đây năm hôm, anh Thái, Bí thư Xã, anh rể của Hà dẫn hai du kích xuống làng thì bị phục, bị bắt, chẳng biết giờ ra sao. Chiều nay, đội du kích do anh Hường, Xã đội trưởng, người yêu của Hà dẫn đầu xuống làng. Chị Tâm và Hà được phân ở lại cứ. Chị có mang năm tháng rồi mà cứ nằng nặc đòi đi. Chị không muốn ở lại cứ, chị thích xuống dân. Lần này, chị xuống làng còn có việc riêng của chị: chị muốn biết tin tức của chồng. Từ khi anh Thái bị bắt, chị cứ buồn bã, ăn xong lại lên võng nằm, không hé miệng nói với ai một lời nào. Mặt chị vốn sinh sỉnh, vì có mang giờ càng sị ra. Không cho chị đi cũng không xong, nên anh Hường phải đồng ý. Chị Tâm đi, Hà cũng phải đi để giúp đỡ chị. Vả lại, Hà cũng không dám ở cứ một mình. Mới lên cứ một tháng nay, Hà chưa quen cách sống của những người du kích. Nghe gió thổi bờ cây, Hà thấy rờn rợn. Tiếng chuột đuổi nhau chíu chít trong khóm lau cũng làm Hà run bắn lên.
Đội du kích nằm chờ bên những đám mía sát rìa làng. Trời tối như mực. Chung quanh thật yên ắng. Chỉ nghe tiếng gió thổi rì rào qua bãi mía. Thỉnh thoảng một bầy chuột đồng đuổi nhau chạy ào lên người họ. Ai cũng hồi hộp, lo âu nhìn chăm chăm vào làng. Bỗng nhiên, trước mắt họ, trên cửa sổ nhà bà cụ Sáng, cơ sở của họ hiện lên ánh đèn dầu. Cả đội thở phào vui sướng. Anh Hường mừng rỡ ra lệnh mọi người vào làng. Đèn nhà bà cụ Sáng được thắp lên là trong làng không có địch, đêm nay đội du kích sẽ gặp dân, sẽ có lương thực. Thời gian qua, anh chị em đói rũ.
Họ bước nhanh, có người còn khúc khích cười. Tâm và Hà đi sau cùng. Tâm bước lệt bệt làm Hà sốt ruột lắm. Cô đi được chục bước lại phải dừng để chờ Tâm. Có lúc Hà bực quá, càu nhàu: “Đi ọc ạch như rùa mà cũng đòi đi”. Hà chỉ muốn bỏ mặc bà chị bụng mang dạ chửa, bướng bỉnh này để chạy nhanh lên với Hường. Nhưng nghĩ lại, Hà lại thương chị, đi chậm lại để dìu chị.
Khi hai chị em ra khỏi bãi mía thì tốp du kích đi đầu đã bước trên đường làng. Bất ngờ, bên một bụi rậm sát nhà bà cụ Sáng, mọi người bỗng sững lại khi nghe tiếng quát to: “Đứng lại, giơ tay lên”. Hà và Tâm cũng nghe rõ tiếng quát ấy và đứng sững lại, ngơ ngác một lúc. Sau đó, hai người đã hiểu việc gì xảy ra, vội quay ngược lại bãi mía, phóng nhanh trong tiếng súng, tiếng quát và ánh đèn pin của giặc đuổi theo. Không hiểu vì sao bọn chúng bắn rát rạt như vậy mà hai chị em không ai bị xây xát cả, có lẽ là nhờ những thân mía che cho họ. Họ cứ chạy, cứ chạy trong sự may rủi như vậy.
Bây giờ, thoát nạn rồi, Hà mới nhớ đến các đồng chí của mình bị lọt vào ổ phục kích của địch. Chẳng biết các anh ra sao? Ai chết? Ai bị bắt? Hà lo cho anh Hường quá. Hà dừng lại bên một bờ đất đợi Tâm. Nãy giờ, Hà cứ lo chạy, quên cả chị đang có mang. Giờ cô mới ân hận. Cô hỏi nhỏ khi Tâm đến gần:
– Sao? Có mệt không chị Hai?
Tâm chưa trả lời ngay. Tâm thở hổn hển. Trong đêm tối, Hà cứ ngỡ như chị dùng cả miệng, cả tai, cả mắt để thở.
– Chị mệt quá, nghỉ một chút, em.
Hai người ngồi xuống một bờ ruộng. Bầu trời phía tây vẫn chớp nháy liên tục. Qua ánh chớp, Hà thấy chị ủ rũ như cái tã rách, dáng ngơ ngác mệt mỏi. Cô cảm thấy thương chị lắm. Cô chặc lưỡi:
– Chẳng biết anh Hường với các ảnh ra sao chị hỉ?
– Có lẽ bị bắt rồi, như anh Thái thôi.
Tâm nói thế rồi im bặt.Hà cảm thấy chị đang nén khóc. Có lẽ chị lo cho anh Thái lắm. Hà cũng lo cho anh Hường, nhưng ảnh mới là người yêu. Còn chị Tâm và anh Thái đã có chung một giọt máu, chị mang nặng nên ngồi thở ì ạch đó. Hà an ủi chị:
– Không sao đâu chị. Chắc các ảnh chẳng chết đâu. Có thể bị bắt, ở tù sơ sơ rồi chúng cho ra. Có khi các ảnh còn trốn ngục nữa đó…
– Ờ…
Tâm đồng ý cho qua chuyện rồi im. Hà ngồi nhìn chị, lo lắng. Hai chị em không nói gì với nhau nữa. Một ngọn gió nhè nhẹ nhưng lạnh buốt đi qua giữa hai người như một bức tường vô hình chia cắt hai chị em ruột đã thương yêu nhau từ thời tấm bé. Hà rùng mình, thu người lại. Trong một phút, cô có cảm giác như có ai đó, không rõ mặt mũi hình dáng đi lướt qua, cầm tay cô níu cô xa chị mình. Hà hốt hoảng giục chị:
– Thôi, mình đi chị Hai.
Hai chị em dìu nhau đi về phía bờ sông Vệ. Trong đêm tối, họ nghe nước chảy ào ào. Đêm nay sóng lớn. Có lẽ do mưa ở trên nguồn tràn về. Dòng sông quẫy lộn như đang vật vã với ai để cứu thoát chính mình. Hà có cảm giác mấy năm nay con sông dữ tợn hơn xưa. Chẳng biết vì lý do gì. Có lẽ đúng như một số chú cán bộ tỉnh xuống công tác nói rằng, do chúng thả bom, thả chất độc tàn phá, rừng không còn che chắn lượng nước được, nên lũ tràn xuống các con suối, đổ ào ra sông, làm nước sông đột ngột tăng nhanh. Có một thời, con sông hiền lành lắm. Dòng nước trong xanh lặng lẽ chảy qua những bờ lau sậy miền xa, êm đềm soi bóng những hàng tre, những bóng cau, những vườn mía của vùng quê Tư Nghĩa trù phú. Có một đêm hè xa rồi, Hà theo chị Tâm ra sông ngụp lặn. Nước sông khỏa mát đôi vai tròn lẳn và bộ ngực vừa mới nhú của Hà, Hà vuốt mớ tóc dài đen nhánh nhí nhảnh hỏi Tâm: “Em có đẹp không chị”. Tâm mỉm cười: “Đẹp”- “Chị cũng đẹp. Mặt chị trắng nè, tròn nè, môi chị đỏ nè, chị đẹp hơn em”- “Hứ, mày chỉ vớ vẩn”. Tâm bảo thế rồi hai chị em bơi đuổi nhau trên mặt sông. Tiếng xe nước quay đều đều âm vang đôi bờ. Ánh trăng lấp loáng trong tiếng hò kéo mía. Những muỗng đường óng vàng nằm trong lòng khoang những con đò dọc bình yên đi đâu về đâu…
Mãi mãi, dù có ao ước bao nhiêu, đi qua bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu dặm đường, Hà và Tâm cũng không bao giờ gặp lại được đêm hè ấy. Có lẽ đó cũng là nỗi đau khổ chung của hàng triệu người trên trái đất, đã bao nhiêu thế kỷ vẫn nhức buốt một câu hỏi: Làm sao chúng ta có thể tìm lại được thời gian đã mất?
Bây giờ, cả khúc sông này vắng ngắt. Người ta không còn thấy bóng dáng những người cày cấy ven sông, lũ trẻ con chăn bò ríu rít gọi nhau đi tắm giữa ban trưa. Người ta không còn thấy những cô thôn nữ dáng thon thả, đôi vai tròn lẳn ra bờ sông múc nước, gánh kĩu kịt về thôn. Những ngôi nhà lá nhỏ ven sông đã thành cát bụi. Những hàng cau, hàng chuối, những vườn cây đã biến mất tự hồi nào. Bờ xe nước gãy nát, còn trơ lại những hàng cọc tre bị thương, những con thuyền chở đường vắng bóng làm cho con sông càng huyền bí rùng rợn hơn. Có lúc, người ta thấy trên sông nổi lềnh bềnh những xác chết đã trương phình. Bầy cá châu theo rúc vào thi thể. Những cánh quạ đen nhào lượn trên mặt nước gọi nhau quang quác. Từ một cành cụt ven bờ sông, đêm đêm bầy cú rúc lên từng hồi ba tiếng một. Người ta đồn rằng, đó là tiếng kêu gào của lũ quỷ sứ đòi uống thêm máu người. Giờ đây, nếu đi dọc bờ sông, người ta chỉ còn gặp những con chồn, con chuột, những con rắn độc chạy sàn sạt trong bờ lau. Lau ngút ngàn…
Những người chủ của vùng đất này đã bị dồn vào khu tập trung, bị cầm tù giữa bờ kẽm gai, chen chúc trong những ngôi nhà tôn nóng bức, ngột ngạt. Hàng ngày, họ phải sắp hàng điểm danh, ngồi giữa nắng chờ tới lượt mình được chia một bát gạo để nấu cháo cầm hơi. Thỉnh thoảng, từng người trong số họ bị bọn cảnh sát gọi lên tra tấn vặn hỏi. Có người đột ngột bị đẩy lên xe đưa đi tù. Có người bị chở đến một cánh đồng, một bờ sông để chịu nhận một phát đạn, một nhát dao găm giữa ngực. Đêm đêm, những người còn lại ngủ giấc ngủ lo âu, phập phồng, chốc chốc lại giật bắn người, nghe tiếng giày đinh đạp phía đầu hè. Họ không dám tụ tập, không dám trò chuyện tâm sự với nhau. Bọn giặc cho tay sai đặt điều để người này nói xấu người kia, kẻ này nghi kỵ kẻ nọ, hòng làm cho những người cùng xóm giềng từng nương tựa nhau trong khi tối lửa tắt đèn bỗng lạnh nhạt với nhau. Nhưng trong khi bị lùa đi làm, bị bắt đến những cuộc họp, những buổi chào cờ, những lần ly khai họ vẫn đưa mắt ra hiệu cho nhau, gật đầu chào nhau, như nhắc nhở nhau giữ vững lòng tin, khí tiết, trung thành với cách mạng. Trong lòng họ cháy lên nỗi niềm khao khát trở về làng cũ bên sông. Họ mơ bóng dáng của những người du kích xuất hiện. Một đêm phá ấp, nhổ rào…Giờ đây, họ…
Hai chị em theo bờ sông đến một bãi lau mọc xen với những lùm táo và trâm bầu. Đấy chính là căn cứ của xã. Hàng ngày, anh chị em cán bộ, du kích kẻ treo võng, người trải ni lông nằm trong bãi rậm này. Họ dùng bếp dầu nấu ăn để tránh lửa khói. Lúc mới bị xua lên đây, họ còn có gạo để ăn. Hết gạo, họ cử người xuống rìa làng để nhận đồ tiếp tế của bà con qua những chỗ bí mật. Mấy ngày gần đây, họ chỉ còn biết mót rau, lá mà ăn. Mọi người đói rũ. Có người bị sốt rét, có người bị đi lỏng. Họ luôn mở những đợt xuống làng gặp bà con để nắm tình hình và kiếm lương thực. Nhưng họ bị phục liên tiếp. Đêm nay cũng vậy. Sau khi thoát trận phục kích ban nãy, hai chị em đều cảm thấy mệt lử. Về tới nơi, chưa kịp lấy cái gùi đựng quần áo, võng ni lông giấu trong lau trước khi xuống làng, Hà đã ngã vật ra nằm thở. Tâm lui cui đi lấy gùi của hai chị em đến:
– Trải ni lông mà nằm chớ không lau cắt xót đó em.
Hà làu bàu:
– Xót thì xót, ngủ cái đã, mệt chết được.
Không biết nói sao, Tâm im lặng trải ni lông rồi kéo Hà nằm bên mình.
Có tiếng trực thăng dợn ở phía xa. Dạo này, bọn trực thăng thường bay dọc các vùng đồng hoang, những bãi rậm ven sông, thả đèn hòng phát hiện lực lượng ta. Đó là lệ quen rồi. Chúng chẳng làm được xơ múi gì đâu. Hai chị em nghĩ thế nên cứ nằm ườn ra thở hổn hển. Hà ngáp mấy cái rồi nằm im. Một lúc sau, Tâm nghe Hà ngáy pho pho. Tâm không thể ngủ được, trăn trở mãi. Một mặt, sau lúc chạy thục mạng ban nãy, Tâm thấy bụng mình cứ phồng lên tưng tức, không làm sao nằm yên được. Mặt khác, Tâm lo lắng cho số phận của chồng mình. Đã mấy hôm nay không có tin tức gì về anh, Tâm luôn có một linh cảm mơ hồ nặng trĩu. Nhưng Tâm chưa dám thổ lộ với ai, ngay cả Hà, em ruột mình. Tâm lo lo một cái gì đó không lành đến với vợ chồng mình. Tâm rộn rực nằm xuống rồi lại ngồi bật dậy. Chợt Tâm thấy bầy trực thăng có cái gì khang khác những bữa trước. Đang bay từng bầy theo thói quen, tự nhiên có hai chiếc tách ra bay về phía mình. Nó bay qua đầu hai chị em rồi bay trở lại thả ngay đèn sáng xuống khu vực cứ. Tâm đập vào chân Hà.
– Gì thế chị? – Hà bật dậy ngơ ngác hỏi.
– Chạy. Nó phát hiện ra chỗ tụi mình rồi, chắc có kẻ nào đó chỉ điểm.
Theo bờ sông, hai chị em chạy một đoạn trong lau rồi phóng tạt ra những đám ruộng ngút ngàn cỏ hoang. Vùng này thuộc xã Nghĩa Hòa, quê ngoại của hai chị em. Hồi nhỏ, Tâm có dịp theo mẹ lên đây thăm dì Bốn. Thuở ấy, đây là một vùng trù phú. Cánh đồng lúa xanh tốt nối liền những bãi mía xào xạc đổ ra phía bờ sông. Trong làng, những ngôi nhà ngói, nhà tranh ẩn hiện giữa những vườn cau, ổi, xoài sum suê bóng mát. Tâm thường lén mẹ và dì cùng lũ trẻ đu đưa trên cây xoài hái những trái vàng ươm, cắn ngập cả răng, nghe trong lưỡi vị chua chua ngọt ngọt. Dì Bốn cười bảo: “Con này sau lớn lên sẽ gan lì hơn con trai nữa!”. Hồi đồng khởi, Tâm cùng các bạn thanh niên trong huyện về đây dự mít tinh, cắm trại suốt ba ngày liền. Một đơn vị bộ đội Tỉnh đi qua, cũng dừng lại tham gia. Có một lần, các bạn đi tắm, Tâm một mình ở lại trại, một anh bộ đội trẻ, đẹp trai dừng lại bên Tâm: “Nè, em bé, em có đi với bộ đội không?”- “Tui to vầy mà gọi em bé”.- “Bé của lòng anh đấy”. Tâm đỏ mặt vụt chạy khỏi trại. Từ khi Mỹ vào, chúng luôn ném bom, bắn pháo, càn quét lên Nghĩa Hòa. Nhất là sau năm 1968, bọn chúng quyết lùa bà con xã này xuống sát đường lộ để dễ kiểm soát. Bây giờ cả vùng này thành đồng hoang cỏ ngập đầu. Cuối cánh đồng hoang là một khu núi đá tên là núi Nhạn. Nơi đây, đội du kích của Tâm cũng có lần trú trong những trận càn lớn. Xa nữa là những ngọn núi trập trùng chân dãy Trường Sơn. Trên những ngọn núi ấy, bọn địch đã đóng nhiều chốt hòng ngăn chặn ta liên lạc giữa chiến khu với đồng bằng.
Khi hai chị em đã ở giữa đồng hoang thì cả đàn trực thăng châu đến thả đèn, bắn đại liên xuống căn cứ của xã. Chúng cứ quần đi quần lại, xả những loạt đạn rất trúng đích. Tâm quay lại nhìn, tự hỏi: sao vậy hè? Tại sao chúng biết đích xác căn cứ của ta? Anh em khai chăng? Cơ sở khai chăng? Một ý nghĩ đột nhiên vụt loé lên: Tại sao nhà bà cụ Sáng thắp đèn mà trong làng có địch? Anh em bị phục. Tại sao? Tại sao? Những câu hỏi cứ vần xoáy trong đầu Tâm.
– Tại sao căn cứ của mình bị lộ hở chị? Có phải bác hai Sáng làm điệp không? – Hà bất ngờ hỏi như có cùng một ý nghĩ với Tâm.
Tâm vừa thở dài vừa nói:
– Chị cũng không biết nữa. Chị đang thắc mắc đây.
Gió thổi ào ào qua đồng trống. Mây vần vũ ngổn ngang trên nền trời. Có lúc, mây bị gió thổi tạt để lộ ra một vầng trăng rọi ánh sáng bàng bạc như sương giá. Tâm thấy người ớn lạnh như có ngọn gió buốt từ trong lòng mình thổi ra, một cái lạnh chạy dọc từ ót xuống sống lưng. Người Tâm run run.
– Bây gìơ ta làm sao đây, chị Hai? – Hà hỏi.
– Chị tính mình phải lên khu núi Nhạn thôi em à.- Tâm trả lời sau một lúc suy nghĩ.
*
* *
Bà con trong vùng này thường kể rằng:
Ngày xửa ngày xưa, khi biển cả đang ngự trị khắp trái đất này, tất cả chỉ có nước. Nước mênh mông, trắng xoá. Những con sóng cứ nhảy chồm chồm xô vật nhau, không biết vỗ vào đâu. Không có bờ, không có đất, không có gì cả. Chỉ có nước, nước. Ấy vậy mà Ngọc Hoàng lại thả xuống một đàn chim Nhạn (vốn là những cô tiên đã chống đối lại mình) để đày họ. Đàn chim không biết đậu vào đâu, cứ bay bay mãi. Trước mắt chúng, thỉnh thoảng lại hiện lên một hòn đảo. Chúng ráng sức bay tới. Nhưng đến nơi, hòn đảo bỗng biến mất. Ở nơi xa lại hiện lên một hòn đảo mới. Nhưng rồi, đảo lại biến mất khi chim bay tới. Đàn chim Nhạn mệt lắm rồi, cánh rời rã rồi vẫn dìu nhau bay ngày này qua ngày khác. Một hôm, có một con nhạn trắng yếu sức quá không muốn bay nữa. Chim trưởng đàn nói:
– Này, mày đậu lên thân tao đây, tao dìu mày đi.
Nhạn trắng nói:
– Tôi muốn được làm theo ý mình, tôi không muốn phiền ai. Chúng ta rồi sẽ chết hết thôi, để cho tôi chết trước.
Đàn chim nhao nhao phản đối:
– Không được, chúng ta sống có nhau, chết có nhau. Chúng ta sẽ tìm được đảo để đậu.
Con nhạn trắng không nghe lời. Nó kêu lên một tiếng ngắn và lao xuống nước. Cả đàn chim dừng lại bay vòng tròn trên vùng nước nhạn trắng lao xuống để vĩnh biệt, rồi dìu nhau đi. Chúng bay, bay mãi sức đã kiệt nhưng vẫn cố giãy giụa bay. Ngọc Hoàng nhìn xuống thấy thương quá. Đang ăn giở miếng bánh, ngài ném xuống trần, tạo nên những hòn đảo cho bầy chim đậu. Chúng bắt đầu sinh cơ lập nghiệp, đẻ con cái, từ đó hình thành nên các nòi giống cho trái đất.
Còn phần chim nhạn trắng, sau khi chết, Ngọc Hoàng thương cảm, hối hận về việc làm của mình, đang đội chiếc mũ cánh chuồn, ngài giật phắt ném xuống trần che cho xác nhạn trắng đang trôi nổi trong nắng. Chiếc mũ thành ngôi mộ của nhạn trắng. Năm tháng qua đi, nơi ấy bây giờ thành núi Nhạn. Núi gồm có ba ngọn từa tựa hình chim Nhạn. Thân Nhạn là một dải núi đất dài. Hai cánh Nhạn là hai ngọn núi đá mọc hai bên.
Hai chị em đến được ngọn núi đá phía đông thì trời đã khuya. Ở đây có một hang lớn. Trong hang có một hố nước ngầm rất trong mà cả khu núi này không ở đâu có. Mấy năm trước, đội du kích có trú ở hang này vài lần khi gặp khó khăn. Đợt qua, anh em cũng đòi lên đây, nhưng anh Thái bảo ở sông gần xã hơn, bám vào dân dễ hơn. Từ bờ sông chỉ qua bãi mía là tới làng. Đây là căn cứ thứ hai đội chỉ đến khi tình thế bí quá.
Tâm đưa Hà vào hang núi. Hang tối om. Khi Tâm rút cái đèn chai, vốn có trong gùi của mọi người du kích, châm lửa lên, Hà thấy cái hang hiện ra như cái mõm rộng của một con thú đang há hốc. Vách hang trắng bệch. Từ trần hang rơi xuống những cây thạch nhũ như những vòng dây treo cổ. Bao hình thù kỳ quái nhảy múa rồi biến mất, rồi lại hiện ra khi Tâm cầm đèn soi chỗ này chỗ nọ. Tâm bước tới một vách hang sờ sờ một lúc rồi nói:
– May quá, mấy cái cọc sắt gài vào đá để mắc võng vẫn còn. Chị em mình nghỉ thôi.
Hà mắc võng cạnh chị. Nhưng cô không ngủ được. Cô nghe tiếng gió hú rờn rợn ngoài cửa hang. Chiếc võng cô nằm chao chao như con thuyền trên biển cả. Tiếng đại bác nổ ùng oàng đâu đó. Mấy lần, nghe Tâm ngáy, Hà cũng cố nhắm mắt nhưng rồi mở mắt ngay. Trong một lúc chợp mắt ngắn trước khi trời sáng, câu chuyện xưa bỗng đi vào giấc mơ. Hà thấy mình biến thành con Nhạn trắng. Nhưng không phải cô bay tìm đảo mà phải bay, bay mãi trước những phát đạn săn đuổi của kẻ thù. Cho đến cái phút cánh rã rời và lao xuống mặt nước, cô bỗng thét lên một tiếng và bật dậy, người toát mồ hôi.
2
Buổi sáng, một tia nắng rọi vào hang đánh thức Tâm dậy. Cô đã đặt chân xuống đất, nhưng cảm thấy người đau ê ẩm, hai bên hông mỏi nhừ, nhất là cái đạp quá mạnh bất ngờ của đứa con trong bụng làm cho cô choáng váng, nên lại nằm vội xuống võng. Một lúc, Tâm thấy người hơi khoẻ lại. Cô bật dậy, ngơ ngác nhìn quanh. Bây giờ cô mới nhận ra là Hà không còn ở trong hang.
– Hà ơi!
Tiếng “Hà ơi” rền khắp hang, đập vào vách đá biến thành “Hà…ơ ơ” rồi tan dần mà không có lời đáp lại. Tâm lặng người một lúc, hơi hốt hoảng cảm thấy mình thật bơ vơ.
– Hà ơi! – Tâm gọi to hơn.
Chung quanh vẫn im lặng.
“ Con nhỏ đi đâu rồi hè” – Tâm nghĩ – Không khéo, chưa biết tin tức người yêu, nó đi ngơ ngơ xuống làng hỏi thăm bị địch nó “lượm” mất rồi. Mà cũng chẳng cần đi đâu cho xa. Ngay đứng ở đầu núi Nhạn mà không kín đáo, bọn đóng trên các ngọn núi nhìn ống nhòm xuống, gọi pháo cũng nguy rồi. Nó chưa có kinh nghiệm hoạt động du kích. Chỉ mới lên căn cứ có hơn một tháng nay, lại đúng thời kỳ ác liệt nữa. Tâm chưa kịp dặn dò nó. Tâm lo quá.
Từ nhỏ, hai chị em đã quấn quít nhau. Mẹ hay cười bảo: Hà là cái đuôi của Tâm. Tâm leo lên cây ổi để hái, Hà đứng dưới gốc chỉ trỏ rồi giơ nón hứng. Tâm ra bờ rào lượm củi, Hà chạy theo giúp chị xếp lại từng lượm. Tâm nấu cơm, Hà chầu hẫu ngồi bên, lật đật đưa cho chị khi thì que củi, lúc cái vung. Tâm đi đâu, ai cho quà gì cũng để dành mang về cho em. Bà con trong làng thường lấy tình chị em Tâm-Hà làm gương cho con mình: “Tụi bay anh em ruột mà tranh giành nhau từng xí. Bay coi đó. Con Tâm với con Hà cái gì cũng nhường nhau. Thế mới là chị em chớ”. Ngoài tình cảm chị em ruột ra, hai người còn cùng chịu cảnh luôn phải sống xa cha mẹ. Cha họ làm công tác ở tỉnh, lâu lâu mới ghé qua nhà một buổi, nhiều nhất là một ngày rồi đi ngay. Mẹ vừa làm công tác Phụ nữ Xã vừa lo việc đồng áng. Ngôi nhà tranh bé nhỏ, vách đất thủng nhiều lỗ bởi chuột, chó hay đào bới thường giao cho hai chị em. Tâm lớn hơn em, lãnh phần lo toan mọi việc để giúp mẹ.
Gia đình ấy thực sự có những ngày đoàn tụ khi người cha trở về, đặt chiếc ba lô lấm bụi vào một góc, cởi bộ đồ xita ra giếng giặt để thay vào bộ quần áo bà ba của người nông dân sau ngày hiệp định Giơnevơ được ký kết. Hai đứa con gái lúc đầu còn nhìn ông ngỡ ngàng, nhưng chỉ một lúc sau, đã a vào người ông, mỗi đứa dắt một tay, kéo ông đi quanh nhà, dạo ra vườn, lông nhông giữa con đường làng hai bên bờ rào nở những hoa dâm bụt đỏ đến thăm những người quen: “Vô nhà bác Sáu trước cha”- “Vô nhà cô Năm chứ”. Hai cô gái lôi cha đi theo ý mình, làm cho người cha lúng túng, chỉ biết cười gượng, rồi cúi xuống hôn vào má mỗi đứa mỗi cái. Đêm đêm, mỗi đứa con nằm một bên cha, cù vào nách, sờ vào mặt đòi cha kể chuyện đánh Pháp.
– Cha có bắn được thằng nào không cha?
– Cha có giật mìn làm đổ xe không?
Người cha không trả lời được, vì ông là một cán bộ Dân chính ở tỉnh, chứ không phải là bộ đội. Ông đành kể những chuyện mà ông được nghe, được thấy ở người khác rồi hát lên những bài hát quen thuộc, giọng khàn khàn ru cho con ngủ.
Ngày đầu tiên đi qua. Rồi những ngày tiếp theo, hai người con vẫn quấn quít bên cha khi ông cuốc vườn trồng cây hay nhào đất đắp lại những bức tường nhà thủng nát. Những ngày ấy êm đềm biết bao. Sau này, khi nhớ lại hình ảnh người cha, hai cô con gái bỗng thấy hiện lên những ngày ấy. Họ lặng lẽ ngồi khóc.
Một buổi tối, cả nhà đang ngồi quây quần bên mâm cơm, dưới ánh đèn thì có mấy tên lính đội mũ nồi có hai tua vàng và đỏ xộc đến, chĩa súng vào cha:
– Thằng Đinh đây phải không?
Cả nhà mặt mày xanh lét. Tâm khóc trước, Hà và mẹ cũng khóc theo. Cha yên lặng nhìn tụi giặc, và nhanh cho hết chén cơm, bỏ chén đũa xuống mâm rồi đứng dậy:
– Tôi đây, các ông cần gì?
Một thằng mặt đã già, mắt đeo kính cận nói:
– Đi theo chúng tao.
Cha không nói không rằng, quay lại ôm hôn hai chị em thật lâu rồi bước xuống thềm, đi ra phía ngõ. Dáng ông cao lớn hiên ngang. Bọn địch lủi thủi theo sau.
Cha Tâm đi, không về nữa. Ngay đêm ấy, chúng trói ông bỏ vào bao tải, ném xuống dòng sông Vệ mùa nước sôi sục sóng.
Ba mẹ con đùm túm nuôi nhau. Tâm mới có mười tuổi đã cùng mẹ gánh vác mọi công việc nặng nhọc để nuôi em. Suốt ngày Tâm phơi mình giữa mưa nắng chăn bò thuê cho những nhà giàu có. Có lúc, Tâm vác trên vai một chiếc đòn xóc, cùng bạn bè lên tận núi cao, ròng rã suốt ngày này sang ngày khác hái củi đem ra chợ bán lấy tiền giúp mẹ nuôi em. Tới mùa gặt lúa, Tâm đội nón cời sùm sụp ra đồng tranh nhau với bầy trẻ nhặt từng bông rớt, dưới đòn roi của bọn chủ ruộng. Mùa nhổ khoai, Tâm lủi thủi đi sau những người đào bới, nhặt từng củ hà, đầu mẩu. Rồi mẹ bị bắt đi tù. Tâm vừa phải nuôi em vừa phải mang cơm đến nhà tù nuôi mẹ. Cuộc sống gian khổ nghẹt thở cứ kéo dài hết ngày này sang tháng nọ ngỡ không bao giờ dứt. Đến ngày đồng khởi, Tâm gặp các chú, bạn của cha tránh né những đợt tố cộng của chúng trốn chui trốn nhủi lên núi hoạt động đã quay về. Cô được các chú dìu dắt, đưa vào làm công tác Thanh niên, Tâm thật sự có những ngày hội họp, vui chơi cắm trại với những bạn bè trang lứa khác. Rồi bọn Mỹ đổ quân vào miền Nam. Xã cô bị địch càn quét liên miên. Cán bộ du kích không thể hoạt động công khai được. Phần đông cán bộ, du kích đứng ở các thôn phía tây xã, có lúc phải dạt lên tận núi. Một số khác trụ lại trong những hầm bí mật mọc giữa những bờ bụi, những vườn cây, trong những căn buồng nhà dân. Tâm được phân công hoạt động du kích mật, có nhiệm vụ nắm tình hình địch, tình hình dân trong xã, phối hợp với lực lượng bất hợp pháp. Tâm vừa làm ăn, giúp người mẹ luôn đau ốm vì bị tra tấn nhiều, nuôi em ăn học, vừa nuôi giấu chăm sóc các cán bộ, du kích đứng trong làng. Gần một năm nay, Tâm bị lộ nên thoát ly. Còn Hà, từ nhỏ, Hà đã được mẹ và chị nuôi cho ăn học. Mẹ thường bảo, có khổ mấy cũng phải ráng cho một đứa con học nên người. Hà được mẹ và chị chiều chuộng, lo đủ thứ từ sách vở đến áo quần. Những mốt quần áo mới, những qui định đồng phục của nhà trường, dù khó khăn mấy gia đình cũng lo cho Hà. Hà học ở trường làng rồi sau đó chuyển lên thị xã. Nhà càng phải vất vả hơn vì phải chu cấp cho Hà thêm tiền trọ. Những ngày nghỉ hè, bạn bè Hà rủ nhau về chơi dăm ba bữa, cùng Hà đi chơi đây đó. Chẳng lẽ để Hà “xấu hổ” với bạn bè? Một món tiền nữa lại đẻ ra. Nhưng làm sao để có tiền? Tâm lại phải hái củi, làm thuê. Bộ áo quần đen lỗ chỗ vết rách. Chiếc nón cời tơi tả nắng mưa…
Hà chuẩn bị thi lớp mười hai thì mẹ bị pháo chết lúc đang cuốc ruộng. Lúc đó Tâm bị lộ, thoát ly, không còn ai trợ cấp nên Hà bỏ học về nhà. Không quen sống một mình, vốn quen với Hường trong những ngày Hường xuống làng hoạt động, Hà nhảy lên căn cứ với người yêu. Bây giờ Hường bị bắt rồi, con Hà này phát điên mất…
– Hà ơi!
Tâm gọi lần nữa nhưng vẫn không thấy Hà trả lời. Cô sốt ruột quá, cố gắng ngồi dậy bước ra ngoài cửa hang tìm em…
Trong lúc ấy, Hà đang đứng ở mỏm núi phía đông ngó về làng.
Tầm mắt Hà phóng lướt qua cánh đồng hoang, qua bãi mía, dừng lại trên mái ngói mái tranh ẩn hiện trong những vườn cây kéo dài ra tận mép quốc lộ Một. Làng Tân Thạnh của Hà đó. Đứng ở đây, Hà thấy làng mình như một hòn đảo xanh. Bên trái làng là một cánh đồng trải dài đến thị xã tỉnh lỵ, nơi nhấp nhô những ngôi nhà cao tầng. Ở đó, cô đã từng mặc bộ quần áo dài trắng bước vào ngôi trường Trần Quốc Tuấn, bạn bè ríu rít đông vui. Cô đã cùng với các bạn gào đến khản cổ, ký tên đến dại cả tay trong những đêm hội thảo đòi hòa bình, tự do, chống bắt lính, đòi cấm quân sự hóa học đường. Ở đó, cô đã từng lủi thủi vừa đi vừa gặm một ổ bánh mì nhỏ với số tiền ít ỏi mẹ cho trên những đường phố lúc nhúc bọn Mỹ, Nguỵ, bọn đĩ, bọn giàu có ăn mặc sang trọng. Rồi cái ngày phải bỏ học giữa chừng vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Những đứa bạn thân bỏ cả ngày chủ nhật đưa Hà đi chơi núi Thiên Ấn, xuống tận Cổ Lũy Cô Thôn để từ biệt: “Nay mai mày về trong đó, khó có dịp gặp nhau”. Dưới gốc những cây dừa là những tán dù xanh đỏ, chất đầy bánh, kẹo, nước ngọt, bia. Mấy người bạn tranh nhau đãi Hà “để nhớ nhau”.
Bên phải làng là thị trấn nhỏ với những mái ngói chen mái tôn nằm dọc bờ sông Vệ. Tại thị trấn này, hồi nhỏ, Hà đã theo chị ra bán củi, bán ổi. Một lần, Tâm đã mua cho Hà một chùm nho tươi mọng, thứ mà Hà thích. Hà bứt từng trái bỏ vào miệng, nghe vị chua ngọt thấm dần xuống cổ, đứng bên cầu, ngó những con thuyền lướt trên mặt sông. Từ mặt nước bỗng vang lên những câu hò của xứ sở, có ai thương nhau, ai bỏ nhau mà để Hà buồn. Giờ đây, trong buổi mai, con sông rực lên màu nắng, như một chút nắng xưa mà đã khác nắng ngày xưa. Chưa bao giờ Hà thấy nhớ làng quê như vậy. Cô thèm được chạy ngay xuống đó, đến ngồi trên bậc thềm một ngôi nhà nào đó đọc sách, chạy vào khoèo ổi trong một vườn cây, cầm tay bạn bè cười nói ríu ran. Nhưng bây giờ không sao làm được như thế nữa. Chị em cô như hai con thỏ con bị địch săn đuổi. Hà ngồi xuống một tảng đá, chống tay lên cằm ngó đăm đăm qua cánh đồng hoang, qua bãi mía…
Trước mắt Hà bỗng hiện ra một đêm trăng trải vàng trên đồng mía. Sông Vệ lấp loáng thì thầm đâu đây. Hà sánh vai Hường đi bên bờ mẫu. Mấy hôm trước cô học sinh có thân hình thon thả và mềm mại, da trắng hồng, đôi mắt đen láy mơ mơ vừa nghỉ hè về nhà, đã gặp Hường, một Xã đội phó, có dáng vóc cao gầy, vừng trán rộng, khuôn mặt vui vẻ trẻ trung đến gặp chị cô trao đổi công tác. Hà vừa tắm xong, đang đứng bên hiên chải mớ tóc dài đen óng. Hai người nhìn nhau. Ngay lúc ấy, họ có cảm tình với nhau. Từ bữa đó, Hường tìm cách bắt chuyện riêng với cô. Đêm nay trăng sáng, trong làng không có địch, Hường rủ Hà dạo chơi ngoài đồng mía. Hà say sưa nghe Hường kể về tuổi thơ mồ côi lang thang của anh ở thị xã, những năm tháng vừa đi đánh giày vừa học, những dự định tương lai của anh sau ngày miền Nam giải phóng…Bên một hàng mía khuất ánh trăng, Hường dừng lại cầm tay Hà, giọng khàn khàn hỏi nhỏ: “Anh đã kể cho em nghe, cuộc đời anh đau khổ lắm…Em có…có thương…anh không?”. Hà cảm thấy mặt đất rung rinh dưới chân mình. Cô không đứng vững nữa, ngã dúi về phía đôi tay người đỡ. Hà cảm thấy một làn môi lướt trên má, trên cổ, trên ngực mình. Tim Hà đập loạn xạ. Hai người cùng thở hổn hển. Rồi anh ngồi xuống bờ ruộng, đặt Hà trong lòng mình. Bàn tay anh run run nhẹ lướt trên ngực Hà…
Hà đưa bàn tay lên ngực, cảm thấy ngực mình còn ấm nóng tay anh. Hà nhắm mắt lại, mơ một bàn tay, một bàn tay ấm nóng.
Bỗng Hà giật nẩy mình. Có tiếng súng nổ ở xa, ở phía làng. Hà đứng lên một tảng đá, rướn nhìn. Từ trong làng, bỗng hiện ra lố nhố bóng người. Họ sắp hàng dài ở mép ruộng mía và cúi lom khom phát mía. Sao vậy hè? Đã tới mùa thu hoạch mía đâu? Sao lại có tiếng súng nổ. Hà chạy về phía hang đá. Tới cửa thì gặp Tâm ngồi trên một phiến đá.
– Chị ơi, hình như bà con ta bị chúng bắt chặt mía. Sao chưa tới mùa mà đã chặt hả chị?
Mắt Tâm mở tròn xoe:
– Nó phá mía đó. Có lẽ nó muốn phát quang để dễ kiểm soát ta vào làng.
Tối hôm đó, Hà xuống làng để nắm tình hình. Hai tiếng sau, cô trở về thất vọng nói với Tâm:
– Không vô được làng đâu chị. Tụi lính đang đóng giã ngoại ở bãi mía. Em núp sát bờ sông nhìn vô. Có lần em nhỏm lên để quan sát suýt bị chúng phát hiện. Em đã đến chỗ gốc sung bí mật để lấy thư, lấy gạo bà con tiếp tế nhưng không thấy gì hết. Dân mình như vậy đó chị ơi.
Tâm nhìn Hà, thấy mũi Hà nhun nhun một cách khó chịu. Cô biết Hà đang bực bội trong lòng.
Tuy hai chị em ruột, nhưng tính nết mỗi người một khác. Hà xốc nổi, vui đó buồn đó và hầu như không say mê một việc gì lâu bền. Trái lại, Tâm chín chắn, nói ít làm nhiều, có phần hơi quá thận trọng trước mọi việc. Tâm hỏi khe khẽ:
– Em thấy trong làng ra sao?
Hà nhăn nhó:
– Tối thui. Nhà bà Sáng cũng tắt đèn. Dân mình sợ trọi lỏi rồi. Bắt đầu theo tụi nó hết rồi.
– Đâu chắc vậy.
– Chị không tin à? Tại sao bà Sáng làm ám hiệu không có địch mà mình vô lại bị phục?
Tâm đắn đo:
– Có gì trục trặc thôi. Em đừng vội nói vậy.
Tâm không thể nghi ngờ dễ dãi được. Cuộc đời cách mạng bao năm tháng đã dạy cô như thế. Không tin nhân dân thì còn gì mà tin nữa. Hồi mới hoạt động cô cũng chưa hiểu hết việc này đâu. Cô chỉ ưa đến những nhà quen, những người mình có cảm tình hoặc tin tưởng mà xa lánh những người bị thành kiến hay có điều gì đó bản thân mình không ưa. Có một lần, Tâm rời làng mười ngày lên căn cứ tập huấn. Khi về làng chưa nắm được tình hình, cô mò vào nhà bác Đấu, một người trong họ để dò tin tức. Chẳng ngờ, khi tới gần cổng nhà bác thì phát hiện có địch phục. Chúng cũng phát hiện ra cô. Cô chạy vòng qua vòng lại tìm những nhà quen để nấp. Nhưng tới đâu họ cũng đóng cổng. Bọn địch lại la ó rượt theo. Cô quýnh quá. Bất ngờ, thấy một ngôi nhà còn mở cổng, cô chạy vụt vào:
– Bác ơi, bác cho con…
Một bà già thấp bé, da đen đủi, áo quần rách rưới hiện ra. Bà nhìn Tâm chằm chặp một lúc rồi dẫn Tâm vào bàn thờ. Tâm chẳng ngờ ở dưới bàn thờ nhà bà có một cái hầm đào sẵn. Sau này, khi bà là cơ sở của mình, Tâm mới biết bà đã từng nuôi bao nhiêu cô chú ở hầm này, trước cả lúc Tâm gặp cách mạng. Đó là tấm lòng thầm lặng của nhân dân mà dần dần trong quá trình tham gia cách mạng Tâm mới nhận ra…
Bà già Tâm gặp hôm ấy chính là bà cụ Sáng. Tâm nghe mọi người kể lại, từ đời ông bà đến cha mẹ bà đều rất nghèo khổ, ai cũng đi ở đợ. Bà cũng phải đi ở đợ từ nhỏ, làm nhiều việc nặng nhọc nên người bị đẹt, đen đủi, xấu xí như vậy. Trong làng, ai cũng coi khinh bà. Tới ngày cách mạng tháng Tám thành công, nhà bà mới được chính phủ cấp ruộng đất cho cày cấy. Cha mẹ bà mới có túp lều tranh, có những đêm bình đẳng ngồi họp với mọi người, bàn chuyện làng, chuyện nước. Mọi người trong làng nhìn gia đình bà với con mắt thân thiện hơn. Riêng bản thân bà, đã lớn tuổi mà chẳng chàng trai nào ngó tới. Thế rồi, có một chuyện xảy ra, làm cả làng lại coi rẻ bà, bởi bà không có chồng nhưng đã có một đứa con riêng. Chuyện ấy xẩy ra từ hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Một lần, có một anh bộ đội đến xã công tác, nghỉ lại nhà bà, lúc ấy bà là một cô gái muộn chồng gần ba mươi tuổi. Chẳng rõ hai người quan hệ ra sao mà sau một thời gian, anh kia đi thì bà đã mang một cái bụng to phình. Cha mẹ bà, lúc ấy còn sống chửi rủa bà, làng xóm mai mỉa bà, bà vẫn bảo: “Có lẽ ảnh chết rồi chớ còn sống thì về cưới tôi thôi. Bộ đội ai lại thế”. Nhưng về sau có một người làng cùng đơn vị anh này, về cho biết anh này đã có vợ, đi đâu cũng tằng tịu, đã bị đuổi ra khỏi quân ngũ. Từ đó, bà cứ ở vậy nuôi con. Con bà lớn lên cũng bỏ bà đi theo trai biệt xứ. Người ta nói, con gái bao giờ cũng hưởng đức cha. Cha cô bé không có đức nên bà bị mất con. Rồi cha mẹ bà mất. Bà sống có một mình. Có điều, nhiều người vẫn không hiểu vì sao bà quý cán bộ cách mạng dường vậy. Sau này, có một lần Tâm cùng bà tâm sự với nhau về việc ấy, bà nói: “Không có cách mạng thì tao làm sao còn sống đến ngày nay. Nhà tao nghèo khổ lắm. Vì vậy, dù ai nói gì thì nói, dù có chuyện không hay của cán bộ này, bộ đội nọ, nhưng toàn bộ cách mạng là tốt. Tao thương cách mạng là thương ở cái cốt ấy”. Còn bấy giờ, ngồi dưới hầm, Tâm nghe tiếng hỏi:
– Có con Việt cộng chạy vô đây không, mụ già?
– Không thấy.
– Láo. Mụ giấu nó ở đâu? Tụi tui vừa thấy nó chạy vô ngõ nhà mụ.
Im lặng một lúc, Tâm nghe bà cụ Sáng nói:
– Ờ, ờ tui già rồi, tui lẫn rồi. Có thấy. Nó chạy ngang qua đây, phóng ra sau hè, chạy ra đồng rồi. Tui cứ tưởng tụi nhỏ rượt đuổi bò.
Tâm nghe tiếng cười gằn và tiếng báng súng nện bình bịch vào người bà.
– Thật không? Thật không? Nói láo tao đập bể sọ.
– Tui thấy vậy đó.Mấy ông đánh tui chết cũng vậy thôi.
Bọn địch chạy lịch bịch, xa dần…
Từ sau bữa đó, Tâm bắt đầu tin bà cụ Sáng. Tâm đưa anh em cán bộ, du kích xuống nhà bà ở. Nhà bà có lợi thế: Sau nhà có bờ tre, mảnh vườn, vượt qua rào là tới bãi mía. Bà nuôi hết người này đến người khác. Nhà bà cụ nghèo. Từ khi bọn Diệm đến, mấy sào đất cha mẹ bà được chính phủ cấp cho cày cấy từ hồi kháng chiến, bị bọn địa chủ giật lại. Bà phải đi làm thuê, gặt mướn. Nhưng bà rất thương cán bộ du kích. Hàng ngày, bà chỉ ăn khoai củ để dành gạo cho anh em. Có đồng tiền nào làm mướn được bà cắc củm giữ kỹ để lâu lâu mua cân đường, hộp sữa, bao thuốc cho anh em. Những lúc anh em đau ốm, bà chạy thuốc men, nấu cháo, đổ cả bô nước tiểu. Bà có tấm lòng của người mẹ, nhường hết mọi thứ cho con cái, riêng mình chịu phần cực khổ. Bà còn đi nắm tình hình, dò la tin tức cho anh em ta. Vốn là kẻ nghèo khổ, mọi người thành kiến, thân hình như kẻ ăn xin nên bọn địch ít để ý đến bà, cho bà tự do đi lại. Có khi, dưới lần áo rách của bà là những lá thư liên lạc, mà bọn quỷ quyệt nhất cũng không ngờ đến. Có lần, bà nhét mấy khẩu súng ngắn vào gánh ổi gánh vào thị trấn cho cơ sở bên trong. Đến bót gác, thấy địch đang vây bắt mọi người dừng lại khám xét, bà vừa đi qua, vừa nói: “Mụ Sáng Tân Thạnh đây, có gánh ổi bán kiếm xu, qua đi nghe mấy chú”. Chúng cười hô hố: “Đi nhanh vào gặp ông xã đi, ổng chờ rụng hết răng rồi đó”. Từ khi anh em bị bật ra khỏi xã, bà cụ Sáng nhận nhiệm vụ tiếp tế gạo nước và thắp đèn để báo hiệu cho ta. Ngọn đèn ấy làm vững lòng cho cán bộ, du kích trong những đêm tối đầy lo âu. Vậy mà, tại sao vừa qua, hai lần bà thắp đèn, ta vào lại bị phục? Chẳng lẽ bà đã khai báo sao? Hay anh em ta? Có cái gì đó từ sâu thẳm trong lòng mình mách bảo Tâm là mọi việc không phải tại bà cụ Sáng. Tâm nói với Hà:
– Nếu bà con có chuyện gì chắc cũng là do chúng o ép quá – Tâm dừng lại một chút rồi tiếp – Chị thì chị tin bác hai Sáng không theo địch.
Hà nhăn nhó:
– Chị thì lúc nào cũng tin. Ai cũng tin. Tin mãi, tin mãi rồi chết luôn. Em nói dân xã mình hư hỏng cả rồi. Họ chạy theo tiền cả rồi…
Hai chị em cùng lặng im. Gió thổi rào rào qua đồng trống, lùa hun hút vào cửa hang…
3
Những ngày tiếp theo, tình hình cũng không sáng sủa gì thêm. Bọn địch vẫn đóng giã ngoại, vẫn bắt dân chặt mía.
Mấy gói gạo sấy trữ sẵn trong gùi mà mấy ngày qua, chị em đem ra, lấy nước lã đổ vào ăn dè sẻn đã hết. Họ đứng trước cái đói. Ngày đầu, Hà càu cạu, buồn bực, suốt ngày vật vờ như nhớ nhớ một điều gì, quên quên một điều gì. Cô không nói gì với chị mà ra ngồi riêng một góc đăm đăm nhìn xuống làng. Khi gần tối, cô quyết định xuống moi thử hũ gạo cơ sở đặt dưới gốc một cây sung sát bờ sông, cách làng chừng nửa cây số, lâu nay vẫn tiếp tế cho du kích lúc khó khăn. Nhưng Hà chỉ thấy cái hũ không. Trở về, hai chị em bàn nhau, có lẽ do địch đóng giã ngoại nên cơ sở không tiếp tế được. Hôm sau, Hà lại xuống moi hũ gạo. Đi tới bờ sông, Hà bỗng thấy có người ngồi lom khom dưới gốc sung. Có lẽ cơ sở đang mang gạo tiếp tế, mình sẽ hỏi được tình hình, sẽ có lương thực ăn đây. Hà mừng húm, suýt reo lên. Nhưng vốn cảnh giác, cô ngồi núp sau một bụi lau quan sát. Một lúc sau, cô phát hiện ra đó là một thằng dân vệ. Nó ngồi ngay chỗ chôn gạo, ngủ gà ngủ gật. Nguy rồi, cơ sở không tiếp tế mà còn báo cho địch phục hay sao? Hà bỗng thấy như có một màn bóng tối phủ xuống lòng mình. Cô vừa quay về hang đá vừa nghĩ hoang mang. Mọi chuyện cứ rối tung ra: bà Sáng thắp đèn mà du kích bị địch phục? Hũ gạo chị Thắng chôn mà có lính gác? Sao vậy? Đối với một người vừa thoát ly hơn tháng nay, những điều ấy thật khó hiểu.
Tới hang đá, nỗi thất vọng cùng với cái đói dằn vặt đã làm cho cô nổi đóa khi Tâm hỏi tình hình:
– Hỏi hỏi cái gì. Cơ sở của bà tốt lắm. Suốt bao năm bà xây dựng…Giờ là…Vậy mà bà cứ tin…
Đôi mắt Hà trống rỗng. Ở đôi mắt đó, những ngọn lửa tươi vui cháy lên những ngày nào đã tắt, giờ đây, nó tối sầm lại trong nỗi chán chường bất lực. Tâm im lặng một lúc rồi nói khe khẽ:
– Mà bà con đem gạo sao được. Tụi nó đóng giã ngoại ở đồng mía mà.
Hà càu nhàu:
– Nó không đóng cũng không có ma nào tiếp tế cho mình hết. Tui nói là dân mình theo địch hết rồi mà.
Hai chị em lại im lặng, lên võng nằm. Nhưng cả hai đều không ngủ được. Hà cảm thấy bụng mình đau quặn lên từng đợt. Hà nghĩ gì, tính việc gì được một lát cũng quay về với cái đói, không làm sao tập trung tư tưởng được. Người cô hâm hấp sốt, mồ hôi rin rít.
– Nè Hà – Tâm gọi khe khẽ.
Hà định không trả lời, nhưng thấy giọng chị âu yếm nên hỏi:
– Gì hả chị Hai?
– Có gói mì chính trong gùi, em lấy ăn một tí cho đỡ đói.
Hà phì cười:
– Mì chính mà ăn nhằm gì.
Hà nói vậy, nhưng cũng lôi gùi chị lại, lục tìm gói mì chính vốc một nắm bỏ vào miệng. Vị ngọt ngọt tanh tanh tràn qua cổ ngỡ làm cho Hà khoẻ hẳn lên. Nhưng chỉ một lúc Hà lại đói quặn. Tâm nói với Hà:
– Có lẽ mai chị em mình sẽ tìm ra cái ăn thôi. Quanh quanh núi này chắc cũng có rau cỏ gì chớ.
Hà nằm im, một lúc sau thì ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ ngắt quãng bởi cơn đói, Hà mơ những giấc mơ cũng ngắt quãng với những bữa cơm có cá, có rau, những lần vừa đi dọc hè phố vừa gặm bánh mì, những bữa giỗ trên bàn có xôi, có những đĩa thịt, đậu rán tú hụ. Những đĩa thức ăn, những loại hoa quả cứ quay quay khi tay Hà chạm đến như trêu Hà. Hà giật mạnh một đĩa hay định cầm một quả nào đó về phía mình thì nó biến mất. Gần sáng, Hà tỉnh hẳn, bụng quặn đau.
– Giá có một củ khoai mà ăn cũng đỡ chị Hai hỉ?
Hà nói khi nghe Tâm trở mình. Nhưng Tâm không trả lời. Cô ngỡ chị còn bực mình. Nhưng không. Tâm đang ngủ giấc nặng nhọc, nói ú ớ những gì đó, miệng chóp chép như một đứa trẻ đang khát sữa. Cô bỗng thấy thương chị. Có lẽ hôm qua mình bực mình nói tầm bậy tầm bạ làm chị buồn lắm. Chị có mang, lại cũng mệt, cũng đói như mình mà chẳng nhăn nhó gì. Cô bừng dậy, quan sát xung quanh rồi bước ra khỏi hang. Phía đông, trời đã hửng sáng. Một lúc sau, những tia nắng đầu tiên đã rọi xuống khu núi đá. Hà vừa đi vừa đưa mắt lục lọi dưới từng hòn đá. Cái đói làm cô mệt lử. Đi được một đoạn, cô phát hiện ra mấy bụi rau chua me. Hà mừng quá, vội hái liền mấy nắm, trở về khoe với chị. Hai chị em đến bên hố nước rửa sạch rồi ăn sống. Cơn đói có vẻ như dịu đi. Nhưng một lúc, bụng họ sôi quặn lên cồn cào, nước miếng tứa ra rồi một chặp sau, họ nôn thốc nôn tháo. Suốt ngày hôm ấy, họ quằn quại trong cơn đói. Hôm sau, Hà lần sang khu núi đất. Rảo mỏi cả chân, Hà quay về với hai bàn tay trắng. Hai chị em đành uống nước cầm hơi, lên võng nằm. Họ cảm thấy sức yếu dần, mắt hoa lên, người muốn xỉu, tim đập thình thịch, chân tay họ mỏi rừ như sắp rụng ra. Mỗi lúc đi lại như có cục đá nặng đeo dưới chân, bước một bước lại muốn ngã quỵ.
Hà tuyệt vọng, cảm thấy tủi cực quá. Cô khóc khe khẽ, sau khóc to và hồi lâu người còn rung lên trong những tiếng nấc khan. Chẳng lẽ lại chịu ngồi rũ ở hang đá để chết đói. Hai chị em lần mò xuống chân núi chia nhau đi tìm cái ăn. Trưa ngày thứ tư, Hà phát hiện ra mấy bụi củ mài ở dưới chân núi đất. Hà mừng lắm, tìm Tâm khoe. Lúc đó, Tâm cũng đi mỏi chân, không tìm được thứ gì, đang ngồi thở trên một tảng đá. Nghe Hà nói, mắt Tâm sáng lên:
– Chị quên đó, ngày nhỏ, có lần chị đã theo mấy đứa bạn lên tìm củ mài ở đó đó.
Hà vui mừng chạy về hang, xách dao găm mà người du kích nào cũng có, đi đào. Sau mấy ngày mệt xỉu, Tâm cũng lần theo em. Tới trước một tảng đá, cô ngồi nghỉ, bỗng nghe Hà lẩm bẩm phía sau:
– Mày trốn đâu, mày cút đâu. Tao lôi mày lên. Tao bửa mày ra cho chị tao nuôi cháu tao.
Tâm bước tới. Thì ra Hà đang cố moi một khúc rễ củ mài chui tọt vào tảng đá. Mặt Hà tái xanh nhưng rạng rỡ.
Tối hôm đó, chiếc hang đá buồn thiu lạnh lẽo mấy bữa nay bỗng trở nên ấm áp. Hai chị em quơ một bó củi từ chân núi lên, đốt lửa bắc hăng gô luộc củ mài. Ngọn lửa bếp bốc lên làm trong hang hiện ra những bóng người nhảy múa vui tươi. Những cây thạch nhũ từ trần hang rũ xuống, giờ đây không còn giống những dây thòng lọng nữa. Có những cây mang hình người cưỡi ngựa, có cây mang hình dáng một con chim bay, có cây như một người cầm súng. Thân thạch nhũ óng lên những mầu sắc kỳ lạ, có một cái gì đó gợi lên một chiếc cầu vồng bắc qua vòm trời một buổi chiều mưa xiên.
Nồi khoai đã chín. Họ chia nhau vừa thổi phù phù vừa ăn. Những củ mài có chất bột làm cho người họ tỉnh táo hẳn ra. Có lẽ, chưa bao giờ trong đời, họ được ăn bữa tiệc ngon như thế này, Hà nhí nhảnh:
– Giá có một cục đường đen, mình cắn rốp rốp, nhai với khoai thì ngon biết mấy chị hỉ.
– Ừ, giá có cục đường.
Câu nói của Tâm tắc nghẹn. Xã Nghĩa Trung là một vùng trồng mía. Mỗi mùa thu hoạch, những con trâu nhễ nhại mồ hôi quay những trục ép mía nghe cót két. Bà con bắc những chảo lớn giữa đồng để nấu đường. Vào những ngày ấy, không chỉ có người quen, khách đường xa đi đâu ghé lại, những người làm đường cũng cười vui vẻ, bưng cho anh, chị những bát nước chè hai. Nhà chị em Tâm vì neo người không trồng mía, nhưng hai chị em cũng quấn đến bên những lò nấu đường của cô bác chực uống những bát nước ngòn ngọt mát mát. Chỉ mấy hôm sau, các cô các bác trong làng mang đến cho mẹ những tảng đường lớn. Mẹ đặt vào trong vò. Chị em đi đâu về, thấy vắng mẹ, len lén bẻ những cục đường, bỏ vào túi áo, chạy vụt sang hàng xóm…Giờ đây…
– Ừ, giá có một cục đường ăn với củ mài…
Bọn địch đang bắt bà con chặt mía non. Chị em ngồi trong hang đá đói rũ mấy hôm liền, ngồi mơ…
Mấy bụi củ mài cầm hơi cho họ thêm mấy ngày rồi cũng hết. Quanh khu núi Nhạn cơ chừng cũng không còn gì có thể ăn được. Chị em bàn nhau đi xa hơn chút nữa: Vào những làng cũ của xã Nghĩa Hòa, may có thể kiếm được những cây, quả, những vồng khoai, bụi sắn mà bà con bị dồn đi còn để sót lại.
Hà giành đi, vì không muốn chị có mang lại phải bươn bả đường xa vất vả. Tâm rất lo cho em. Cô sợ Hà chưa có kinh nghiệm đi không khéo sẽ bị bọn địch từ núi cao phát hiện. Cô dặn:
– Thôi thì chị chiều ý em. Nhưng em phải đi cẩn thận. Em không được đi theo con đường làng mà phải băng trong cỏ. Tới những đoạn trống, em cố khom người xuống. Nếu cần thì bò cũng được. Nếu không, bọn địch từ núi cao nhìn ống nhòm xuống thấy thì nó gọi pháo với trực thăng đến ngay. Cũng có khi chúng cho quân bộ lên đó phục. Chúng sợ bộ đội, du kích ta đứng chân. Mặt khác, chúng còn sợ bà con lén bỏ khu dồn về làng nữa…
Sáng hôm sau, hai chị em ra đứng ở cửa hang quan sát thật lâu. Họ ngó quanh quất một vùng rộng lớn từ làng mình lên Nghĩa Hòa. Bọn địch đang bắt dân Tân Thạnh chặt mía. Bà con đang đứng lố nhố bên bãi mía ngày một trống huơ trống huếch. Có tiếng súng nổ ở giữa đồng hoang làm hai cô giật mình. Địch phục chăng? Hay chúng đang kéo lên? Cả dãy đồng hoang đến Nghĩa Hòa không thấy có bóng người xuất hiện. Có lẽ bọn địch đang ở bãi mía bắn bừa bãi để làm vui thôi.
Tâm mỉm cười bảo Hà có thể đi được. Hà nhìn chị nháy mắt có ý bảo an tâm và sẽ có thức ăn. Đứng tựa vào hang đá, Tâm nhìn theo bóng Hà nhỏ dần, và khuất hẳn dưới chân núi. Một lúc sau, Tâm thấy Hà hiện ra giữa đồng hoang. Dáng Hà cúi lom khom ngộ nghĩnh trông rất tức cười. Bất ngờ đang đi, Hà đứng thẳng giữa đồng cỏ, giơ tay vẫy vẫy Tâm. Tâm giật nẩy mình, cái con nhỏ sao mà chủ quan thế. Tâm đưa mắt nhìn theo em rồi lại nhìn lên ngọn núi phía tây. Tim Tâm đập thình thịch. Tâm nghĩ là mình chưa thật chu đáo, chưa dặn Hà kỹ lưỡng lúc ra đi. Cô ân hận là đã biết tính Hà rồi mà vẫn cứ để Hà đi.
Suốt ngày ấy, Tâm cồn cào không yên. Tâm lo Hà bị sơ suất, dễ làm xảy ra những điều đáng tiếc. Cô tưởng tượng ra em mình đang nằm trong ống nhòm của một tên nào đó. Có tiếng quay máy gọi pháo. Kìa bầy trực thăng đang lên. Tâm thấp thỏm lúc lúc lại chạy ra phía cửa hang nhìn về phía Nghĩa Hòa. Mỗi lần có một tiếng đạn nổ hay tiếng trực thăng vỗ phành phạch ở đâu đó, tim cô như thắt lại.
Xẩm tối hôm đó, Hà quay về. Cả người ướt đẫm mồ hôi. Mái tóc dài rối tung, có những sợi bết mồ hôi dính vào thái dương. Hà cởi bao bột mì mang sau lưng xuống mở dây, ném ra mấy củ dong riềng, một bó rau khoai lang. Hà nói hổn hển:
– Ở nhà chị có lo không? Chắc chị lo lắm. Tính chị em biết. Nhưng lo gì, trong làng êm ru à. Mới đầu, khi sắp vô làng, em cũng lo lắm. Mỗi bước đi, tim em cứ như sắp nhảy ra. Em cứ ngỡ sau một bụi rậm, một lùm cỏ đang có một thằng địch phục. Em bước tới. Nó đang đứng dậy giương súng. Nhưng đi một đoạn thì em không lo nữa. Bây giờ, em chỉ chằm chằm coi có gì kiếm được bỏ bụng không. Lúc đầu em muốn khóc chị à. Bà con đi khu dồn không ai chăm sóc, cây cối hư hỏng cả, chẳng có trái gì. Em đi một lúc, thấy được mấy dây khoai lang mọc hoang, em mừng quá, quơ về đây, chí ít mình luộc ăn cũng mát bụng. Quanh quẩn mãi em mới thấy mấy bụi dong riềng. Có chất bột rồi nghe, em mừng quá rút dao ra đào, ngỡ sẽ được cả gùi. Ai ngờ, không có ai chăm, đào bở hơi tai cũng có chừng ấy…
Hà mỉm cười, rút khăn lau mồ hôi rồi đi nhóm bếp.
Ngày hôm sau, Hà đi Nghĩa Hòa lần nữa. Lần này cô sục thật sâu, thật kỹ. Chiều hôm đó, cô mang về một buồng chuối già và mấy củ khoai lang. Phấn khởi, Hà đi tiếp liền mấy ngày như vậy. Có bữa, cô mang về mấy trái ổi, có bữa là mấy quả trứng chim. Cô vui vẻ nói với chị:
– Chị luộc trứng chim mà bồi dưỡng. Em nghe người ta nói, lúc có mang đàn bà cần canxi để làm cho cơ thể cháu bé sau này cứng cáp.
Bỗng một hôm, Hà quay về với hai bàn tay không, mặt buồn thiu. Cô không cần mở gùi xuống, mà cứ để nguyên trên lưng, hít hà, miệng chẩu ra như đang giận ai đó. Một lúc sau, cô mới nói với Tâm:
– Hổng còn gì nữa đâu chị ơi. Em lùng khắp nơi, sục miết cũng chỉ có từng ấy thứ. Bây giờ chị em mình sẽ tính sao đây?
Tâm nghĩ một lát rồi nói:
– Chị em mình phải xuống làng thôi. Đã hàng chục ngày nay không nắm được tình hình. Chị sốt ruột quá.
Hà trề môi:
– Bà xuống đó, nó rượt nữa, bà chết mất…
Tâm cười:
– Mà không xuống cũng chết đói.
– Đói thì tui đi xa nữa tìm cái ăn, mình cũng sống lâu lâu. Chớ xuống đó, dân theo địch hết, khai ra thì mình chết quẻo ngay. Xã mình đã mất thì cho mất luôn. Bộ chị lo cho anh Thái lắm hả.
– Chớ mày không lo cho thằng Hường à, cái con…
Hai chị em cười vang. Buổi chiều ấy, sau bao nhiêu ngày bị săn đuổi, bị đói khát hai chị em mới cùng cất tiếng cười…
4
Hai chị em ngồi trong một khóm lau sát bờ sông nhìn ra bãi mía.
Trời nóng nực một cách khó chịu. Nắng ong ong vàng sẫm. Nhìn lâu, Tâm thấy trong nắng có những làn sóng ánh sáng cuộn xoáy làm nhức cả mắt. Từ nhiều phía chân trời đùn lên những đám mây xám nặng, nhưng một lúc sau lại tan ngay. Bầu trời bỗng xanh ngắt như màu lá mạ dội xuống những luồng nóng càng khủng khiếp hơn. Những ngày trước khi vào mùa mưa trời vẫn thường như vậy đó. Mồ hôi túa ra, quệt với lá lau làm hai chị em xót không chịu được. Hà gãi sồn sột, mặt nhăn nhó. Trên mặt, trên cổ, trên tay cô hiện ra những vệt đỏ tứa máu. Cô lầm bầm chửi rủa, nhưng im bặt ngay, khi thấy Tâm giơ tay về phía trước ra dấu im lặng.
Bọn địch vẫn bắt dân chặt mía. Có lẽ mọi người không chịu làm nên thỉnh thoảng hai chị em nghe chúng quát: “Chặt mau lên. Bộ tiếc mía hả? Bộ muốn rước Việt cộng về núp hả?”. Thường sau mỗi lần quát là những loạt súng bắn chỉ thiên và những tiếng cười ha hả. Tiếng chặt mía lại rào rào, rộn lên một lúc rồi lại thưa dần. Rồi lại có tiếng quát. Rồi lại có tiếng rào rào chặt mía. Càng về chiều, tiếng quát thưa dần, tiếng chặt mía cũng rời rạc.
Hai chị em ngồi tê cả chân, bụng đói cồn cào. Nước miếng tứa ra, Hà cứ ao ước giá có được một thanh mía nhai rau ráu cho đỡ thèm đỡ khát. Một lúc sau, Hà không chịu nổi nữa, nằm xoài ra, thiu thiu ngủ dưới nắng. Bất chợt Tâm kéo chân Hà, thì thào: “Đừng ngủ. Vừa đói vừa nắng, mình ngủ sẽ mệt thêm. Có chuyện gì xảy ra làm sao mà chạy”. Hà mở mắt làu bàu rồi bật dậy. Hà thấy Tâm đang chăm chăm nhìn vô bãi mía. Đôi mắt màu đen mở to, căng thẳng. Khuôn mặt tái xanh vì sốt, vì đang có mang, vì đói ăn hằn lên những vết nhăn. Hà cảm thấy thương chị lắm. Hồi sáng, hai chị em bàn nhau mãi xem thử Tâm có nên đi xuống đây không. Hà không cho Tâm đi nhưng Tâm vẫn quyết đi. Tâm sợ Hà không quen đi một mình. Vả lại, Tâm muốn tự mình nắm tình hình bà con. Tâm không tin là bà con đã quên cách mạng. Chẳng biết ai đã có lần nói với Tâm rằng: Đối với quần chúng lao khổ, những người lương thiện, suốt đời chỉ biết sống nhờ bàn tay mình, trong bản chất của họ, bao giờ họ cũng đi với cách mạng. Nếu có lúc họ xa cách mạng chỉ vì cách mạng không biết hướng dẫn tổ chức mà thôi. Năm ngoái, có một lần lên huyện họp hội nghị du kích chiến tranh, tổ chức cho những người du kích đánh giặc giỏi, Tâm nghe một anh du kích xã An Khang lên báo cáo. Anh cho rằng, tình hình xã anh kém là do dân xấu, thấy du kích vào là đánh mõ, la làng ngay. Anh kết luận: “Dân xã tôi có đốt ra tro, đem tro bón đất, đất xấu thêm”. Chú Chín Bí thư Huyện ủy cười khà khà: “Thế thì ai nuôi anh lâu nay để anh có thành tích”?. Anh nọ bị chỉnh là chỉ lo chiến đấu đơn độc, không hiểu không tin dân. Tâm thấy anh ta đỏ mặt, vò đầu bứt tai. Tâm buồn cười quá. Chẳng lẽ bây giờ mình cũng mắc khuyết điểm như anh nọ sao? Tâm không thể quên những nắm cơm, viên thuốc, những căn hầm chật chội với tấm lòng rộng lớn của bà con che chở cho mình. Có một cái gì tắc nghẽn đây? Vì địch hay vì ta có sai lầm gì đó làm dân ngại? Đôi mắt xám mở to, Tâm chăm chăm nhìn vào bãi mía. Vừa lúc ấy, Tâm nghe có tiếng người băng trong mía loạt xoạt đi về phía mình. Tâm quay lại, đưa mắt nhìn Hà bảo cảnh giác. Hà cũng tỉnh hẳn ngồi nhỏm dậy, đăm đăm nhìn về phía có tiếng động. Một phút sau, trước mắt họ hiện ra bóng dáng hai thằng dân vệ. Chúng đi thẳng đến một bụi rậm đối diện, cách họ chừng vài chục mét, ngồi dưới bóng mát, giơ đầu gối bẻ mấy cây mía chúng cầm theo rồi vừa xiết vừa nhai rau ráu. Một thằng có vẻ mặt còn trẻ nhưng để bộ râu quai nón. Thằng kia già hơn, mặt đen thui như mặt khỉ. Cả hai đều có vẻ mệt lử, vừa nằm tựa vào gốc cây vừa nhai, ngực phanh trần.
– Này, thằng già nói, coi chừng chứ ngồi tít ngoài này Việt cộng nó lượm đó.
Thằng trẻ nhả bã mía ra, cười ha ha:
– Còn cứt Việt cộng đâu mà sợ. Ông không biết chuyện gì hả?
– Chuyện gì?
– Tụi bị bắt lên quận đã khai hết cả rồi. Té ra bọn cộng sản cũng chẳng có gì ghê gớm lắm.
– Tụi nó khai sao?
Tên trẻ lại cười như hóa rồ:
– Chúng bị lượm hết rồi. Chỉ còn có hai con khỉ cái thôi. Mà có lẽ cũng bị bọn trực thăng nó xơi từ lâu rồi.
“ Sao chúng biết là chỉ còn hai chị em? Ai khai? Cơ sở hay anh em?”-Tâm vừa nghĩ vừa dỏng tai nghe.
– Đứa nào khai? Nó là thằng chỉ huy hay tụi quèn?-Tên già lại hỏi.
– Hỏi kỹ dữ vậy? Tôi cũng như ông, nghe lỏm vậy thôi.
Im lặng. Tâm nghe hai thằng nhai mía rau ráu. Nếu như ngày nào, cô sẽ nổ súng, chơi luôn cả hai thằng. Nhưng giờ đây, nổ súng tức là tự sát. Chúng còn đông ở bãi mía kia. Chị em cô cần phải sống để chiến đấu. Nhưng cái tin hai tên dân vệ vừa nói làm cô bàng hoàng. Cô thấy tay mình run run. Cô nhìn Hà, Hà cũng nhìn cô với vẻ mặt lúng túng.
– Còn cái con mụ Sáng có khai gì không mày? Cái giọng lì rì của tên già lại cất lên.
– Có vẻ chì hơn. Nhưng mới ở xã thôi. Lên quận chắc khác.
– Tao phục mụ ta. Bữa bị bắt mụ chửi bọn chiêu hồi ghê quá.
Hai tên lại nhai mía một lúc lâu. Tâm nghe tên già nói:
– Nhưng đừng chủ quan với hai con khỉ cái. Biết đâu chúng còn sống, núp trong bờ trong bụi. Chúng “tạch” cho ta một phát là xong đó. Mày chỉ một thân một mình, mày đếch cần đời. Tao đây, tao tới sáu chiếc tàu há miệng…
Có tiếng hú ở đâu đó, một tiếng hú nữa, lại một tiếng nữa vang trên đồng mía. Hai tên dân vệ đứng vụt dậy, chạy ào ào trong mía , về hướng có tiếng hú.
Từ nãy giờ, Hà ngồi im, úp mặt xuống gối, bỗng chồm dậy, ôm chầm lấy Tâm khóc thút thít:
– Chị ơi, ai chiêu hồi? Ai khai vậy?
Tâm thấy cả người mình bủn rủn, nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh:
– Chị đang nghĩ coi thử đã.
Hà bỗng khóc uất ức:
– Nếu các anh…anh Thái, anh Hường cũng…cũng…
Tâm vuốt tóc em:
– Nín đi, biết đâu tụi nó chơi trò tâm lý đó.
Mặt trời đã thụt xuống dưới chân ngọn núi phía tây. Có mấy tiếng súng nổ đì đẹt. Một lúc sau, có tiếng người léo nhéo. Giọng một tên lính nào quát to: “Nghỉ, về. Về, mai chặt nữa. Lúc bảo chặt thì không chặt. Giờ bảo về cứ nấn ná giả bộ chặt. Bộ chờ Việt cộng hả?”. Tiếng người cãi nhau, gọi nhau, nhờ vả cầm giùm thứ này, thứ nọ rộ lên một lúc rồi thưa dần. Trên bãi mía, giờ đây bỗng nghe rõ tiếng gió lướt qua những đoạn trống vừa bị chặt, lay xào xào những đám mía còn lại. Hai chị em nhìn nhau. Họ đã hiểu ý nhau. Họ rón rén nhích tới với tư thế ngồi, súng lăm lăm trong tay, tiến dần vào bãi mía, nhìn theo đoàn người: May ra, họ có thể tìm thấy một cơ sở nào đó, hôm sau phải tìm cách bám mà gặp. Tâm lom khom phía trước. Hà theo sau. Nhìn những thân mía vừa ngã, lóng mướt rượt cô muốn bẻ ăn quá. Nước miếng ứa ra, bụng bỗng quặn lên cơn đói đã ngủ yên, cổ khát bỏng. Nhưng sợ chị mắng, cô vội vàng lết theo, bụng bảo dạ: “Thôi, một tý nữa quay về, mình sẽ ngồi ăn cho đã đời”.
Đang nhích tới, Tâm bỗng dừng lại kéo Hà nằm ép xuống một cái rãnh còn vứt thân mía ngổn ngang. Trước mặt họ, như một cơn lốc, có một người đàn bà đang chạy ào ào. Bỗng chị ta dừng lại trước một cụm mía vừa chặt, ngó quanh quất, mặt ngơ ngác. Chợt chị ta cười thành tiếng, cúi xuống nhặt một cái rựa rồi phóng ngược lại. Chị ta chạy xuyên qua những luống mía, thẳng hướng hai chị em. Tâm, Hà nín thở, dán mặt xuống đất. Người đàn bà phóng qua lưng họ. Bất ngờ, chị ta đứng sững, mồm há hốc, ngó lại chỗ hai chị em đang nằm bất động rồi chạy nhanh hơn. Một lúc sau, chị ta bỗng ré lên:
– Cộng sản, cộng sản.
Ngay lúc ấy, những tiếng hô: “Cộng sản, cộng sản. Bắt lấy nó” vang lên. Tâm, Hà nghe súng nổ chát chúa chung quanh mình, trên đầu mình. Bọn địch đã quay trở lại đồng mía vừa la: “Bắt lấy nó!”, “Bắt lấy nó!” vừa bắn. Chẳng hiểu chúng chỉ bắn ào vô mía hay vây bắt hai chị em? Dù sao họ cũng phải rời bãi mía càng nhanh càng tốt. Hai chị em chống cùi tay sát đất cố bò theo rãnh mía để tránh đạn, hướng về phía bờ sông.
Trong lúc đó, ở phía sau họ, bà con chặt mía cũng ùn ùn quay lại, bàn tán xôn xao, cố làm rối trí bọn địch để cho “người của mình” có thời gian chạy thoát. Sau này, nhiều nhà lý luận về chiến tranh cho rằng, đó cũng là một cách đấu tranh chính trị của quần chúng.
– Mụ Là nhìn tầm bậy đấy. Cộng sản đâu còn nữa. Có lẽ mụ ta hoảng tâm tinh nhìn gà hóa cuốc chứ có chi đâu.
– Bắn phí đạn các ông ơi, nghe chi lời cái mụ giở khùng giở điên ấy.
Bọn lính quát:
– Mấy ông mấy bà đi về đi. Cãi cọ làm gì chuyện của người ta. Bộ muốn làm rối để cho Cộng sản có cơ thoát hả?
– Bắn đi. Cứ bắn nữa đi. Vây chặt quanh bãi mía lại.
Có nhiều giọng tranh nhau cất lên:
– Mình về đi bà con ơi. Cứ để mấy ông quốc gia ổng bắn vào đám mía không người cho đã.
– Rút đi mấy ông ơi. Coi chừng mấy ông cứ bắn ở đây, cộng sản họ tràn vào phía khác hết đường chạy đó. Mấy người này là trinh sát của họ đấy.
Đạn vẫn nổ chan chát. Tiếng ồn ào ở phía sau tạo thành một âm thanh hỗn loạn. Hai chị em không hiểu là bà con đang tìm cách cứu mình chạy thoát, mà cứ ngỡ đó là những tiếng la ó vây bắt, vẫn cố bò lết, trườn tiến về phía bờ sông. Hà khoẻ hơn khom người lòm còm chạy trước. Tâm lệch bệch chống tay bò ở phía sau. Tâm không dám dể bụng mình áp sát vào thân mía hay những chỗ đất mấp mô. Cô sợ chẹt con trong bụng. Chỉ những lúc địch bắn rát quá, cô mới nằm lệch người sang một bên, che phần bụng về phía có mô đất, Rồi cô lại chống tay lồm cồm bò tiếp.
Khi Tâm đến được bờ sông thì trời đã chập choạng tối. Hà đã ngồi sẵn trên một phiến đá chờ cô. Lúc này tiếng đạn nổ đã thưa thớt, tiếng la ó cũng không còn nữa. Có lẽ bọn địch đã nản chí, sắp rút lui. Hai người ngồi bên nhau, im lặng thở hổn hển. Hà vừa lau mồ hôi, vừa trách Tâm:
– Đã biểu đừng đi mà cứ đòi đi, bà làm cho người ta khổ quá chừng.
5
Trong cuộc đời, mỗi người đều có những đêm mất ngủ. Lúc ấy, đầu ta nặng trịch, mắt cứng đờ, máu chạy giần giật ở hai bên thái dương. Ta nhắm mắt lại, đếm, đếm mãi hoặc nghĩ một điều gì đó cho giấc ngủ chợp đến, đưa ta vào cái lãng quên huyền bí. Nhưng ta chỉ ở trong trạng thái mơ mơ tỉnh tỉnh. Một lúc sau, trí óc lại sáng suốt lạ thường.
Đêm nay, Tâm cũng trải qua một đêm như thế. Nằm trên võng trăn trở mãi, cô nghe tiếng ngáy pho pho của Hà bên cạnh. Con nhỏ vô tư ghê. Có cái gì bức bối trong người là nó tuôn tuột ra, vậy mà mấy hôm nay chẳng mấy khi nó nhắc đến Hường. Chỉ có Tâm với cái thai trong bụng là luôn nhắc nhở đến Thái mà thôi.
Tâm và Thái gặp nhau vào một đêm tối trời hai năm trước đây. Lúc ấy, Thái là Huyện ủy viên, được tăng cường xuống làm Bí thư Xã. Cho đến lúc đó, xã cô có mười hai đồng chí Bí thư đã lần lượt hy sinh. Thái là người thứ mười ba. Anh vốn ở một xã ven biển, chưa quen vùng này. Anh nhận xuống làm Bí thư Xã phải nói là anh đã hy sinh lắm. Bởi vì, các cán bộ huyện khác đều từ chối bằng cách này hay cách nọ xuống cái xã khó khăn này. Trước khi Thái xuống đứng ở xã, Tâm đã nghe nhiều người kể về Thái. Cô biết anh là một du kích anh dũng ở vùng đông. Người ta đã tặng cho anh một cái biệt hiệu “Con hùm xám” dù ở vùng đông, anh chưa bao giờ thấy hổ, bởi những trận đánh giáp lá cà của anh. Tâm bấy giờ là du kích hợp pháp. Cô có nhiệm vụ giúp đỡ Thái đứng trong làng để chỉ đạo phong trào. Tâm nuôi Thái ở hầm bí mật trong vườn mình. Tâm quí trọng Thái như một người anh, một người lãnh đạo. Hàng ngày, cô lo cơm nước, mua mọi thứ đồ dùng cho Thái, dù nhà cô rất nghèo. Đêm đến, nếu không có dịch, cô mở hầm cho Thái lên ở trong buồng cô. Thái thường hỏi thăm Tâm về tình hình, về cơ sở. Tâm báo cáo cho anh và nhận nhiệm vụ mới. Có một điều, Tâm chẳng hiểu sao, cứ mỗi lần gặp Tâm, Thái đều nhìn Tâm rất lạ. Mắt anh như có tia lửa, làm cho Tâm hồi hộp, lòng xốn xang. Những lúc ấy, Tâm thường nói ấp a ấp úng còn Thái cứ nhìn cô đăm đăm như muốn nuốt chửng lấy cô. Tâm ở trong trạng thái như thế cũng có lý do: năm ấy cô đã hai mươi bốn tuổi, người cao dong dỏng, cân đối, tóc dài, có đôi mắt màu đen mở to, phải nói là cô đẹp. Nhưng từ lâu đầu tắt mặt tối trong nỗi nghèo khổ, chưa bao giờ cô nghĩ có ai yêu mình. Mỗi lần gặp cái nhìn đắm đuối của một người con trai nào đó, cô hồi hộp, cảm động người cứ ngây ngất, say say, nhưng cô lại gạt đi, cho là họ nhìn để giễu cợt mình thôi.
Một đêm cô dẫn Thái đến một số cơ sở. Khi hai người trở về, trời đã khuya. Khu vườn hoang vắng. Những làn gió lang thang qua các bụi cây chẳng biết từ đâu tới, đi về đâu. Cô mở hầm bí mật cho Thái xuống và đưa thức ăn cho Thái dự trữ ngày hôm sau, phòng khi bất trắc. NhưngThái không chịu xuống ngay. Anh kéo tay Tâm ngồi bên nắp hầm. Cô run run rút tay ra, hồi hộp ngồi bên cạnh. Thái lại nắm tay Tâm. Lần này, cô để tay cô nguyên trong tay Thái, khẽ thở dài. Bất ngờ, Thái ôm chầm lấy Tâm hôn như mưa như gió. Tâm thấy người mình mềm nhũn trong lòng Thái.
Bầu trời sao nghiêng ngả trên căn hầm bí mật. Những bờ cây xao xác trong tiếng gió nhè nhẹ. Hình như từ lâu rồi, gió vẫn rung nhè nhẹ như thế…
Họ tổ chức lễ cưới tại căn cứ du kích ven bờ sông Vệ vào một đêm trăng sáng cách đây chín tháng, sau một trận càn quét của địch, Thái bị bật ra khỏi xã, Tâm bị lộ nên cũng thoát ly. Bữa đó, anh chị em du kích quây quần bên nhau trong một lùm cây, khui mấy hộp thịt, uống bia lon và hút thuốc lá Côtáp. Chỉ một tiếng sau, ai lo việc nấy. Kẻ đi phục, người xuống làng: những công việc cơ động vốn có trong cuộc đời du kích.
Tâm và Thái sống hạnh phúc với nhau được vài tháng. Họ luôn ở cạnh nhau, lúc xuống làng, lúc ở cứ. Có nhiều đêm, đội du kích phân nhau đi công tác, để hai người ở lại với nhau. Những lúc ấy, Tâm thường bẽn lẽn đòi xách súng đi với anh chị em. NhưngThái nhẹ nhàng nắm tay cô giữ lại. Còn mọi người vừa từ biệt vừa nháy mắt với hai người. Anh em đi được một lúc, Thái vội trải ni lông, kéo Tâm nằm xuống, ôm choàng lấy người cô. Tâm nhớ có một đêm như thế, Tâm hỏi Thái qua những cái hôn như mưa như gió của anh:
– Sau này, có lúc nào sung sướng hơn hay vất vả hơn, anh có còn thương em như thế này nữa không?
Thái không trả lời, siết cô vào lòng, ôm chặt đến nỗi cô phải á lên vì nghẹn thở. Đêm ấy, bầu trời đầy sao. Sông Vệ chảy âm âm bên cạnh họ. Từ xa vọng lại những tiếng súng rời rạc. Có lúc một tiếng mìn nổ chát chúa, có khi những loạt pháo gầm lên xé trời đêm, làm cho họ giật mình, bỏ tay khỏi thân thể nhau, cùng bật dậy nhìn về phía đường lộ lo lắng cho anh em.
– Anh em đang làm nhiệm vụ cho chúng mình ở bên nhau đó anh. Tâm nói xong, vội ôm chặt Thái.
Bây giờ, chẳng lẽ Thái cùng đồng đội bỏ Tâm đi chiêu hồi? Sao? Có lẽ không phải vậy. Chỉ nghĩ đến điều ấy thôi, Tâm đã thấy lòng mình đau nhói, như mình làm điều gì có tội với những người bạn. Có lẽ bọn địch chơi trò ú tim với mình thôi. Chúng tìm cách ly gián ta đây. Tâm nghĩ vậy. Nhưng trong lòng cứ như có những tiếng thầm của ai đó mách bảo rằng, sự việc diễn ra trái hẳn với điều Tâm nghĩ làm cho Tâm bồn chồn không yên.
Tâm bỗng nhớ khuôn mặt lầm lì của Thái hơn nửa tháng nay. Tình hình của xã khó khăn dần, khuôn mặt ấy cũng khó đăm đăm. Tâm hỏi gì anh ta cũng nhăn nhó. Anh chị em chỉ mắc những khuyết điểm nhỏ anh cũng quát nạt, gán cho họ những điều thật nặng: “vô kỷ luật”, “không hoàn thành nhiệm vụ”. Anh đòi cách chức người này, bỏ tù người nọ, như là anh có quyền gì cao lắm. Tâm nghĩ có lẽ Thái lo lắng cho công việc quá nên anh mệt mỏi rối trí như vậy. Mỗi lần nghe anh càu nhàu mình hay quát nạt ai đó, Tâm quay mặt đi, âm thầm lau nước mắt. Cô thấy tủi thân quá. Là vợ chồng, lại là đồng đội với nhau, dù chưa phải đảng viên, cô buồn bã vì mình không được tham gia gì vào trong ý nghĩ của Thái. Anh cứ tự nghĩ một mình, làm việc một mình, không tham khảo ý kiến ai điều gì. Anh đưa mắt đi nơi khác khi Tâm nhìn anh. Lúc anh chị em vui chơi, ăn uống, anh chỉ ngồi riêng một góc. Những đêm nằm bên nhau, anh không âu yếm hôn Tâm, vuốt tóc Tâm như trước, mà nằm còng queo một góc như một khúc gỗ, thở dài sườn sượt. Tâm cảm thấy cô đơn quá. Tâm tự nghĩ sẽ cố gắng chăm sóc anh, giúp đỡ anh, lựa lời nói chuyện với anh để anh quay lại sống với mình, với đồng đội như cũ. Có một đêm, Tâm nằm dịch lại bên Thái vuốt tóc anh, an ủi:
– Mọi sự rồi sẽ qua thôi anh à, đừng lo lắng lắm. Mấy bữa nay trông anh hốc hác, tiều tuỵ thế nào. Anh là bí thư mà ngã xuống ốm thì có hại cho phong trào lắm.
Trước sự âu yếm của vợ, Thái hất tay Tâm ra, càu nhàu:
– Qua qua cái gì? Tình hình đen thui, chẳng ra làm sao cả. Càng ngày càng khó ra. Chẳng hiểu mấy ông lãnh đạo ở trên có hiểu gì không hay cứ xua con người ta “cố gắng, cố gắng” rồi ngồi rung đùi trên núi, xa bom đạn, ác liệt, chẳng lo gì cả cứ để người ta chết.
Lúc ấy, Tâm chỉ biết nằm dịch ra, lặng lẽ khóc, cảm thấy Thái mỗi lúc một xa mình thêm. Trong sâu thẳm tấm lòng người vợ, Tâm cảm thấy có một cái gì đó thay đổi lớn báo hiệu một sự chẳng lành ở Thái. Có phải do tình hình căng thẳng hay một cái gì đó ghê rợn như một bóng đen đã ám phủ tâm hồn Thái mà Thái trở nên như vậy. Những lần trước cũng vất vả lắm, nhưng Thái vẫn vui vẻ cùng anh em bàn bạc giải quyết. Hay, Tâm chợt nghĩ, Tâm có mang, người xấu xí ra mà Thái chê. Rất nhiều lần, thấy Thái chọc ghẹo những cô gái ở làng, Tâm chỉ mỉm cười nghĩ Thái đùa thôi. Tâm xua đi ý nghĩ này, tự cho mình ghen tuông vớ vẩn. Hay là…Tâm bắt đầu im lặng tìm hiểu Thái. Tâm cảm thấy ở Thái có cái gì không ổn mà Tâm chưa hiểu ra. Đúng hơn là Tâm tự gạt đi, vì tự đáy lòng mình Tâm không bao giờ nghĩ Thái lại tệ như vậy. Nhưng rồi ý nghĩ ấy cứ lặp đi lặp lại hoài, làm cho Tâm không yên. Điều ấy càng day dứt hơn khi Tâm nhận thấy dạo này Thái thường không tin những cơ sở mà anh thường về ăn ở. Chỉ vì những sơ suất chưa rõ của họ, như họ sai giờ hẹn, họ mang gạo đến tiếp tế cho đội du kích không đều đặn, Thái đã cho rằng họ đã thoái hóa, xấu xa đi. Anh thường nói về bà cụ Sáng, người đã nuôi anh và cả đội du kích bằng một giọng hằn học:
– Bà ấy mà ăn thua gì. Đi lang chạ lung tung, có con mà không có chồng. Mình có vẻ nghi lắm.
Tâm thường khuyên Thái đừng nghĩ xấu về bà con. Từ nhỏ, Tâm đã gắn bó với đời họ. Lớn lên, Tâm hoạt động cách mạng, được bà con nuôi giấu, che chở vượt qua những lần giáp mặt với cái chết, Tâm hiểu rõ họ. Tâm còn kể lại chuyện bà cụ Sáng đã cứu mình cho Thái nghe. Tâm nhắc từng người, từng cơ sở đã nuôi mình, nuôi Thái, nuôi đội du kích trong những ngày khốn đốn. Tâm còn cho Thái biết xã Tâm là một xã có truyền thống cách mạng. Hồi kháng chiến chống Pháp, xã có phong trào du kích nổi tiếng, đã từng đánh tan những đoàn xe vận tải của giặc. Nghĩa Trung đồng khởi rất sớm và là bàn đạp đứng chân của ta trong những đợt tấn công vào thị xã. Những lúc ấy, Thái hay ứ ự cho qua, có lúc làu bàu một cách khó chịu:
– Xã cô, cô không nói tốt thì ai nói cho.
Tâm cảm thấy đau khổ. Cô càng muốn làm cho Thái hiểu dân, Thái càng lạnh lùng với cô.
Bữa Thái xuống làng, Tâm rất lo. Tâm thấy Thái có vẻ bứt rứt thảng thốt một điều gì. Sắp đi rồi, anh còn quay vào bãi lau như định nói với Tâm điều gì, nhưng lại im lặng. Cô sờ đầu Thái, thấy nóng bừng:
– Anh sốt rồi, ở nhà đi.
– Sốt gì, – mình là Bí thư, mình phải đi- Im lặng một lúc, anh nói giọng dịu dàng hơn – Nếu anh có gì, Tâm ráng nuôi con nghe.
Trời tối đen. Gió thổi lộng trên cánh đồng. Thái lẳng lặng đi sau tổ du kích như một cái bóng. Tâm đứng nhìn theo, bỗng oà khóc.
Bây giờ Thái có đi chiêu hồi không? Thái có vậy, có vậy không?
Tâm cảm thấy đầu óc nóng bừng, mũi ngạt thở. Trong một lúc chợp mắt ngắn trước lúc trời sáng, Tâm bỗng mơ thấy một đêm trời sao lấp lánh, có gió thì thầm trong những bụi cây. Tâm đang ở trong vòng tay của Thái. Mặt đất phập phồng rung lên. Chợt có tiếng thét:
– Thằng ác ôn, thằng ác ôn.
Bà cụ Sáng hiện ra với khuôn mặt đỏ bừng, đôi mắt rực lửa như hai hòn than, tay cầm súng, tay chỉ vào Thái:
– Tên ác ôn, tên ác ôn.
Tâm vùng khỏi tay Thái chạy lại bên bà già, lắp bắp phân bua:
– Sao bác gọi là ác ôn, anh Thái đấy chớ.
Bà Sáng như không nghe, không hiểu gì lời Tâm nói cả, gạt Tâm ra, gào lên như điên:
– Tên ác ôn, tên ác ôn.
Khẩu súng trên tay bà bỗng đưa về phía Thái. Một tiếng nổ. Máu ai loang đỏ mặt đất. Thái biến mất. Bà già Sáng biến mất.
Tâm bừng tỉnh dậy, mồ hôi túa ra khắp người. Trời đã sáng. Rất lâu, cô mới bình tĩnh lại được.
6
Chính lúc ấy, Tâm nghe những tiếng nổ dội vào vách đá. Cùng một lúc, Tâm và Hà đều bật dậy chụp lấy súng của mình ở đầu võng, hai khuôn mặt dớn dác ngó ra phía cửa hang. Cửa hang vẫn yên lặng, không có dấu hiệu gì chứng tỏ địch đã bao vây. Họ nhìn nhau một lúc, lại dỏng tai nghe ngóng. Có mấy tiếng súng lẹt đẹt. Bây giờ thì họ tin chắc rằng bọn địch đang ở dưới chân núi. Tâm bước trước, Hà theo sau, hai người rón rén đi về phía cửa hang.
Trong ánh sáng mờ mờ của buổi rạng đông, Tâm thấy mặt Hà tái nhợt. Cô đưa mắt bảo Hà nép sau vách đá, còn tự mình ló ra cửa hang. Dưới chân núi đang lố nhố bọn lính nguỵ. Có một bóng người mặc áo quần bà ba xanh kiểu dân thường đang đứng cùng với bọn lính. Bọn chúng tụ lại một đám, chỉ chỉ trỏ trỏ lên phía hang. “Địch bao vây rồi. Lộ rồi”, Tâm quay lại nói khe khẽ với Hà. Hai đầu gối Hà bỗng run bần bật, khuôn mặt xám ngắt cắt không còn giọt máu. Tâm nghiêm mặt bảo Hà bình tĩnh rồi lại nhìn xuống núi. Bất ngờ, Tâm nghe tiếng loa:
– Hai nữ Việt cộng chú ý! Chúng tôi yêu cầu các cô quay về với quốc gia…với chồng con…với người yêu. Chúng tôi sẽ bỏ qua tất cả.
Tâm dựa vào vách đá, chân tay bủn rủn. Không phải là nỗi sợ. Một cái gì đó còn ghê rợn hơn, như có bàn tay nào đó bóp chặt trái tim cô. Trời, Tâm tự nhủ, tại sao chúng biết mình ở hang này. Nơi đây chỉ có anh em ta biết thôi. Tại sao vậy? Trong đầu Tâm, lời kháo nhau của hai tên lính trong ruộng mía hôm nọ bỗng nổi lên.
Trong một lúc, những đồng đội vừa bị bắt bỗng hiện ra trong óc Tâm: Thái, Hường, Hùng, Sung, Tấn…Những khuôn mặt trẻ trung, những khuôn mặt sạm nắng, đan cài nhau, tách biệt ra rồi lại nhập lại. Tất cả thành một nụ cười mệt mỏi, thành một nét mặt căng thẳng. Một bàn tay run run cầm củ sắn đưa cho Tâm với giọng nói nhỏ nhẹ: “Sắn đây, đồng chí ăn đi” – “Tôi ăn rồi!”- “Đồng chí đã ăn hai hôm trước hả?” – “Thật đấy mà!” – “Thôi ăn đi rồi bám vào lưng, tôi dìu qua sông. Chúng sắp đến rồi, sống ta cùng sống, chết ta cùng chết”. Không thể quên những bờ lau, những bãi mía, những đêm đánh phục kích, những khi đau ốm, những lúc bị thương băng bó dìu nhau. Hạt muối. Viên thuốc sốt. Lời dặn dò: “Đi an toàn nhé”. Hôm nào đó Hường nói với Tâm: “Chị ở nhà mạnh nghe, tôi đi sẽ kiếm hộp sữa bồi dưỡng cho chị”. Sao? Sao? Chẳng lẽ những người này đã khai, đã đầu hàng?
Mười hai đồng chí Bí thư đã hy sinh. Năm tháng trôi qua tính bằng máu của các đồng chí. Lớp cũ ngã xuống, lớp mới lên thay. Xã Tâm chưa ai đầu hàng cả. Tâm nhớ có lần bà cụ Sáng nói: “Tao khổ mấy cũng ráng nuôi tụi bay được, đừng lo. Ngẫm đi ngẫm lại, tao thấy tụi bay khổ thì chịu khổ, chết thì chịu chết, chẳng đứa nào đầu hàng. Tao ưng bụng. Tao cũng cố gắng theo tụi bay”. Cả bà cụ Sáng nữa, bà có khai không?
– Bây giờ, hai cô nghe tiếng ông Thái, chồng cô Tâm đã quay về với quốc gia, đứng bên chúng tôi nói.
Tất cả như chết lặng. Tâm cũng chết lặng. Cô không thể có một phản ứng nào khác. Cô chỉ biết tai mình đang nổi lên những tiếng vo vo và mắt mình hoa lên.
– Tâm, Hà ơi! Anh với Hường không bị sao cả. Các anh đã quay về với quốc gia. Các anh được tiếp đãi tử tế. Hôm nay Hường đang bận công tác không lên đón hai em được, chỉ có anh đây. Anh mong hai em xuống núi để chúng ta cùng sum họp…
Cửa hang bỗng xoay tròn. Một vòng. Hai vòng. Trăm vòng. Mỗi lúc một nhanh. Những vòng tròn…
Tâm choáng váng muốn ngã quỵ. Nhưng cô gượng dậy. Bây giờ không phải lúc quỵ. Tâm quỵ Hà sẽ quỵ. Tâm không thể quỵ. Tâm dựa vào vách hang thở dốc. Trời ơi, sao lại có sự thật tàn nhẫn này. Bữa nghe hai tên lính nói, Tâm nghĩ là chúng chỉ chơi trò tâm lý, hoặc ít ra, có ai đó chiêu hồi thì là người khác chứ không thể là Thái, là Hường được. Bây giờ lại chính là Thái, chồng cô, Bí thư chi bộ Xã, Huyện ủy viên, con hổ xám vùng đông lại đi chiêu hồi và rủ cô cùng em cô chiêu hồi. Tại sao Thái lại nỡ bán rẻ danh dự, lý tưởng của mình như vậy được. Tại sao Thái đành lòng phản bội lại vợ con? Thái có sợ con Thái sau này sẽ chịu sỉ nhục vì Thái không? Có thể như thế được không? Có phải như vậy không hay bởi vì một điều gì khác mà Tâm chưa rõ. Tâm run run bám vào vách đá, người muốn ngã oằn xuống. Bỗng nhiên, một luồng ánh sáng chạy qua đầu cô. Cô tự cắt nghĩa việc này theo lòng cô: Có lẽ chúng dí súng ép anh Thái nói thôi, anh Thái chẳng như vậy đâu. “Nhưng tại sao giọng khàn khàn của anh Thái lại nhiệt thành vậy?” – Một tiếng thầm phản đối cô, nghe ra quyết liệt hơn. Chẳng lẽ anh Thái đã chiêu hồi? Có lẽ không phải vậy? Chúng ép anh ấy thôi. Sao anh ấy nói nhiệt thành thế? Đầu Tâm nóng bừng trước những câu hỏi và câu trả lời do mình đặt ra. Cô cảm thấy tim mình đập thình thịch, mắt hoa lên, người mệt xỉu. Cửa hang xoay tròn. Xoay tròn…
Có một bầu trời sao nghiêng nghiêng trên nóc hầm. Và gió. Hôm đó gió thì thầm qua những bờ cây.Mặt đất tròng trành…Bãi lau ven bờ sông…và giọt máu của anh đây…
Đầu Tâm u u. Xoay tròn. Cửa hang xoay tròn. “Chẳng lẽ anh Thái chiêu hồi?” – “Không phải vậy. Anh bị bắt ép thôi. Anh không phải thế phải không anh Thái?” “Chẳng lẽ..”
– Tên ác ôn, tên ác ôn.
Giấc mơ hiện về. Máu loang trên đất…
– Tâm, Hà ơi, anh mong hai em…
Một loạt súng nổ vang. Tâm sực tỉnh nhìn xuống chân núi. Bọn nguỵ bắt đầu tràn lên. Dẫn đường cho chúng là người mặc áo quần bà ba xanh.
Trong khi Hà run run nép vào sau lưng mình, Tâm vẫn trừng trừng nhìn xuống núi. Tâm phải nhìn cho rõ để xem có đúng là Thái đi với địch không. Dẫu kẻ thù có phát hiện ra bắn chết cô, cô cũng mặc. Nếu là Thái thật thì kẻ thù ở trong tim cô chứ còn ở đâu nữa.
Chúng đã lên tới lưng chừng núi. Tâm có thể thấy rõ mồn một kẻ đi đầu. Không còn nghi ngờ gì nữa: đó chính là Thái. Cái dáng cao cao , bước lòng khòng chúi về phía trước chính là Thái chứ không còn là ai khác. Ngày còn bên nhau, mỗi lần xuống làng, Tâm thường cười nói với Thái: “Anh đi phải cúi thấp thấp chớ có gì cối nó lượm đó”. Thái cười hì hì, càng nhón cao hơn: “cao vầy mà không kẻ nào bắn trúng mình ráo. Đạn nó bay thấp hơn mình”. Giờ đây, cái dáng lòng khòng ấy cứ như là một con bù nhìn rơm, trông rất quái dị. Thái vừa đi vừa quay lại chỉ chỉ trỏ trỏ cửa hang nói gì với địch. Tự nhiên chúng đi chậm lại, có vẻ thận trọng hơn trước. Như có một mệnh lệnh âm thầm, cả bọn đều cúi lom khom, súng chĩa lăm lăm về phía trước. Chỉ thấy Thái và mấy thằng có vẻ là chỉ huy đứng lại. Tâm thấy Thái giơ hai tay lên miệng làm loa:
– Tâm ơi, Hà ơi, chúng ta không có cách gì chống lại quốc gia. Anh mong hai em suy nghĩ…
Trong một phút, Tâm thấy cổ họng mình bỗng trào lên một thứ nước gì nhờn nhờn lợm lợm. Cô cảm thấy buồn nôn hết sức, càng nôn được nhanh càng dễ chịu. Cô nhổ một bãi nước miếng nhưng lập tức cái thứ nước lờm lợm ấy lại trào lên đầy miệng cô. Cô nhìn khuôn mặt Thái và bất giác thấy khuôn mặt ấy xa lạ đáng ghét vô cùng.
– Không suy nghĩ gì nữa – Tâm vụt nghĩ – Anh có chiêu hồi thì chiêu hồi. Tôi không thể xa bà con tôi được. Ừ, có một lần, anh nói: “xã cô cô khen, chớ tình hình tối mò rồi”. Anh đã dao động rồi. Mất lòng tin rồi. Đã phản bội lại đồng chí, đồng bào rồi. Có một thời anh là con hùm xám của vùng đông. Thời ấy đâu rồi. Con hổ xám co cẳng chạy trốn đâu rồi. Thời ấy đã hết. Cả bầu trời nghiêng nghiêng trên nóc hầm và gió thổi rì rầm qua những hàng cây đã hết. Tất cả đã hết. Đã chết lặng rồi. Chỉ còn mặt đất của Nghĩa Trung. Chỉ còn vách hang cô đang tựa: một bức tường của nhân dân hiện lên. Tâm cầm cây súng lên cò, từ từ nâng lên ngắm vào Thái. Ngay lúc ấy, Hà níu vào vai Tâm:
– Trời ơi, chị không sợ lộ sao? Chị bắn được một đứa nhưng chị em mình sẽ chết. Chúng đông lắm mà…
– Chị không thể chịu đựng được. Nhục nhã quá. Em nhìn kìa, anh Thái…
– Có thể ảnh bị ép buộc thôi chị à – Hà vừa nói vừa kéo Tâm vào hang.
Bọn địch đã nổ súng vào cửa hang. Tâm vội kéo Hà đang run cầm cập vào sau một tảng đá ở góc trái hang. Ở đây có một cái cửa nhỏ bước xuống tầng dưới của hang. Từ đây có thể đi ra ngoài chân núi, phía bờ sông. Tâm biết nơi này vì hồi nhỏ, Tâm theo một người bạn, nay đã mất, đi tìm một cái rựa bị rơi. Chẳng rõ vì sao Tâm chưa chỉ cho ai cái cửa hang này, kể cả Thái… Có thể vì những ngày ở bên nhau, tình hình còn thơ thới, họ chỉ ở hang trên để tránh pháo thôi, chưa ai nghĩ có lúc như thế này. Vậy mà may. Tâm cho Hà xuống hang dưới trước, còn mình đứng chân ở phiến đá nhô ra như một cái bậc lên xuống, ngẩng đầu nhìn qua một kẽ nứt lớn của tảng đá xem thử chúng làm ăn ra sao.
– Đúng hang này.
Tâm nghe giọng khàn khàn của Thái cất lên. Ba chữ “Đúng hang này” như một hòn đá ném vào ngực Tâm. Ba chữ ấy như nói: “bắn đi nào”. Tại sao Thái lại nói ba tiếng ấy. Thái bảo bọn địch bắn vợ con mình ư? Con người có thể có lúc dao động nhưng sao lại bỉ ổi đến vậy?
Tâm vốn là người nhân hậu. Cô nhìn ra sự bỉ ổi của con người chậm hơn kẻ khác. Cô không hề biết rằng, kẻ nào đã phản bội, chúng sẽ đi tới cùng của sự phản bội, còn kinh tởm hơn cả kẻ địch. Tâm thoáng thấy mặt Thái xám xịt như xác chết.
– Mày vào trước đi – Một tên lính cao cao ở phía sau Thái giục.
Thái nói, giọng hổn hển nghe như tiếng nấc:
– Dạ, tôi sợ ăn đạn.
– Đồ hèn – Vẫn tên lính cao cao quát.
Bọn lính đẩy Thái đứng vào một góc hang. Tâm thấy mặt Thái méo xệch, tay chân run lẩy bẩy. Bây giờ, với chúng nó, Thái như một mảnh giẻ rách, một xác chết. Tâm thấy bộ dạng Thái thật thảm hại, thật đáng khinh bỉ. Tại sao con người xa lạ hèn nhát này có lúc là người anh hùng trong mắt cô. Tại sao hắn là người chỉ huy, là lãnh đạo của cô. Tệ hại hơn cả, tại sao cái thân thể thối rữa này có lúc đã nằm bên cô, ôm ấp cô và cô ôm ấp y. Một cái đạp của đứa con làm cho bụng cô đau điếng. Tại sao cô lại mang trong mình dòng máu của y. Tâm đăm đăm nhìn Thái và ý định muốn cho y một phát đạn như để xoá đi một cái gì bẩn thỉu lại nổi dậy trong lòng cô. Nhưng nghĩ đến lời Hà, cô lại kiềm chế được. Việc gì cô phải đổi tính mạng của hai chị em cô với một kẻ dơ nhớp mà ngay cả bọn địch cũng khinh bỉ?
Giữa lúc đó…
Ánh đèn pin loang loáng, súng lăm lăm, bọn địch hớt hải đi qua các tảng đá trong hang. Mỗi lần đến trước một góc tối, chúng lại tụm nhau, cùng chiếu ánh dèn pin vào. Những khẩu súng cùng chĩa lăm lăm về một hướng.
– Này, con cộng sản ở sau tảng đá kia, ra ngay, ra ngay không tao bắn.
Một phát súng nổ vào đá nghe đánh “chát”. Mảnh đá bay lên xèn xẹt. Chúng lại đi sang góc khác, dáng vội vã như đi cho mau xong việc.
– Chỗ tối kia kìa, có một đứa, ra ngay.
Một tiếng nổ nữa. Chúng cứ đi vòng quanh hang. Tâm thấy chúng đứng trước tảng đá cô nấp. Cô cúi đầu xuống sát bậc lên xuống.
– Chỉ có nơi đây thôi. A ra đi, ra đi không tao cho lựu đạn.
– Xách cổ thằng Thái lại, nó mà tìm không ra thì khử luôn.
Bọn địch lại bắn chan chát rồi bước xích ra phía cửa hang. Chúng nói lộn xộn:
– Tên Thái chỉ xỏ lá, không có gì cả, đi nhọc công.
– Đồ chiêu hồi chó đẻ.
– Bắn chết nó đi, đồ cứt.
Chúng bắn như điên vào tảng đá. Bỗng có một giọng ồ ồ hét to:
– Xách cổ thằng Thái lại, bắt nó ra sau tảng đá tìm thử. Nó mà tìm không ra thì khử…khử…
Tâm nghe tiếng thân người bị lôi xềnh xệch, có tiếng rên rỉ rồi giọng khàn khàn của Thái run run cất lên:
– Tâm ơi, Hà ơi, ra ngay chứ không anh chết mất!
Tiếng của Thái dập vào vách hang: “ra…đi…không anh chết…mâ…ất…” làm cho hang đá tự nhiên ồm ồm lên như có nhiều giọng cùng gọi. Đang im lặng, chẳng biết do bộ dạng của Thái hay do cái tiếng vang kỳ lạ đó mà bọn địch nổi lên cười ha hả. Thằng có giọng ồ ồ lại giục:
– Gọi nữa đi!
– T…âm…ơ…ơ…ơ
Tâm nín thở, cái giọng nói có một thời cô yêu thương, giờ đây nghe sao nó thảm hại qúa.
Trên đầu Tâm, bọn lính bắn chan chát vào tảng đá. Mảnh đá bay xèn xẹt. Có mảnh rớt vào lưng Tâm đau điếng. Nhưng chúng vẫn đứng im, không tên nào dám mò vào sau tảng đá. Một lúc, Tâm nghe bước chân chúng lùi xa. Tâm ló đầu lên nhìn. Thấy chúng ra ngoài cửa hang. Chỉ còn Thái bị chúng bỏ lại cứ như ngây như dại gào lên “Tâm ơi, Hà ơi” để lấy lòng chủ. Thái không dám theo ngay bọn địch, nhưng không dám ở lại hang một mình, nên vừa gọi vừa lùi ra cửa hang, dáng thất thểu.
Thái quỳ xuống trước thằng cao cao:
– Thưa ông, có lẽ chúng chết cả rồi.
– Còn hang nào nữa không?
Thái hơi nhổm người chỉ:
– Dạ, núi bên kia có một cái hang nữa ạ.
– Sang đó.
Thằng cao cao ra lệnh bọn lính rồi kéo Thái dậy, ấn đi trước.
Trưa hôm đó, bọn địch rút. Hai chị em nghe tiếng léo nhéo cùng bước chân chúng đi ngang qua cửa hang để xuống núi. Dáng chúng thất thểu như một lũ bại trận. Thái bị chúng trói cắp ké, có hai thằng lính chĩa súng kèm ở phía sau. Thỉnh thoảng, chúng lại giơ báng súng nện vào lưng Thái. Thái vừa khóc vừa quỳ xuống van xin. Tâm nhổ theo chúng một bãi nước miếng rồi rủ Hà ra ngoài cửa hang đón gió. Hai chị em im lặng một hồi lâu. Bỗng Hà ngã vào vai Tâm, nức nở:
– Em không ngờ anh Thái, anh Hường đã…
Tâm vuốt tóc em, nói khẽ, giọng nghèn nghẹn:
– Thôi, em đừng nhắc nữa.
Tâm định nói tiếp điều gì nhưng bỗng im bặt. Ngay lúc ấy Tâm nghe có tiếng động cơ máy bay. Cô nhìn lên trời: Trước mắt cô, trên cánh đồng hiện ra một chiếc Sâu voi1. Nó đèo dưới bụng một vật gì như một tấm bê tông. Nó bay về hướng hai chị em. Chỉ một lúc sau, nó sà xuống khu núi đất, cánh vỗ phành phạch, động cơ nổ nghe chói cả tai. Nó bay đi rồi lại bay trở lại với những vật như khối bê tông đó.
– Nó đổ quân hay làm gì đó chị?- Hà hỏi.
Tâm nhìn vào bụng máy bay. Bụng trống rỗng, chỉ có thằng lái thôi.
– Có lẽ chúng mang bê tông xây bót trên núi đất.
– Có lẽ thế. Hà lẩm bẩm.
Hai chị em nhìn theo chiếc Sâu voi, cứ thấy nó lặp đi lặp lại cái trò cũ của mình.
Nhưng chiều đến thì có thêm những sự việc mới. Lần này, dưới mình con Sâu voi có treo lủng lẳng một vật gì như một khúc gỗ. Khi đến gần, hai chị em phát hiện ra là chúng đang chở pháo. Liên tiếp mấy lần bay lên rồi hạ xuống như vậy, chú Sâu voi đã tha đến đây ba khẩu pháo nữa. Lúc mặt trời sắp hạ xuống núi thì có ba chiếc ù ù bay qua đầu. Lần này, chúng không đeo thứ gì dưới bụng nữa. Tâm rướn lên nhìn, thấy lố nhố bóng người trong máy bay.
– Đúng là chúng đem quân đến và dặt bót ở đây. Tâm lẩm bẩm nói với Hà.
Hà thắc mắc:
– Chúng lập bót ở đây để làm gì hả chị? Có phải chúng muốn vây bắt chị em mình không?
Tâm yên lặng một lúc, vẻ suy nghĩ:
– Chắc chẳng phải vậy đâu. Đây là vùng anh em mình xuống núi thường đi qua. Chúng nghĩ, chúng đóng bót trên kia chưa đủ nên còn phải đóng bót ở đây để tạo thêm một vị trí quan sát nữa. Ở đây cao, có thể thấy khắp cả vùng này. Cũng có thể chúng nó nghĩ du kích ta còn hoạt động ở vùng này, chúng đóng bót để phát hiện gọi pháo tiêu diệt -Tâm cười, nói có vẻ bất cần- Đóng thì đóng, làm quái gì được mình.
*
* *
Hàng ngày, họ nghe tiếng bọn lính la hét, tập thể dục, chửi bới nhau, cười cợt trêu chọc nhau. Họ còn nghe cả những câu chuyện tục tĩu mà chúng kháo nhau bắt lợm cả lỗ tai nữa.
Dạo này, hai chị em càng phải sống kín đáo hơn.
Trước đây, họ có thể thơ thẩn quanh núi, có thể ngồi trên một tảng đá ngó xuống làng, dạo xuống chân núi kiếm thức ăn thì giờ đây, ban ngày, họ phải ngồi ru rú trong hang. Việc kiếm thức ăn hầu như tắc nghẽn, họ phải uống nước cầm hơi.
Đóng quân hôm trước, hôm sau bọn lính đã chia nhau sục sạo. Một buổi sáng, chúng đã đến cửa hang hai chị em ở. Tâm đang ngủ, Hà vội kéo chị dậy. Hai chị em chui vào sau tảng đá bữa nọ. May mà chúng không vào hang, chỉ đứng ở cửa ngó vào. Lại một buổi chiều, đi sục ở đâu về, ngang qua hang, chúng nổi điên xả vào mấy loạt súng rồi bỏ đi. Thật may mắn, hai chị em đang ngồi ngủ sau tảng đá.
Những ngày này, Hà thấy thật buồn thảm. Cô bực bội, mặt càu cạu, không thèm bắt chuyện với chị. Tâm bảo gì cô cũng chỉ “hử” một cách khó chịu. Cô tự oán trách mình đã nghe theo lời Hường đi du kích để giờ đây bị người yêu bỏ lại một mình ở cái hang đá chó đẻ này. Cô oán trách Tâm đã ủng hộ ý kiến ấy, bây giờ Tâm như gánh nặng, với cái bụng chửa bắt cô phải lo lắng. Cô oán trách bà Sáng đã khai báo, trách chị Thắng không tiếp tế gạo. Oán trách cả cái xã cô đi theo địch. Bây giờ ngồi đây, Hà thấy cái hang che chở mình bao ngày qua như một cái hang quỷ. Nó như chiếc quan tài giam hãm, đè nén cô cho tới chết.
– Chẳng khác gì bị cầm tù – Hà càu nhàu nói với Tâm – Thà xuống kia ngồi tù quách.
Tâm mỉm cười:
– Sao lại ví ở dây như ngồi tù, em. Mình ở đây có gian khổ nhưng thấm gì so với các anh đang ngồi tù ở dưới kia. Các anh vừa gian khổ về vật chất vừa đau khổ về mặt tinh thần-Tâm im lặng một lúc rồi tiếp-Mình khổ là vì mình muốn bám đất đai chớ mình bỏ lên căn cứ huyện chẳng ai trách.
Hà bám ngay lời Tâm:
– Sao hai chị em mình không lên tuốt căn cứ nhập với bộ đội mà cứ ở đây?
– Chẳng lẽ mình bỏ quê hương mà đi sao?
– Quê hương thì quê hương, mình đi xa, mình công tác có lúc mình về giải phóng quê hương chớ. Các anh đi bộ đội thì sao?
– Bộ đội khác, mình khác. Nhiệm vụ của bộ đội là ở nhiều vùng nhiều nơi. Mình là du kích, nhiệm vụ mình là bám quê hương, mình bỏ đi là mình không làm tròn nhiệm vụ. Mình đào ngũ.
– Nhiệm vụ. Đào ngũ. Bám bám. Mệt quá bà-Hà dẫu môi nói rồi im lặng. Một lúc sau, cô lại càu nhàu:
– Chị em mình không khác gì hai con thú bị săn cả.
Một cơn đau quặn trong ruột. Cái đói như một bàn tay vô hình vò xoắn ruột cô. Nước miếng tứa ra. Hà mệt xỉu, tựa vào hang đá thở dốc.
– Này, Hà.- Tâm gọi khẽ.
– Gì? Bà?
– Chẳng lẽ ở đây nhịn đói, chờ chúng sục đến bắt. Chị em mình lui về cứ cũ ở bờ sông đi. Ở gần làng, ta có thể tìm hiểu tình hình và tìm lương thực được. Em nghĩ sao?
– Đi thì đi. Ở đây tui chán quá rồi.
7
Họ sống lang thang, nay chui bụi lách này, mai rúc bờ lau nọ, người xơ rơ xác rác như kẻ ăn mày. Thêm vào đó, mùa mưa dã đến. Mưa liên miên kéo dài hết ngày này sang ngày khác, đôi lúc dừng lại vài tiếng, nhưng bầu trời căng mọng, sấm chớp ùng oàng và bất ngờ đổ xuống một cơn mưa dài khác. Dòng sông Vệ réo sôi ùng ục dưới những bờ lau. Nước xoáy lở bờ, cuốn từng mảng đất đổ ầm ầm xuống sông. Có những lúc, hai chị em đang ngủ gục, thấy dưới chân mình rung rung, vừa né ra, đất đã trôi tuột. Trên cánh đồng sát sông, nước cũng ngập trắng xoá, đôi chỗ hiện lên những bờ ruộng, những lùm mía còn sót lại sau trận chúng phát quang như những thân người sắp chết đuối, cố rướn lên níu lấy sự sống.
Hai chị em suốt ngày ướt sũng, người dính đầy bùn đất, nhớp nháp rất khó chịu. Những mụn ghẻ ngứa mọc ở kẻ chân, bàn tay, chen lấn vào những chỗ kín làm họ suốt ngày phải cào gãi. Mấy bộ quần áo nghèo nàn của những người du kích qua những ngày trốn chui trốn nhủi, qua những cơn mưa đã rách bung lổ đổ, lòi ra từng mảng thịt. Nếu nhìn từ xa, người ta có thể tưởng lầm hai chị em là hai hình bù nhìn rơm. Họ ôm nhau ngồi run trước những đợt gió, những trận mưa đổ ào ạt lên người.
Cái đói vẫn âm ỉ hành hạ họ. Từ khi rời hang đá gặp thứ gì họ ăn thứ nấy. Có khi là rau má, rau sam. Có lúc lượm được một mẩu khoai lang, một khúc mía đã bợt hết vị ngọt vì ngâm nước lâu ngày, họ chia nhau nhai rau ráu. Bụng luôn sôi sùng sục. Bệnh đi lỏng như một người bạn đường khó tính dày vò họ. Họ bứt tạm lá sim, lá ổi nhai cho cầm lại, nhưng những cơn đau âm ỉ cứ quặn thắt ruột gan họ. Chân tay mỏi nhừ, hai chị em bước vật vờ như hai cái bóng.
Đối với Tâm, nỗi khổ càng tăng lên gấp đôi. Gần đây, do ăn uống như vậy, cô cứ nôn nao, oẹ mửa, mặt mày càng vàng bủng, chân phù lên, đi lại rất nặng nhọc. Đứa con trong bụng cô tự nhiên ít đạp hơn trước. Nó chỉ đạp nhè nhẹ khi nào cô chạy nhiều. Cô luôn thảng thốt mơ hồ nỗi sợ lỡ cô yếu quá, bị đẻ non, con cô sẽ không sống được. Cô rất sợ bị truỵ thai. Đôi lúc, cô lại muốn hư thai để xoá nốt đi những quan hệ với Thái. Nhưng cô lại nghĩ lại. Nó cũng là con cô nữa chứ. Nhiều lúc cô ngồi thừ ra với những ý nghĩ trái ngược nhau ấy. Những ý nghĩ ấy cứ lặp đi lặp lại khó mà dẹp nổi. Cuối cùng, cô phải tự mình xác định bao nhiêu lần: nó là con mình, mình phải vừa hoạt động vừa giữ gìn cho con ra đời an toàn. Sau này, cô sẽ không bao giờ nói với nó, cha nó là ai. Chỉ nói cha nó đã chết là đủ. Bản thân cô sẽ dạy nó nên người có ích. Bây giờ, xen lẫn với việc bám dân bám đất để xây dựng phong trào, cô còn khao khát được giữ giọt máu của cô đang lớn dần, đòi góp mặt với đời. Chỉ có bám được vào làng, nhờ bà con giúp đỡ mới có thể xây dựng được phong trào, bảo vệ sự sống của chị em cô và con cô.
Có một lần, vào lúc xâm xẩm tối, hai chị em quyết định vào làng. Gần tới bãi mía đã trống hoang trống huếch, họ thấy có mấy người trùm áo mưa ngồi châu hẩu như đang nhổ cỏ ở bờ ruộng. Tim đập rộn ràng. Tâm mừng quá muốn kêu lên, nhưng ghìm lại được. Cô ngồi xuống và ra hiệu cho Hà đi sau mình cùng ngồi xuống sau một bờ mẫu quan sát. Tâm bỗng nghe một tiếng chửi vọng lên từ chỗ mấy người đang ngồi: “Mẹ thằng thượng sĩ, có chó gì mà phục”. Địch rồi. Hai chị em ngồi một lúc rồi tháo lui. Cái nhọc mệt vì đói, vì thất vọng kéo họ ngồi xuống bên một gò đất. Trong cơn đói hoa cả mắt, Hà phát hiện ra đám đất quanh gò ấy trồng lang. Đám này tương đối cao nên nước không ngập, chắc củ còn tốt. Hà chạy đến bới thử được mấy củ khoai non. Hai chị em chia nhau nhai sống. Hà lại bới thêm một bọc, túm vào áo rồi hai chị em đi về phía bãi lau. Sáng hôm sau, hai chị em đang trùm ni lông ôm nhau ngủ, bỗng bật dậy khi nghe tiếng chửi:
– Tổ cha bọn ăn trộm. Khoai người ta còn non mà đào. Đói thì đi ăn xin chớ.
Hai chị em nhìn nhau rồi ôm nhau khóc. Nhưng mỗi người khóc theo một cách riêng. Tâm khóc vì mình chưa tiếp xúc được với bà con, đến nỗi việc có thể nhờ bà con giúp đỡ lại phải đi ăn trộm. Hà khóc vì cảm thấy tủi nhục quá, hận đời quá. Cô uất ức thấy bà con trong xã không hiểu hai chị em cô, đã vì họ mà chịu đựng mọi gian khổ. Trong khi đó, họ đã không giúp đỡ gì, lại tiếc vài củ khoai non. Trong lòng người du kích mới, vốn là học sinh này, những hạt thất vọng đang đâm chồi. Cô cảm thấy mình đã quá sức chịu đựng. Hà nói với chị:
– Kiểu cách này em hết chịu nổi rồi. Không xông ào vô làng cho địch nó bắn chết thì cũng phải đi chiêu hồi thôi.
– Bậy nào – Tâm mắng – Cả xã chỉ còn có hai chị em mình. Phải cố sống mà cự lại với tụi nó chớ.
Một buổi tối, dưới cơn mưa đổ ào ào như thác, Tâm để Hà ở lại cứ, còn mình thì mò sát vào rìa làng. Cô ngồi trong một cái hố ngập sũng nước sau một cái mả đá đã cũ. Từ đây, cô có thể thấy những tên dân vệ mặc áo mưa, mang súng, quét đèn pin đi tuần tiễu. Chúng nó la í oái, nổ vài phát súng vào bóng tối vô định rồi kéo nhau vào một nhà nào đó tránh mưa. Một lúc sau, chúng lại đi xào xào ra rìa làng, lặp lại những động tác trên rồi thụt vào ngay.
Mưa vẫn đổ ào ào. Tâm ngồi co ro một hồi lâu trong hố nước. Người ướt sũng, lạnh cóng. Cô tính nước liều, tìm cách vào làng. Chợt thấy có hai bóng người mặc áo tơi, tay cầm mõ, đứng ở rìa làng, cách mả đá chừng hai chục mét, ngó về phía Tâm. Họ sững sờ như trông ngóng một điều gì. Vừa lúc ấy, có một tên dân vệ soi đèn pin đi tới, rọi thẳng vào họ.
– Sao không đi tuần mà đứng đây?
– Thưa ông, hai đứa tôi vừa tuần xong một vòng rồi, yên ổn cả. Một người có giọng trầm trầm nói.
Tên dân vệ hách dịch:
– Coi chừng cộng sản nó bắn bể dái chớ yên ổn.
Người đàn ông cười thành tiếng, giọng trầm trầm nghe rất quen:
– Cộng sản đâu còn mà bắn. Các ông lùng sục mãi không ra huống hồ tụi tui – Người ấy im lặng một lúc rồi tiếp – Thưa ông, tôi nghĩ cộng sản không còn đâu, ông bắt dân tụi tui đi canh tuần gõ mõ trong mưa khổ quá.
Tên dân vệ nạt nộ cái gì đó rồi bỏ đi. Người có giọng trầm trầm quay sang nói với người kia:
– Cái kiểu này chắc tụi nó không còn đứa nào đâu. Tui canh, trông miết mà không thấy tụi nó vô.
Tâm nín thở. Cái giọng nói quen quen của ai đó làm cô thấy vui: như vậy là bà con vẫn tin cách mạng, vẫn chờ cách mạng, ít ra là hai người cô không nhận ra mặt này. Tâm muốn đứng dậy và nói to “Hai chú ơi, tụi cháu còn đây chớ”. Nhưng vừa lúc ấy, một tốp dân vệ lại túa ra, giục giã hai người đàn ông đi tuần.
Đêm hôm ấy, Tâm kể lại cho Hà nghe chuyện hai người đàn ông rồi nói:
– Chị thấy là tụi mình nên xuống ở hẳn trong dân chớ đi đi lại lại kiểu này có ngày cũng chết.
– Nhưng em sợ họ nộp tụi mình cho bọn nó mất.
Tâm nhìn em. Có thể Hà nói đúng. Nhưng không tin dân thì tin ai. Chết thì ở đây cũng chết. Vào dân thì mới hy vọng sống. Tâm nhớ có lần lên huyện họp, chú Chín Bí thư Huyện ủy nói: “Phải tin ở bà con. Bà con bị o ép quá chớ luôn yêu cách mạng. Ta phải lôi kéo bà con. Mình không tin dân thì tin ai. Mà mình làm cách mạng vì ai. Cũng vì dân thôi, các đồng chí suy nghĩ cho kỹ”. Tâm lại nhớ hai người đàn ông đứng trước mả đá…
– Phải đi thôi em à. Em không đi thì chị đi thử. Qua hai chú hồi chặp tối, chị đoán là trong làng, bà con cũng có nhiều người đang trông chờ cách mạng.
Hà sợ ở lại một mình, vội nói:
– Em cũng đi với chị.
Họ quyết định nối lại các cơ sở trước kia. Nhưng bắt mối với ai trước đây? Bà cụ Sáng thì lại bị bắt mất rồi. Họ điểm tên từng người. Cuối cùng quyết định vào nhà chị Thắng, một chị có chồng đi tập kết, vẫn nuôi giấu cán bộ, du kích lâu nay.
Đêm hôm sau, họ đến nhà chị Thắng.
Nhà chị nằm ở cuối xã, sát đường quốc lộ. Từ bờ sông, hai chị em phải băng qua bãi mía đã bị phá, men theo rìa làng để vòng đến nhà chị. Tâm nhìn vào làng, các nhà đều đóng cửa, tối om. Ngay cả bọn dân vệ hình như đêm nay cũng ngại đi tuần. Chỉ có mưa đổ như trút xuống đầu hai chị em. Họ bước trầy trật trong bùn, tay luôn đưa lên mặt vuốt nước mưa ròng ròng chảy xuống. Lúc lúc, những trận gió lớn nổi lên, xô những thân người ốm đói ấy ngã dụi. Họ liêu xiêu đứng dậy, lại bước rồi lại ngã. Mỗi lần như vậy, Hà lại bực dọc, làu bàu, có lúc oà khóc. Tâm đi trước phải dừng lại dỗ em. Cô cảm thấy quá mệt nhọc, cái bụng mang thai của mình như mỗi lúc một sệ xuống, dí cô trong bùn. Nhưng cô bặm môi, ráng bước tới. Bây giờ, không phải cô đi bằng đôi chân tê dại phù ra vì đói, vì mang thai, mà là đi bằng ý chí tiềm ẩn chỉ có lúc quyết định mới hiện ra, giúp cho con người vượt lên mọi khó khăn thử thách, như người ta nói là đi bằng cái đầu. Cô biết là cô không thể quỵ xuống được. Cô quỵ xuống thì Hà sẽ dựa vào ai?
Hai chị em lần mò gần hai tiếng đồng hồ mới đến được bờ ruộng sát nhà chị Thắng. Họ dừng lại, lắng nghe mọi động tĩnh. Qua hàng rào thưa, họ thấy trong nhà có ánh đèn. Họ nhìn kỹ thì thấy bọn lính ngồi lố nhố trong đó. Chúng la thét, cười rộ. Có lẽ chúng đang đánh bài:
– Đầm cơ.
– Xì chuồn.
Có tiếng the thé:
– Ăn gian, ăn gian.
Một giọng ồ ồ đâm ngang:
– Sao cứ túm tụm đánh bài không chịu đi tuần?
– Đã đi rồi, vô sự, thưa thượng sĩ.
– Bà chủ cho chai la-de1.
Tiếng ồn ào. Tiếng cười hô hố. Tâm chong mắt nhìn qua hàng rào thưa, thấy chị Thắng thỉnh thoảng đi lại cười nói giữa bọn lính đang níu kéo chòng ghẹo. Đôi lúc chị cũng cười ha hả như chúng.
Hai chị em thất vọng quay về.
Đêm hôm sau, đêm sau nữa, họ cũng gặp cảnh như thế. Trên đường về, hai chị em thất thểu như hai bóng ma. Niềm thất vọng từ Hà đã bắt đầu lan sang Tâm. Trong lòng Tâm, một trận đánh dữ dội giữa niềm tin và sự thất vọng đang diễn ra. “Chẳng lẽ con Hà có lý? Dân xã mình đã bị địch làm tê liệt tinh thần cả rồi?”. Cô tự đặt câu hỏi rồi tự trả lời: “Không, nếu thế thì tại sao có hai chú nông dân nọ mong ngóng cách mạng. Không phải, bà con đang chờ mình”. “Nhưng, tại sao?…”. Câu hỏi ấy cứ ám ảnh Tâm. “Hay là mình tìm đến nhà hai chú ấy”. Nhưng họ là ai? Tâm tự thấy là bản thân mình cũng chưa tìm hiểu hết bà con. Mình chỉ bắt mối ở những gia đình quen sẵn hay tình cờ như bà cụ Sáng. Sau này, nếu vào được trong dân, cô sẽ dò ra hai chú này. Vậy thì trong dân còn có người tốt. Thế nhưng?…Tại sao? Đầu nóng bừng. Cô lững thững bước sau Hà, run cầm cập trong mưa, quên bẵng mình phải cẩn thận vì đang đi men rìa làng. Chợt Hà dừng lại, bấu vai Tâm. Bây giờ họ mới nhận ra, họ đang đứng bên bờ rào nhà bà cụ Sáng. Từ trong nhà vọng ra một tiếng ho quen thuộc. Có lẽ bà được ra tù rồi, Tâm chợt nghĩ. Hai chị em ngó trước ngó sau, khi thấy không có địch, họ lần vào sân nhà đang bỏ ngỏ. Tâm bảo Hà ngồi sau một gốc bưởi ở góc sân còn cô lần về phía cửa phên ào ào gió đập. Tâm nghiêng tai áp vào phên. Tiếng ho vẫn vọng ra. Cô thử gõ cửa theo tín hiệu lâu nay. Tiếng ho im bặt. Đáng ra, như mọi lần trước kia, sau tiếng gõ cửa, Tâm sẽ nghe tiếng bà cụ trở mình cọt kẹt trên giường. Có tiếng dép lẹt quẹt. Một lúc sau, từ bên trong liếp cửa sẽ vọng ra tiếng hỏi ấm áp của bà cụ:
– Đứa nào đấy?
– Dạ Tâm đây bác.
Có tiếng thở phào:
– Nó có phục không con? Tội nghiệp, mưa gió như vậy mà tụi bay còn đi lại. Vô đi con.
Nhưng đêm nay, tất cả đều im lặng, cái im lặng chứa đầy sự lạnh nhạt. Tâm gõ cửa lần nữa. vẫn im lặng.
Khuya hôm đó, tại bãi lau ven bờ sông, Hà nói với Tâm:
– Không vào được đâu. Bà Sáng bị tụi nó mua rồi. Coi chừng biết tụi mình gọi, bả báo với cảnh sát đến rình đó.
– Để coi thử đã-Tâm lưỡng lự-Chị muốn thử lần nữa kẻo nghĩ oan cho bà cụ.
Suốt đêm đó, Tâm ngủ không được. Tâm nghĩ rất nhiều. Bà cụ Sáng đã bị tù đày nên mất tinh thần hay bà còn do dự vì cô là vợ Thái, mà Thái đã chiêu hồi? Liệu cô sẽ ra sao? Cô có vững không hay cũng như Thái rồi đưa bà vào tròng? Suy đi tính lại, Tâm nghiêng về ý nghĩ bà cụ còn trù trừ để “đo” lòng dạ của cô. Nếu vậy, cô càng phải kiên trì, càng phải tỏ cho bà cụ thấy rằng cô khác Thái, dù cô là vợ Thái. Vì vậy, đêm hôm sau, Tâm, Hà lại đến nhà bà cụ Sáng. Tâm gõ cửa. Gõ rành rọt, đúng mật hiệu. Có tiếng trở mình trên giường. Đây là động tác quen thuộc lâu nay khi bà sắp mang dép ra mở cửa. Tâm hy vọng quá, gõ cửa lần nữa. Nhưng tất cả lại lặng im như chết. Tâm gõ tiếp lần nữa. Lần này, sau tiếng gõ, cô chỉ nghe tiếng gió sàn sạt chạy khắp vườn, lướt ra cánh đồng trống. Cô cảm thấy rùng mình. Hai chị em lại lững thững quay về. Họ lại trùm ni lông ngồi dưới mưa. Hà bực dọc lắm. Niềm tin của cô đã tắt hẳn. Cô bảo chị:
– Em không chịu được nữa. Dân mình xấu cả rồi. Chị cứ tin…
Tâm im lặng. Hà càng nói cô càng đau lòng.
– Em thương chị, nhưng em hết chịu nổi rồi.
Trong một phút, Tâm thấy toàn thân mình ớn lạnh. Cô có cảm giác như cô vừa mới mất đi một cái gì đó thật quý giá, không bao giờ có thể tìm lại được nữa. Nhưng cô không nghĩ ra được thứ gì. Cô mệt mỏi, rã rời, mắt díp lại, nghe em mình cứ nói những gì những gì sau đó, cô không rõ. Cô tự nhủ: ngủ một chút đã. Mai chị sẽ nói mọi thứ cho em rõ. Tội nghiệp.
Khi tỉnh dậy, Tâm không còn thấy Hà bên mình nữa. Lúc đầu, cô quýnh lên lo sợ. Nhưng một lúc sau, định thần lại, cô hiểu ra. Hà mất lòng tin rồi, mệt mỏi rồi…
Còn lại một mình, bụng mang dạ chửa, Tâm càng khổ tâm day dứt. Trong những ngày khốc liệt này, lúc Tâm cần sự giúp đỡ của những người thân nhất, thì họ đã bỏ cô ở lại, lần lượt ra đi theo con đường của họ. Trước là Thái, chồng cô, bây giờ đến Hà, em ruột cô. Mỗi người ra đi không phải chỉ để lại cho cô sự cô đơn, vất vả mà còn để lại cái lớn nhất là sự tủi nhục. Nếu họ chết đi thì dù có buồn, lòng cô vẫn còn nhẹ nhõm hơn, cô chỉ có vất vả về vật chất. Còn đây lại chính là nỗi đau, nỗi tủi nhục về tinh thần suốt đời cô mang chịu. Rồi đây, bà con sẽ nhìn cô ra sao? Đời cô còn có thể chịu được, nhưng còn con cô? Giá những người thân yêu kia ráng lên một chút, biết nghĩ một chút thì đứa bé vô tội trong bụng cô sau này sẽ không phải nhận hậu quả này. Một lần nữa, cái ý nghĩ phá thai lại nảy ra trong đầu cô. Cô gục đầu xuống bờ đất khóc âm thầm. Rồi cô gạt nước mắt tự nhủ: Không, không thể huỷ hoại đời mình, đời con mình được. Giờ đây, không còn do dự bàn tính nữa, chỉ có một con đường là bản thân cô phải tự mình sửa lại những tội lỗi mà những người thân đã gây ra, thì sau này, con cô mới không phải chịu cảnh đau khổ, tủi cực. Con đường sửa sai ấy chỉ có cách là cô phải bám vào bà con, dù có chết, để gây dựng lại phong trào, từ phong trào ấy, cô sẽ khẳng định đời mình, đời con mình.
Đêm hôm sau, Tâm lại xuống gõ cửa nhà cụ Sáng. Lần này, cô nghe một tiếng thở dài. Cô hy vọng quá, gõ cửa lần nữa. Cô nghe tiếng dép lẹt quẹt, nhưng người trong nhà vẫn không lên tiếng. Thế là tốt rồi, bà cụ sẽ mở cửa thôi. Tâm tự nhủ và nói gấp gấp:
– Bác ơi, bác cho con nói cái này…
Người trong nhà bước lại gần cửa nhưng vẫn im lặng. Tâm nói:
– Bác ơi, con là Tâm đây.
– Tui xin bà, bà đi cho. Chồng bà, em bà đi rồi, sao bà không đi?
Tâm nói hổn hển:
– Con ở với bác thôi.
Bên trong im lặng. Tâm nói tiếp:
– Bác ơi, mưa to, bác cho con trú với. Con có mang, con không có chỗ nào sống, bác cho con vào. Nếu bác bỏ con, đêm nay con chết cóng mất.
Một giọng run run cất lên:
– Thì đi đi. Đi mà chiêu hồi, gặp chồng, gặp em. Tụi nó nuôi cho mà sướng. Tụi nó cho vô nhà thương mà sanh.
Có tiếng thở mạnh ở bên trong. Tâm ngỡ bà cụ Sáng đang mở chốt cửa. Nhưng bà nói tiếp:
– Thôi, đi đi. Đi đi, đừng làm tui khổ, xin bà…
Tâm cảm thấy rã rời. Cô ngỡ rằng mình sẽ ngã qụy ngay bên liếp cửa, không thể nào cất người lên nổi nữa. Trong một phút, câu nói của Hà: “Không, họ không nuôi ta đâu” lại vọng lên rồi tan biến đi. Tận đáy sâu lòng mình, Tâm nghĩ bà cụ Sáng không thể bỏ mặc cô được. Nhưng giờ đây, cô chưa có cách nào lấy lại được lòng tin của bà cụ. Phải có cách. Cô đứng lặng, suy nghĩ, thở hổn hển. Cô cảm giác như người đứng phía trong nhà cũng suy nghĩ như cô, cũng thở như cô. Cô đứng như thế mấy phút. Gió mưa đập tấm liếp ào ào, táp vào người cô. Bỗng nhiên một luồng ánh sáng lướt qua ý nghĩ cô. Cô nói nghẹn ngào:
– Bác Hai ơi, bác không nuôi con thì con đi đây. Con chỉ muốn bác nhớ là, sau này có gì bác phải chịu khuyết điểm trước Đảng là đã đuổi con đấy.
Có tiếng nấc ở bên trong. Tâm hiểu là câu nói của mình có tác dụng và ý nghĩ của cô về bà cụ Sáng là đúng. Cô nói tiếp: “Thôi con đi. Bác nhớ đấy”. Cô bước ra sân.
Có tiếng súng nổ ở đầu làng và tiếng la hét của bọn dân vệ. Tâm bước thêm một bước nữa. Cô nghe sau mình có tiếng cửa bật mở, tiếng chân bước, tiếng thở hổn hển. Cô quay nhìn lại. Bà cụ Sáng chạy đến bên cô:
– Đồ ngu. Mày đi cho tụi nó bắt à? Vô nhà đi.
Bà cụ lật đật kéo Tâm vào buồng, thắp đèn lên, rối rít tìm quần áo đưa cho Tâm thay. Một lúc sau, bà đem vào buồng một nồi cơm nguội, một trả cá kho, giục Tâm ăn. Bà ngồi xuống bên cạnh, nhìn Tâm chằm chặp một lúc rồi nói:
– Tao nói cho mày hay để mày đừng trách tao tại sao không mở cửa cho mày vô nhà ngay bữa đầu. Mọi chuyện cũng có cái cớ của nó. Đầu đuôi là thế này: Hôm thằng Thái chồng mày cùng hai đứa du kích xuống đây, trong làng có địch, tao không thắp đèn. Bất ngờ thấy mấy đứa ở đầu làng tao đã vẫy tay ra hiệu. Nhưng có lẽ trong đầu tụi nó có ý quyết chiêu hồi, nên phớt lờ tao, cứ đi thẳng đến chỗ có lính. Mấy hôm sau, bọn lính kéo đến nạt nộ, giơ súng ra doạ, bắt tao thắp đèn làm tín hiệu để dụ tụi bay vô làng. Tao nói tao già cả, chẳng biết làm tín hiệu tín hiếc gì hết. Bọn lính nói thằng Thái đã khai về tao cả rồi. Nếu không làm chúng sẽ bắn. Vậy là chuyện đã rõ. Tao giả bộ loay hoay, lúng túng làm bể luôn bóng đèn. Bọn lính tức mình đạp vô lưng tao mấy đạp rồi qua nhà cụ Bê bên cạnh lấy đèn sang, thắp lên, đặt đúng i sì cái cửa sổ tao vẫn đặt. Một thằng nắm tóc kéo tao nhốt vô buồng. Thằng khác lượm một miếng giẻ rách chó tha đâu ở góc nhà nhét vào miệng tao, dí súng vô ngực, bắt tao ngồi im. Tao lo quá, sợ bay thấy có đèn, vô sẽ gặp địch. Muốn la mà không la được. Vậy là hôm đó tụi thằng Hường xuống. Bọn nó bị bắt, lại chiêu hồi, khai tao lần nữa. Khai chi mà khai lạ lùng. Nào tao là cơ sở nuôi tụi nó trong hầm bí mật ở góc vườn. Tao đã làm liên lạc, chuyển giấy tờ, gánh súng đạn vô thị trấn cho tụi nó đánh địch ra sao. Tao đã thắp đèn, tiếp tế gạo nước cho tụi nó thế nào. Nào là tao đã cho tụi nó ăn, cho tụi nó thuốc lá, đổ bô cho tụi nó khi tụi nó đi lỏng. Tụi nó nhát quá, chịu đòn không nổi, có khai thì khai sơ sơ chớ làm gì mà khai tuốt luốt vậy. Thế là bọn địch nó bắt tao đi tù. Bọn nó tra khảo, đánh tao ghê quá. Tao chẳng khai gì ráo. Tao cứ giả bộ ngây ngây dại dại lúc khóc lúc cười. Tao ỉa rồi bốc ăn, vừa đái vừa giơ tay hứng đưa lên môi liếm, cười sằng sặc…Bọn địch chịu thua phải thả tao ra.- Bà im lặng một chút rồi tiếp-Mọi chuyện cũng có cái cớ của nó. Bay đi chiêu hồi hàng đàn hàng lũ, làm sao tao dám tin…
Bà cụ nhìn xoáy vào mặt Tâm một lúc rồi hỏi:
– Tụi nó chiêu hồi hết rồi. Còn mày, mày có chiêu hồi không?
Tâm ứa nước mắt, nói lí nhí:
– Dạ…
Bà cụ Sáng nói rành rọt:
– Bao nhiêu đứa “dạ” xong rồi lại đi. Còn mày, tao sẽ nuôi mày. Nếu mày đi nữa, khai tao nữa, nó bắt tao nó đánh, tao chịu chết. Bay làm chi thì làm. Chớ tao thì tao vẫn làm cách mạng đó. Tao nói cho bay biết.
Bà cụ giục Tâm ăn cơm, gắp cá thêm cho Tâm. Mắt cụ nhìn Tâm đăm đăm thương mến. Tâm vừa ăn vừa khóc. Nước mắt rơi xuống bát cơm. Đây là những giọt nước mắt sung sướng của người con được mẹ yêu thương mắng mỏ, sung sướng biết người mẹ sẽ đi với mình đến cùng trên con đường cách mạng. Tâm thấy mình lâu nay đã đặt niềm tin vào bà cụ Sáng là đúng. Cổ cô nghẹn lại. Cô ráng và hết bát cơm cho vừa lòng bà cụ rồi đặt bát xuống. Khi ngẩng lên, cô thấy bà cụ cũng đang lấy vạt áo thấm nước mắt…
ĐOẠN KẾT
Chị Tâm đã kể cho tôi nghe câu chuyện mười ba năm trước đây vào một ngày cuối xuân năm 1982, khi tôi về công tác ở xã Nghĩa Trung.
Bây giờ xã này nằm trong vùng chuyên canh mía của tỉnh, kéo dài từ bắc sông Vệ lan ra tận thị xã. Đang giữa tháng ba, bà con đang bận bịu thu hoạch mía để cung cấp cho nhà máy đường của tỉnh. Tôi phải ra tận đồng mía để tìm gặp chị Tâm. Người ta giới thiệu cho tôi một người đàn bà dong dỏng cao, khuôn mặt vốn xinh xắn, hơi xanh bủng một chút, đó là dấu vết còn lại do những trận đau ốm và chịu đựng nhiều gian khổ. Mái tóc chị đã có những sợi bạc. Chị đi lại nhanh nhẹn và có nụ cười hiền hậu. Chị đưa tôi về nhà chị, một ngôi nhà ngói đỏ xinh xắn vừa mới xây. Chung quanh vườn trồng chuối, sắn, dong riềng. Trước nhà là những cây hồng và những chậu kiểng trồng các loại thuốc nam.
Chúng tôi ngồi bên bộ bàn ghế đặt trước hiên, ngó ra phía đồng mía. Nắng tháng ba viền ở chân trời một màu vàng bình yên. Chị Tâm kể rằng: sau khi vào ở nhà bà cụ Sáng được hai tháng thì chị sinh một cháu trai. Cháu nay đã mười ba tuổi, vóc dáng giống Thái, nhưng đôi mắt giống chị như đúc, đang học lớp bảy. Chính bà cụ Sáng đã đỡ đẻ và nuôi mẹ con chị trong những ngày gian khó đó.
Hỏi về công việc, chị cười bảo: việc đầu tiên khi đến nhà bà cụ Sáng là chị tìm hiểu lại toàn bộ các cơ sở cũ của xã. Bà cụ cho biết rằng, hầu hết các cơ sở đã bị Thái, Hường khai báo và bị bắt. Một số hiện ở tù, một số được thả ra. Đa số là kiên trung, nhưng cũng có một số đã khai báo. Chị Thắng là một trong số những người khai báo đó. Bên cạnh đó, trong thời gian qua, có một số người trước còn lừng chừng, chưa phải là cơ sở cách mạng nhưng nay thấy rõ tội ác của kẻ thù, nhớ lại những ngày tốt đẹp của cách mạng nên có cảm tình với cách mạng, trông chờ lực lượng cách mạng trở về. Hai cụ đứng trước mả đá bữa nọ là cụ Liêu và cụ Minh, đã có liên lạc với cụ Sáng để hỏi tình hình du kích. Những tin tức do bà cụ Sáng cung cấp đã làm cho Tâm sáng ra. Chị rất mừng. Nhưng cũng có một sự thật làm cho chị buồn là: theo ý cụ Sáng, thì hiện nay, có lẽ ngoài cụ ra, các cơ sở và những quần chúng có cảm tình với cách mạng sẽ ngại gặp Tâm, họ chưa tin Tâm vì Tâm có chồng và em đi chiêu hồi. Điều này làm Tâm phải suy nghĩ rất nhiều. Một ý nghĩ táo bạo nảy ra. Một buổi tối chị đem ý nghĩ ấy trao đổi với cụ Sáng và được cụ đồng ý: Chị mạo danh là Bí thư Chi bộ mới được Huyện ủy cử về tăng cường để chỉ đạo các cơ sở. Theo yêu cầu của bà cụ Sáng, để các cơ sở tin bà hơn, không nghĩ là bà bịa chuyện, chị đã viết một cái giấy thông báo là hiện nay Bí thư và các đảng viên của xã đã chiêu hồi, Huyện ủy cử đồng chí H. xuống phụ trách Bí thư Xã, mong các cơ sở giúp đỡ. Chị ký tên và đưa bà cụ Sáng cầm đến các cơ sở tốt. Tâm cảm thấy mình làm một việc rất liều, vì chị chỉ là một đoàn viên, chưa phải đảng viên. Nhưng tình thế quá bắt buộc, chị không thể làm khác được. Từ đó, các cơ sở được nối lại, công việc chạy đều dưới sự chỉ đạo của Tâm, có cụ Sáng “tham mưu” đóng góp mọi ý kiến. Dần dần, phong trào của xã được phát triển. Tâm kết nạp được ba đảng viên trong đó có bà cụ Sáng và tổ chức một tiểu đội du kích mật. Có điều “để bảo đảm bí mật”, các đồng chí được kết nạp không cần đến dự lễ, mà do đồng chí H. quyết định, cụ Sáng thông báo lại. Khi phong trào lên cao, chi bộ phát triển thêm hai đồng chí nữa. Mọi người muốn gặp Bí thư. Tâm bàn rất kỹ với cụ Sáng và quyết định gặp mặt các đảng viên. Lúc ấy mọi người mới vỡ lẽ…
Đang kể, chị Tâm bỗng rút chiếc khăn xéo vắt vai xuống thấm những giọt nước mắt đang chực trào ra:
– Anh ạ, bác Sáng đã mất rồi. Nghĩ lúc chiến tranh gian khổ ác liệt vậy mà chẳng sao. Ai dè, lúc giải phóng rồi, đáng ra, bác được thảnh thơi đôi chút, bác lại mất. Tội nghiệp quá. Anh nghĩ coi, giải phóng xong, ta lo khai hoang phục hóa. Bà cụ già rồi mà cũng đi cuốc đất. Bác đã cuốc trúng một quả mìn. Trái mìn ấy cũng chẳng phải của địch, mà của ta cài sát căn cứ tụi tui ở phía bờ sông. Tôi chẳng biết do anh Thái hay thằng Hường gài hồi đó để bố phòng…
Chị ngồi lặng một lúc nhìn ra cánh đồng mía ven sông Vệ đang ngập màu nắng mới:
– Sau khi phong trào của xã phục hồi, ta bắt liên lạc được với trên, huyện có cử một số cán bộ xuống tăng cường. Anh Sinh, cán bộ Tuyên huấn được chỉ định làm Bí thư. Tôi đã báo cáo lại việc tôi tổ chức Chi bộ và kết nạp đảng viên cho ảnh. Ảnh thống nhất với huyện đồng ý kết nạp tất cả số đó vào Đảng, và cử tôi làm Phó Bí thư chi bộ Xã. Có anh Sinh và các anh, chúng tôi cảm thấy yên tâm hơn.
Kể đến đây, chị cười gượng, chỉ một tấm hình trên vách. Trong đó hiện ra một người đàn ông có khuôn mặt vuông vức, trán cao, mái tóc lốm đốm bạc, đôi mắt cười hóm hỉnh:
– Anh Sinh đấy. Bây giờ là nhà tôi đấy. Ảnh đang ở trên tỉnh chớ không anh em gặp nhau thì rộn cả nhà. Ảnh cũng rất vui và cũng võ vẽ viết báo làm thơ như anh đấy. Nhưng anh đừng cười. Lúc ấy chúng tôi chưa lấy nhau đâu. Ảnh có vợ, hai con. Vợ con ảnh ở ngoài Bình Sơn. Chị ấy cùng hai cháu vừa mất vì một quả pháo của địch rơi trúng hầm. Ảnh buồn lắm. Tụi tui ai cũng thương ảnh…Bác Sáng nuôi hai chúng tôi trong hầm bí mật ở vườn nhà bác. Chúng tôi thảo luận công tác với nhau rồi giao bác Sáng liên lạc đến các đồng chí, các cơ sở. Đêm đêm, chúng tôi đi hoạt động với nhau. Lúc đó chẳng có ý nghĩ gì đâu, coi như đồng chí, anh em với nhau thôi. Tới giải phóng thì mỗi người đi một nơi. Có ai dè chuyện đời cũng có cái duyên số. Năm kia ảnh về đây công tác…
Chị Tâm cười lỏn lẻn như một cô gái mới lớn. Khuôn mặt xanh bủng của chị ửng hồng lên, trông trẻ hẳn ra. Tôi cũng mỉm cười. Trong một lúc vui vẻ, tôi bạo dạn hỏi chị về Hà, Thái và Hường. Hỏi xong, tôi lại lúng túng sợ chị phật lòng, vì đã khơi dậy những vết thương cũ. Nhưng chị chỉ im lặng, bước vào trong buồng, cầm ra một phong thư rất đẹp:
– Thư con Hà đấy, anh xem sẽ rõ.
Chị bước ra sân đuổi mấy con heo đang ủi phá hàng chuối. Còn tôi, tôi rút vội phong thư, đọc ngấu nghiến:
Caliphoócnia 24-6-1981
Chị Hai yêu quý,
Khi nhận được lá thư này chắc chị ngạc nhiên lắm. Hẳn chị tưởng con Hà hư đốn bỏ chị đã chết dấp ở đâu rồi, bỗng dưng lù lù gửi thư cho chị. Chị đừng giận em nữa nghe. Hồi năm 75, lúc lực lượng ta đánh vào thị xã, tụi em có tội, nên sợ quá, vợ chồng con cái đùm túm bám theo một chiếc tàu thuỷ chật hẹp mà sang bên này. Không đi thì sợ, mà đi thì buồn bã. Em khổ lắm, em khóc hết nước mắt rồi, chị đừng làm em khổ nữa. Chị cứ coi như không có em trên đời nữa cũng được. Miễn chị cố gắng liếc qua lá thư này để hiểu lòng đứa em lầm lỗi, đừng ném đi mà tội nghiệp. Mấy năm nay, em nhớ chị lắm nhưng sợ chị nên không dám viết thư. Mà như vậy càng không dằn lòng được. Hôm nay em đánh liều viết thư cho chị. Chị ơi, em sống ở đây, có mọi thứ mà em coi như thiếu tất cả. Em nhớ con sông Vệ chị em mình cùng tắm thời thơ ấu. Nhớ những giàn xe nước, những con đò chở đường muỗng đi đâu về đâu. Nhớ những lần chị leo ổi, em giơ nón hứng, chị nấu cơm, em ngồi bên cạnh chờ đưa đũa cả cho chị sơ. Nhớ những ngày thật khổ lang thang mà có chị có em. Sao em ngu ngốc bỏ chị mà sang đây làm chi. Em không bao giờ được như chị, có lẽ do em yếu đuối quá.
Chị chắc trách em lắm. Ngày đó, em đi cũng không đành đâu chị à. Nhưng em khổ, em quẫn trí, vừa đi vừa khóc. Đi được một đoạn, ngoảnh lại thấy chị vẫn vô tư trùm ni lông ngủ nhọc mệt trong mưa, em không dằn lòng được, cứ muốn quay lại, ôm chị khóc, xin chị tha thứ cho em, chị em mình cùng khổ với nhau. Nhưng không kịp nữa rồi. Ngay lúc ấy một người dân vệ đi gác chộp lấy em…
Em ra tới thị xã thì gặp anh Thái, anh Hường. Các anh ấy làm ở ty Chiêu hồi. Con người đã thay đổi rồi, tình nghĩa cũng không còn như xưa nữa chị ơi. Trong khi em mừng rú lên vì được thấy các ảnh thì các ảnh lơ em, coi em như một kẻ xa lạ nào vậy. Thậm chí còn khai em là du kích lão luyện nầy nọ. Em biết các anh ấy làm vậy là để tâng công với tụi nó. Khi con người hết tình nghĩa thì sự xảo trá càng ghê gớm chị ơi. Em căm đến phát khóc lên được. Lúc đó, em càng thấm thía, chỉ có những anh em trung kiên, những người như chị mới yêu thương nhau thật sự mà thôi. Lòng em càng dày vò đau đớn. Em thấy em đã đi một bước sai đến cả một dặm. Nhưng đã sa xuống hố rồi làm sao quay lên được nữa. Em chỉ biết tự khinh mình hèn nhát mà thôi.
Vì các ảnh khai như vậy nên chúng nó hỏi cung em, vặn vẹo này nọ, có lúc còn đánh em nữa. Em thấy mình thực là ngu ngốc. Hồi sắp xa chị, em cứ nghĩ mình chịu khổ không được, mình đi chiêu hồi để mình yên ổn làm ăn. Ai ngờ, không phải tụi nó tin những kẻ chiêu hồi chị à, chúng đánh em, chúng tra miết về chị, về các cơ sở. Tới lúc này thì em cũng sáng mắt ra chút ít. Em nghĩ mình mắc lừa chúng, khai chị còn sống thì chúng còn truy nữa. Em thương chị, sợ chị bị bắt. Em nói dối với chúng là chị bị trúng pháo chết. Em còn một mình sợ quá, khổ quá nên em về với quốc gia. Chúng có vẻ tin. Mà giọng em lại thành thật nữa. Nên chúng giam em một thời gian rồi thả em ra. Em không dám về quê nữa, vì sợ bà con trị tội, dù em cũng không khai gì hơn. Nhưng ai tin một đứa đã đến ty Chiêu hồi hả chị. Em ngơ ngơ tìm đến nhà bọn bạn học cũ ở thị xã. Em nói với chúng là ở quê khổ quá ra đây tìm việc làm ăn. Có đứa cũng tin việc ấy, có đứa lại nhìn em với con mắt thán phục. Tụi nó dẫn em đi chơi, cho đủ thứ quà bánh. Em nghĩ có lẽ chúng tưởng em là cán bộ ra hoạt động thành phố. Hồi ấy ở thị xã thường có những người nông thôn ra làm ăn để hoạt động lắm. Nhưng khi biết sự thực hoàn cảnh em, tụi nó lảng xa em, bỏ em trơ khấc một mình. Sau này em mới biết, bà con trong thị xã cũng rất ghét những người đi chiêu hồi. Em đau khổ, thất tha thất thểu trên đường phố, người bã bời như tấm tã rách. Cuối cùng, em gặp một người, sau này là chồng em. Anh ấy làm cảnh sát. Ảnh già hơn em tới mười tám tuổi, vợ ảnh vừa bị mất, còn ba đứa con dại. Em gặp ảnh cũng vô tình lắm. Hôm đó, sau khi bị lũ bạn ruồng bỏ, em đi lang thang, bụng đói cồn cào. Tối đó, em tìm đến một hiên nhà, gục đầu xuống gối ngủ. Chợt có ai đó đá vào chân em. Em tỉnh dậy thấy một người cảnh sát. Em sợ quá, sụp xuống van khóc:
– Tại sao lại nằm đây? Sến hả?
– Thưa chú, cháu…
– Làm gì?…
Em nói thật tình cảnh của em. Người cảnh sát nghe cũng mùi mùi, đưa em về nhà cho ăn uống. Em xin giúp việc cho ảnh. Có lẽ ảnh thấy em chu đáo, thương các con ảnh, dần dần ảnh thương em. Lúc đầu em không thích lắm. Nhưng còn biết dựa vào ai nữa. Đã đâm lao phải theo lao, chị ơi.
Còn chuyện anh Thái, anh Hường thì thật là thương tâm. Để rồi em kể cho chị nghe. Sau khi lấy chồng, em cứ ru rú trong nhà lo việc nội trợ. Hai năm liền em không dạo phố vì cứ ngại gặp bạn bè, người quen ở quê ra. Một hôm chồng em đưa em dạo chơi. Hôm đó trời rất nóng. Đi một lúc, tụi em ghé vào một cửa hàng uống bia. Một lúc, có một người ăn xin, lê lết vào quán. Ông ta mặc quần áo rách rưới, râu dài, người bẩn thỉu, đội một chiếc mũ rách. Em cũng không để ý gì đến người ăn xin, vì lúc nào, quán nào mà không có hàng tá những người ấy. Người ăn xin đi một vòng qua các bàn, giơ tay ra xin tiền rồi tới bàn em. Khi ông ta ngẩng mặt lên cảm ơn em cho tiền, em thấy khuôn mặt ấy rất quen. Ngay lúc đó em nhận ra là anh Thái chị ạ. Anh ta cũng nhận ra em. Hai người nhìn nhau, rồi anh ta bỏ rơi tiền xuống đất, lết nhanh ra cửa quán. Em đăm đăm nhìn theo anh ta. Trong một phút, nỗi giận vì anh ta đã phản bội mình trào lên chẹn lấy cổ em. Nhưng càng nhìn dáng thảm thương của anh ta, em bỗng thấy dịu lại. Thì em cũng có khác gì anh ta. Em đã phản bội chị, phản bội bà con đấy. Chẳng biết vẻ mặt em diễn biến ra sao mà chồng em thấy lạ hỏi em chuyện gì đã xảy ra. Em nói kẻ ăn xin vừa rồi là một người làng em vốn rất ghét. Ảnh là người tốt, bảo em dù gì thì gì, giờ họ cũng là kẻ ăn xin nên chạy theo đưa mấy cái bánh và cho tiền. Em chạy ra kêu “Anh Thái, anh Thái”. Nhưng anh ta càng lết nhanh. Em bám theo. Anh ta dừng lại.
– Anh Thái, sao anh đến nông nỗi này?
Anh ta cười gằn rồi chửi thề:
– Đù mẹ…đời…
Em loay hoay ngồi xuống bên ảnh, hỏi nhẹ nhàng:
– Có chuyện gì mà anh ra người thế này?
Anh ta quát:
– Thôi đi, mụ cảnh sát ơi.
Em phân trần:
– Hoàn cảnh bắt buộc thôi anh ơi. Nhà em cũng là người tốt. Ảnh bị bắt…
Anh ta cười gằn, mặt gớm ghiếc:
– Tại sao thế này à? Thì tụi nó bắt tôi dẫn đi đánh cơ quan Huyện ủy. Họ chuyển đi nơi khác, không tìm thấy. Thế là về tụi nó đánh tôi què rồi thả ra.
– Còn anh Hường đâu?
Anh ta ngước mắt nhìn em:
– Còn nhớ thương à. Nó thành dòi ở dưới đất rồi. Sau khi ra đây một thời gian, nó bị đẩy đi lính. Nó bị tử trận rồi – Anh ta nhún vai – Thưa bà, bà còn hỏi gì nữa không ạ?
Em dúi tiền vào tay anh ta. Anh ta ném xuống đất rồi lết qua bên kia đường. Em gặp anh Thái như thế đó chị ạ. Nghĩ lại thật tủi. Những người đi chiêu hồi lúc đầu họ sử dụng, sau khi khai thác hết, không còn gì thì họ bỏ vỏ chị ơi.
Chị thương của em, chị có biết vì sao em biết chị còn sống mà gửi thư cho chị không? Vừa qua, em vớ được tờ báo của Việt kiều bên này, có bài của một phóng viên vừa về nước qua viết, nói chị làm Bí thư xã mình, xã trồng mía khá nhất tỉnh. Họ viết cả tên họ chị. Họ còn in ảnh nữa. Đúng i sì là chị. Em mừng quá, cất tờ báo tận đáy rương, lâu lâu lấy ra lén xem một mình. Nhìn ảnh chị, em thương chị quá. Chị già hơn xưa. Sao có thời chị đẹp quá. Có lẽ chị sống cực quá phải không chị. Em nghe mấy người mới sang nói bên ta giờ đắt đỏ lắm, vàng tăng giá vùn vụt. Gạo, vải, thuốc cái chi cũng thiếu, cũng tăng giá. Chị có cần em gửi gì về cho chị không? Bà con ở đây hay gửi quà về cho người nhà lắm. Chị đừng ngại dính líu này nọ. Em biết có nhiều người bên ta gửi thư qua xin người thân đủ thứ từ ti vi, cát-sét, vải, thuốc. Chị đồng ý thì em gửi, vì em biết tính chị hay giận dỗi nếu không vừa ý việc gì đó. Còn phần em, chị đừng lo. Em sống không cực đâu, sướng nữa là khác. Chồng em làm ở tiệm vàng “Tân Tiến”, nghề ảnh làm trước khi vào cảnh sát. Bên này, các tiệm của người Việt cũng có bảng hiệu như bên ta. Nào tiệm “Thành Nghi”, tiệm “Ba Béo”, tiệm “Hoàng Hoa”… Tụi em có đủ thứ. Em có ba con rồi. Hàng ngày ảnh đi làm, em ở nhà hết đọc sách, xem ti vi lại dọn dẹp nấu ăn. Việc cứ xoay vần đều đều chán lắm chị ạ. Nhàn cư thành ra lẩn thẩn. Chủ nhật cũng không biết đi đâu. Vợ chồng con cái dắt díu dạo phố rồi về. Có chỗ nào thú mà đi. Xứ người ta có phải xứ mình đâu. Em buồn lắm chị ạ.
Chị thương, chị có khoẻ không? Chị đã “xây dựng” lại với ai chưa? Cho em biết em mừng với nghe chị. Chị có giận em thì giận nhưng thương đứa em sai lạc mà gửi cho nó vài chữ chị nghe. Em giống như con chim nhạn trắng không chịu theo bầy cứ đâm cổ xuống nước mà chết. Cái tích ở quê mình sao giờ đúng với em quá. Chị còn nhớ cái tích ấy không chị Hai?
Chào chị, hôn chị thật nhiều cái hôn.
Em gái ở phương xa
Phạm Thị Hà
1981-1986
N H À V Ă N
Anh là một nhà văn, Tổng biên tập của một tờ tuần báo Văn nghệ trực thuộc Hội Văn nghệ Thành phố. Người ta đưa anh giữ cái chức ấy vì anh đã từng là người lính chiến đấu gan dạ, sau chiến tranh với vốn từng trải của mình, anh đã viết được mấy tập truyện, trong đó có những tập được giải thưởng ở Trung ương.
– Này, coi chừng đấy, làm chức làm tước nó chiếm hết thời giờ sáng tác của cậu đấy. Trần Minh, bạn anh, một nhà văn nói.
– Không sao, viết văn là cái tôi thích, tôi sẽ sắp xếp được thời gian. Vả lại, khi làm biên tập, đọc của người khác, nó cũng gợi mở cho việc viết của mình.
Hàng ngày, người ta thấy anh đến tòa soạn rất sớm. Anh vừa gặm bánh mì, vừa đọc những bản thảo mà các biên tập viên đưa đến, sửa chữa gạch xóa, bỏ bài này, lấy bài kia. Có hôm, anh phải mang bài về nhà, thức khuya để sửa chữa, đọc duyệt. Nói chung, anh rất bận. Cơ quan chỉ có ba biên tập viên, trong đó có một người phải làm phóng viên để viết những bài ký thời sự nên anh phải kiêm luôn biên tập phần nghiên cứu, phê bình văn hóa địa phương. Người ngoài tòa soạn không thể biết rằng, một tờ báo ở địa phương luôn luôn bị thiếu những bài đinh và bài vở không dồi dào như các tờ báo Trung ương. Người viết chỉ quẳng đến tòa soạn những bài họ “tâm huyết”, trong khi tòa soạn phải chạy đôn chạy đáo để tìm những bài hợp với vấn đề từng số báo. Cũng may, tờ báo do anh chèo chống cũng không đến nỗi nào, nó là một tờ báo khá của cấp tỉnh so với báo cấp tỉnh khác trong cả nước. Mà chỉ cần giữ cho nó đừng trụt xuống một tí thôi, anh phải hộc gạch cuống cuồng lo bài vở hết ngày này sang ngày khác.
– Sao mấy tháng nay anh không viết được truyện nào cả. Một lần vợ anh hỏi.
– Ấy, cứ yên trí, anh đã viết thì phải viết hơn trước, chứ viết như cũ thì làm sao xứng với một Tổng biên tập. Anh nói rồi hôn vợ.
Vợ anh mỉm cười. Còn anh thì nhớ lại những năm tháng đời mình, đời một anh chàng gần bốn mươi tuổi vẫn chưa có mảnh tình rách vắt vai. Một hôm, một người bạn nói với anh :
– Tớ có quen một cô thanh niên xung phong đẹp lắm. Tớ sẽ làm mối cho ông. Cô ta sẽ là đề tài vô tận cho ông viết.
Họ lấy nhau, và trong những đêm vắng, cô kể cho anh nghe về những lần cõng đạn từ đường dây xã hội chủ nghĩa xuống đồng bằng, những lần hút chết khi móc gạo từ trong lòng địch để đưa ra căn cứ. Anh xúc động khi nghe cô kể. Anh vuốt ve vợ, nói:
– Anh sẽ viết lại những chuyện em vừa kể.
– Dạ, tùy anh.
Nhưng rồi công việc lại níu kéo anh. Anh phải đi họp báo ở Ban Tuyên giáo, ở Ủy ban, ở các cơ quan đoàn thể của thành phố. Từ khi làm Tổng biên tập, người ta lại mời anh vào các chức vụ khác: ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, ủy viên Ủy ban Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, ủy viên vân vân và vân vân… Vì thế, anh quay mòng mòng trong các cuộc họp. Tại đây, người này bắt tay anh, người kia thì ôm vai anh nói :
– Tôi đọc anh nhiều nhưng nay mới được gặp anh. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình mà.
– Tiểu thuyết ” Gió mùa” của anh tôi rất thích. Vợ tôi muốn anh còn sách cho xin một quyển.
– Mời anh lúc nào đến công ty tôi chơi, viết giúp cho một bài.
Thế rồi, người ta kéo anh về nhà mình giới thiệu cho vợ, con, những người yêu văn học. Người ta mời anh đi nói chuyện ở công ty này, trường học nọ, cơ quan kia. Bây giờ anh xuất hiện trước mọi người nhiều hơn xưa. Đi ngoài đường, anh nghe người khác xì xào: “Ông ấy là nhà văn, là Tổng biên tập đấy”. Và vinh quang của anh cứ lan nhanh trong thành phố, bù trừ cho cái thuở anh cứ lủi thủi đi thực tế, ngồi viết những tác phẩm – mà nhờ nó người ta biết cái tên anh – nhưng chẳng ai thèm để ý.
Một lần, anh nhận được một tập sách của một người bạn từ thủ đô gửi về tặng. Bạn anh, một người từng chiến đấu và học viết như anh, đã lâu anh không gặp. Anh cầm tập sách xinh xắn, lật lật vài trang rồi giở xem thử phần giới thiệu tác giả…
– Trời ơi, cậu ta viết nhiều quá nhỉ. Mình không ngờ – Anh lẩm bẩm – Mình phải viết mới được.
Thế là, sáng hôm sau, anh thức dậy sớm, trải một tập giấy trắng trước mặt. Anh ngồi nghĩ miên man đến những truyện dự định viết. Chưa có đê tài nào thực chín. Có lẽ phải suy nghĩ, nghiền ngẫm thêm một thời gian nữa mới viết được. Chợt điện thoại réo: Điện của cấp trên. Anh cần phải đến ngay Ủy ban để cùng đồng chí Phó Chủ tịch tiếp một đoàn nhà văn nước ngoài. Và rồi sau đó, chính anh sẽ cùng đi với đoàn suốt những ngày đoàn ở lại thành phố.
Anh làu bàu bỏ bút rồi xách xe đi. Thế rồi cái vòng quay ấy, cái vòng quay duyệt bài, họp, tiếp khách cứ quay tít thò lò. Hình như vài năm sau, anh sực nhớ tới chuyện viết. Anh tự hứa sẽ ép mình vào bàn để viết cho xong cuốn truyện vừa. Nhưng cũng chính lúc ấy, anh được cấp trên cho đi học một lớp chính trị trong hai năm do trường đảng thành phổ tổ chức cho những cán bộ lãnh đạo. Ban ngày đi học, đêm đến anh còng lưng trước đèn để biên tập, đọc duyệt bản thảo, bởi chưa có một người phó để thay anh những ngày anh bận bịu.
Khóa học ấy rồi cũng qua. Bây giờ, anh tự nhủ với mình là anh phải viết. Nhưng thói quen ngồi trước trang giấy trắng của anh không còn nữa. Anh thấy mình cứ nhấp nha nhấp nhổm trên ghế, cứ muốn đứng dậy đi làm cái này cái nọ chứ không ngồi yên tại chỗ được. Ý nghĩ trong đầu anh cứ lan man chập chờn không chụm vào một cái gì cả. Những cốt truyện anh nghĩ từ lâu, ngỡ ngồi xuống là viết được giờ sao thấy mờ nhạt, khô cứng. Anh cố vắt óc để viết. Nhưng những dòng chữ anh viết ra như những con giun chết trên mặt giấy. Tức giận, anh quẳng bút, lẩm bẩm:
– Viết làm đếch gì. Có những nhà văn cả đời viết có vài bài thơ cũng nổi tiếng. Mình đã có mấy tập sách rồi, giờ lo làm báo cho tốt chẳng phải là đã góp phần vào sự nghiệp phát triển văn học nghệ thuật đó sao ?
26-5-1997
MỤC LỤC:
1- Mai
2- Dì Út
3- Hai người đàn ông và một người đàn bà
4- Những người con của Gò Nổi
5- Bị bắt đêm 30 tết
6- Mùa mưa
7- Bếp lửa làng Tà băng
8- Nó và ba nó
9- Dốc dì Tâm
10- Người khách lạ
11- Hai người bạn
12- Ở nơi thẩm vấn
13- La Hai
14- Bà mẹ vui tính
15- Trong lòng hồ
16- Kỷ niệm nhỏ trong rừng
17- Anh Bốn Cổn lấy vợ
18- Vợ chồng người lính
19- Những căn phòng không bao giờ mở cửa
20- Người khách đến phòng tôi
21- Chuyến máy bay… còn lâu mới bay
22- Một lần và mãi mãi
23- Chị Ba Chẩn
24- Hai chị em
25- Nhà văn
1 Vọng lâu: Đài quan sát có thang để leo lên, tiếng dùng ở Quảng Đà.
(1) Truyện này được đạo diễn Tạ Xuyên chuyển thể sang Kịch nói với tên “Thời gian không im lặng” đã được giải thưởng của Bộ Quốc Phòng.
(1) Hồi mới giải phóng ta còn dùng tiền của chính quyền Sài Gòn cũ.
(1) Rài rài: từ từ
(1) Tờ bạc dùng ở trong vùng tự do của Khu Năm trong kháng chiến chống Pháp.
1 Đường dây 559.
2 Dớn: Một loại cây dương xỉ. Người ta chặt dớn mang về, vạt vỏ gỗ bên ngoài. Bên trong có thân mềm, lấy vỏ đồ hộp làm bàn nạo, nạo ra thành sợi, luộc ăn, có vị như thân cây đu đủ.
1 Sâu voi: loại trực thăng hai chong chóng (H.34), Mỹ thường dùng để chở quân hoặc vận tải. Thân hình nó giống con sâu nên ta gọi sâu voi.
1 La-de: bia



















