Truyện ngắn Thanh Quế

Truyện ngắn Thanh Quế

THANH QUẾ

TRUYỆN NGẮN

   Nhà xuất bản Hội Nhà văn

MAI

Vào một buổi sáng mùa xuân, không nhớ rõ ngày nào, bà con ở Thanh Quýt thấy một ông già lạ mặt có dáng người cao to, khuôn mặt quắc thước từ trên một chiếc xe khách bước xuống, đi thẳng vào giữa làng. Mọi người rỉ tai nhau, có lẽ đó là một cán bộ của cơ quan nào đấy đến liên hệ công tác hoặc một người ở xa về tìm người thân. Nhưng một lúc sau họ mới vỡ lẽ: Ông là cán bộ người Đà Nẵng, đi tập kết, nay được trên cho nghỉ hưu. Bây giờ ông đến đây để tìm hài cốt của con gái. Biết được điều đó, mọi người cảm thấy ông trở nên gần gũi. Họ thân mật vây quanh ông. Một cô gái có khuôn mặt tròn trĩnh, đôi mắt đen láy rụt rè hỏi ông:

– Dạ thưa bác, con gái bác tên là gì?

– Nó tên là Mai.

Mai nào nhỉ? Mọi người đưa mắt hỏi nhau. Ở làng này có nhiều cô gái tên Mai đến công tác rồi hy sinh. Mỗi người gắn liền với tên một cơ quan: “Mai Tỉnh đội”, “Mai Công đoàn”, “Mai Thanh niên”, “Mai Giao vận”…

– Chị Mai con bác họ chi? Trước đây chị ấy làm công tác gì?-Cô gái lại hỏi.

– Con tôi là Phạm Thị Mai. Nó làm giao liên hợp pháp-ông già từ tốn đáp-Hồi còn ở miền Bắc, tôi may mắn nhận được một lá thư của nó, do một người bạn cùng cơ quan nó cầm ra. Tôi xa nó từ lúc nó còn nhỏ nên không biết sau này nó như thế nào. Tôi có hỏi anh bạn thì anh ấy nói nó người cao cao, tóc đen và dài lắm. Bà con có ai biết nó không?

Mọi người lại xì xào bàn tán. Vừa lúc ấy, một cụ già râu tóc bạc phơ lách đám đông đến cầm tay ông:

– Tui có biết con gái ông. Ồ, con nhỏ được đó. Sao mà ông sinh được đứa con gái hiền lành, lễ phép, ăn nói dễ thương vậy? Nó làm giao liên hợp pháp nhưng để che mắt giặc, nó giả làm con buôn gánh hàng đi bán. Tui là cơ sở của nó. Đi lên đi xuống, nó đều gánh hàng ghé vô nhà tui, mời tui uống một chai xá xị rồi một “dạ thưa bác”, hai “dạ thưa bác”, hỏi tui tình hình đường sá…

Cụ dừng lại nhìn người khách đăm đăm rồi tiếp:

– Bữa đó…tội quá. Nó từ dưới cánh Đông gánh hàng lên ghé vô nhà tui-cụ đưa tay chỉ về một ngôi nhà tranh gần đấy-biếu tôi một chai nước cam, hỏi tình hình rồi đi. Chiều đó, tui đang cuốc vườn thì nghe có tiếng súng nổ. Tui chạy ra đường thì thấy tụi cảnh sát trói quặt hai tay nó ra sau dẫn đi. Người nó dính đầy máu, áo quần xơ xác. Tui đứng sững nhìn nó. Nó lặng lẽ nhìn tôi, ý biểu tui cứ an tâm. Một thằng cảnh sát già già vừa nện báng súng vô đầu nó vừa nói: “Tao nghi mày từ lâu rồi. Mày buôn bán cái chó gì. Làm Cộng sản thì có…”

Cụ già nhìn thấy người khách rút khăn tay lau nước mắt. Tự nhiên giọng cụ nghẹn lại, đôi mắt đỏ hoe:

– Giữa lúc tui đang ngơ ngác chưa biết tính sao thì một chiếc xe jeep chạy đến. Thằng cảnh sát già già thúc báng súng đẩy con nhỏ lên xe. Trời ơi, con nhỏ bình tĩnh hết sức. Nó bước lên xe đàng hoàng như nó là chủ của chiếc xe vậy. Xe chạy đi. Tui đứng nhìn theo, thương đứt ruột.

Sáng hôm sau, tui lần mò vô nhà tù hỏi thăm tin tức nó. Tụi cảnh sát hỏi tui là gì? Tui nói tui là cha nó. Chúng cười hí hố rồi vào trong phòng bên cạnh mang xác nó ra ném trước mặt tui. Chẳng phải con tui mà tui khóc rú lên. Tụi cảnh sát hét: “Thằng già im đi. Con gái mày bướng bỉnh không chịu khai nên bị đánh chết đó. Tội nó đáng đem bêu lên cọc chớ chẳng phải để yên như vầy đâu”. Tôi lạy lục xin miết, tụi nó mới cho mang xác con Mai về chôn. Tui nghĩ, tui chẳng biết nó là con nhà ai, nó làm cách mạng tức thị là con mình rồi. Tui chôn nó xong, lập luôn một cái bàn thờ. Năm nào tới ngày nó chết tui cũng cúng. Tui mong cha mẹ nó đến tìm. Nhưng đã nhiều năm mà không thấy ai hỏi.

“Đúng là con mình rồi. Theo thư nó viết ra thì mẹ nó chết lúc ở tù. Mình thì ở miền Bắc. Bà con thân thuộc chẳng còn ai. Vậy thì làm sao có người đến nhận nó…” Ông nghĩ, cả người run lên:

– Mộ cháu nằm ở đâu hở cụ?

Cụ già nhìn ông ngạc nhiên:

– Ủa, cách đây vài tháng chú nó đến xin đưa nó về quê rồi. Ông ấy bảo với tui là cha nó còn đang ở miền Bắc, nhờ ổng…

Có một cái gì đó thật đau đớn giật thót giữa tim ông. Mặt ông tái dần. Ông gượng hỏi, giọng tắc nghẹn:

– Cụ có biết cháu người ở đâu không hở cụ?

Cụ già lắc đầu:

– Tui cũng không nhớ nữa. Hình như có lần nó nói quê nó ở Đại Lộc, Đà Nẵng hay mô mô đó…

Mọi vật chung quanh ông bỗng trở nên nhập nhòa. Ông lảo đảo ngồi phịch xuống đất, thở nặng nhọc.

Cụ già nhìn ông, vẻ mặt đầy thông cảm. Cụ đăm chiêu nghĩ ngợi một lúc rồi đến ngồi bên ông, khẽ vỗ vai:

– Này ông. Tui nhớ là hồi trước tui có gặp một con Mai người Đà Nẵng. Nó cũng làm giao liên hợp pháp. Người nó cao cao xinh lắm. Nó hy sinh ở làng Cẩm Sa cách đây một đỗi đường. Hay ông xuống đó hỏi thăm thử. Biết đâu đó là con ông.

Một tia hy vọng lại loé lên trong ông. Mặc dù đã trưa, mọi người mời ông ở lại ăn cơm, ông vẫn vội vã leo lên một chiếc xe lam. Ông không thể ngờ rằng phía sau ông, mọi người vẫn tiếp tục bàn luận câu chuyện về cô giao liên và người cha tội nghiệp đi tìm con gái…

Trong khi đó, ông già đi tìm con gái đã đến làng Cẩm Sa. Một bầy con nít, như những đứa con nít ta thường gặp ở những làng quê, bỏ những trò chơi, tò mò kéo theo sau ông, rồi khi biết ông cần gì, chúng ồn ào, tranh nhau chỉ dẫn. Tiếng ồn ào của bầy trẻ vọng vào những ngõ xóm, khiến cho những người lớn tuổi dừng công việc kiễng chân nhìn qua bờ rào, thì thào hỏi nhau về người khách lạ. Từ trong một ngôi nhà ngói gần đấy, một người đàn ông đứng tuổi, có khuôn mặt khắc khổ bước ra, đi về phía ông.

– Chào anh-ông già lên tiếng-tôi muốn hỏi Uỷ ban xã.

Người đứng tuổi mỉm cười:

– Thưa bác, bác đến Uỷ ban à. Cháu là Chủ tịch xã đây.

Ông già cầm tay anh, thì thầm nói chuyện. Anh Chủ tịch xã tự nhiên ôm chầm lấy ông:

– Trời ơi, bác là cha của cô Mai-cười à. Bác đừng ngạc nhiên, ở đây ai cũng gọi cô ấy như vậy. Hễ làm nhiệm vụ thì thôi, chớ về nhà là cô ấy lại khúc khích cười. Nghe chuyện vui cô ấy cũng cười, ăn cơm với muối cô ấy cũng cười. Cười hoài. Hồi đó cháu ở cùng tổ giao liên hợp pháp với cô ấy. Chúng cháu đứng ở vùng bàn đạp này. Nhiệm vụ của tụi cháu là chạy công văn giấy tờ, đưa khách từ bộ phận Thành uỷ đóng ở vùng Đông lên hậu cứ và ngược lại. Từ đây lên hậu cứ, do bọn con trai tụi cháu đảm nhiệm, đi bất hợp pháp vào ban đêm. Từ đây xuống vùng Đông, qua một con lộ, do nhóm con gái của cô Mai đảm nhiệm. Các cô thường đi hợp pháp vào ban ngày vì ban đêm địch hay phục hơn. Nếu chỉ có đưa công văn thôi thì chẳng nói gì. Các cô chỉ cần ăn mặc thật mốt, son phấn vào, cười đờ mi với tụi lính là qua được. Khó nhất là phải dẫn khách đi…

Người Chủ tịch xã dừng lại nhìn ông khách, giọng trầm hẳn xuống:

– Lần ấy, Mai phải đưa hai đồng chí cán bộ vượt đường giữa ban trưa. Trước khi đi, cô lấy quần áo, nón của các bạn gái trang bị cho hai anh. Thấy hai anh lóng ngóng trong bộ quần áo đàn bà, cô cứ cười mãi. Cô bắt các anh tập đi yểu điệu, quơ tay quơ chân cho đến lúc giống như hai cô gái mới thôi.

Mai đi trước các anh một đoạn. Theo giao hẹn nếu đường thông thì cô cứ đi thẳng. Nếu gặp địch, cô sẽ giơ nón “chào”, cười nói với chúng. Khi hai anh vừa ra khỏi làng, chỉ còn một đoạn nữa là tới con lộ, thì thấy Mai giơ nón ra “hế lô” ở phía trước. Các anh lùi lại, chạy thục mạng vào xóm. Tụi cháu đứng trên cây đa cảnh giới thấy tình hình này biết là nguy rồi. Chưa biết gỡ cách sao thì nghe có tiếng súng nổ. Một lúc sau, vọng đến tiếng xe tăng rù máy. Chiều đó, một số cơ sở được phân đi nắm tình hình về báo cáo là Mai bị một thằng xấu trong làng khai báo nên chúng bắn cô, kéo lê xác sau xe tăng, làm cho thân thể cô nát nhừ.

Ông già rưng rưng nước mắt. Ông thương con gái quá:

– Anh có thể dẫn tôi đến chỗ em nó nằm được không?

Người cán bộ cầm tay ông, giọng nghẹn ngào:

– Dạ, cô Mai không còn mộ. Sau khi bọn địch cột xác cô vào xe tăng để huỷ hoại thân thể, bà con đã đấu tranh mang về chôn. Nhưng năm sau, tụi nó cày ủi vùng này nên ngôi mộ cũng mất luôn…

Vậy là không còn cách gì để tìm lại những kỷ niệm của con gái. Ngực ông như chạm phải một tảng đá to, thật sắc, khiến ông khẽ rên lên. Ông run run hỏi anh chủ tịch xã:

– Anh có biết…có biết em nó họ gì không?

Anh Chủ tịch xã nhíu mày hồi lâu rồi mới đáp:

– Dạ không. Ở đây không ai biết họ của cô ấy cả. Hình như họ Nguyễn. Cũng có thể họ Phạm. Không, không, hình như…

Ông lặng người. Khuôn mặt tái mét. Môi run run mấp máy một điều gì đó…

Ông trở về căn phòng vắng vẻ, cảm thấy mệt mỏi vô cùng.

Suốt mấy tháng qua, sau khi được quyết định nghỉ hưu, ông đã từ Hà Nội về Đà Nẵng, vừa chạy vạy để lo một căn phòng để ở, vừa lo đi tìm mộ con gái. Công việc giao liên hợp pháp mà con gái ông đã làm trước lúc hy sinh, có rất nhiều cơ quan đảm trách: Giao bưu, Thành ủy, Quân đội, Công an…Ông đã đi hết cơ quan này đến cơ quan nọ, tìm đọc những bản danh sách liệt sĩ dài dằng dặc mới thấy con gái ông hy sinh ở làng Thanh Quýt. Vậy mà…Rồi đến việc ở Cẩm Sa nữa…khiến ông hết sức băn khoăn. Có thể một trong hai người chính là con gái ông. Cũng có thể cả hai đều không phải. Ông còn phải đi tìm nữa. Mọi chuyện đối với ông, có cái gì thật lạ lùng, tạo cho ông cảm giác nghi nghi hoặc hoặc, không làm sao hiểu nổi. Ông cảm thấy cái hy vọng tìm kiếm hài cốt của con mình thật mỏng manh. Bây giờ, trong tuổi già, ông chẳng biết lấy gì để tự an ủi nữa. Trong những năm mới xa quê, cái an ủi đầu tiên là sẽ có ngày thống nhất, ông trở về gặp lại vợ con. Khi được thư con gái báo tin vợ mất, ông thương vợ nhưng tự an ủi mình còn có một đứa con, dòng máu chung của cả hai người. Mình còn hạnh phúc hơn những người khác đã mất hết những người thân. Khi nghe tin con hy sinh ông đau đớn buồn rầu cho tuổi già mình chỉ còn một thân một bóng. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, ông tự an ủi là mình có thể về quê tìm được hài cốt của con, trong khi đó, biết bao người bằn bặt tin tức về con họ. Nhưng bây giờ chỉ còn nỗi cô độc của tuổi già, cái tuổi già ngày một ngày hai đưa ông dần về cõi chết. Ông bắt đầu cảm thấy khó ngủ. Nhiều đêm, ông lặng lẽ ngồi cho đến sáng, pha hết ấm trà đặc này đến ấm trà đặc khác, đầu mẩu thuốc lá tràn ra khỏi đĩa gạt tàn. Đấy cũng là một tật mới phát sinh. Trước đây, ông không bao giờ tốn tiền trà thuốc. Nếu trước đây ai đó từng biết ông vốn là người cao to, khuôn mặt quắc thước, tuy đã về hưu nhưng còn rất minh mẫn thì giờ đây họ sẽ lạ lùng khi gặp một ông già gầy xọp, đôi mắt quầng thâm, lúc nào đi đường cũng lẩm bẩm một câu: “có thể…không có thể…có thể”. Có những ngày ông lần mò đến các cơ quan mà ông đã tra tìm tên con gái, đọc đi đọc lại đến thuộc lòng những bản danh sách liệt sĩ. Cũng có lúc, người ta thấy ông chỉ lần tới cổng, lẩm bẩm đọc tấm biển tên cơ quan, bỏ đi, một lúc sau lại đến. Hầu như, những người gác các nghĩa trang đều quen mặt ông già tóc bạc trắng có dáng đi xiêu xiêu, thỉnh thoảng lại đến nghĩa trang khom mình đưa mắt đọc từng tấm bia, sau đó vừa bước ra vừa lẩm bẩm “có thể…không có thể…có thể”.

Một đêm, ông thấy đầu mình nhức như búa bổ, sống lưng như vừa bị ai dần, chân tay rã rời không nhúc nhắc được. Ông ngã ốm, cái ốm vốn có ở tuổi già, kèm theo nỗi buồn đau thất vọng. Ba ngày liền, ông nằm liệt, không dậy được. Có một lần, vào buổi trưa, ông thiếp đi trong cơn mê mê tỉnh tỉnh. Khi tỉnh dậy, ông thấy có một cô gái ngồi bên mép giường:

– Mạch bác đã đỡ. Bác suy nhược bởi vì lo nghĩ nhiều, lại bị cảm nữa. Cháu định đưa bác đi viện. Nhưng thôi…cháu sẽ mang thuốc đến. Bây giờ bác ăn tí cháo nghe.

Cô gái có gì giông giống như con gái ông. Ông định thần một lúc và nhớ ra, đó là cô bác sĩ ở nhà bên.

– Cháu biết bác tìm con nhưng chưa ra nên bác buồn. Cháu rất thông cảm với bác. Chuyện tìm kiếm hài cốt đâu có dễ. Cháu về trong này sớm, cháu biết các chị làm trong ngành giao liên hợp pháp luôn đổi họ, đổi tên. Có khi lại khai trệch cả năm sinh, tháng đẻ, cả quê quán nữa. Cốt để che mắt địch thôi. Nhưng bác đừng buồn, lo mà dưỡng sức cho hết bịnh. Cháu có quen một bác ở bưu điện, xưa phụ trách giao liên hợp pháp. Cháu sẽ nhờ bác ấy tìm hộ cho…

Một buổi sáng, ông thấy trong người đã khỏe ra. Nhưng vừa định trở dậy, chẳng hiểu vì lý do bí ẩn nào, một cơn buồn ngủ đến nhức cả mắt kéo ông nằm xuống. Ngay lập tức, một cơn mơ kỳ lạ đến với ông. Ông thấy hiện ra một rừng dương trên bãi biển quen thuộc, từ lâu rồi, ông không hề trở lại. Ông dắt tay con gái ông, lúc ấy chừng năm tuổi đi dạo mát. Tự nhiên, cô bé rụt khỏi tay ông, biến mất. Ông kêu lên, chạy ngược, chạy xuôi để tìm. Đâu đó quanh ông có tiếng cười rúc rích. Nhưng ông đến nơi, tiếng cười lại bặt đi. Một lúc sau, ông nghe tiếng nói của con ông:

– Con đây nè, con núp sau cây dương đây nè, ba không thấy sao?

Ông chạy đến bên cây dương đó, nhưng không thấy con ông, mà nghe tiếng cô bé réo ở cây dương bên cạnh:

– Con đây nè, ba dở lắm nè.

Cuộc đuổi tìm làm ông phát mệt. Ông toát mồ hôi, tỉnh giấc mơ. Vừa lúc ấy, ông nghe có tiếng gõ cửa. Tưởng cô bác sĩ nhà bên cạnh gọi, nhưng khi ông lần ra mở cửa thì thấy một ông già trạc tuổi ông mỉm cười:

– Chào anh. Tôi bận đi làm nên ghé lại một chút báo anh tin vui: Tôi đã tìm ra mộ con anh rồi.

Ông sửng sốt nhìn người lạ mặt:

– Ơ…ơ anh ở đâu? Sao anh biết tôi đi tìm mộ con gái?

Ông khách mỉm cười:

– Tôi là một người cha, anh cũng là một người cha. Anh có con hy sinh, tôi cũng có con hy sinh, sao tôi lại không biết.

– Mộ cháu ở đâu anh?

– Ở nghĩa trang Rừng Dương.

Người khách đi rồi, ông còn đứng sững bàng hoàng. Con người bí mật này có phải người mà cô bác sĩ nói là đang ở bưu điện? Hay cái ông mà khi ông đến các cơ quan để tìm con, lúc nào cũng thấy ông ta ở bên cạnh, vội vã cầm lấy những bản danh sách liệt sĩ mà ông vừa xem. Ông không biết nữa. Ông cảm thấy cái việc tìm ra mộ con gái ông của người này có điều gì thật bí ẩn, nó giông giống như trong giấc mơ vừa rồi. Có phải con gái ông đã báo mộng là cô đang ở dưới một rừng dương? Vốn từ xưa không hề mê tín, nhưng hôm nay, tự nhiên ông thấy trong người ông rạo rực, tai ông nóng bừng và chung quanh nhà ông lâu nay im ắng bỗng có một bầy chim lạ bay về chao hót…

Hôm sau, ông tìm đến nghĩa trang Rừng Dương. Dọc đường ông ghé vào một cái quán nhỏ mua một bó nhang.

Nghĩa trang nằm sát bờ biển, dưới một rừng dương xanh ngát, cảnh vật từa tựa như trong giấc mơ. Người gác nghĩa trang chừng năm mươi tuổi, cánh tay trái bị cụt đến tận khuỷu đưa ông đi qua những hàng mộ rồi chỉ vào một gốc dương:

– Mộ cô ấy nằm sát gốc dương kia kìa.

Ông bỗng cảm thấy tim mình như ngừng đập. Có lẽ cái điều giấc mơ báo trước đang đến với ông. Ông vội vã đến bên mộ, quỳ xuống, giương kính lên, cúi sát tấm bia. Bất ngờ, ông sửng sốt, làm rơi chiếc kính xuống cát: Cô gái có tên trong bia nhỏ hơn con ông tới năm tuổi. Ông lặng đi một lúc. Nhưng rồi như vừa nhớ ra điều gì, ông đăm đăm nhìn vào tấm bia để tìm quê quán của người đã khuất. Kỳ lạ thay, trong bia này không hề ghi quê quán…

Đấy có phải là con gái ông hay lại không phải? “Có thể là…có thể không phải là…”. Một trạng thái dao động cùng cực dần dần biến thành nỗi tuyệt vọng đè nặng lên trái tim ông. Ông cảm thấy đôi chân mình đang ngập dần, ngập dần vào lòng cát, không thể nào cất người đứng dậy được nữa. Ông ngã phịch xuống, bất tỉnh…

Người gác nghĩa trang đang đứng bên cạnh, sửng sốt nhìn ông rồi lật đật chạy đến đưa cánh tay còn lại nâng ông dậy. Một lúc sau, ông tỉnh lại, ngơ ngác nhìn quanh. Khi đã hiểu việc gì vừa xảy ra, ông gục đầu lên vai người gác nghĩa trang nấc khan một hồi lâu. Người gác nghĩa trang im lặng, đưa bàn tay lành vuốt lưng ông, dỗ ông như dỗ một đứa trẻ rồi nói nhỏ nhẹ:

– Bây giờ tui đưa bác vào phòng tui nghỉ nghe.

Ông lập cập đứng dậy, vịn vai người gác nghĩa trang định bước đi. Ngay lúc ấy, có một cái gì đó như một luồng sáng lướt nhanh qua đầu ông. Ông cất giọng khàn khàn:

– Anh có mang theo bật lửa không?

– Dạ có-Người gác nghĩa trang sốt sắng đưa bật lửa cho ông, vui mừng vì thấy ông đã tỉnh-có cả thuốc đây, bác hút cho tỉnh táo.

Ông già không trả lời. Ông run run xé bó nhang, rút ra ba cây, châm lửa, cúi xuống cắm lên mộ cô gái. Khi đứng dậy, ông bỗng thấy trên một tấm bia cách đó mấy bước có ghi: “Liệt sĩ Trần Thị Mai”. Ông lại bước đến thắp ba cây nhang nữa. Chợt nhớ tới lời cô bác sĩ nhà bên nói với ông hôm nọ, ông vội vàng đốt cả bó nhang, lần lượt cắm lên những ngôi mộ quanh đấy…

 

        1985

DÌ ÚT

 

Tôi vẫn thường tự trách mình, chẳng rõ bận bịu thế nào mà cứ lần lữa, mãi nửa năm sau ngày miền Nam giải phóng mới tìm về thăm dì Út.

Có lẽ sau mẹ tôi, dì Út là người tôi yêu quý nhất. Hồi còn nhỏ, mỗi lần về quê ngoại, khi trước mắt tôi hiện ra một bờ rào bông bụt đỏ và thấp thoáng mái nhà tranh ấm áp, tôi đã chạy bổ nhào tới gọi mãi dì Út. Một người con gái dong dỏng cao, tóc dài đen mượt, da trắng hồng đã đứng chờ tôi ở đầu ngõ, miệng mỉm cười, đưa tay ngoắt ngoắt. Dì Út tôi đó. Tôi ngã vào lòng dì để được dì vuốt ve âu yếm, rồi theo dì ra vườn hái mãng cầu, hái ổi. Dì dắt tôi đi chơi mọi nơi. Mắt tôi gườm gườm tức giận khi thấy một anh con trai nào đó gật đầu chào dì, mỉm cười với dì. Thế mà một lần về ngoại, tôi không thấy dì đâu cả. Tôi dáo dác chạy bổ đi tìm. Các dì, các cậu tôi bảo dì bị “bắt cóc” rồi. Tôi ngã lăn ra đất, khóc oà lên. Mọi người dỗ tôi, bảo dì không sao đâu, chỉ đi chơi với dượng một lúc là về thôi. Dượng là ai á? Tôi hỏi, mọi người chỉ cười. Tôi lại gào lên, bắt mọi người kêu dì Út về, không cho đi với dượng nào cả. Ngày hôm sau thì tôi gặp ông dượng đó. Ông là một người cao lớn, khuôn mặt tròn đầy đặn và có đôi lông mày rậm. Ông đến nhà, dáng bẽn lẽn, dạ dạ thưa thưa, xưng em với các dì các cậu tôi rồi ngồi lại bên bàn đặt ở giữa nhà, uống nước nói chuyện với dì Út. Tôi ngồi trong lòng dì, ông mỉm cười với tôi, nhưng tôi quằm quặm nhìn ông.

Sau này tôi được biết, ông gặp dì tôi trong một chuyến qua sông…Lúc ấy, trời đã sắp tối. Dì tôi đang vội vã chống đò, chở lúa từ bên kia sông về nhà. Ông xin dì tôi cho đi nhờ để kịp giờ họp. Ông là cán bộ Thanh niên huyện. Dì tôi đâm ra lưỡng lự. Con đò nhỏ, ông qua thì phải bỏ lúa lại. Mà không cho ông qua thì ông không kịp dự họp. Dì bỏ bớt lúa lại. Ông ngồi trên đò, mắt không ngơi nhìn theo cánh tay mềm dẻo của dì tôi gạt nước, kể những câu chuyện vui, làm cho dì tôi luôn luôn mỉm cười, thỉnh thoảng lại đưa mắt liếc ông. Thế rồi, tự nhiên ông hỏi nhà dì ở đâu, cha mẹ anh em ra sao. Khi lên bờ chẳng rõ vô tình hay cố ý ông bỏ quên chiếc mũ nan lại trên đò. Ngày hôm sau, ông tìm đến xin lại, nói chuyện với dì tôi rất lâu. Rồi như có bàn tay sắp xếp của số phận, một tháng sau, dì tôi được Đoàn Thanh niên xã cử đi tham gia đắp đập Đồng Cam. Ông dượng tôi bấy giờ làm chỉ huy công trường. Chẳng rõ thế nào mà sau lần ấy hai người lại thường đến thăm nhau. Chả là cơ quan của ông đóng ở bên kia sông. Thế rồi, cuối năm ấy, dì tôi lấy chồng. Tôi nhớ, hôm ấy dì tôi mặc rất đẹp, áo trắng, quần đen, má luôn ửng đỏ. Tôi cứ đi theo dì để nhìn dì. Khi chiếc xe ngựa đậu ở cổng chở dì về nhà chồng, tôi đã chạy theo gào lên thảm thiết.

Từ đó, tôi không gặp dì nữa. Tôi ra Bắc học hành và công tác.

Lần này, sau bao nhiêu năm xa, tôi muốn gặp lại dì tôi. Tôi nghe má tôi nói dì đã già, lại hay đau yếu lắm. Hồi đánh Pháp, dì làm cán bộ xã, sau này, chồng đi tập kết nên bọn Mỹ ngụy bắt đi tù, đánh đập tra khảo luôn. Có lần hàng tháng trời, dì phải nằm liệt giường, không ra được tới sân. Đau hơn cả là đứa con gái duy nhất của dì, giọt máu của người chồng thân yêu để lại, đã chết vì bệnh trong lúc dì đang ở tù. Dì vẫn nuôi mẹ chồng, chờ chồng. Mẹ chồng dì mới mất năm ngoái, giờ dì phải sống một mình. Má tôi vừa kể vừa khóc. Chị em thương nhau, nhưng trước đây không dám đến thăm nhau. Đến làm gì, hai bà đều có chồng đi tập kết, mỗi lần chị em gặp nhau, bọn mật vụ lại tra tra khảo khảo có khi bắt bớ nữa chỉ khổ thêm. Giờ đây, đất nước yên hàn rồi, tự do rồi, mình lại già cả, đi lại vất vả, đi một ngày không bõ, đi vài ngày thì nhà cửa ai trông, ai nấu cơm cho con Út đi học, ai bế cháu cho thằng Cả đi làm. Thành ra, chị em ruột mà như người dưng nước lã. Má tự trách mình như vậy. Nên lần này, tôi vừa về tới nhà hôm trước, hôm sau má hối tôi đi thăm dì ngay, thăm hộ cho phần má luôn. Trước khi đi, má cứ tỉ tê hoài, hít hà hoài, dặn tôi đừng có kể lại cái chuyện “quá trời” của dượng tôi, mà tôi đã kể cho má nghe. Dì nghe dì sẽ đau khổ lắm. Tội nghiệp. Ở trong này, dì tôi thấy giải phóng rồi mong dượng về lắm. Dì khắc khoải, lo âu chạy chỗ này chỗ nọ hỏi tin. Vậy mà cái người chồng dì yêu thương một đời, hy vọng một đời, chờ đợi một đời vẫn biệt vô âm tín. Má dặn tôi:

– Con nói với dì là ba con còn bận công tác chưa về thăm dì được. Ba có nhắn dì là dượng con rất tốt, ra Bắc anh em đến thăm nhau luôn. Khi nào đến, dượng cũng nhắc tới dì, nhớ dì lắm. Nhưng, dượng bị đau, dượng mất rồi – Má nhìn tôi nói tiếp – Con cứ nói như vậy. Dượng mày chẳng dám về đâu. Đừng kể tỉ mỉ quá con Út nó buồn.

Tôi biết má tôi, gia đình ngoại tôi ai cũng thương dì Út. Hồi xưa cũng vậy mà bây giờ cũng vậy. Giàu con Út, khó con Út. Tưởng mong em lấy chồng khá giả, chẳng ngờ vớ trúng anh nghèo rớt mồng tơi, đi biền biệt, phải chờ phải đợi. Tới ngày sum họp lại chịu cảnh cô đơn. Thương lắm chứ. Ai lại làm cho em đau khổ thêm. Tôi biết vậy, nhưng vẫn hỏi má:

– Má ơi, nhưng lỡ dì con đã nghe ai kể chuyện ấy rồi thì làm sao hở má?

Má tôi thoáng hoảng hốt, nhưng một lúc sau lại điềm tĩnh lại:

– Làm gì biết được, mày không kể, tao không biết huống chi là nó. Trong nhà mình mới để ý nhau chớ người dưng nước lã ai quan tâm chi.

Tôi lên xe lam đi đến nhà dì vào buổi sáng. Nhà dì ở Bàn Thạch, cách nhà tôi khoảng sáu mươi cây số. Trên chiếc xe chật cứng người bán rau, bán cá, bán gạo, tôi co người lại, ngồi suy nghĩ. Tôi hình dung ra khi tôi đến, chắc dì thế nào cũng thăm hỏi, cũng truy tôi vì sao giải phóng đã lâu mà dượng tôi không về. Tôi vốn ít kín miệng. Rồi thế nào cũng lộ tuốt luốt ra, rồi lại làm dì tôi khổ. Từ bao năm nay, tôi đã căm tức ông dượng, liệu tôi có làm đúng như lời má dặn không?

Tôi nhớ hồi Tết năm 1956, tại Hà Nội, ba tôi dẫn tôi đến câu lạc bộ Thống Nhất. Đó là nơi anh chị em miền Nam gặp gỡ vui vẻ, tâm sự với nhau, động viên nhau, để đỡ nhớ nhà nhớ quê kiểng. Ở đây, mọi người được xem phim, xem kịch, đánh bài chòi hoặc chơi cờ tướng. Câu lạc bộ ở bên cạnh hồ Hoàn Kiếm mà một thời chúng tôi gọi là hồ Tìm Kiếm. Tìm kiếm bạn bè, anh em đồng hương đồng khói. Chúng tôi thường kéo ra bờ hồ ngồi chơi. Vào sáng mồng hai tết năm ấy, cha con tôi cũng ra bờ hồ, ngồi trên một chiếc ghế đá. Nước hồ rất xanh. Đỉnh tháp rùa có gắn ngôi sao được nối nhau bằng những hàng bóng điện, ban ngày vẫn được thắp sáng màu xanh màu đỏ. Quanh bờ hồ người đi lại rất đông, nhất là con gái. Các cô khoác tay nhau đi từng tốp, ăn vận đủ màu, cười nói vui vẻ. Cha con tôi đưa mắt nhìn theo. Tôi thấy nét mặt ba tôi thoáng buồn. Ngày ấy, ông chưa đầy bốn mươi tuổi.

Chính lúc ấy, tôi thấy một người đàn ông cao lớn, vận vét tông xám lách giữa những tốp con gái, vui vẻ bươn về phía cha con tôi. Ba tôi reo lên:

– Ủa, dượng Út. Nghe nói trên phân dượng ở lại miền Nam mà, làm sao dượng lại có mặt ở đây?

Dượng Út ngồi xuống bên tôi, vỗ vỗ má tôi nói chậm rãi:

– Anh ạ, lúc dầu ở trên phân như vậy. Nhưng khi các anh ra miền Bắc rồi, ở Phú Yên mình, tụi nó đánh phá cơ sở ghê quá. Tụi em hết luồn xã này lại lách sang xã khác để tránh những đợt tố cộng. Nhưng rồi chạy rã cả chân, cũng không thoát khỏi cái vòng vây của địch, em đành quay về xã, trú ở mấy hang núi đá. Nhà em lo lắng lắm. Chả là Út sợ em bị bắt mà. Út cứ muốn em tạt ra Quy Nhơn, lúc này vẫn còn cơ quan tập kết, xin đi, có lâu la gì đâu, cũng chỉ hai năm là lại gặp nhau thôi mà. Em ra đó, nói thiệt với anh, các tay ở cơ quan tập kết tỉnh vặn vẹo đủ trò, bảo sao không ở lại, thế là không làm tròn nhiệm vụ. Em cũng có cách của em, đã quyết đi là phải đi, quay về chỉ tổ làm mồi cho cọp. Anh nghĩ coi, em cần gì mấy chỉ vàng…

Dượng tôi dừng lại, nuốt nước bọt rồi tiếp:

– Em đi lọt cũng là nhờ Út đấy. Út chạy lên xã xin tụi nó cái giấy đi bán vải ở Cù Mông. Về nhà dựa vào cái con dấu thật kia, em lấy đế cao su khắc con dấu giả đóng vào cái giấy giả của mình. Út mua một gánh vải, bắt em gánh như kẻ làm thuê. Em lủi thủi, nón đội sụp xuống mặt, ăn mặc rách rưới, áo hở vai hở nách đi trước. Út đi sau ăn mặc sang trọng. Áo hoa, quần săng đầm láng o. Gặp bót nào Út cũng mỉm cười, đem thuốc Cô-tap mời bọn lính. Chúng em đi ngày, đêm lẻn đến một nhà hẻo lánh xin nghỉ. Tới ngày thứ ba thì tới chân đèo Cù Mông. Út bán hết vải, đưa tất cả tiền và một lạng vàng cho em dùng ăn đường và hộ thân. Bên kia đèo là vùng tập kết của ta. Trước khi lách vô rừng để vượt đèo, em đứng nhìn theo Út quay lại, vừa đi vừa khóc. Em không sao cầm lòng được, cũng khóc theo.

Dượng tôi rút khăn lau nước mắt. Ông nhớ dì tôi quá. Tôi lặng lẽ cầm tay dượng, dúi một miếng mứt gừng. Đó là tôi tỏ tình thương của tôi, một cậu bé mười một tuổi với dượng. Chúng tôi cùng nhìn ra mặt hồ, buồn nhớ người thân.

– Anh à – dượng lại tiếp – Út khá lắm. Từ một cô gái xinh đẹp, cả nhà  chiều cưng, Út về nhà em chịu cực chịu khổ, nuôi mẹ già đau yếu để em đi công tác, mà vẫn tham gia phụ nữ xã. Bọn Diệm đến, em cứ trốn chui trốn nhủi, nó bắt Út lên đánh đập hoài, tra vặn hoài. Có lần gặp em, Út giơ cho xem cái lưng còn hằn những vết đòn bầm tím.  Đêm đêm, Út còn mang cơm nước, tin tức ra hang cho em. Bây giờ em đi, Út lại thui thủi một mình nuôi mẹ, nuôi con. Út khổ quá, em biết lấy gì đền ơn. Anh nghĩ coi, ở đây em vui cái nỗi gì khi vợ con xa lắc? Em làm sao mà xứng đáng với một người vợ như Út anh ơi?

Dượng tôi khóc thành tiếng, dượng thương dì tôi thật sự. Tôi yêu dì nên rất thương dượng.

Thế nhưng mọi sự đều biến đổi theo ngày tháng. Tôi càng lớn, càng hiểu ra điều ấy. Những lần đến thăm cha con tôi của người dượng yêu quý ngày một thưa dần. Những lá thư thăm hỏi nhau cũng ngày một dần thưa.

Vào mùa hè năm 1957, tôi từ trường Học sinh miền Nam về thăm ba tôi. Một buổi trưa, khi cha con tôi đã lên giường sắp ngủ thì có một bác già làm thường trực ở cơ quan đến đưa cho ba tôi một lá thư. Ba tôi reo lên: Thư dượng Út. Ông nhanh nhảu xé phong bì đọc. Ông cảm động lắm. Tay cứ run run. Đọc một lúc, tự nhiên trán ông nhăn lại, mắt long lên dữ tợn. Ông nói to:

– Thằng hư đốn.

– Chuyện gì vậy ba? Tôi nhỏm dậy hỏi.

Ba tôi vừa đọc vừa nghiến răng:

– Con nghe đây. Nó viết vầy thì có lạ không: Anh ạ, em vừa nghe tin có người nói Út đã ly khai em, lấy một thằng ác ôn, rồi cùng làm việc với nó. Em thấy em vẫn thương Út. Dầu sao cũng tình nghĩa vợ chồng. Út còn trẻ, nếu tụi nó o ép quá, hoặc quên em rồi thì có thể bỏ em, đi lấy một người lương thiện. Tại sao lại lấy một thằng ác ôn. Em nghĩ, chắc do hoàn cảnh. Út thay đổi rồi, lập trường giai cấp mơ hồ quá rồi. Thương thì thương, yêu thì yêu giờ em biết làm sao đây…

Ba tôi bỏ thư xuống, rồi cầm lên, xem lướt qua rồi lại đọc to một đoạn mà ông cho là quan trọng:

– Hiện nay, ở cơ quan, em làm việc với một đồng chí lãnh đạo rất có uy tín. Ông rất tín nhiệm em, tin ở năng lực của em và giúp đỡ em. Em thường đến chỗ ông chơi. Ông có một cô con gái. Cô rất quý em. Cô không đẹp như Út, tuổi cũng quá ba mươi rồi. Nhưng cô có bằng kỹ sư và là một đảng viên tích cực…

Ba tôi dằn mạnh lá thư xuống. Trán ông lấm tấm mồ hôi nhăn lại hết sức căng thẳng:

– Em rất thương Út, nhưng Út đã vậy nên làm em suy nghĩ lắm. Nếu Út có chồng em cũng có thể có vợ. Em còn trẻ, đời con dài, anh đồng ý chớ, anh ủng hộ em chớ. Em viết thư này coi như báo cho anh, xin ý kiến anh, sau này có gì anh nói lại cho em một tiếng. Nhưng em nhắm tổ chức chưa chắc chịu vậy đâu. Họ cổ hủ lắm. Nhìn trong lý lịch em ghi có vợ là họ không gật rồi. Em có báo cái tin ấy nhưng họ đòi phải có người chứng. Vậy anh là anh em cột chèo, anh…

Nghe tới đó, tôi vùng dậy thét:

– Đừng chứng nhận ba à. Dì Út không có vậy đâu.

Ba tôi im lặng một lúc rồi nói:

– Nó muốn lấy vợ thì lấy, nó còn trẻ, có thể thông cảm được. Nhưng cái tin về dì Út mày chưa chắc đã đích xác, khéo lại nghĩ oan cho nó là không được. Bản thân ba…

– Ba đừng lấy vợ, ba đừng bỏ má con, ba.

Tôi lại thét lên và nằm vật xuống giường khóc rưng rức. Tôi thấy ba tôi cũng nằm xuống bên tôi và khóc như tôi. Tôi choàng tay ôm lưng ba tôi, khi tôi mơ ngủ, tay lơi ra, tôi thấy ba tôi cầm tay tôi đặt lên lưng mình như cũ.

Sau này, tôi nghe có người kể, khi ba tôi không chịu chứng nhận theo ý dượng, dượng tôi đã nhờ một người viết giả một lá thư mang tên người Bí thư xã ông ở miền Nam gửi ra (trớ trêu thay, sau này, tôi biết người Bí thư mà dượng tôi lấy tên để làm chứng ấy, đã chết trước cả ngày tháng ông đề trên thư) báo chính thức tin vợ ông như ông đã viết cho ba tôi. Ông đã lừa được tổ chức để lấy vợ. Nhờ nhà vợ, ông đang được lên chức và sống thong thả hơn.

Thế thì, giờ đây tôi phải làm sao, nói với dì Út thế nào cho phải lẽ, cho đúng tư cách của tôi?

Tôi đến làng dì Út vào lúc nửa buổi. Vì lạ nước lạ cái nên tôi cứ loanh quanh đi hỏi. Chẳng ai biết dì tôi cả. Tôi sợ má tôi già, lẫn rồi, nói nhầm làng nhầm xóm mất. Cuối cùng gặp một bà già, tôi mới tỉ tê lai lịch của dì tôi. Nghe xong, bà cụ cứ à à, miệng móm mém, toét cười. Bà cũng vui mừng cho tôi. Thì ra dì Út chẳng là ai xa lạ. Đó là bà Tư Hoàng, tên dượng tôi, cả làng ai cũng biết. Có cái gì thật nực cười, thật mỉa mai. Cái tên của một người mà cả nhà tôi coi như chết rồi sao lại còn sống ở nơi dì tôi? Cái tên đó suốt 20 năm đã đặt cho dì tôi niềm hy vọng. Cái tên suốt 20 năm nâng cho dì tôi vượt qua bao đau khổ, bất chấp kẻ thù, làm tròn nhiệm vụ một người vợ, một người con, một người mẹ, một người yêu nước. Cái tên ấy giờ đây như một mũi dao thọc vào tim dì. Dì đã mang theo giữa tâm hồn trong sáng của mình một cái bướu mà không sao gỡ ra được. Chính cái người có cái tên thật ấy, dượng tôi, đã gây ra mọi chuyện này. Tại ông ta cả.

Theo sau một chú bé chừng mười tuổi, ríu rít nhảy chân sáo, tôi đến ngõ nhà dì. Ngôi nhà nhỏ lợp tranh vá víu thêm những tấm giấy dầu. Bên phải và bên trái trồng đu đủ, mãng cầu. Sau nhà là một vườn chuối.

Tôi đứng ngơ ngẩn trước sân. Tim đập thình thịch. Hồi hộp quá. Tôi như thấy dì Út đang bước ra, trẻ trung, nhí nhảnh như ngày tôi còn nhỏ, vẫy tôi bước vào. Nhưng ngay lúc ấy tôi nghe có tiếng khóc trong nhà. Tiếng khóc nỉ non rầu rĩ của người già. Có chuyện gì vậy? Tôi đứng lặng, chẳng hiểu phải lên tiếng hay nên lùi ra một lúc. Vừa lúc ấy một ông già bước ra. Ông có dáng gầy gầy, tóc bạc xoá, gương mặt quen quen. Dì ở một mình sao lại có ông già này? Hay là khách đến chơi? Tôi thấy ông già đứng bên thềm, mặt đỏ bừng, có vẻ giận dữ. Một lúc, chợt nhận ra sự có mặt của tôi, ông hỏi gay gắt:

– Chú tìm ai?

Tôi lúng túng, giọng run run:

– Dạ con tìm dì Út con.

Ông già nhìn tôi trừng trừng. Thốt nhiên, mắt ông hấp háy, khuôn mặt đang giận dữ bỗng rạng rỡ hẳn ra:

– Thanh phải không con?

– Dạ!

Ông già cuống quýt, chạy đến chụp vai tôi:

– Trời, thằng cháu Thanh. Tao là cậu mày đây, cậu Hai của mày đây. Trời, không ngờ, sao mày không ghé thăm cậu?

Tôi ấp úng:

– Dạ, con mới về, định sang dì xong sẽ qua thăm cậu.

Cậu Hai quay vào nhà, giọng run run:

– Út, Út ơi, đừng khóc nữa. Cháu Thanh nó về đây này.

Dì Út tôi hiện ra, kéo khăn xéo trùm đầu xuống lau nước mắt rồi chạy bổ nhào đến gục vào ngực tôi khóc nức nở. Tôi đứng im một lúc cho dì nguôi rồi dìu dì vào nhà.

Tôi không nhớ mình có khóc không, nhưng nước mắt tràn đẫm mắt tôi. Tôi thấy dì tôi gầy gò, má hóp lại, trán nhăn nheo. Mái tóc dài mướt ngày xưa, giờ đã điểm bạc, ngắn cũn. Nhìn dì, con người vui tươi một thời đang ngồi sụt sịt, tôi thương quá. Ai mà chẳng có một thời già yếu. Huống chi tới tuổi già mà phải sống cô đơn buồn tủi như dì. Dì khóc vì gặp lại tôi sau bao nhiêu năm trời cách biệt, hay vì thấy tôi dì lại nhớ tới dượng, nhớ lại cả cái thời dì dượng mới thương nhau? Có lẽ vì cả hai lẽ. Tôi cầm tay dì lặng lẽ lắc lắc, mong dì đừng khóc nữa. Nhưng dì lại khóc to hơn làm cho tôi thêm lúng túng.

– Đi lấy chuối cho cháu nó ăn rồi nấu cơm, khóc làm gì, Út! – Cậu tôi nói, mà mắt cũng đỏ hoe.

Dì tôi lau nước mắt, bước đi như một cái bóng về phía buồng. Một lúc sau, mang ra một nải chuối tiêu vàng óng, trái múp míp. Tôi thấy bàn tay dì run run khi bẻ từng trái chuối đưa cho tôi. Tôi cầm là cầm vậy thôi. Cổ nghẹn lại làm sao ăn được. Đôi tay của dì xinh xắn, mạnh mẽ một thời đâu mất, giờ là đôi tay sần sùi, thô ráp, đôi tay làm lụng một đời. Với một đôi tay như thế này, người ta làm sao có thể vô ơn bạc nghĩa, có thể nhẫn tâm được. Tôi bỗng thấy khinh ghét vô cùng người dượng. Tôi muốn nói lên sự thật, nói tất cả. Nói để vạch mặt ông ta, để dì tôi thấy đó là một kẻ đáng tởm, đừng chờ đợi làm gì nữa, hãy cho ông ta chết luôn đi.

Trưa hôm ấy, sau khi ăn cơm xong, ba chúng tôi ngồi bên bàn uống nước. Không khí trong nhà tự nhiên vui vẻ hơn. Cậu tôi, dì tôi thay nhau hỏi về cảnh sắc, về đời sống ở miền Bắc. Ở miền Bắc nông dân làm ăn tập thể ra sao? Xây dựng thêm bao nhiêu nhà máy? Trong chiến tranh phá hoại chúng làm hại ta có nhiều không? Ta sửa lại chưa? Sao lại gọi là hồ Hoàn Kiếm? Nghe nói mấy năm mới ra Bắc anh em miền Nam hay gọi là hồ Tìm Kiếm, tại sao vậy? Nghĩa chi? Dì cậu tôi mong được ra thăm Hà Nội, thăm Cụ Hồ, một lần, một lần thôi rồi nhắm mắt cũng được. Câu chuyện đang trở nên vui vẻ, ấm áp, đột nhiên cậu tôi đặt cốc nước đánh cạch xuống bàn, mắt nhìn tôi chằm chằm:

– Bây giờ, Thanh à, cháu ở ngoài Bắc về, cháu hãy nói cho dì, cho cậu nghe chuyện dượng cháu nó ra làm sao. Cháu cứ nói đi, nói thật đi, đừng có giấu gì hết.

Tôi đưa mắt liếc dì tôi. Tôi thấy trên khuôn mặt nhăn nheo, xanh bủng của dì bỗng nổi lên những vệt ửng đỏ. Dì đưa một góc khăn xéo lên miệng, cắn chặt lấy. Tôi đâm lúng túng. Mới hồi nãy đây, tôi nghĩ là tôi sẽ nói hết mọi chuyện. Giờ đây cổ họng tôi như tắc lại. Không nói thật thì ra mình nói dối với cậu mình, dì mình. Còn nói thật thì dì tôi sẽ đau khổ bao nhiêu. Tôi bỗng nhớ lời má tôi dặn:

– Thưa cậu, thưa dì, ra đó, cháu có gặp dượng cháu mấy lần. Dượng đang công tác ở Quảng Ninh. Nghe nói dượng làm to lắm. Những lúc gặp cháu với ba cháu, dượng tỏ ra nhớ nhà, nhớ dì lắm. Cứ nhắc đến dì luôn. Chẳng may chỉ có hai năm sau khi ra Bắc, dượng bị ốm nặng…rồi dượng mất…

Cậu Hai tôi đang ngồi trên ghế, đứng bật dậy, gầm lên một tiếng, giận dữ đấm tay xuống bàn làm cho cốc chén rơi loảng xoảng:

– Thằng cháu tao nói dối. Mày che chở cho nó phải không? Mày không thật. Tại sao mày nỡ đối xử với cậu mày, dì mày như vậy? Mày được học hành, làm ông kia bà nọ sao mày không thật. Tao hỏi mày: mày nói dượng mày chết, tại sao hôm qua nó về đây. Nó lẻn về đây rồi đi ngay, giấu tao, nhưng người ta kể lại nên chuyện gì tao chẳng biết. Nó về đây, nó sụp dưới chân dì mày, con Út này, nói láo nói lếu rằng vì xa lâu quá, tin tức thất lạc, nghe dì mày đi lấy chồng, nó vẫn chờ, chờ mãi rồi sau mới xin phép ba mày, nó đi lấy vợ. Nó xin dì mày thông cảm cho nó, tất cả vì hoàn cảnh thôi. Dì mày cũng ề ề cho qua, hàng xóm người ta kể với tao, bữa nay tao mới sang trị đây – mắt ông long lên – Vậy thì mày bảo nó chết hồi nào hở Thanh?

Cậu tôi nói liền một thôi một hồi rồi giận dữ ngồi xuống, thở hổn hển. Chừng cậu tôi vẫn còn giận tôi lắm. Tại sao cậu tin tôi hỏi tôi để tìm ra sự thật, tôi lại đi dối trá? Tôi ngồi sững mà nghe những lời chất vấn đáng sợ như từng nhát búa giáng xuống đầu, khắp người nổi gai ốc, ớn lạnh tận xương sống. Trời ơi, ông dượng tôi lén lút về đây hồi nào mà tôi không biết, làm kế hoạch của má con tôi hỏng cả. Sao ổng đã chết rồi lại còn lù lù mọc lên thế này? Tôi trả lời như thế làm cậu tôi giận là phải. Cậu tôi vốn là một người trực tính và nóng nảy. Ông muốn phải trái phải phân minh. Đối với ông, người oan phải được cứu, kẻ trí trá phải bị trị. Ông chỉ muốn làm theo việc phải, nghe lời nói thật. Vì vậy mà đời ông nhiều lúc bị hiểu lầm, bị vu oan. Người ta kể rằng, hồi chống Pháp trong một lần đi dân công, ông hỏi một anh chỉ huy: cung đường phải đi mất mấy ngày. Anh này trả lời là ba ngày. Nhưng đi hết ngày thứ ba vẫn còn nửa đường nữa. Ông tức giận mắng anh kia, đòi không đi nữa. Ông làm thế cũng chẳng để chống phá gì, chung quy cái tánh ông ưa nói thật vậy thôi. Ông muốn người chỉ huy phải thật thà với mọi người. Có khổ nói khổ thật, có xa nói xa thật rồi người ta tự phấn đấu, tự cố gắng để làm tròn nhiệm vụ. Ông ghét cay ghét đắng những trò dối dụ con nít. Việc có vậy mà anh này cho ông là chống cách mạng. Hồi trào ngụy, ông đã thẳng tay tát một thằng dân vệ vì hắn ăn quỵt tiền của một cụ già. Cụ vào nhà tù thăm con, bữa đó anh đi làm cỏ vê, thấy hắn quen cụ gởi lại hai ngàn. Hắn cuỗm luôn và chối phắt rằng cụ không gởi. Ông lại bị hắn vu cho là thân Cộng. Ông là dân cày – ông nói – ông chẳng thân ai cả. Ông chẳng hiểu gì về những đoàn thể, những đảng phái. Suốt đời ông chỉ muốn cầm chắc tay cày, vạch những đường thật thẳng trên đất để gieo lúa gieo ngô. Chính vì vậy, tôi ngại ông lắm. Tôi len lét nhìn ông, thấy mặt ông đỏ rừ, trán lấm tấm mồ hôi. Ông vẫn chưa hết giận nhưng lời ông có dịu hơn:

– Nó là thằng đểu, sao cháu lại đi bênh nó?

Dì tôi từ nãy đến giờ vẫn thút thít khóc, mặt xanh xám giờ mới lí nhí:

-Anh Hai, anh đừng làm cho cháu nó buồn, nó cũng muốn tốt cho em thôi.

– Tốt à – Cậu tôi lại nổi giận trở lại – Cái thằng Tư Hoàng là cái thằng mất dạy. Mày còn bênh nó. Nó xa mày, nó còn trẻ, lâu quá, nó không chịu được thì nó đi lấy vợ . Lấy vợ là không thuỷ chung, là không ngon rồi, nhưng tao cho qua được. Nhưng sao nó dám bịa một cái thư giả của một người đã chết, nó vu oan cho mày, bêu xấu mày, em gái tao, nó lừa tổ chức? Nó làm bậy như vậy rồi mà còn được lên quan lên chức. Cái bụng nó xấu là ở chỗ đó. Mày nghĩ coi, nếu nó còn chút tư cách thì giải phóng rồi nó cũng phải về nói với mày một tiếng chớ. Đằng này, thậm chí mày tìm được địa chỉ nó, viết thư nài nỉ nó về thăm mồ mẹ, mồ con nó, mày hứa bỏ qua cho nó, nó mới chịu về. Vậy mà khi gặp mày, nó vẫn nói quanh nói quéo, đổ tại hoàn cảnh này nọ, dỗ ngon dỗ ngọt rằng nó vẫn còn thương mày, thậm chí còn quỳ xuống chân mày van vỉ mày bỏ qua cho nó. Ngu như mày mới bỏ qua cho nó. Ngu như mày mới tin lời giả nghèo giả khổ của nó, dốc đến lạng vàng cuối cùng để phòng thân cho nó. Nó cuỗm lấy rồi nó dông luôn. Bây giờ nó sắp đi làm Tùy này Tùy nọ ở tận đẩu tận đâu, nó chẳng nghĩ gì đến cái thân tàn của mày – Cậu tôi gầm lên – Nó vô ơn bạc nghĩa thế mà mày còn cùng với thằng cháu mày bênh nó. Tao sẽ viết thư vạch mặt nó trước cơ quan nó cho mày coi, nó không được đi nước ngoài làm ông Tùy này Tùy nọ như nó khoe với mày đâu. Tới mày mà nó còn trí trá huống chi ai.

Dì tôi gục mặt xuống đầu gối bật khóc rưng rức. Đôi vai dì rung lên bần bật. Đột nhiên, dì ngẩng mặt lên, đưa tay gạt nước mắt. Vốn xưa nay dì nhỏ nhẹ, nhún nhường với tất cả mọi người trong nhà, nhưng hôm nay tự nhiên dì xẵng giọng. Hình như dì cố nói át đi những sự thật ấy:

– Anh Hai đừng nói oan cho ảnh. Ảnh lấy vợ là vì hoàn cảnh thôi. Làm gì ảnh có làm thư giả nói xấu em, vu oan cho em và để lừa tổ chức, em biết chớ, em cũng hỏi nhiều người chớ. Anh nghe ở đâu vậy? Không đúng đâu anh Hai. Mình nói oan cho ảnh, hại uy tín ảnh lắm. Ảnh đang được tín nhiệm, sắp đi làm Tùy viên Kinh tế ở nước ngoài, mình phải bảo vệ thanh danh ảnh, không vì việc thỏn mỏn mà làm tan nát sự nghiệp của ảnh. Anh đừng viết thư cho cơ quan ảnh, người ta cười mình bộp chộp đó. Nếu anh cứ quyết làm thì em cũng viết thư nhận em đã ly khai ảnh, em đã lấy ác ôn cho anh coi.

Cậu tôi chỉ lẩm bẩm trong miệng, gõ gõ tay xuống bàn. Hình như cậu đang cố nén một cái gì ghê gớm lắm. Dì tôi nhìn cậu, lau nước mắt. Tôi biết trong đời dì, có lẽ dì thương cậu nhất. Bởi vì, với tất cả lũ em mình, bao giờ ông cũng nhường cũng nhịn, nhất là dì Út. Trong những năm khốn khó của dì, chính ông đã sai con mang tiền, mang gạo đến cứu giúp. Ngay cả số vàng mà dì đã ky cóp sắm lấy để hộ thân, phần lớn cũng là nhờ tiền của ông. Vậy mà dì cứ bênh chồng, phủ lại ông, hẳn làm ông bực lắm. Phải nói, ông đã biết rõ sự thật, chẳng hiểu ông lấy từ nguồn nào. Ông mắng dì chỉ vì thương dì, chỉ muốn làm theo việc đúng mà thôi. Tôi nghĩ rằng, trong việc này cậu tôi đã có lý. Nhưng nếu tôi ủng hộ cậu thì đau lòng cho dì quá. Trong một thoáng, khi vô tình nhìn vào mắt dì, tôi hiểu rằng, dì cũng đã biết tất cả những chuyện của dượng, có lẽ còn biết hơn cả cậu tôi nữa. Nhưng lúc này, trước mặt hai cậu cháu tôi, dì vẫn cố nói tốt về tư cách của chồng mình mà có lẽ cả hai chúng tôi đều không tin nổi:

– Ảnh nói ảnh hối hận lắm. Ảnh mời em đến ở với ảnh cho vui. Ảnh, vợ ảnh sẽ lo toàn vẹn mọi thứ cho em. Anh Hai đừng, đừng báo cáo…

Cậu tôi bỗng bật cười khanh khách, rồi ông nhìn sững vào mắt dì tôi như định nói một điều gì. Nhưng ông im lặng. Ông bước ra sân, không chào một ai, đi về phía bến đò.

Chỉ còn hai dì cháu với nhau. Tôi ngồi dỗ dì tôi nín khóc như dỗ một đứa trẻ. Nhưng càng dỗ, dì tôi càng khóc to. Tôi đâm ra lúng túng. Tôi đứng dậy rút một điếu thuốc lá châm lửa và suy nghĩ: trước những gì mà dượng tôi đã gây nên, dì tôi xử như thế chẳng biết là phải hay không phải. Ở đâu là ranh giới của lòng nhân hậu và sự nghiêm khắc? Ở đâu là ranh giới của sự bao dung mênh mông và sự tha thứ không thể chấp nhận những tội lỗi được che giấu?…

Hà Nội, 12-1982

 

HAI NGƯỜI ĐÀN ÔNG VÀ MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ

– Câu chuyện này khó tin đến nỗi nếu tôi kể ra chắc ông cho rằng tôi bịa chuyện. Nhưng không, đây là chuyện thật trăm phần trăm đấy – Anh Phúc, bạn tôi, một người lính đã nghỉ hưu non, 50 tuổi, hiện đang giữ xe đạp cho Uỷ ban nhân dân phường Thị Nại, mở đầu câu chuyện này như vậy khi tôi và anh ngồi uống bia tươi ở một quán nhỏ bên hè phố – Thật trăm phần trăm đấy – Anh nhấn mạnh rồi uống một hơi cạn cốc bia, cầm chiếc can nhựa rót thêm một cốc khác và kể tiếp…

*

*     *

Ông Lộc trở về thành phố vừa mới giải phóng để tìm gia đình mình. Bà con trong phường vừa mỉm cười vừa chỉ cho ông đến một mái tôn lụp xụp. Tại ngôi nhà này, ông đã gặp vợ ông và một người đàn ông cao gầy, đi nạng. Ông đứng như trời trồng nhìn họ, họ cũng đứng như trời trồng nhìn ông. Chợt người đàn bà, tóc đã lốm đốm bạc, kêu lên, lao vào người ông.

– Anh! Trời! Anh Lộc.

– Vâng, tôi là Lộc đây- Ông đẩy bà ra-Nhưng bà sống với ai kia? – Ông chỉ người đi nạng.

– Dạ đó là anh Thân, chồng em. Anh cũng là chồng em…

Người đàn bà nói cuống quýt, hết quay sang nhìn ông lại quay sang người đi nạng.

– Anh ấy đã trở về – Người đi nạng nói-Thôi anh đi đây.

Bà sững sờ đứng lặng. Ông cũng đứng lặng trong khi người chống nạng lộp cộp bước ra cửa. Một lúc sau, người đàn bà như sực tỉnh, kêu lên:

– Không, không, không thể để anh Thân sống ngoài đường ngoài sá được, anh ấy là chồng em.

– Còn tôi? – Lộc giận dữ hỏi.

Người đàn bà khóc kể lể:

– Anh là chồng em. Anh Thân cũng là chồng em. Anh có biết không, lúc anh đi rồi, bọn chúng bắt em ở tù, tra tấn mãi, khổ trăm bề. Chính ảnh cứu em ra, cho vốn em làm ăn nuôi con. Con lớn lên, đi hoạt động trong phong trào học sinh. Nhiều lần bị địch lùng bắt, ảnh che giấu cho. Sau năm 1970, con thoát ly tới năm 1972 thì hy sinh. Em buồn lắm, ảnh an ủi em. Em và ảnh thương nhau. Ảnh không còn ai. Vợ con ảnh chết ở trong khu gia binh khi bị pháo. Còn ảnh thành thương phế binh…

Người đàn ông bực bội:

– Vậy hắn ta là lính ngụy, bà lấy lính ngụy à?

Người đàn bà khóc to hơn:

– Nhưng anh ấy bị bắt lính thôi. Ở miền Nam này ai không bị bắt lính. Anh ấy tốt lắm. Tôi không thể để ảnh ăn ngủ ngoài đường được.

– Thế bà không còn thương tôi à?

– Em thương anh.

– Bà cũng yêu ông ta à?

– Em cũng thương anh Thân.

– Vậy thì bà tự giải quyết đi. Tôi cũng đi đây!

Vậy là ông xốc ba lô lên vai, đội mũ cối bước ra đường. Người đàn bà khóc lóc chạy theo lôi kéo ông lại.

Đêm hôm đó, hai vợ chồng nói chuyện với nhau rất lâu. Sáng hôm sau, ông Lộc nói:

– Thôi được, bà đi tìm anh ấy về. Ba chúng mình sống chung vậy.

Anh bạn tôi dừng lại, uống một hơi cạn cốc bia, khà ra có vẻ thú vị rồi tiếp:

– Từ đó, ba người sống bên nhau. Một người đàn ông là bộ đội về hưu, một người là thương phế binh nguỵ. Cả ba đều tóc bạc, đều ngoài 60 cả. Họ sống bằng tiền bà dành dụm được và bằng lương của ông Lộc. Trong nhà họ ở hai góc có hai chiếc giường đôi. Người đàn bà cứ mỗi đêm qua nằm với một ông. Phải nói, họ cũng đã già nên cái “khoản kia” không cần lắm, vì thế mà ít xảy ra sự ghen tuông! Nhưng nói ít không có nghĩa là không có. Một hôm, người thương phế binh đi đến nhà bạn chơi, trở về. Vừa bước vào cửa thì thấy bên bàn ăn, ông Lộc và bà đang gục vào nhau. Thế là ông bực tức, lọc cọc chống nạng bước ra đường mãi tới khuya mới về. Còn ông Lộc đã có lần hét lên “im, trật tự” khi đêm ấy nghe bên giường kia có tiếng hai người cười hưng hức…

Một hôm, ông Lộc đi họp tổ Đảng về thì nghe tiếng ông Thân khóc trong nhà. Ông bước vào, thấy bà nằm trên giường, còn ông Thân đang ôm bà khóc nức nở. Ông Thân cho biết bà vừa đi chợ về tới nhà thì ngã ra chết. Bà xưa nay vốn bị huyết áp cao. Thế là ông Lộc cũng cúi xuống ôm bà khóc. Hai ông ôm hai bên người bà và khóc òa như hai đứa trẻ khóc mẹ.

Sau cái chết của người vợ, hai ông buồn bã rất lâu. Có những ngày, họ không nấu ăn, cứ mua rượu về ngồi bên nhau uống tràn. Một hôm, người thương phế binh nói:

– Thôi, trước tôi với anh cùng có bà ấy, ta ở với nhau, nay xin trả nhà cho anh, tôi đi. Tôi không muốn ăn bám vào đồng lương khốn khổ của anh.

– Sao anh lại nói thế?-Người bộ đội về hưu nói- Có bà ấy, ta sống với nhau còn được. Nay tôi với anh, hai thằng già độc thân thì chia lìa với nhau làm gì. Vả lại, anh không có bà con thân cận gì, tôi cũng chẳng còn ai…Ta sống nương tựa với nhau chứ.

Có những hôm, hai ông uống rượu say rồi ôm nhau ngủ chung một giường. Khuya, họ tỉnh dậy, pha trà ngồi uống với nhau. Người thương phế binh nói:

– Trước vì yêu bả tôi mới ở lại đây chứ tôi sợ anh trả thù lắm. Chúng tôi đã cầm súng bắn lại anh, bắn lại cách mạng…

– Anh hiểu sai rồi, hèn gì anh cứ nhìn tôi vẻ nghi ngại. Cách mạng biết phân biệt phải trái lắm chứ…

– Còn tình yêu? Anh có giận khi anh đi cách mạng, tôi lại lấy vợ anh?

Người bộ đội về hưu im lặng một lúc rồi nói:

– Có! Lúc đầu tôi căm thù anh về chuyện này lắm. Nhưng tôi biết trong lúc tôi đi vắng, anh lo cho vợ con tôi. Nghĩa là gia đình tôi phải mang ơn anh. Còn nữa, anh yêu vợ tôi, vợ tôi yêu anh, tôi lại yêu vợ tôi. Vậy là ba chúng ta có thương mến với nhau rồi. Vả lại, chúng ta cũng đã già sống với nhau vì cái nghĩa thôi…

Anh bạn tôi đang kể thì dừng lại đưa tay chỉ một người già đang chống gậy đi bên kia đường:

– Đó, ông bạn già bộ đội của tôi – Anh gọi với sang bên kia đường – Này cụ Lộc ơi, sang đây làm với tụi này cốc bia.

Một người tóc bạc trắng, gầy, khuôn mặt khắc khổ chống gậy đến bên chúng tôi. Anh Phúc rút một chiếc ghế nhỏ bên cạnh mời:

– Cụ ngồi xuống đây.

– Chào hai anh-Cụ già nói rồi ngồi xuống ghế.

– Anh này là nhà văn, bạn cháu – Anh Phúc giới thiệu – Còn đây là cụ Lộc mà tôi vừa kể chuyện anh nghe.

– Thôi, thôi – Cụ già cười, xoa tay – Lôi chuyện riêng tụi tôi ra làm gì.

– Chuyện hay lắm-Tôi xen vào – Cháu sẽ viết.

Ông già nhìn tôi, vẻ hốt hoảng:

– Ấy chết, đừng viết, đừng viết…

Ông nói xong, cầm cốc bia uống một hơi rồi đứng dậy:

– Cảm ơn hai anh. Tôi phải đi mua thuốc cho anh Thân đây. Ảnh ốm hai hôm nay rồi. Lúc nào rảnh mời hai anh đến nhà tôi chơi.

*

*    *

Một buổi sáng chủ nhật, anh Phúc gọi điện cho tôi:

– Cậu đến tớ, tớ sẽ dẫn cậu đến nhà ông cụ Lộc chơi.

Nhà ông cụ ở trong một ngõ hẻm. Chúng tôi phải lách qua những quán xá mọc lên nhan nhản giữa thời kỳ mở cửa mới đến nhà ông được. Đó là một căn nhà đơn sơ, chung quanh bện giấy dầu, trên mái lợp tôn. Từ cửa nhìn vào, thấy trong nhà tối om. Khi nghe tiếng chúng tôi gọi, ông Lộc mới “ới” và bật điện lên. Tức thì, trước mắt chúng tôi hiện ra một căn phòng chừng 36m2 . Trong phòng có một cái bàn gỗ đã cũ, chắc là bàn ăn, bàn nước, một cái tủ như kiểu tủ tài liệu. Một cái chạn bát. Hai bên vách là hai chiếc giường đôi. Trên một chiếc giường, có một người đang nằm đắp chăn. Đó là người thương phế binh.

– Anh ấy ốm nặng mấy hôm nay.

Tôi đến bên giường người bệnh. Một khuôn mặt héo quắt, vàng ệch nhăn nhúm hiện ra. Có mùi khai bốc lên…

– Anh ấy ăn, tiểu một chỗ, đi lại không được – Ông Lộc nói.

Người bệnh lúc này thức dậy sau giấc ngủ thiếp, mở mắt ra nhìn chúng tôi, nói nho nhỏ:

– Chào hai chú.

Ông ta định nhổm dậy nhưng tôi đỡ ông nằm xuống:

– Bác cứ nằm nghỉ.

– Khổ quá, tôi không làm gì được, đã ăn bám ảnh lại bị đau bắt ảnh chăm sóc-Người bệnh rên rỉ.

– Trong nhà với nhau mà anh nói chi lạ vậy – Ông Lộc nói.

– Tui nói cứ để tui chết-Người thương phế binh nói-Ảnh lại mời bác sĩ khám bệnh, mua thuốc men cho tui, tiền không có mà mua…

– Anh em với nhau cả, tui đau hay anh đau người kia đều cũng phải lo cả-Người bộ đội về hưu nói.

– Anh cứ để tui nói cho hai chú nghe. Ảnh cho tui ăn cháo thịt còn ảnh thì ăn rau mắm…

– Thôi đi anh, cái chuyện thỏn mỏn mà cũng nói.

Người bệnh vẫn chưa chịu nằm yên, còn hổn hển nói:

– Có ảnh, tui mới hiểu mấy anh, mới hiểu cách mạng, tui…tui…

– Thôi đi anh. Anh mệt rồi, nằm nghỉ đi-Người bộ đội về hưu phẩy tay nói quyết liệt rồi quay sang tôi và anh Phúc – Hai chú đừng nghe ảnh nói, ta lại bàn uống nước đi…

Đà Nẵng, 6-1996

 

NHỮNG NGƯỜI CON CỦA GÒ NỔI

 

Mấy chiếc xe cứ ủi qua ủi lại cái bờ tre giữa đồng rồi bỗng chốc, như vượt được chướng ngại, chúng hối hả lao vào những bãi bói ở cuối xóm. Tiếng xe ầm ầm ì ì, mỗi lúc một gần, như chọc tức Kỳ. Cô đứng trên vọng lâu1 , nghĩ phát khóc. Mìn của mình quá ít, lại gài trật hướng mất. Cũng tại con Bốn, con Tám. Tụi nó đoán răng chúng cũng cày thôn Hai trước nên gài ở đó mới chắc ăn. Chừ thì trật lấc. Tự nhiên, từ Điện Hồng, xe chúng ùa xuống cày ngay thôn Ba. Nghĩ có tức không? Từ vọng lâu, Kỳ ngó xuống, thấy con Bốn, con Tám bặm môi ngó lên. Chốc chốc con Tám lại hỏi:

– Nó cày tới mô rồi chị Sáu?

– Tới mô kệ cha nó. Hỏi hoài. Tại mấy bà đó – Kỳ tức quá, la lên.

Con Bốn cũng chẳng chịu thua:

– Bà nói tui sôi máu quá. Tại chi tụi tui. Thì không phải tập thể bàn răng? Anh Chức đi họp vắng, bà muốn làm trời hả?

Tự nhiên xảy ra chuyện bất hòa. Kỳ và Bốn vốn thân nhau từ ngày còn chăn trâu. Hàng ngày sau khi thả trâu rông ngoài đồng, hai đứa thường rủ nhau đến cây đa Bàn Lãnh ngồi chơi. Hồi đó, xã giải phóng, có nhiều chuyện vui lắm: đánh trống nè, hát mì la son nè. Đến năm 1969, cây đa Bàn Lãnh bị chúng cày mất, cả hai cô đều bị chúng lùa xuống khu dồn Điện Tân. Từ đó, họ lại sống sướng, khổ có nhau. Kỳ thương Bốn ghê lắm. Kỳ mất cha nhưng còn mẹ. Cha mẹ Bốn đều bị Mỹ giết cả. Bây chừ, hắn ở với ông chú, ổng sai hắn làm miết, tội ghê. Hễ có cái chi ngon, Kỳ cũng để phần đem cho hắn. Hai đứa đi đâu cũng có nhau. Một hôm, đang đào khoai, hai đứa nghe tiếng sột soạt. Cả hai sợ thất kinh. Ở đấy, sau trận địch càn quét năm ngoái, họ đồn có nhiều ma lắm. Mà cả hai đứa đều sợ ma, nên căng mắt nhìn tới trước, tim giật thon thót. Bỗng Kỳ nghe trên đầu mình “cốc” một tiếng. Thì ra anh Chức quành phía sau, ảnh đến. Ảnh ngồi xuống một tảng đá, quấn điếu thuốc to bự châm hút một chặp rồi mới nói. Ảnh nói lâu lắm. Ảnh nói tại sao cha hai đứa bị chết, tại sao mình khổ, rồi ảnh biểu hai đứa theo ảnh làm cách mạng để trả thù. Hôm ấy, trên đường về họ bàn tính hung. Kỳ cứ thấy bụng nôn nao. Cô ăn cơm chẳng thấy ngon. Mẹ Kỳ nhìn Kỳ trân trân. Cô lại giả nhai ngon lành. Nói cho cả nhà biết làm chi? Ăn xong, Kỳ nhảy cái phốc sang nhà Bốn. Nhà Bốn gần cổng khu dồn mà. Hai cô rình miết tên dân vệ đang gác. Tới khuya, khi thấy hắn ngủ gà ngủ gật, Kỳ nhảy ra bóp cổ, lấy khăn nhét miệng hắn, ném một miếng giấy viết sẵn xuống người hắn: “Du kích trừng trị”. Đồng bọn hắn thì lo đánh bài, biết chi? Bốn lấy khẩu AR 15 ném xuống bàu, rồi hai cô về nhà ngủ. Chuyện êm ro. Mấy hôm sau, đi cắt cỏ, hai cô gánh súng lên cho anh Chức.

Những năm ấy, du kích sống khổ lắm. Dân chẳng có. Ngày ngày, ba anh em phải đào củ chuối nấu ăn rồi chia nhau bám địch. Vậy mà vui ghê. Kỳ và Bốn lúc nào cũng xoắn lấy nhau. Có lần anh Chức nói:

– Du kích chi mà phân công cứ đòi đi chung. Hai đứa bay ngó bộ sau này chẳng chịu đi lấy chồng, sống với nhau như rứa hoài chắc.

– Chắc rứa anh – Hai cô cùng cười.

Một hôm, anh Chức từ huyện chạy xồng xộc về, dựng cây súng M79 cái đụi vô vách, chẳng kịp lau mồ hôi, ảnh kể chuyện ào ào. Tính ảnh nóng như lửa. Ảnh nói, trong cuộc họp Huyện đội chiều ni, khi bàn đánh ca nô ai cũng biểu không có mìn, ảnh tức khí, đứng dậy nói:

– Đánh giặc mà cứ than vãn, thôi về giặt quần cho vợ.

Mấy ông Xã đội khác tức quá. Mấy ông biểu ông Chức giỏi thì giao cho ổng. Anh Chức nào chịu thua. Ảnh nhận luôn. Nghe ảnh kể, các cô cười ồ lên. Nhưng rồi, đột nhiên, Kỳ hỏi:

– Rứa mình đánh cách răng anh?

– Khó chi các “chú”…nè.

Anh Chức nói nhỏ với hai cô. Ảnh có tính kêu ai nhỏ hơn cũng bằng chú dù họ nam hay nữ. Sáng hôm sau, anh Chức lo cưa pháo lép, còn hai cô lo tìm lon đậu nành. Hồi đó, bọn địch ăn đậu nành rồi vứt lon lăn lóc khắp mọi nơi. Về đến nhà, anh Chức biểu hai cô giã thuốc. Mỗi cô giã mới có mấy chày đã la mệt. Hai cô nhìn nhau, mặt đen thui bụi thuốc.

Chiều hôm ấy, anh Chức biểu hai cô ra đào công sự ở gần cầu Kỳ Lam. Tối đến, họ chia nhau mang thủ pháo ra. Thủ pháo nặng quá chừng. Các cô lo ném không được xa. Anh Chức cười:

– Lo chi các “chú”. Ca nô nó đậu sát bờ. Tui biểu lăn là các “chú” ùm xuống nghe.

Vậy mà hôm đó, ba anh em chơi ngon hai chiếc ca nô.

Tổ lại có thêm con Tám. Hôm ấy, bên cạnh du kích có bà con ở khu dồn bung về cắm cờ. Bọn địch cứ xông tới lấn đất. Bom pháo chúng trút tứ tung, chẳng may cha mẹ con Tám bị pháo bắn trúng. Kỳ gặp nó ngồi khóc bên xác cha mẹ. Kỳ an ủi nó rồi cả hai chị em đào huyệt chôn. Từ lúc Kỳ tới đến lúc chôn xong, nó chỉ lẳng lặng làm theo, không nói không rằng. Mắt nó ngó Kỳ trân trân. Kỳ dắt nó đi, nó lủi thủi đi theo. Người nó ốm, nhỏ xíu xiu, ghẻ lở đầy người. Kỳ đem nó về nuôi. Chừ trông nó cũng dễ thương. Bữa tê, bộ đội huyện phối hợp cùng du kích đánh khu dồn Điện Phước, nó được phân công chèo ghe, đưa thương binh qua sông về đội phẫu thuật bên này. Chờ lâu lâu không thấy thương binh ra, nghe súng giòn giã quá, nó bỏ ghe chạy ào vô cùng bộ đội thu vũ khí. Nó say việc quá quên hết mọi chuyện. Khi anh Chức cáng thương binh ra, gọi Tám ơi Tám hỡi chẳng thấy nó ở mô. Ảnh càu nhàu đưa thương binh đi. Hôm đó về nhà anh Chức la nó. Nó ngồi khóc ti tỉ. Tối, nó đến bên anh Chức thút thít:

– Rứa em có bị bắn không?

– Ai bắn?

– Anh bắn.

– Răng rứa?

Nó lại khóc hu hu. Nó biểu lúc nó ở khu dồn nghe bọn lính nói bên cách mạng ai vi phạm kỷ luật sẽ bị chỉ huy bắn. Anh Chức được thể nói giỡn luôn:

– Ai sai cũng phải bắn, nhưng lần ni lỡ thì thôi, mà phải sửa chữa nghe.

Nó dạ một tiếng ngập ngừng. Hình như trong lúc ngủ, nó vẫn thút thít.

Bốn anh em sống êm ru như vậy, không xảy ra chuyện chi. Vậy mà giờ đây…

Kỳ bước xuống vọng lâu chẳng thèm nhìn Bốn và Tám, hai đứa thấy Kỳ quàu quạu càng thêm tức. Bốn lẩm bẩm vô tai Tám:

– Nó khùng đó mi. Không biết răng từ hôm anh Chức đi vắng, địch cày đến nay, nó cứ như phát khùng.

– Khùng à, chết tiệt tụi bay, cứ nói bậy-Kỳ đang vẽ vẽ trên đất, quay lại nạt.

Họ bắt đầu ngấm nguýt nhau. Chiều hôm ấy, ba ông táo ngồi buồn thiu. Chẳng đứa mô chịu nấu cơm. Ai muốn ăn thì nấu, chẳng ai phải hầu ai. Mỗi đứa cứ nằm co ro một góc, chẳng ai nói với ai. Dễ thường như mọi ngày đã là cái chợ nhỏ rồi. Có lần, mấy anh Huyện đội nói anh Chức khéo lập ra cái chợ đông ghê. Nghe cũng tức nhưng mà vui. Kỳ nằm im một lúc thấy nóng bức trong người quá chừng. Gió sông Thu Bồn thổi rào rào. Cô dậy đi lần ra phía bờ sông. Gió thổi lồng lộng. Đầu óc cô khoan khoái đôi chút. Cô hít một hơi dài, rồi một hơi nữa…

*

*    *

Thực ra, chuyện xảy ra cũng chẳng phải tại Kỳ, tại Bốn hay Tám mà tại cái ông Bảy Huyện đội. Ác nhơn thiệt. Ổng vốn người trong xã, đi làm trợ lý của Huyện đội mà chẳng nghĩ gì đến xã. Vậy mà ổng xuống đây ngày một. Có lần ổng còn “hỏi ý kiến” Kỳ nữa. Kỳ nói Kỳ lo đánh giặc đã. Chuyện chỉ có hai người với nhau, chẳng hiểu làm sao con Tám rình nghe được. Nó rỉ tai người này người nọ thành ra lộ tuốt luốt. Có phải do vậy không mà ông Bảy “thù dai” Kỳ…

Mới hôm tê, ổng đem mấy quả mìn bố trí ở thôn Ba. Gài ở chỗ đó chắc trúng. Ổng nói ổng có tài bắt quyết như Tề Thiên đại thánh, ổng ngồi ở vọng lâu này, bô bô:

– Xe sẽ vô Cống Vực nè, đầu cầu Diêm Sơn nè.

– Trật lất – Kỳ cãi lại. Chẳng hiểu sao từ hôm bị con Tám “tuyên truyền”, gặp ông Bảy ở đâu Kỳ cũng hứ cũng hừ.

– Thiệt đó mà, rồi Kỳ coi – Ông Bảy lại nói.

Vậy mà ổng nói trúng phóc luôn.

Kỳ hỏi sao ổng đoán trúng. Ổng chỉ cười:

– Tui có tài bắt quyết mà.

Sáng hôm qua, Kỳ lên hỏi ổng chỗ gài mìn. Ổng chỉ nói thiên nói địa rồi cười cười chẳng chỉ cho. (Kỳ về bàn với Bốn và Tám tự đoán hướng mà gài nên mới trật lấc đó). Kỳ hỏi xin ít kíp mìn, ổng cũng chẳng cho. Kỳ đứng dậy ra về, chẳng nói chẳng rằng, ghét mặt.

– Thôi mấy cô về mà cưới chồng, đánh chác chi cho chết già – ông Bảy nói với theo.

Kỳ lườm lại rồi đi thẳng. Cô chẳng về đội du kích. Cô băng đồng chạy một hơi sang Điện Quang. Ở đó, ông chú họ cô cũng biết làm mìn như anh Chức, may ra cô xin được gì không. Đến nơi, ông chú mừng rỡ, rót nước rồi nói:

– Đi mô rứa con?

Kỳ im lặng. Cô đi sục sạo khắp nhà. Chợt thấy đống mìn mới tinh, cô la lên:

– Chú có kíp nổ cho con mấy cái, con bắt chước anh Chức làm mấy quả mìn. Nhìn xe nó chạy nhông nhông tức quá!

– Không có. Thằng Mỹ đi, bom pháo lép cũng hết. Hôm nay, anh Bảy mới gởi mìn xuống đó. Lâu nay, tao có làm mìn chi mô, không có kíp.

Ông im lặng, nhìn sát mặt Kỳ, cười cười:

– Bộ mi muốn xin gian thêm hả Kỳ? Anh Bảy làm răng mà chẳng gởi cho mi nhiều hơn tao. Sắp tới, nghe nói có trận hợp đồng đánh phá kế hoạch lập khu dồn mới của địch.

Ông nói rồi cười hơ hớ. Chắc ý ổng ám chỉ chuyện anh Bảy hỏi “ý kiến”. Kỳ lườm ông chú, tức hung. Cô xách mũ ra đi. Ông chú kêu mãi cô cũng chẳng quay lại.

Kỳ ngồi mãi bên bờ sông Thu Bồn. Sương đêm lành lạnh. Đêm tối, sông Thu Bồn vắng ngắt. Cô bỗng thấy thương con sông kỳ lạ. Hồi nhỏ, có đêm nào Kỳ không ra sông tắm. Ngày ấy, mẹ cô hay dặn:

– Tắm chỗ cạn cạn đó con. Mày ra xa lỡ sụp nước không ai kịp vớt đâu nghe.

Chừ đây, sông cạn nhiều. Vậy mà, đối với Kỳ, con sông vẫn cứ sâu thăm thẳm. Có phải con sông cũng sâu miết như lòng người, Kỳ làm sao hiểu hết được…Tự nhiên, cô thấy nhớ anh Chức ghê. Cô mong ảnh về quá. Không biết các ông Công binh Tỉnh giữ anh Chức chi lâu vậy. Có ảnh, bọn Kỳ đỡ bao nhiêu…

Cô rẽ mấy bụi bói lần về nhà thì thấy anh Chức ngồi giữa nhà nói bô bô. Ảnh vừa  mang về cả một đống mìn mới tinh lại có cả pháo phóng và kíp nổ nữa. Kỳ mừng quá. Tự nhiên, quên chuyện cãi nhau, cô nói:

– Sắp bay nấu cơm cho anh Chức ăn chưa?

– Rồi. Bọn tui chờ bà miết. Bà đi mô rứa? – Con Bốn làu bàu.

Kỳ ngượng ngùng. Cô lảng sang chuyện khác:

– Mìn ở đâu mà nhiều quá, giống ở xưởng huyện ghê?

– Thì ở huyện chớ ở mô. Tao đi về, ghé huyện, anh Bảy cho tao lãnh đấy.

– Ứ, ông Bảy mà cho mìn à? Ổng keo như cứt sắt-Kỳ nói bụng còn ấm ức.

Vừa lúc ấy, một bóng người cao to, cặm cụi đi vào. Con Tám la lên:

– Anh Bảy?

Kỳ ngẩng mặt lên, gặp mắt anh Bảy cười cười. Cô ngó xuống.

– Răng Kỳ, cô còn biểu tôi ác không?-Anh Bảy hỏi.

– Ác chết cha chớ không ác?-Kỳ nói, trong lòng đã thấy nguôi nguôi.

Trong khi họ nói chuyện, con Tám cứ thậm thụt dưới bếp. Nó hết nhìn anh Bảy lại nhìn Kỳ, cười hí hí. Kỳ lườm nó một cái, nó phát cười to. Anh Chức cũng đâm tức cười. Anh biết hết rồi mà. Bỗng mặt anh đổi nghiêm đột ngột:

– Thôi cười chi cười miết vậy Tám. Lo nấu cơm vắt, chuẩn bị cho ngày mai đi.

Anh Chức, anh Bảy, Kỳ, Bốn bắt đầu thảo luận kế hoạch trận đánh. Anh Chức nói:

– Theo trên nhận định thì chúng sẽ cày tiếp xã ta, hòng đưa dân Đà Nẵng về và lùa dân Điện Tân ra lập khu dồn mới. Trên đặt vấn đề phải phá ngay âm mưu này.

Anh Bảy đang ngồi trên cái băng bằng tre, nhảy ngay xuống nền đất. Ảnh biểu mọi người chụm lại, ảnh vẽ vẽ trên đất, bày kế hoạch gài mìn trong đêm nay…

*

*     *

Kỳ đứng trên vọng lâu thiệt sớm. Bốn và Tám lại đứng dưới chóc ngóc nhìn lên như mọi bữa. Thực ra, họ chẳng cần phải canh sớm như vậy. Nhưng vì hồi hộp quá, họ phải ăn cơm sớm rồi ra vọng lâu quan sát. Hôm nay, Kỳ nhìn cái chi cũng thấy vui. Cô thấy sao xã cô rộng quá, dài quá. Bàn chân cô đã đi qua đi lại vùng đất ni nhiều lần mà lúc mô cô cũng thấy mới mẻ. Quê cô đó, ngày xưa ngút ngàn bãi dâu. Một con đường làng thênh thang chạy giữa những bờ tre, những vườn cam, những vườn mãng cầu sum suê, trĩu quả. Tiếng thoi đưa lách cách như không bao giờ ngừng. Cô nghe quen miết, hình như thiếu thứ tiếng ấy thì không còn làng quê cô nữa. Vậy mà…bây chừ…chỉ còn những trảng cỏ tranh và những bãi bói… Kỳ nhìn miết, nhìn miết mà chẳng thấy xe chạy ra. Có thể hôm nay chúng chẳng cày. Chúng biết được ý đồ của mình hay sao mà mọi hôm cày sớm, hôm nay lại chậm rì rì vậy. Chúng cứ nằm ì ở phía Điện Hồng. Trông xa, chúng càng giống những nấm mồ đen sì, gớm chết. Kỳ lại chong mắt lên, nhìn. Sao mày không ù máy, cày đi, tao thử xem mìn có trúng không? Kỳ nhìn hoài, nhìn hoài, chẳng biết anh Bảy đang lụi cụi chạy đến bên dưới.

Anh Bảy gọi với lên hỏi:

– Có đứa mô giấu mũ tao không?

Nghe ảnh hỏi, Kỳ bắt tức cười. Hồi sáng thấy ảnh bỏ quên mũ, mũ Kỳ lại đâu mất, cô quơ ào, đội luôn. Chừ nghe ảnh hỏi, cô vội vàng giở mũ ra, giấu kín rồi nói vọng xuống, giọng cà rỡn:

– Ai biết mô mà hỏi?

– Rứa sao mất?

Kỳ cười rúc rích:

– Chuột tha đấy?

– Mau trả đây.

– Hổng biết?

Anh Bảy bị đùa dai, chạy lụi đụi vô nhà tìm rồi chạy ra:

– Trả mau đi…

– Hổng biết?

Kỳ cười một tràng dài rồi ném cái mũ xuống cho anh Bảy. Anh Bảy chẳng đội ngay. Ảnh cắp chiếc mũ vào nách chạy…

Kỳ lại cười giòn giã. Tiếng cười dễ lây. Con Tám được thể bấm con Bốn cười rúc rích. Bỗng nhiên, Kỳ nín bặt. Hình như xe đã chạy. Một đàn xe như đàn bọ hung chia mấy cánh hổn hển chạy về phía Đông Bàn. Kỳ mừng quýnh. Chân cô run run. Cô phải cầm chặt cái nấc thang. Cô thấy cái thang cứ chòng chành chòng chành như muốn bay lên. Giá như ở dưới đấy cô sẽ ôm con Tám nhảy điệu “mì la son” như mấy năm trước. Tiếng xe mỗi lúc một gần. Con Tám đứng dưới cứ nhấp nha nhấp nhổm. Mấy lần, nó muốn leo lên, bị Kỳ la, nó đứng ngóng lên, ngó tội nghiệp:

– Xe ù gần rồi hả chị Sáu?

– Ù gần rồi – Kỳ trả lời.

Con Tám có tính gọi xe chạy là xe ù.

–  Ù hướng mô chị Sáu?

– Ù hướng Cây Táo.

– Trúng rồi – Tám vỗ tay đốp đốp.

Kỳ lại nghiêng tai nghe, nói vọng xuống:

– Lại có tiếng xe ù nữa nghe!

– Ù hướng mô, chị Sáu?

– Ù hướng xóm Bàu.

– Trúng rồi – Con Tám vừa vỗ tay đốp đốp vừa nhảy cẫng lên.

Giữa lúc ấy, anh Bảy quay lại. Ảnh cũng đứng chóc ngóc nhìn lên phía Kỳ. Cái mũ cắp nách rơi lúc nào không hay. Miệng há hốc lên nghe Kỳ nói. Bỗng nhiên, xô con Tám ra, ảnh vội vã leo lên vọng lâu. Người ảnh to khoẻ, làm hai cây thang rung bần bật như sắp gãy:

– Ồ! Gãy thang ông ơi!- Kỳ nói.

– Cho mình coi chút mà – Anh Bảy xin Kỳ. Nói vậy nhưng Kỳ cũng nhường một chỗ cho anh. Hai người đứng song song, nhìn ra xa sau những bãi bói.

– Ù hướng cây đa Bàn Lãnh nữa nghe – Kỳ lại nói.

– Trời ơi, trời ơi, trúng rồi – Con Tám không kìm được nữa, nó nhảy tâng tâng, tay hoa hoa như múa.

Hình như cùng một lúc, ba tiếng mìn nổ vang. Ba chiếc xe cày bật tung lên. Mấy chiếc xe đi sau lật đật lùi lại, rồi cùng tụm ở một góc. Tiếng động cơ của nó cứ hừ hữ như con thú hấp hối. Kỳ và Bảy nhảy nhanh xuống thang. Kỳ ngã một cái xuống đất, dập môi vô gốc thang.

Vừa lúc đó, một tràng pháo chùm phóng vào nơi xe chúng tập trung.

– Anh Chức phóng rồi! – Tất cả reo lên.

Tổ du kích chạy ào về phía xe cháy và đạn nổ. Bọn bộ binh địch đi theo xe và bọn trên xe bắt đầu vọt ra chạy. Kỳ lao theo. Quất một loạt AK. Cô nghe chúng la oai oái. Cô phang một loạt nữa vào mấy thằng đang lúng túng trong lùm bói. Một viên đạn bay víu dưới chân cô. Kỳ nhìn xuống, chỉ sướt da, chẳng hề chi. Cô cắm cúi đuổi theo. Vừa lúc ấy, cô nghe tiếng lạch bạch ở phía sau. Cô quay lại. Con Tám vừa chạy vừa thở. Nó chạy chậm quá. Người nó ngắn ngủn, chìm trong cỏ. Vừa chạy, nó vừa khóc:

– Mấy chị đuổi nó chạy tuốt luốt làm sao em bắn!

Nghe nó nói, Kỳ muốn cười quá. Tội nghiệp con nhỏ. Ai biểu mầy lùn dữ vậy. Chợt Kỳ nghe một tiếng nổ ở phía bên trái. Một tiếng thét trong bụi bói. Chà, thằng giặc nào hoảng hồn vô nằm đấy. Không quay lại, Kỳ cũng biết phát súng đó là của con Tám. Chừ nó chạy sát Kỳ rồi. Kỳ nghe cả tiếng thở hổn hển của nó. Kỳ liếc nhìn phía bên phải, con Bốn và anh Bảy cũng đang chạy ào ào tới. Thứ giặc chi mới động cái đã chạy mất dạng, mình đuổi phát mệt. Chúng chạy gần tới đầu cầu Kỳ Lam rồi. Kỳ chạy gấp. Cô vấp bụi cỏ ngã cái ự. Khi nhỏm dậy, cô nghe tiếng nổ của đạn AK và thủ pháo của du kích Điện Quang từ phía ấy đánh ập lại. Tụi địch ùa về phía Nam. Kỳ vuốt vuốt mồ hôi trên mặt, rồi quay hướng, nhảy vòng qua một bãi lầy, chặn đầu. Ai ngờ, khi cô còn cách khá xa, du kích Điện Tân ở phía ấy lại đánh xốc tới diệt luôn những thằng cuối cùng.

Chiều xuống chầm chậm. Đột nhiên, Kỳ thấy khát quá chừng. Ngày hôm nay Kỳ có ăn uống chi mô. Nắm cơm buộc theo rớt lúc nào không biết. Cô đi về phía bàu sen, nơi trước đây bà con đào lấy nước tưới đồng Bàn Lãnh, Bảo An, vốc nước uống ừng ực. Cơn khát ghê gớm làm Kỳ cứ tưởng cô sẽ uống một hơi cạn cả bàu nước này. Cô ngẩng lên, định gác khẩu súng trên bờ, gội mái tóc đang lấm bùn bê bết, chợt thấy anh Bảy. Ảnh đang đứng trên bờ bên kia, vai mang mấy khẩu M79, miệng mỉm cười,  đưa tay ngoắt ngoắt:

– Này, Kỳ biết không, bữa ni ta diệt 5 xe với 30 tên nghen. Du kích vùng Gò Nổi mình đánh bọn lấn chiếm ngon quá.-Anh ấy ngập ngừng một chút, giọng tự nhiên khản đặc lại-Bây giờ ta cùng về đi Kỳ…

Kỳ nín thinh. Hình như lúc ấy trăng đã lên ở phía đầu cầu Kỳ Lam.

Điện Bàn, 5-1974

BỊ BẮT ĐÊM BA MƯƠI TẾT  

Vào giữa đêm 30 tết năm ấy, tôi bị một tay dân vệ đuổi bắt… -Anh Thả, một cán bộ cao cấp đã về hưu, tóc bạc trắng, có một vết sẹo ở má phải kể cho tôi nghe câu chuyện của anh – Chắc anh cũng biết, vào khoảng cuối năm 55 đầu 56, bọn địch thực hiện “diệt cán trừ cộng” rất ác liệt. Nhiều đồng chí của ta bị bắt đi đày, bị thủ tiêu. Nhà tù mọc lên như nấm độc. Lúc ấy, tôi đang hoạt động ở vùng cát Duy Xuyên. Bà con rất tốt, nhưng vì địch hay vây ráp nên họ cũng ngại chứa chấp mình. Tôi đi đến đâu, bà con cũng nói:

– Tôi thương anh lắm, thương cách mạng lắm nhưng tụi nó khám xét nhà luôn, mong anh thông cảm.

Cuối cùng, tôi bắt mối với gia đình bác Hai, một hội viên Nông hội hồi kháng chiến. Bác để tôi ở trong buồng, ngày ngày tự mình ngồi gác bên ngoài. Một hôm, chẳng rõ do kẻ nào chỉ điểm, bọn dân vệ hùng hổ đến khám nhà. May quá, hôm đó do linh tính mách bảo thế nào mà lúc gần sáng, bác kêu tôi dậy nói:

– Tôi có cảm giác tụi nó sẽ đánh hơi đến đây. Tôi có một cái hầm bí mật dưới chòm rau muống biển ở ngoài nỗng cát, anh ra ở tạm.

Thế là, từ đó, cứ gần sáng là bác dẫn tôi ra hầm bí mật, nửa đêm thấy tình hình yên yên, bác đưa tôi vào nhà ăn uống và “hít thở không khí cho thoáng đãng” như bác vẫn nói. Có lúc, tình hình ngặt nghèo tôi phải nằm hầm suốt vài ngày. Dưới lòng cát, nóng và mệt nhiều khi muốn lả. Tôi ăn gạo rang và uống nước chai bác chuẩn bị cho. Nói vậy, chứ những lúc ấy hiếm xảy ra.

Đêm 30 tết năm ấy, chờ mãi vẫn chưa thấy bác ra. Tôi đội nắp hầm nhô đầu quan sát, thấy êm ả, tôi lên trên miệng hầm. Đêm tối đen như mực. Mặc dù 30 tết nhưng xóm làng vẫn có vẻ im ắng, chỉ nghe xa xa, đâu đó, có lẽ ở nhà của bọn ác ôn và trụ sở Hội đồng của chúng là có tiếng la ó. Hẳn chúng đang nhậu nhẹt hay sát phạt nhau trong sòng bạc. Tôi quyết định vào nhà bác Hai, không cần đợi bác ra đón. Nhưng vừa bước được vài bước, tôi cảm giác có ai đó đi theo sau lưng mình. Tôi nghe “hắn” thở gấp, chân “hắn” lướt nhẹ trên cát. Địch rồi ! Linh tính báo với tôi như vậy. Tôi vội rẽ sang bên, không vào làng nữa, mà hướng về động cát bên cạnh, phóng chạy. Tên địch vẫn bám sát sau tôi. Tôi cứ chạy ngoắt ngoéo thế mà hắn có vẻ thạo hơn, lúc nào cũng đón được ý tôi để bám theo. Tôi chạy tạt ra mé biển, mong có chiếc thuyền nào đó sẽ nhảy lên chèo đi. Nhưng tên địch nhanh trí hơn, hắn đứng chặn ngay trước mặt tôi. Quái lạ, sao hắn không la to cho đồng bọn đi tuần xúm đến bắt tôi hay hắn nổ súng bắn tôi ? Vừa nghĩ tôi vừa chạy liều về hướng làng, may ra có gia dình nào cứu mình…

– Đứng lại, không được vô làng-Tên địch nói nho nhỏ bên tôi.

Hắn nhảy vọt tới chộp tay tôi, nhưng tôi né người, quay ngược lại, chạy chữ chi trên động cát. Cát lún làm chân tôi mỏi rã rời, mồ hôi ướt đẫm như tắm. Tôi mệt quá, muốn ngồi phịch xuống cho hắn làm gì thì làm. Tự nhiên, trong óc tôi hiện ra hình ảnh đồng chí Ngọc và đồng chí Sổ, hai đồng chí được Tỉnh uỷ phân công cùng tôi đứng ở vùng này. Cả hai đồng chí đều bị bắt, chẳng rõ bây giờ ra sao. Nếu tôi cũng bị bắt nữa thì phong trào ở đây ai lãnh đạo? Nghĩ thế, tôi cố bươn lên. Nhưng ngay lúc ấy, tôi ngã nhào xuống vì vấp một dây rau muống biển. Tên địch nhảy tới, chụp lấy vai tôi cười vui sướng:

– Bắt được rồi, vậy chớ-Hắn nói.

Biết là bị địch bắt rồi, nhưng tôi giả vờ nói cứng:

– Tôi là dân đi đường, anh là ai mà bắt tôi ?

– Dân vệ đây! Tôi theo dõi dấu chân trên cát của anh từ lâu rồi. Đêm nay, đêm 30 tết tôi mới quyết định bắt anh.

– Sao anh không la to cho đồng bọn xúm đến bắt tôi hay anh bắn tôi mà cứ đuổi theo miết vậy? Bộ anh định bắt sống để lấy thưởng à?

Anh ta im lặng một chút rồi nói khe khẽ:

– Này anh cách mạng, đúng anh là cách mạng rồi, đừng chối ! Tại sao trong xóm này anh rảo hết, trừ nhà tôi anh không tới, anh nghĩ tôi là dân vệ à?

– Nhà anh là nhà nào?

– Tám Cần đây.

– Đúng rồi, tôi tới để bị anh bắt à?

Anh ta cười khe khẽ:

– Vì thế hôm nay tôi quyết định bắt anh, để mời anh về nhà tôi ăn tết, để anh truyền đạt chủ trương của Đảng cho tôi làm theo. Từ ngày chúng tiếp quản, tôi không liên lạc được với cách mạng…Tụi nó bắt tôi vào dân vệ. Mọi người xa lánh. Tôi khổ tâm quá.-Anh ta dừng lại thở hổn hển rồi nói tiếp-Thôi, bây giờ anh về nhà tôi đi. Bà xã tôi đang dọn bánh mứt chờ đó.

Sửng sốt nhìn người dân vệ, tôi thở nhẹ, cảm thấy dễ chịu nhưng vẫn còn cảnh giác:

– Anh nói thật đấy chớ. Nếu anh cần bắt tôi để lấy thưởng thì làm đi…

Anh ta cúi sát vào mặt tôi, nói nho nhỏ:

– Đi đi đồng chí. Từ nay đồng chí vào nhà tôi ở cho tiện. Đi mau đi, kẻo lỡ gặp tụi dân vệ đi tuần…

Đó là câu chuyện tôi bị bắt đêm 30 tết năm ấy. Sau khi ăn tết tại nhà Tám Cần, tôi ở luôn đó, nhờ anh bắt mối với các cơ sở. Từ đó, phong trào cách mạng ở vùng này dần dần phát triển lên. Lập được Chi bộ ở đây rồi, tôi mới về Tỉnh. Mỗi lần nhớ lại cái đêm 30 tết năm ấy, tôi cứ rưng rưng nước mắt bởi lần đầu tiên tôi hiểu ra những điều to lớn, không thể nào diễn đạt nổi ở nhân dân…

Tháng 11-1992

MÙA MƯA

Mùa mưa đang sung sức. Những trận mưa cứ kéo dài hết ngày này sang ngày khác. Trên những sườn dốc cao khô nứt ngày nào, bất chợt có những con nước lớn ào xuống cuốn băng băng.

Đã hai mươi ngày liền, tôi cùng đi với Phê, nhân viên điện đài Phú Yên, ra Khu lãnh máy, quay về. Hai đứa tôi gặp nhau tại trạm Dốc Quế. Bây giờ thì đang ở trên đất Gia Lai. Con đường mùa mưa trơn lầy, đi lại vất vả, cõng hàng nặng, nhưng lương thực của hai đứa đã cạn. Mấy ngày một lần các trạm giao liên phát cho vài cân sắn tươi. Chúng tôi phải dừng lại, giã ra làm bánh như bánh tét mang theo. Số lương khô cũng hết. Mỗi đứa chỉ còn một ít muối ăn dè. Năm ấy, chiến khu đói muối. Đồng bào các dân tộc lại khổ hơn nữa. Bọn địch vừa thả chất độc để phá nương rẫy vừa chặn các vùng ranh không cho ta lấy muối lên. Trong khi đó, nhiều đoạn có suối lũ lớn, giao liên không chịu dẫn qua. Chúng tôi càng sốt ruột. Phê khoẻ, bơi giỏi, nên rủ tôi đi vượt trạm giao liên để kịp chiến dịch. Phê có một bạn quen ở đội sản xuất nam đường 19. Chúng tôi mong chóng đến đó để “nhờ” lương thực.

*

*     *

Một buổi chiều, chúng tôi tới bờ Krông-Pa. Nước lũ dữ tợn phủ ngập những hàng cây đôi bờ, cuốn những thân gỗ lớn ầm ầm lao đi. Hai anh em đều bị sốt, sáng nay lại vượt quá cung đường nên cả hai cảm thấy cần phải căng tăng  nghỉ lại.

Mưa vẫn đổ như thác. Gió điên cuồng giật đứt góc này đến góc khác chiếc tăng cũ. Nước tạt vào tung toé. Đã bốn giờ chiều rồi mà chúng tôi vẫn chưa nhóm lửa được. Phê rút ào mấy quai dép. Củi ướt. Nước mắt, nước mũi trào ra. Phê phồng má thổi mãi, ngọn lửa mới chịu bựt lên. Chúng tôi chỉ còn một chiếc bánh sắn. Tôi cùng Phê thay nhau giữ lửa và tìm thêm rau. Cả tiếng đồng hồ sau, hai anh em mới kiếm được nhúm môn dóc. Không hiểu sao ở rừng này lại ít rau quá. Muốn tìm một buôn làng để xin thêm thức độn, cũng không thấy nốt. Hai đứa tôi hì hục nấu canh môn dóc rồi vừa ngồi hơ lửa vừa húp xì xụp.

– Chả ăn thua gì sất. Bụng em cứ đói cồn đói cào. Phê nói.

– Mình cũng vậy. Tôi phụ họa.

Chúng tôi ngồi nhắc lại những bữa cơm ngon mà chúng tôi đã ăn từ hồi xửa hồi xưa. Phê người Hải Hưng. Cậu ta cứ khoe hoài thứ bánh gai làm tôi phát thèm. Chợt Phê mỉm cười. Cậu chạy lại phía ba lô. Tôi mừng thầm. Có lẽ, cậu ta nhớ lại món gì đã bỏ quên. Nhưng phê chỉ xách ra gói mì chính, trút một chút vào lòng bàn tay rồi đưa tôi:

– Ăn tạm, anh.

Tôi lắc đầu. Phê cũng lắc đầu. Tí mì chính không làm cậu ta hết đói.

Giữa lúc ấy, tôi nghe có tiếng bước chân người lội nước mỗi lúc một rõ dần. Hai đứa cùng ngửng mặt lên, nhìn chăm chú. Từ cánh rừng trước mặt đang lao xao trong mưa gió, một dáng người nho nhỏ hiện ra. Khi tới gần, chúng tôi thấy một chú bé khoảng mười ba tuổi. Người chú gầy teo, tóc xoắn, da sạm như bao em bé khác của Tây Nguyên. Đặc biệt, chú mặc một cái áo bộ đội cũ dài quá gối.

-Vào đây hơ lửa chú bé ơi! Tôi gọi.

– Mình phải về nhà thôi, mẹ mình đau.

Chú bé trả lời như vậy. Nhưng đã lại bên tăng chúng tôi. Bây giờ tôi mới thấy sau lưng chú có cái gùi lớn, chắc chẳng có gì trong đó nên chú đi rất nhẹ nhàng. Phê nhìn cái gùi trân trân làm chú bé bất giác như nhận ra điều gì:

– Bộ đội không có gì ăn hết à?

– Chẳng có gì cả! Phê đáp.

Chú bé đặt gùi, lấy ra mấy củ sắn luộc đã lạnh tanh đưa chúng tôi. Chúng tôi lấy muối ra rồi mời chú cùng ăn. Mắt chú bé bừng sáng lên, miệng ứa nước bọt. Tôi vốc độ chục hạt muối gói trong một mảnh giấy bóng đưa cho chú. Chú ta chùi tay vào áo cho khô, săm soi gói muối rồi bỏ vào túi:

– Mình để dành muối chia cho các bạn mình, cho mẹ mình. Mẹ mình ho có máu.

Chú bé bỗng giở gói muối ra nhìn, nuốt nước bọt ừng ực. Rồi như không ghìm được, chú lấy một hạt lè lưỡi liếm. Sau đó, chú bỏ hạt muối vào gói, rồi lại lấy ra. Tôi im lặng, chụm đầu ngón tay vốc cho chú một ít muối nữa rồi bắt chuyện:

– Em đi đâu về thế?

– Mình đi nộp đảm phụ. Buôn mình người lớn đi dân công hết, tụi nhỏ mình phải đi nộp đảm phụ thôi.

– Nộp thứ chi?

– Gạo- chú tự nhiên vui vẻ, cúi xuống cầm một khúc sắn ăn ngon lành, hình như chú cũng thèm cả sắn và nói tiếp-nhà mình có ít gạo, cách mạng bảo nộp sắn, mẹ mình bảo cứ nộp gạo thôi.

– Cha em đâu?

– Cha mình chết. Cha mình đi tải đạn đường 19. Mỹ phục bắn cha mình chết.

Chú bé đứng dậy, phủi tay nói:

– Mình về, mẹ mình chờ. Mẹ mình ho có máu.

Tôi đưa chú một ít muối nữa . Chú bé bước ra mấy bước , bỗng quay đầu lại hỏi :

– Krông- pa lớn quá , làm sao mai bộ đội đi ?

– Có thể mai nước nhỏ lại em à .

Chú bé giơ tay chào và bước vội. Chúng tôi ngồi hơ lửa thêm chút nữa rồi lên võng nằm hút thuốc .

Suốt đêm mưa lớn. Những cây rừng vặn mình răng rắc. Cành gãy rơi ào ào gần chỗ chúng tôi. Phía bên phải, Krông – pa réo ầm ầm. Ngay dưới võng, nước cũng lên lấp xấp. Cả đêm lo lắng, chúng tôi không ngủ được. Gần sáng, vừa chợp mắt, bỗng thiếp đi. Chợt có ai đó lay võng. Tôi thức dậy. Thì ra chú bé hôm qua :

– Nước sông lớn quá, đi không được đâu. Bộ đội vào buôn mình thôi. Buôn mình cũng xa xa nhung khắc đi khắc đến.

– Thôi để các anh ở đây. Hễ nước rút là các anh đi ngay .

Chú bé trầm ngâm nhìn dòng sông sủi bọt, vẻ lo lắng. Bất chợt chú chạy ra một đoạn, cầm vào mấy củ sắn tong teo rồi nói :

– Bộ đội ở đây nhé. Mình phải đi đóng giúp đảm phụ cho Bok Lan. Bok Lan cũng ho có máu .

Chú bước ra, chạy về một gốc cây đổ. Chúng tôi nhìn theo. Bây giờ, chúng tôi mới thấy ở đó có cái gùi to phủ ni-lông. Chú bé cho vai vào quai, bặm môi cõng gùi lên. Bỗng nhiên, chú ngã kềnh ra đất. Tôi nhảy khỏi võng, chạy về phía chú. Nhưng chú đã gượng dậy được, mỉm cười. Tôi đứng lặng. Trên môi tôi có cái gì mặn mặn …

Mưa vẫn rơi không ngớt. Nơi cánh rừng chú bé vừa bước vô, những cành lá rung lên lao xao. Nước Krông-pa vẫn réo ầm ầm. Chúng tôi nhìn bầu trời mọng nươc thêm sốt ruột. Phê ỷ khỏe hơn tôi, giành đi tìm rau nhưng vẫn chẳng có gì hơn. Chúng tôi lại ngồi bên nhau, đốt thuốc, nhắc mãi những bữa ăn ngon…

Hai giờ sau , chú bé trở lại. Từ xa , chú đã reo :

– Mình cho bộ đội cái này .

Thoáng một cái, chú đã đứng bên cạnh chúng tôi. Tay chú cầm một cái lồng, trong đó có một con sóc to, đuôi dài. Thấy chúng tôi săm soi, con sóc nhảy nhót la chét chét. Chú bé thò tay bắt sóc. Tôi nhìn thấy một ngón tay chú chảy máu.

– Tay em làm sao thế ?

– Bẫy dập đó !

Chú bé nói :

– Mình cho bộ đội, bộ đội nấu với sắn ăn ngon lắm.

Mắt chú bé mỉm cười. Chú chùi tay vào áo, hơ lửa, xin tôi điếu thuốc. Tôi lấy cả túm muối còn lại đưa cho chú . Chú lắc đầu :

– Bộ đội còn đi xa mình không lấy.

– Không, mình còn túm nữa, anh kia. Tôi chỉ vào Phê đang làm thịt sóc ở mé nước .

Chúng tôi ép mãi, một lúc lâu chú bé mới lưỡng lự cầm túm muối nhỏ, cho vào túi áo bộ đội dài thòng lòng. Từ trên áo, nước chảy xuống tong tong:

– Mình sẽ chia cho buôn mình, cho mẹ mình, mẹ mình ho có máu .

Bất chợt, chú lấy túm muối ra săm soi, miệng ứa nước bọt. Chú cất vô. Nhưng chỉ một phút sau, chú lại giở ra, tháo nhanh, lấy một hạt muối nuốt ực. Chú đứng dậy:

-Mình đi rẫy lấy sắn đây. Mẹ mình làm rẫy miết miết mà chỉ có củ nhỏ thôi. Chất độc Mỹ nó ăn hết sắn lớn rồi. Mình đem cho các anh.

– Các anh đi với được không ?

– Chẳng có nhiều chi. Mình mình đi thôi.

Chú bé phóc nhanh ra ngoài tăng, chạy đụi đụi trong mưa .

Chúng tôi ngồi bên hăng- gô cháo sắn có thịt sóc đang sôi sùng sục, nhìn theo, lòng bồn chồn. Mùi cháo bốc lên ngon lành. Phê mỉm cười cho đũa vào khuấy, quay lại bảo tôi :

– Anh lại túi cóc em lấy túm muối – Cậu ta mút mút chiếc đũa – Chà ngon tuyệt .

Tôi ngồi lục mãi ba cái túi ba lô nhưng không thấy gói muối đâu cả .

– Túi nào ?

– Em không nhớ !

Tôi soát lại lần nữa nhưng vô hiệu.

Phê buồn bã nói :

-Em nhớ ra rồi. Chiều qua, lúc lội suối, em bíu nhánh cây, ba lô nghiêng. Lúc đó em nghe có cái gì rơi, em tưởng cục đất em không chú ý, té ra là túm muối. Chà, giờ làm sao đây?

Bữa cháo không có muối sao mà lạt lẽo quá. Cũng may, nhờ có món thịt sóc vớt vát lại được phần nào. Nhưng bữa mai, bữa kia thì sao? Phê, anh chàng có lỗi đánh mất muối cứ cười hì hì hoa hoa tay: “Có gì đâu mà phải lo nhỉ? Trời sinh voi, sinh cỏ”. Cậu ta vừa nháy mắt với tôi vừa đưa tay bứt một cộng cỏ bên cạnh nhai nhai và láu lỉnh nhất quyết rằng, trong cây lá chiến khu nhà ta ở đâu mà chẳng có clorua-natri. Cho dù muối có làm cao chạy trốn tận ruột trái đất thì đồng bào các dân tộc vẫn vui sống đàng hoàng. Bộ đội, cán bộ ta vẫn cứ thế mà đàng hoàng vui sống. Còn hai ta thì việc gì mà chẳng ung dung ngồi rung đùi ngắm cảnh trời đất. Tôi nhìn bộ dạng tinh nghịch của Phê, mỉm cười. Bỗng chốc, không nhịn được nữa, ngửa cổ ra cười sằng sặc. Đầu tôi gật lia lịa để tỏ sự đồng tình. Bất giác, tôi nghe có nhiều tiếng chân người lội ào ào trong nước. Từ trong cánh rừng trước mặt, một đám trẻ bước ra. Từ xa, chúng đã reo rối rít:

– Bộ đội ơi, cho mình muối. Bộ đội ơi, cho mình muối.

– Không có muối các em ơi. Tôi dừng ăn cháo quay ra nói.

– Bộ đội đừng nói dối mình. Bộ đội cho thằng tóc xoắn ở buôn mình. Hồi hôm nó chia cho tụi mình mỗi đứa mấy hột đó.

– Hồi hôm còn, nhưng sáng ra bị nước cuốn trôi mất rồi.

Bọn trẻ lắc đầu, nói với nhau bằng tiếng Gia Rai, vẻ không tin. Không biết nói sao, tôi im lặng đặt nắp hăng-gô cháo xuống. Bọn trẻ vây quanh, chằm chằm nhìn vào hăng-gô cháo.

Tôi mời:

– Ngồi xuống ăn cho vui. Cháo lạt muối đấy.

Bọn trẻ nuốt nước bọt. Bỗng một đứa quay ra ngoài:

– A, thằng tóc xoắn kia rồi. Bộ đội cho mày muối phải không?

Thằng bé quen chúng tôi không đáp. Nó bước thẳng vào tăng. Chúng tôi nhìn nó. Nó nhìn chúng tôi. Tự nhiên, nó giơ tay lên túi, lấy ra túm muối hồi sáng đưa cho tôi, nói:

– Mình trả lại bộ đội! Mình ăn cà đắng được. Mẹ mình ăn cà đắng được. Bộ đội không quen ăn cà đắng. Mình nghĩ miết, mình thương bộ đội lắm. Mình trả lại cho bộ đội thôi.

– Các anh cũng sắp tới nơi- tôi giả bộ nói cho chú bé an lòng- Anh chỉ cần xin lại mỗi người năm hột, còn bao nhiêu em cầm về chia cho mẹ, cho các bạn này…Tôi vừa nói vừa chỉ bọn trẻ xung quanh.

Chú bé không đáp, bỏ gói muối xuống nắp ba lô, bước ra nói gì với các bạn, tôi không hiểu. Chỉ thấy cả bọn reo lên rồi vụt chạy.

Phê đứng dậy, cầm gói muối chạy theo. Chúng càng chạy nhanh hơn.

– Này em, quay lại lấy muối đi nhé – Phê gãi gãi tai – Chà, em tên chi hở em?

– Mình không có tên. Chú bé tóc xoắn vừa cười vừa đáp lại.

Nói xong, chú bé tiếp tục chạy nhanh về phía dốc. Chiếc áo bộ đội quá dài cứ lật phật trong mưa. Lên tới đỉnh, cả bọn quay lại reo lên lần nữa rồi biến mất. Chúng tôi nhìn theo chỉ còn thấy một màu xanh bạt ngàn lao xao, đang nói lên những tiếng nói riêng của rừng.

Suốt hai mươi năm nay, chúng tôi đã đi qua biết bao nhiêu cánh rừng rộng lớn của Tây Nguyên.

                                                                            9/1973 – 6/1976

                     BẾP LỬA LÀNG TÀ BĂNG                                               

Tôi có công việc phải đến một đồn biên phòng ở biên giới Việt – Lào. Ở Huyện  đội Giằng, anh em có nhã ý cử một liên lạc dẫn đường, nhưng tôi cảm ơn, xin phép tự mình đi. Đoạn đường này, tôi vốn quen thuộc từ hồi chống Mỹ. Những cánh rừng ngày nào mắc võng chờ lui cơn sốt, những con suối tung tăng cá sốc, cá niêng, bọn tôi rủ nhau thả lưới hay ném tạc đạn, những đỉnh dốc cao ùn ùn mây trắng nối tiếp nhau trùng điệp, đoàn tải đạn chúng tôi phải vượt qua khi mặt trời đã thụt dưới chân núi. Con người có cái thú gặm nhấm những kỷ niệm khi về thăm chốn cũ. Tuổi càng cao, người ta càng nhìn rõ quá khứ hơn những cái hiện tại ở bên mình.

Đang giữa mùa mưa, bầu trời lúc nào cũng âm âm u u. Những cơn mưa rừng chợt đổ ào, chợt dừng lại làm cho con đường lầy lội đi rất vất vả. Tôi đã đi được hai ngày. Theo dự tính thì trưa ngày thứ ba sẽ đến nơi. Vậy mà, đến bốn giờ chiều hôm ấy, con đường mòn vẫn chạy quanh quẩn giữa những rừng cây bạt ngàn. Đến lúc xẩm tối, con đường biến mất trước một con suối lớn. Lạc đường rồi, tôi đâm lúng túng. Nhưng vốn là người lính cũ, tôi đặt ba lô xuống một tảng đá, rút dao găm đi dọc suối tìm đường. Một lúc sau, về phía cuối con suối, tôi bỗng gặp lại con đường chạy về một thung lũng. Trong màn mưa, xa xa, hiện lên những mái nhà sàn của đồng bào Cà-tu. Mừng quá, tôi quay về chỗ cũ, mang ba lô xăm xăm đi tới hướng đó.

Khi tôi đến gần làng thì trời đã sụp tối. Một trận mưa xối xả bỗng ập đến làm cho con đường dưới chân tôi trôi tuột vào bóng đêm. Tôi đứng lặng ngơ ngác. Một lúc sau, qua ánh chớp, tôi bắt gặp một máng nước bằng lồ ô. Vịn tay vào ống máng tôi dò dẫm từng bước. Trước mắt tôi bỗng hiện lên một ngôi nhà sàn. Trong nhà đang còn bếp lửa sáng. Một giọng ru con ngọt ngào của người thiếu phụ Cà-tu lảnh lót vọng ra. Đó là một miền quê thung lũng, có những con bướm vàng bay chập chờn trong nắng đợi tay đứa bé nào mau lớn đến vờn chơi. Đó là tiếng mang tác ven triền vách đá nghiêng xuống một dòng suối trong xanh đang chờ một cậu bé rắn khỏe nhào lộn đùa vui. Tôi đứng lặng dưới cầu thang một chút rồi bước lên nhà sàn. Một giọng đàn bà hỏi vọng ra :

– Ai đấy?

Tôi chưa kịp nói mình lạc đường xin nghỉ nhờ thì nghe có tiếng thổi lửa phù phù ở bếp. Một người đàn bà dáng nho nhỏ, mặt còn trẻ có nước da ngăm ngăm đen cầm cây nứa cháy trên tay bước ra, soi vào mặt tôi :

– Anh làm gì đến đây?

– Mình là bộ đội.

Chị ta giơ cây nứa lên nhìn vào bộ quân phục và mặt tôi lần nữa rồi hỏi:

– Giấy của anh đâu ? A Gôn nói dạo này hay có biệt kích, bộ đội cũng phải xem giấy.

Tôi chùi tay vào áo, rồi móc giấy từ trong túi ra đưa cho chị ta. Chị ta cầm tờ giấy, giơ gần ngọn lửa, đọc một lúc rồi nhìn thẳng xuống cái con dấu của Huyện đội Giằng.

– Có dấu của Giằng. Được. Nhưng A Gôn – chồng mình đi công tác rồi.

Tôi cười gượng, lúng túng.

– Mình đi lạc, cho mình nghỉ…

Chị ta đứng lặng, vẻ ngần ngừ. Tôi nghĩ chị ta là đàn bà ngại người lạ vào nhà đêm hôm nên nói :

– Mình định đi tìm nhà khác. Nhưng tối quá. May gặp…

– Ở đây cũng được. Đêm nay thanh niên đi tuần tra với A Gôn. Người già con nít ngủ sớm. Chỉ có nhà mình, con khóc không ngủ được. Mình chờ A Gôn về.

Một tiếng trẻ khóc oa oa ở bên trong. Chị ta nói :

– Bộ đội vào nhà nghỉ đi. Nằm gần lửa cho ấm.

Chị ta bước vào buồng trong nựng con. Còn tôi, tôi đặt ba lô và ngồi xuống bên bếp lửa. Đã từ lâu, bếp lửa của đồng bào dân tộc ít người vẫn quyến rũ tôi. Đó là nơi sum họp gia đình, là chỗ để hội họp làng buôn. Suốt ngày đi làm, tối về, thiếu chăn ấm, họ nằm quanh bếp lửa để ngủ. Ngọn lửa là sự sống ở vùng cao này. Có nhà thơ nào đã từng nói những bếp lửa không tắt như tấm lòng, như niềm tin của đồng bào với Đảng chúng ta. Đồng bào nhóm bếp suốt ngày đêm. Tôi say sưa giơ tay lên bếp lửa để sưởi ấm. Đã bao lần, mắc võng nằm một mình dưới trời mưa giữa rừng tối đen, ướt át, tôi thường mơ một bếp lửa…

Một lúc sau, đứa bé có lẽ đã ngủ yên. Chị chủ nhà bước ra ngồi bên tôi, chị đùn thêm một nắm củi vào bếp. Ngọn lửa đang âm ỉ cháy bỗng bựt sáng lên. Tôi thấy chị thật đẹp, khuôn mặt trái xoan, mắt đen thăm thẳm. Hình như tôi đã từng gặp ở đâu trên dải Trường Sơn này…

Bên ngọn lửa hình như con người gần gũi nhau hơn. Chị ta có vẻ xởi lởi hơn ban nãy. Chị gợi chuyện :

– Mình tên là Xia, còn bộ đội tên chi ?

– Mình là Thanh.

– Bộ đội Thanh ngày xưa công tác ở đâu ?

– Mình làm thủ kho ở Xê-ca-máng.

Xia vỗ hai bàn tay vào nhau như một em bé vừa gặp được chuyện vui :

–  Ô, mình biết, mình biết. Mình và A Gôn đã lên Xê-ca-máng nhận súng đạn. Mình đi dân công. Chu cha, người đông như kiến, súng như cây rừng. Sao hồi đó mình không thấy anh Thanh ?

Tôi cười vui vẻ :

– Hồi đó đông quá, người đến người đi như nước chảy làm sao Xia thấy mình được.

Xia hỏi tôi như một người quen lâu ngày nay mới gặp lại :

– Anh Thanh ăn gì chưa ?

Tôi lắc đầu. Xia lục lọi giàn bếp rồi bưng xuống đưa tới trước mặt tôi một rổ sắn.

– Mấy bữa nay hết gạo nấu cơm. Có sắn đó, ăn đi anh Thanh.

Xia cười rất vui. Như bao người dân tộc khi đã quen nhau, chị rất xởi lởi. Tôi vừa ăn sắn vừa hỏi :

– A Gôn đi bao lâu rồi ?

– Ba ngày, bốn ngày. Xia trả lời, rồi hỏi :- Anh Thanh biết A Gôn chưa?

– Chưa.

Xia lại cười như tôi là một người từ trên trời rơi xuống rồi nói, giọng đầy tự hào:

– Huyện biết. Tỉnh biết. Cao cao nữa biết mà anh Thanh không biết. A Gôn tích cực lắm. Anh Thanh biết không, hồi còn thằng Mỹ làng mình không ở đây mà ở trên núi Kông Kênh. Mình sợ tàu bay Mỹ lắm. Đi làm rẫy, thấy tàu bay cứ chui đầu vào lách, giơ lưng ra ngoài. Bọn con trai không sợ. A Gôn còn giơ ná, giơ súng lên bắn máy bay. Cha mẹ nó chết. Nó ở một mình. Vừa làm du kích vừa làm rẫy. Mình thương nó, bắt nó làm chồng. Nó là du kích cứng của làng Tà Băng này đấy. Nó nhanh như sóc. Giặc Mỹ càn, nó bắn cái đùng, luồn qua cây, bắn cái tạch, luồn qua lách. Một bữa bọn tàu bay Mỹ thả bọn biệt kích xuống núi, bọn du kích đi lùng hai ngày, ba ngày không tìm ra. A Gôn bực lắm. Đến ngày thứ tư nó đi một mình tìm miết cũng không  thấy. Nghe tàu bay rè rè trên đầu, nó lủi vào một bụi cây ngồi. Bỗng nó nghe tiếng xì xầm bên cạnh. Nó lần tới thấy bọn Mỹ ngồi. Nó giương ná, bắn cái phựt, chết một  thằng. Nó giương ná bắn lần nữa, thằng nữa chết. Một thằng chạy. Nó rượt theo. Bắn cái phựt. Thằng này ngã như con dộc. Nó xông tới tước súng. Bỗng có ai ôm lưng nó. Nó vùng một cái, thằng kia văng ra. Nó chạy. Thằng kia bắn theo. Nhưng đạn không trúng nó. Đạn trúng cây rừng…

Ngọn lửa bập bùng soi gương mặt Xia lúc hiện lên rõ nét, lúc khuất đi bí ẩn, đang tự hào kể về những chiến công của chồng mình. Trong chốc lát, hình như tôi đang nghe những tiếng hú ngân dài, vang lên trên những vực đá, đồng vọng suốt những cánh rừng. Có tiếng động khe khẽ sau những lùm cây. Một lúc sau, bỗng hiện ra một chàng trai Cà-tu cao lớn, tóc xõa ngang vai, mắt thăm thẳm như rừng đêm, ngực trần, đóng khố, cánh tay to như bắp chuối, cuồn cuộn nổi vồng lên những thớ thịt, đang giương ná lên.

– A Gôn đang chạy. Bất ngờ nó ngã nhào xuống. Chân nó vấp một cái rễ cây. Ngực nó đập vào đá. Từ đó nó bị tức ở ngực. Lâu lâu ho có máu. Kế đó, chân nó đau ở chỗ đầu gối. Nó nhức la hoài mà vẫn đi miết miết.

Xia dừng lại, đăm đăm nhìn ngọn lửa một lúc rồi kể tiếp.

– Miền Nam giải phóng, cán bộ, bộ đội về xuôi hết. A Gôn buồn lắm. Mình cũng  buồn. Mình thường bảo A Gôn : Sao hồi cán bộ ở đây, hứa hết giặc sẽ xây trạm xá, đưa vải, muối lên mà giờ cán bộ đi hai mùa, ba mùa không thấy gì. A Gôn bảo cán bộ bận nhiều việc không lo hết. Cán bộ không quên lời hứa đâu. Mình nói khích :

– Mày làm cách mạng sao nó về xuôi mày không đi theo.

A Gôn càu nhàu :

– Đi đâu. Cách mạng ở trong bụng mình chớ. Mình chịu làm cách mạng thì mới có cách mạng, cũng như chịu khó nhóm bếp mới có lửa.

Một đêm, có một cán bộ ở Giằng lên gặp nó rì rầm. Sáng hôm sau, mình bảo :

– Dạo này chưa làm rẫy, nhà dột quá, sửa đi A Gôn.

Nó càu nhàu:

– Bận việc. Các ảnh bảo mình lập lại du kích.

– Hòa bình rồi, lập du kích chi nữa A Gôn ?

– Mình phải bảo vệ xã mình chứ. Còn tụi phỉ, tụi gian kia mà.

– Lũ thanh niên đi với mày hết ai làm rẫy ?

A Gôn trả lời :

– Thì tụi tao vừa làm du kích, vừa sản xuất chớ.

Nó lại đi. Một thời gian sau, nó rủ được chục thanh niên. Nó phát một miếng đất. Chia làm hai nhóm. Suốt ngày cứ tập “một hai, một hai”. Bụng mình buồn cười lắm. Du kích chi chỉ có gậy, không có súng. Buồn cười ghê. Nó tập được một ngày, hai ngày thì thanh niên các làng khác rủ nhau đến xem rồi cũng xin vào tập. A Gôn vui hung. Nó không tập chung nữa mà chia ra từng làng. Bây giờ xã mình vui lắm. Tụi thanh niên cứ đi tuần tra canh gác với bộ đội biên phòng. Đố có thằng gian nào mà lọt khỏi tay tụi du kích.

Xia dừng lại đẩy thêm một khúc củi vào bếp rồi kể tiếp :

– Một hôm nó về hỉ hả nói: “Mình và bọn du kích vừa bắt được một thằng phỉ”.

– Thật không ? – Mình vặn lại.

– Thật chớ. Xia qua nhà Quăn Lan mà coi.

Mình chạy đến nhà Quăn Lan thì thấy một thằng gầy gò, quần áo rách rưới, râu ria xồm xoàm. Kinh quá…

Xia kể đến đây thì xin phép vào buồng ru con vì chú bé vừa chợt khóc. Tôi cũng soạn sửa chỗ ngủ.

Ngoài trời, một trận mưa lớn đang kéo đến đổ ầm ầm. Trên mái nhà những đợt gió ào ào lướt qua. Tôi co chân, dịch sát người bên bếp lửa. Trong đêm khuya, cái bếp lửa lúc nào cũng được nhen nhóm của đồng bào các làng biên giới vùng căn cứ cũ đang  cháy bập bùng. Thỉnh thoảng có tiếng nổ lách tách của tre nứa hay một loại củi gì đấy làm cho những đốm lửa bay lên đỏ rực.

1982-1995

 

NÓ VÀ BA NÓ

 

Nó đã lên bảy. Người nó dong dỏng cao, dáng nhanh nhẹn. Trên khuôn mặt trắng trẻo của nó dây len nhem  những vết nước mũi lẫn đất. Đó là dấu vết của sự thiếu chăm sóc trong những ngày gần đây của người mẹ.

Lúc ấy khoảng bốn giờ chiều. Mặt trời chiếu những tia nắng nhợt nhạt xuống con đường làng trước nhà nó. Bọn trẻ đang nô đùa. Hình như đã qua trò chơi đáo, bây giờ chúng chuyển sang nhảy dây. Mọi bữa, nó cũng được cùng chơi. Nhưng hôm nay, hễ nó xáp vào trò chơi nào, lũ bạn nó cũng gạt ra. Nó tức giận bước tới bên gốc dừa rợp mát trước sân nhà, tay cầm mấy cục đất, gườm gườm nhìn ra. Có mấy đứa trẻ đang xem bọn nhảy dây bỗng giơ tay lêu lêu nó rồi bỏ chạy. Nó ném theo một cục đất rồi đứng lom khom thủ thế. Một đứa trẻ đang chạy bỗng quay lại la to:

– Đồ con ác ôn, không phải con ông Bốn. Má tao nói ổng sắp về rồi, ổng sẽ trị mày.

– Tao mà là con ác ôn à?

Nó vừa nói gằn vừa chạy lại phía góc sân, cầm một cây sào dài, vốn ngày nào bọn nó vẫn cùng nhau khoèo ổi, khoèo xoài rồi vui vẻ cùng ăn với nhau, khua túi bụi vào đám trẻ. Mấy đứa đang nhảy dây cũng bỏ chơi, hùa nhau lượm đất ném vào nó. Nó ré lên, chạy thẳng vào nhà.

Nó chạy đến mách với má nó. Nhưng hôm nay, má vẫn ngồi im bên bàn không bênh vực nó, không kéo nó vào lòng hôn hít như mọi bữa. Dáng má rầu rĩ, hai mắt đỏ hoe. Má khoát tay bảo nó đi ra cho má được yên. Nó kinh ngạc nhìn má rồi lui vào chiếc giường trong góc nhà, úp mặt xuống gối khóc tức tưởi. Nó thấy tủi thân. Tại sao bọn trẻ lại bảo nó là con ác ôn. Lâu nay, khi thấy bọn trẻ có ba,  nó hỏi ba nó đâu, má bảo ba ở miền Bắc. Dạo này, trong làng, nhiều anh chị có ba về, nó cũng mong ba về lắm. Sao tụi trẻ bảo ông Bốn nào đó sẽ về trị nó, mà không phải ba nó? Sao mấy bữa rày, thấy các bác ở miền Bắc về, má nó không đến hỏi thăm tin ba mà cứ ngồi ủ rũ? Nó cứ nghĩ mãi, nghĩ mãi, rồi ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau, nghe tiếng má mở cửa, nó giật mình thức dậy, nhảy ngay xuống sàn nhà. Nó thấy một ông to lớn, đội mũ cối, mang ba lô, mặc quần áo bộ đội bước vào nhà. Nếu như mọi bữa, thấy các chú bộ đội, nó sẽ chạy đến ôm chầm, bắt các chú cho xem cái mũ có ngôi sao. Nhưng hôm nay tự nhiên nó thấy sợ. Nó nghe má nó nói: “Trời, anh Bốn!” rồi đứng sững như trời trồng. Ông này cũng đứng sững đăm đăm nhìn má nó. Một cái gì đó bỗng chạy rùng rùng từ ót cho đến đầu ngón chân nó. Chợt nhớ lời lũ trẻ nói về ông Bốn, nó sợ quá. Đầu gối nó run run. Nó lủi trốn vào góc nhà, lấm lét nhìn ra:

– Ông nhỏ đây hử. Trốn làm gì, ra đây “trình diện” đi – Ông Bốn vừa đặt ba lô xuống bàn vừa quay về phía nó nói.

Nó đứng sững, trợn trắng mắt lên. Lâu nay ở trong xã người ta kêu những người làm cho địch “trình diện”. Nó đâu có làm gì. Nó nghĩ như vậy rồi vừa lấm lét nhìn ông vừa lùi ra phía cửa.

Nó chạy ra đầu xóm. Bọn trẻ đang chơi trò bịt mắt bắt dê dưới một gốc bàng. Nó sán lại nhưng mấy đứa xô nó ra. Một thằng mặt bê bết đất quay lại nói:

– Cút đi, đồ con ác ôn. Hồi nãy mẹ tao thấy ông Bốn về. Mày sợ mày trốn hả?

Nó a vào, chụp tay thằng kia cắn một miếng. Bọn trẻ xô vào cứu thằng kia, vật nó xuống, đá vào người nó. Nó thét lên một tiếng ghê rợn, vùng dậy nhặt một bãi phân bò khô ném vào lũ trẻ. Chúng dạt ra. Nó vừa kéo quần vừa ù té chạy.

Nó đứng bên bờ một con kênh ở rìa làng. Mới đầu xuân mà trời đã nóng nực. Nó nhảy ùm xuống tắm. Con kênh này cạn, nước chỉ tới ngực nó. Nó ngụp lặn, vỗ nước thỏa thích. Một lát sau, nó leo lên bờ, chui vào một bụi cây và thiếp ngủ. Ánh mặt trời chiếu thẳng vào đỉnh đầu làm cho nó thức dậy. Nó thấy kiến bò ran trong bụng. Nó đói. Nó lùi lũi quay vào trong xóm.

– Ê, con ác ôn. Mẹ mày với ông Bốn tìm mày mãi. Mày đi đâu?

Thằng bé hồi sáng bị nó cắn vào tay đang cầm một cái rổ đi ngược chiều nói với nó. Nó quay lui lại. Nó sợ ông Bốn bắt nó quá. Một lúc sau, nó đi đến một động cát ở cuối làng. Động cát này chỉ có cát và gai bàn chải phủ trên những cái mả đá. Đây là nghĩa địa của làng. Xưa nay, người ta đồn ở đây có nhiều ma lắm. Nó thấy sợ, tim đập thình thịch. Hình như ở khắp mọi nơi trên động, dưới những bụi bàn chải bỗng hiện lên những người đầy lông lá. Nó vùng chạy. Cuối cùng nó thấy nó đứng ngay đầu hè nhà mình. Nó thấy má nó đang ngồi khóc bên bàn. Ông Bốn ngồi bên má nó. Nó đoán ông đã đánh má nó. Nó cúi xuống lượm một cục đất nếu ông còn đánh nữa nó sẽ trả thù cho má. Nó nghe má nói, giọng thấm nước mắt:

– Thằng Thạnh nó cưỡng ép em mãi. Nó làm khó làm dễ em hoài. Nay nó bắt đi tù, mai nó bỏ truyền đơn vu cáo. Nó bảo em không ly hôn anh là còn theo cộng sản. Các chị em khác cũng có đứa ép như vậy, nhưng các chị chống lại. Còn em, em bị bắt tù hoài, em sợ. Em không đủ sức chống đỡ…

Má nó bưng mặt khóc hu hu một lúc rồi nói tiếp:

-…Thằng Thạnh có nhiều tội ác, bị ta giết rồi. Nó chết. Nhưng nhục nhã của em, em không bao giờ xoá được. Em đã có đứa con với nó. Ai cũng khinh em. Em xấu hổ quá. Em không dám nhìn anh nữa…

Nó thấy má ngã vào lòng ông Bốn khóc rấm rứt và nói lúng búng những gì với ông, nó nghe không rõ. Ông Bốn cứ ôm má nó, vuốt vuốt tóc, dỗ má nó nín. Chuyện gì thế nhỉ? Tại sao ông Bốn làm má khóc mà má vẫn tựa vào ông, để cho ông âu yếm như má vẫn thường nựng nó? Nó đâu biết. Cũng như nó làm sao biết được cái gì đã xảy ra trong lòng ông khi ông biết tin má nó đã phản bội ông, lấy một người khác, chính là cha nó, một tên ác ôn, để có nó trên đời này. Bao nhiêu đau xót, giận hờn, bao nhiêu dằn vặt, dày vò lòng ông trong nhiều đêm mất ngủ. Trong ý nghĩ, ông đã từng quyết định cắt đứt với má nó rồi ông lại tự xoá quyết định ấy mà lòng nặng chua xót để trở về gặp lại, hàn gắn với má nó. Nó đâu biết điều ấy. Nó chỉ nghe ông nói, giọng khàn khàn:

– Thôi, nín đi em, anh hiểu cả. Anh về đây không phải để dằn vặt em mà để cùng em xây dựng lại cuộc sống của chúng mình.

Bóng chiều xuống dần. Nó thấy má nó nước mắt long lanh, ngẩng lên nhìn ông Bốn, hỏi nhỏ:

– Còn nó?

– Ta sẽ nuôi. Cha nó khác. Nó khác. Hồi sáng thấy nó y hệt cha nó hồi nhỏ trong cùng đám bạn chơi bi đáo với anh, anh tức lắm. Nhưng nghĩ lại, anh thấy thương nó. Nó ở trong nhà mình, lớn lên dưới chế độ mình…

Má nó lấy khăn lau mắt. Khi bà ngẩng lên, nó thấy mắt má nó như sáng hơn mọi bữa. Ông Bốn đứng dậy đi lại trong nhà. Dáng ông như trùm lên dáng má nó. Bất chợt, ông dừng lại, vỗ vào vai má nó:

– Này em, em đi tìm thằng nhỏ về đi chớ tối rồi. Không biết ông tướng đi đâu từ sáng tới giờ.

Ông đẩy cửa bước ra thềm. Tiếng kêu ken két của cánh cửa già nua làm nó sợ hãi. Nó vù chạy. Ông Bốn gọi với:

– A, thằng nhỏ đây rồi, vào đây con!

Nó đứng sững, quay mặt lại phía ông. Tự nhiên nó thấy cánh tay vẫy vẫy của ông trong nắng cứ vươn dài ra như muốn bắt lấy nó. Nó càng sợ. Chợt nhớ ra hòn đất đang cầm trong tay, nó ném vào ông rồi phóng nhanh.

Trước mắt nó hiện ra một gánh hàng bún của một bà chuyên đi bán rong khắp xã. Bên cạnh bà, một gã tóc tai bù xù, quần ống loe, râu để dài, chắc gã ở thị trấn về, đang ngồi ăn bún. Nó thấy đói quặn cả ruột. Nước miếng tứa ra. Nó bước tới gần, nhìn chằm chằm vào rổ bún.

– Nè bụi đời …- gã tóc dài đưa cánh tay xương xẩu ngoắc ngoắc nó .

Nó đứng lặng. Sao gã kia lại dám gọi nó là bụi đời. Sao vậy? Hay tại cả ngày nay nó đi lang thang. Nó tức giận, hầm hầm nhìn gã rồi bước đi .

Xẩm tối, nó cảm thấy đói xỉu. Nó nằm xuống dưới gốc một cây bàng, thiêm thiếp ngủ.

Có tiếng ai đó quen quen đang lay gọi nó. Nó ư hử rồi nặng nề mở mắt. Một khuôn mặt như khuôn mặt má cúi xuống bên nó.

– Thôi dậy đi về con. Suốt ngày nay tao với ba mày tìm mày miết – Má nó vừa nói vừa đỡ nó đứng dậy.

Nó đưa tay dụi mắt nhìn má nó. Trên khuôn mặt của má, cái vẻ ảm đạm hôm qua như nhẹ hẳn đi .

Linh tính trẻ con báo cho nó biết là nó sẽ không bị má la rầy gì đâu. Nhưng chợt nhớ đến ông Bốn, nó mặc cả để thăm dò :

– Tui hổng về. Nếu còn ông Bốn ở nhà thì tui hổng về đâu. Ổng đánh tui, tui sợ lắm .

– Ba mày chứ ai mà sợ ..

Má nó nói rồi lôi tay nó dắt đi. Nó vừa trì tay lại vừa khóc ư ử…

– Vào đây con, ba tìm con mãi, có kẹo miền Bắc ngon lắm.

Nó thấy ông Bốn đứng trên thềm nhà ngoắc nó, mỉm cười. Nhớ lại chuyện ném đất hồi chiều, sợ ông đánh, nó giật tay, vù chạy. Nhưng má nó chạy theo chụp lại :

– Vào chào ba đi con  – Má nó nói.

– Hổng phải ba đâu má. Tụi nhỏ nói thế .

Ông Bốn nói dịu dàng :

– Tụi nó nói bậy đó. Ba đây mà. Ba ở miền Bắc về với con đây mà. Hồi sáng ba làm lạ thử con có nhận ra ba không. Thế mà con không biết, con sợ ba…

Má nó đẩy nó đến bên ông Bốn. Nó len lén cúi đầu vừa nuốt nước mắt vừa nói ngập ngừng :

– Con chào ba ạ. Hồi chiều…

Ông Bốn dắt tay nó đến bên bàn, lấy kẹo đưa cho nó, rồi quay sang nói với má nó :

– Mai mình cho con đi học nghe .

– Ừ , mai má sẽ cho con đi học .

Bây giờ, nó vừa thút thít vừa ôm choàng cổ ông Bốn đang cúi xuống bên nó, nói thỏ thẻ :

– Mai ba dẫn con đi, để tụi nó không nói con là con ác ôn, mà là con của ba nghe ba .

Ông Bốn ôm nó vào lòng, đưa tay xoa đầu nó. Hẳn cái giọng cầu mong thỏ thẻ của nó xoáy vào lòng ông, có cái gì đó còn đau hơn cả nỗi đau mà ông đã chịu đựng. Ông càng thấy thêm yêu thương nó. Bằng cái giọng ấm áp của người cha, ông khẽ bảo :

– Ừ, mai ba sẽ dẫn con đi …

24-4-1976

 

DỐC DÌ TÂM

Dãy núi phía Tây cánh đồng làng Phú Thạnh có nhiều dốc. Ngoài dốc Phú Cốc, dốc Bà Nhạn có từ thời nảo thời nao, đến các cụ già râu tóc bạc phơ cũng không biết được sự tích, còn tất cả đều chưa có tên.

Thường thì, để cho dễ phân biệt, bà con lấy tên các loại cây mọc nhiều ở từng dốc để đặt tên cho chúng: dốc Cây Trâm, dốc Cây Duối, dốc Bụi Tre, dốc Cây Me, dốc Cây Ổi…Gọi mãi hóa quen.

Tám năm trước đây, người ta lại đặt một cái tên mới để thế cho dốc Cây Trâm, đó là dốc “Con Tâm” vì trên dốc có mả “con Tâm”. Những người ở xa đến chẳng biết “con Tâm” là ai. Nhưng bà con làng Phú Thạnh này thì biết rõ mười mươi nó là con của bà Sớc, một người đàn bà nghèo khổ, sống du di cuối rìa làng. Bọn trẻ con lại biết thêm điều này nữa: đó là dì của con Chút. Nhưng ngoài điều ấy ra thì chúng chẳng hề biết thêm một tí gì nữa. Tâm hy sinh từ hồi có đứa trong bọn chúng còn ẵm ngửa. Chúng bắt chước gọi theo như vậy cũng là do cha mẹ chúng gọi mà thôi…

o0o

Trước đây làng Phú Thạnh có nhiều dừa. Qua những lần bị bọn Mỹ  trên đỉnh dốc Cây Duối phóng pháo, bây giờ chỉ còn lưa thưa vài chục cây. Đất ở đây sẫm màu, mặn chát. Người ta bảo rằng đất đã thấm máu của bà con trong làng. Lũ trẻ lớn lên đặt ra nhiều trò vui trên mặt đất, ngay dưới bóng những cây dừa còn sót lại. Hàng ngày, cha mẹ ra đồng cày cấy, chúng ở nhà biết dọn dẹp rồi ơi ới gọi nhau đem khoai đem nước cho cha mẹ ăn dặm. Những đứa nhóc này chỉ chực đặt rổ khoai xuống đầu bờ là nhót ngay đến những tàn cây sát mé rừng tán gẫu hoặc rủ nhau đi hái sim hái ổi. Khi những túi áo căng phồng lên, chúng lại tụm nhau ngồi ăn.

Một hôm, đang ăn, bỗng thằng Tùng, một thằng cao gầy, đội nón nhựa trắng, lấy trái ổi cốc vào đầu con bé Việt mặc áo đen ngồi bên cạnh:

– Đố con trán dồ, cái dốc mây đang che kia là dốc gì?

– Hỏi không được sao mà còn đánh người ta?

Sau câu hỏi có vẻ hiền lành, con bé áo đen véo một cái thật đau vào đùi thằng nón trắng làm nó nhảy nhổm lên. Thế là nổ ra cuộc cãi nhau. Những lúc ấy con Chút thường láu lỉnh cười, khoe cái răng lòi xỉ của nó ra. Mái tóc cũn cỡn buộc dây đỏ cứ lắc qua lắc lại. Mắt nhìn lên dốc Cây Trâm, muốn đem ra đố các bạn. Nhưng dằn lòng được, nó cầm trái ổi chín mọng tràm trong lòng bàn tay nhứ nhứ trước mặt lũ trẻ:

– Đứa nào nói đúng tên cái dốc cháy đen kia, tao cho trái này.

Cả lũ nhao nhao:

– Dốc Cây Sim!

– Dốc Cây Sim!

– Tao nói trước!

– Tao nói trước!

– Đừng ồn-Con Chút nói như người lớn-Tao nói nghen, con Cháu, thằng Hải cùng nói một lần, tao chia hai.

Cả bọn cười ré lên. Con Chút lại nói:

– Còn trái ổi chót tao đố nghen. Con dốc có nhiều cây trâm là dốc gì?

– Mày lại nói dốc Dì Tâm mày chớ gì, lúc nào mày cũng khoe dì mày-con Việt áo đen ngẩng cái trán dồ lên nói.

– Vậy mày có biết dì Tâm mày không? Thằng Tùng xen vô.

– Sao hổng biết. Là dì tao chớ ai mà hỏi!

– Nhưng làm sao người ta lại đặt tên? Thằng Tùng bỏ cái nón trắng ra, gằn giọng.

Con Chút lúng túng. Nó khoát tay đứng dậy, xì lên một tiếng:

– Tao biết nhưng tao hổng nói.

Thế là cả bọn xì lại vào mặt nó, la ó rồi giải tán.

o0o

Mấy hôm liền, các chú du kích gỡ mìn quanh cái đồn Mỹ, trên đỉnh dốc Cây Duối cho đồng bào đi lại làm ăn. Nhân đó các chú cũng dời mả một số các chú các cô nằm trên đồi hồi chống Mỹ về nghĩa trang của xã. Đội thiếu niên làng Phú Thạnh nhận việc tiếp tế các bữa ăn dặm theo sáng kiến của con Chút.

Một buổi sáng, bọn trẻ mang xôi, xách nước lên tới dốc bà Nhạn thì nghe tiếng mìn nổ. Các chú du kích ơi ới gọi nhau rồi la vọng xuống cấm bọn chúng leo lên. Chúng nó ức lắm, nhưng phải vâng lời. Ngay lúc ấy, các chú cáng xuống một người. Chúng nó né đường nhìn theo. Con Chút nhận ra trước tiên, kêu lên:-“Chú Đông”.

Đám trẻ lặng lẽ đi theo sau cáng đưa chú về nghĩa trang liệt sĩ. Từ đó, nơi chú Đông ngã xuống, có một cái dốc mới được đặt tên là “Dốc Chú Đông”.

Không còn mìn, lũ trẻ tha hồ lên núi cao hái trâm hái ổi. Trên cao, bị cây rừng che, chúng khó nhận ra các dốc như ở dưới nhìn lên. Con Chút biết thế, nên khi cả bọn ngồi nghỉ lại giữa một bãi cỏ, nó hỏi:

– Đố tụi bay tìm ra dốc Sim ở đâu?

Mãi một lúc sau, bọn trẻ mới tìm ra dốc Sim, nhưng trong bụng chúng vẫn chưa tin chắc.

– Lạ quá mà!

– Chưa chắc!

– Nhất định đúng- Con Chút nhìn quanh rồi nói quả quyết-Có phải ở phía trái dốc Sim có cây thị to không? Thế thì cây thị kia kìa.

– Chịu thua con Chút bay ơi.

– Còn dốc Trâm đâu? Chút hỏi tiếp.

– Mày lại muốn nói dốc Dì Tâm mày chớ gì? Mả dì mày đem về nghĩa trang rồi. Giờ tao cứ gọi là dốc Cây Trâm đó. Con Việt trán dồ nói ngang.

Con Chút từ tốn:

– Đưa thì đưa, vẫn phải gọi là dốc Dì Tâm chớ.

– Tao không gọi. Con Việt cãi lại.

– Không gọi thì thôi…-Nó im lặng một chút rồi nói dỗi-để đó rồi coi…

Quay sang phía thằng nón trắng, Chút nói:

– Tao hỏi nghen (Chút rơm rớm nước mắt, chỉ sợ thằng nón trắng không bênh mình) -Vậy tại sao chú Đông cũng được khiêng xuống nghĩa trang mà tụi bay…

Nói đến đây, nước mắt con Chút ràn rụa.

– Chú là người gỡ mìn. Chú là liệt sĩ. Con bé áo đen giải thích.

– Dì tao cũng liệt sĩ, sao bay…

– Mày nói sao hả? Thằng nón trắng hỏi lại.

– Má tao biểu dì tao là du kích mà…

– Thì trong làng này các cô các chú ai chẳng là du kích.

– Tụi bay không thương dì tao…

Thằng bé đội nón trắng dịu giọng:

– Chút, mày nói đi, coi tao nghe có phủng lỗ tai không?

Con Chút vùng vằng, mái tóc ngắn cũn cỡn buộc chỉ đỏ cứ lắc qua lắc lại. Nó khóc ư ử trong miệng. Bất ngờ, nó đưa tay lên quệt nước mắt nước mũi đang chảy trên má rồi nói:

– Má tao biểu hồi trước ở dốc Cây Trâm này xe tăng Mỹ nó càn lên. Các cô các chú chặn đánh cháy hai chiếc. Nó tức mình bắn ghê lắm. Hai chú du kích bị thương nặng…Lúc đó dì tao…

– Sao không đặt tên dốc cho hai chú đó. Con Việt trán dồ cắt ngang.

– Để nó nói, cái con này-Thằng nón trắng nạt con bé áo đen rồi quay lại hỏi: “Mày nói sao rồi hả Chút?”

– Sao à, má tao biểu giữa lúc xe nó bắn, máy bay nó quần, dì tao xông đến cõng một chú vô rừng.

– Dì mày giỏi. Tiếng thằng Sáng từ trên cây ổi nói vọng xuống.

Con Chút thấy nguôi nguôi, nó kể mạch lạc hẳn:

– Dì tao lại ra để dìu chú nữa vô. Nó bắn. Dì tao lấy người che cho chú. Nó bắn nữa, dì tao gãy chân mà cứ kéo chú vào rừng. Chú được cứu sống. Còn dì tao đến khuya thì chết. Con Chút bật khóc rưng rức.

Bọn trẻ sững sờ. Có mấy đứa cũng thút thít. Thằng bé đội nón trắng nói:

– Vậy thì phải lắm rồi-Nó quay sang phía con Việt trán dồ-Mày nghe phủng lỗ tai chưa? Người ta gọi dốc Con Tâm là phải. Nhưng mà…Từ nay mình đừng gọi là dốc Con Tâm nữa.

– Sao vậy?

– Hỗn chớ sao?

– Chớ kêu làm sao?

– Dốc Dì Tâm…Như con Chút gọi đó.

Cả bọn vỗ tay hoan hô rồi lại tiếp tục lấy trâm lấy ổi ra ăn.

o0o

Hai tháng sau, con Chút theo cha vào Tuy Hòa để học. Cha nó đi chữa bệnh ở miền Bắc mới về, đang công tác ở ngành y tế. Buổi chia tay, bọn trẻ từ trên núi hối hả chạy về, theo xe dúi vào tay con Chút một bọc vừa sim vừa ổi.

– Thỉnh thoảng về chơi nghen Chút! Con Việt trán dồ nói nhỏn nhẻn.

– Ời…tao sẽ về! Chút trả lời lí nhí.

Chú lái xe bấm còi. Xe chuyển bánh cuốn theo lớp bụi mù phía sau. Bọn trẻ đứng sững sờ nhìn theo. Bất giác chúng cùng nhìn lên dãy núi. Thằng bé đội mũ trắng quay sang hỏi các bạn:

– Đố tụi bay dốc Chú Đông ở chỗ nào?

– Chỗ có mấy cây duối kia kìa.

– Vậy dốc có nhiều cây trâm là dốc gì? Thằng bé đội mũ trắng hỏi tiếp.

Bọn trẻ nhao nhao. Con Việt lật đật nói trước:

– Dốc Dì Tâm!

Bữa nay, dốc Dì Tâm như cao hơn mọi bữa. Sau dốc Dì Tâm, trập trùng bao nhiêu dốc khác cứ nhấp nhô trong nắng…

Tuy Hòa, 1976

 

NGƯỜI KHÁCH LẠ

 

Người khách ấy đã đến nhà tôi khi không ai mong chờ ông cả .

Ông đến vào buổi trưa. Vợ chồng tôi vừa ăn cơm xong, đang ngồi bên bàn uống nước thì nghe có tiếng gõ cửa rụt rè. Tôi mở cửa. Trước mặt tôi hiện ra một người đàn ông gầy gò, trán nhăn nheo, da sạm nắng. Ông mặc bộ đồ ni – phăng xanh bạc phếch, vai đeo chiếc túi cói đã có những lỗ thủng. Ông lúng túng hỏi tôi :

– Đây có phải nhà chú Thanh không chú ?

Tôi sửng sốt nhìn từ đầu đến chân ông:

– Bác hỏi anh Thanh có việc gì ?

Ông lại bối rối nhìn tôi :

– Tôi là Chín Hược chú anh ấy .

Tôi định giơ tay nắm lấy tay ông, nhưng bất giác rụt lại ngay :

– Cháu là Thanh đây, mời chú vào .

Ông lặng lẽ gật đầu chào vợ tôi khi tôi giới thiệu ông với cô ấy rồi cúi xuống sè sẹ cởi đôi dép cao su, bỏ chiếc túi cói ở góc cửa. Tôi hỏi ông dùng cơm chưa ông mỉm cười cảm ơn, xin phép ngồi xuống một chiếc ghế bỏ trống đối diện với ghế tôi, kê sát bên cửa sổ nhìn ra một khoảnh vườn đầy nắng và giở túi thuốc rê ra quấn. Dáng ông ủ rũ, ngơ ngác thật tội nghiệp. Ông đã thay đổi quá nhiều sau bao năm dài dằng dặc …

Ngày tôi còn bò nhoài ra đất gào rát cổ chữ a, b mà chữ vẫn bay đâu mất thì ông đã là một thiếu niên mười bốn tuổi, có dáng người mập mạp suốt ngày ôm gà chọi đi lông rông khắp làng. Làng tôi là một làng nghèo, nằm hẻo lánh sát chân núi. Trong kháng chiến chống Pháp là vùng tự do, nhưng do đất đai cằn cỗi nên bà con sống rất lam lũ. Quanh năm suốt tháng chỉ ăn cơm ghế khoai, từ người già đến con nít, ai cũng mặc những bộ đồ xi-ta bạc phếch, chằng đụp những miếng vá. Ông bà tôi, ba má tôi cũng vậy. Nhưng chú Chín thì lại khác hẳn. Là con út, chú được cả nhà chiều cưng, đòi thứ gì, sắm cho thứ ấy. Bà tôi phải mua lại của một người từ vùng tạm chiếm về cho chú một chiếc áo vải dù hoa, một cái quần gabacdin thật oách. Có lần một người buôn lậu từ vùng tạm chiếm về thì thầm gì đó với chú tôi, chú tôi thì thầm với bà tôi. Bà tôi nói: “Mua chiếc rế ấy à? Bây giờ ai lại đội. Bà con họ xì xào chết. Nhà mình nghèo mẹ lo cho con vậy là quá đủ rồi. Con coi quanh đây có ai như con không“. Chú tôi dằn dỗi, đòi nhảy xuống giếng tự tử. Bà tôi phải chiều chú. Chú đội mũ nồi nghễu nghệnh đi trong làng ra dáng tự đắc giữa những tiếng xì xào bàn tán của bà con vốn ghét “đồ ngoại”. Sau này nhiều lúc tôi tự hỏi, chẳng hiểu vì sao chú khác tính mọi người trong nhà vốn cần mẫn tằn tiện như vậy. Có phải do cả nhà cưng chiều chú, còn chú thì chỉ biết lo cho mình  chẳng nghĩ gì đến khó nhọc của người khác, đương nhiên tự cho mình là phải sướng hơn mọi người? Tôi không rõ nữa . Nhưng lúc ấy, trước mắt bạn bè, tôi rất hãnh diện có một người chú “oách xì dầu “, coi ông như người bảo trợ cho mình .

Chú Chín thường dẫn tôi đi chơi. Trưa trưa , chúng tôi tụ tập dưới bóng một cây đa cổ thụ có tán rộng, rễ trổ lòng thòng từ thân cây xuống. Trên thân cây, quanh gốc cây, bà con trong làng lập khám, lập bàn thờ. Họ coi gốc đa như chỗ linh thiêng nhất làng, nơi có những vị thần phù hộ cho làng. Vào đầu tháng, ngày rằm, bà con thường đem xôi đem chuối ra cúng. Chú Chín và anh Sáu Trợ, bạn cùng tuổi rất ăn rơ nhau, rủ chúng tôi chơi chọi gà , đá bóng bằng giẻ rách cuộn rơm , rồi với dáng vẻ hùng dũng , trong khi chúng tôi nơm nớp lo sợ , hai nguời xông đến bẻ chuối, bốc xôi ăn , cười nhạo chúng tôi là lũ thỏ đế . Chúng tôi tức mình, xông vào giành giật la ó vang trời. Cho đến lúc cha mẹ réo tên từng đứa, chúng tôi mới dạ ran lên, lục tục chạy về nhà . Chú Chín Hược đứng chống hai tay vào hông ngạo nghễ cười nhạo lũ nhát gan chúng tôi rồi ôm gà sang thôn khác. Có lần, tôi nghe bà tôi bảo chú: “ Hược, mày lớn rồi, mày phải giúp cha mẹ, anh chị chứ sao cứ lông rông như con nít vậy? “ Chú tôi nói: “ Có chút con út, cả nhà không lo được sao bà“ rồi cười hì hì, ôm gà ra đi. Bà tôi nhìn theo lắc đầu lẩm bẩm điều gì không rõ .

Vào một ngày cuối năm 1954, cái làng quê hẻo lánh suốt chín năm kháng chiến chống Pháp không hề thấy một thằng địch đã xuất hiện những tên lính nguỵ mặc quần bốn túi, đội mũ nồi có sọc vàng sọc đỏ nghênh ngang sục sạo khắp hang cùng ngõ hẻm. Những tiệm rượu, những sòng bạc cũng mọc lên như nấm độc. Chẳng hiểu bọn lính rủ rê chú như thế nào mà suốt ngày,  chú lê la ở các tiệm rượu, các sòng bạc với bọn chúng. Chú chỉ về nhà khi mồm sặc mùi rượu, chân nam đá chân chiêu hay những lúc thua bạc, năn nỉ bà tôi xin tiền. Tôi thường thấy ông tôi la mắng , đập bàn xô ghế chửi bới, còn bà tôi thì vừa thút thít khóc vừa rút cái đãy nhỏ trong túi ra đếm những đồng bạc nhàu nát, đẫm mồ hôi tay, lén lút đưa cho chú. Thế rồi tự nhiên, những bộ bát đĩa kiểu từ thời cụ kỵ để lại, những chiếc sừng nai treo trên tường đã bay biến đâu mất. Ông tôi ngày càng không chịu nổi chú. Có lần, ông la mắng, chú cãi lại, ông đã vung chổi lên đập vào đầu chú đốp đốp. Tôi thấy mắt chú vằn lên những tia máu đỏ, trừng trừng nhìn ông. Và, một buổi sáng, tôi thấy chú cuốn tròn quần áo lại, cắp vào nách không thèm chào ai, mặt sưng sưng, bước ra khỏi nhà …

Càng ngày, những cuộc khủng bố, bắn giết những người tham gia kháng chiến của bọn Diệm càng rộ lên ở quê tôi. Bà con lối xóm ai cũng nơm nớp lo sợ sẽ tới lượt mình bị bắt, bị giết. Ai cũng thủ thế, ở nhà, ít đến thăm viếng nhau. Một hôm, có một người bà con đi chợ Quận về thì thầm với ông bà tôi: “Thằng Chín hư rồi! Tôi thấy nó mặc đồ lính ngụy, đầu chải đít vịt, cặp kè bọn đĩ đi ngoài phố”. Bà tôi thút thít khóc, còn ông tôi thì đấm tay rầm rầm xuống bàn, quát to lên: “ Tao từ ! Từ nay thấy mặt nó là tao chém!“ .

Thời gian trôi qua, xã tôi đã đứng lên đồng khởi. Cả xã được giải phóng. Mọi người hăng hái tham gia các đoàn thể, đóng góp đảm phụ cho cách mạng. Anh Sáu Trợ tham gia cách mạng từ trước giờ làm Xã đội truởng. Tôi cũng đuợc vào du kích. Chúng tôi vận động bà con đi lôi kéo những người thân đã lầm đường lạc lối trở về làm ăn lương thiện. Bà tôi lọm cọm mò xuống thị trấn để tìm chú. Chú tôi nói: “Bà về đi, tìm tôi làm chi cho uổng công. Tôi là cái đồ bỏ đi rồi. Ai cũng khinh khi tôi hết. Tôi cũng khinh hết, thù hết cái làng Phú Sơn khốn nạn. Bà bảo với cái thằng Sáu Trợ, Xã đội xã điếc chi đó là đừng rủ tôi vê. Tôi muốn nhắm gan nó với rượu đây“. Nghe việc ấy Sáu Trợ bực bội nói:

– Nó hư lắm rồi. Chỉ còn việc treo cổ nó lên cành đa thôi .

Đùng một cái, bọn địch mở một trận càn lớn vào xã tôi. Chẳng hiểu thế nào mà chúng lại nắm được những ngóc ngách của xã. Đội du kích bị đánh giạt, nhiều anh em chết và bị thương. Sáu Trợ bị thương nặng, may mà đưa đi bệnh viện kịp nên cứu được. Khi địch rút , chúng tôi bắt được một tên tù binh bị thương nặng ở chân phải. Hắn van xin được cứu và khai rằng: “Trận này do thiếu uý Hược mách với cấp trên những đuờng đi nước bước. Lúc đội du kích bị vây, thiếu úy chỉ cho tôi một người cao cao gầy gầy nói: “Nó là tên cộng sản cồ, bắn nó đi!“.  Tôi run rẩy co rúm người lại. Thiếu uý đạp vào người tôi một cái, giật khẩu AR 15 lên ngắm. Tiếng nổ làm tôi sợ hãi bịt tai lại. Khi khói tan, tôi không thấy người gầy gầy nữa …”

Thế là đã rõ. Chú tôi dẫn địch đến tàn phá quê mình.

Từ đó tôi không nghe tin tức gì về chú nữa .

Ông bà tôi chết từ lâu. Trước khi chết vẫn đau đáu vì có một người con “phản quốc“. Cha mẹ tôi đã già, hiện đang ở quê, buồn bã vì có một thằng em xấu xa .

Từ ngày giải phóng đến nay, bao nhiêu người có bà con từ miền Bắc về, từ chiến khu xuống đoàn tụ êm ấm. Bao nhiêu người lầm đường lạc lối, bao nhiêu người đói khổ vì sự tàn phá của thằng địch phải ra đi làm ăn xa lần lượt trở về. Chỉ có chú tôi là bặt vô âm tín. Ông chết rồi? Ông đi Mỹ rồi? Không ai còn mong chờ ông nữa. Ông về chỉ rắc rối thêm. Vậy mà bữa nay ông về, ông ngồi ở nhà tôi, cháu ruột ông. Ông về làm gì? Nhờ vả chăng? Cầu cứu chăng? Nếu muốn được bảo lãnh ân xá, ông phải về từ lâu kia chứ, sao bây giờ mới về ? Tôi là chuyên viên của văn phòng Tỉnh ủy. Từ ngày giải phóng đến nay, bao nhiêu bà con xa gần, làng xóm đến nhờ tôi giúp đỡ : khiếu nại, nhờ làm đơn kiện tụng, xin mua vật liệu, xin bảo lãnh, minh oan. Tôi cố gắng giải quyết cho có lý có tình. Nhưng phải nói, những việc ấy cũng gây cho tôi không ít phiền hà. Bây giờ đến lượt ông chú tôi. Tôi ngồi im, chờ đợi. Vừa lúc ấy, vợ tôi xin phép ông đi làm. Ông hỏi tôi :

– Anh có đi làm không ?

– Không, chiều nay cháu nghiên cứu tài liệu ở nhà .

Ông lặng lẽ từ từ quấn một điếu thuốc mới, từ từ châm lửa hút rồi hỏi nhỏ:

– Anh có bao giờ kể cho cô ấy nghe về tôi không?

– Không.

– Thế thì tốt.

Tôi cảm thấy sốt ruột, mong cho ông đi vào câu chuyện. Nhưng ông cứ chậm rãi rít cho kỳ hết điếu thuốc rồi mới lên tiếng:

– Tôi từ Bình Tuy về…

Ông ngừng lại một lát. Mặt căng thẳng. Những nếp nhăn bỗng dồn tụ cả lại ở đuôi mắt:

– Tôi nhờ anh một việc…

Tôi cảm thấy mặt mình đang tái dần, nhưng vội nghiêng tai tỏ ý lắng nghe. Ông liếc nhìn tôi thật nhanh rồi nhìn ra khoảnh vườn phía ngoài cửa sổ chói chang nắng gắt, đôi mắt trông thật bí ẩn. Ông hỏi như nắm được ý nghĩ của tôi:

– Anh nghĩ tôi về đây để nhờ vả làm phiền anh?

Tôi gượng cười:

– Có gì phiền đâu?

Ông nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng trầm hẳn xuống:

– Phiền lắm chớ. Một người như tôi có hại cho lý lịch anh lắm. Tôi nghĩ thế nhưng vẫn muốn gặp anh, mong anh thông cảm.

Ông lắc đầu rồi nói tiếp:

– Tôi biết bây giờ về xã, gặp ai chắc cũng khinh tôi. Điều ấy đúng thôi. Vậy mà tôi vẫn cứ muốn gặp anh, khổ vậy đó-Ông im lặng một chút rồi nói tiếp-Tôi muốn tâm sự với một người ruột thịt. Chẳng hiểu sao, trên đời này có những lúc như vậy đó. Tôi phải mở đầu câu chuyện sao đây? Có lẽ từ lúc tôi bỏ nhà ra đi. Hồi mới ra đi, tôi ngỡ mình bỏ đi như vậy là yên hùng lắm. Nhưng sau này nghĩ lại, đó là chuyện hết sức xấu hổ. Xấu hổ quá, cha mẹ, anh em, làng xóm khinh bỉ nên phải ra đi. Tôi ra thị trấn, lang thang, kết bè với tụi xấu, ăn cắp, nhậu nhẹt. Bọn lính Quận thường cho tiền tôi, rủ tôi vào chỗ sa đọa. Tôi biết gia đình, làng xóm càng khinh tôi nhưng tôi không biết cách nào thoát ra, có lẽ tôi yếu đuối quá, hư hỏng quá. Chẳng ai khuyên tôi, nói một lời âu yếm với tôi. Tôi đâm thù ghét tất cả. Tôi thấy con đường trả thù là đi lính ngụy. Cho đến khi Sáu Trợ bảo mẹ tôi, bà nội anh xuống gọi tôi về thì tôi sợ anh ta nhử tôi vào bẫy, chớ chẳng tha thứ cho tôi đâu. Đã trót thì phải trét. Tôi hăm dọa lại Sáu Trợ. Và khi biết anh ta đòi treo cổ tôi lên cành đa làng thì tôi càng căm anh ta. Tôi lựa thời cơ để cho anh ta biết tay. Lần ấy, tôi trình với cấp trên của tôi cho mở trận càn về xã, tôi sẽ chỉ cho mọi ngóc ngách bố trí quân vì xã mình là xã ven núi cộng sản hay trú ngụ. Tôi rất mừng vì có dịp cho dân Phú Sơn biết tay “Chín Hược”. Chính lần ấy, cánh tôi đụng phải cánh Sáu Trợ. Cánh ấy, du kích mỏng nên bị chúng tôi bao vây. Chúng tôi tiêu diệt họ gần hết và dồn họ lại một gò đất. Tôi biết Sáu Trợ chỉ huy cánh này vì anh ta cứ choang choác hô xung phong. Tôi giơ tay làm loa gọi:

– Tên Sáu Trợ và bọn du kích đầu hàng sẽ được Chín Hược này tha chết cho.

Sáu Trợ quát:

– Chín Hược hả? Mày gọi tao đầu hàng hả? Đồ phản quốc! Đồ chó đẻ! Hàng nè!

Anh ta đứng thẳng người bắn về phía tôi một phát súng. Sùng máu, tôi bảo một thằng lính bắn lại anh ta. Có lẽ nghe cái giọng hùng dũng của anh ta mà nó run lẩy bẩy. Tôi giật súng và bóp cò. Tôi thấy Sáu Trợ ngã xuống. Tôi tưởng Sáu Trợ chết rồi. Tôi hơi hơi hả dạ: “Mày còn treo cổ tao lên cành đa nữa không?”. Nhưng vừa nghĩ tới đó tự dưng tôi thấy sợ, sợ run cả người, không biết vì sao. Tôi bỗng nghe đạn nổ, tiếng la hét, tiếng hú mọi nơi. Tôi bỏ chạy. Tôi chạy, chạy mãi và ngã xuống ngất ngay khi chân vấp phải một vật gì đấy. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm ngay dưới gốc đa làng. Thòng xuống đầu tôi là những chiếc rễ lủng lẳng như những sợi dây treo cổ. Quanh tôi, cành lá xì xào rất lạ, hình như có tiếng hú âm âm nghe như chẳng phải tiếng người mà tiếng của những hồn ma. Tôi rợn cả người, chân tay run lẩy bẩy. Tôi cố gắng lết khỏi gốc đa nhưng không lết nổi. Bỗng tôi thấy có người xốc tôi dậy: “Trời, thiếu uý! Thiếu uý bị trúng gió à? Tụi du kích bị tiêu diệt rồi. Tụi em thấy không có chuyện gì mà tự nhiên thiếu úy chạy làm tụi em chạy theo. Giờ đưa em cõng về…”

Từ đó tôi kinh hãi cái làng Phú Sơn, cái cây đa của làng ta. Tôi muốn quên đi, nhưng cái cây đa có những chiếc rễ lòng thòng như những sợi dây treo cổ cứ theo tôi cả trong giấc mơ.

Tôi xin chuyển đến một đơn vị đóng ở Công Tum.

Vào mùa hè năm 1965, đơn vị tôi bị bao vây ở một làng bên sông Đak Bla. Hai bên đánh nhau dữ dội. Tôi bị thương và sau này, khi được giải thoát phải cưa mất một chân. Đúng ra, như những người khác thì xin về quê hương, nhưng tôi thì tôi xin vào Bình Tuy, vì sao anh biết rồi. Hồi bấy giờ, Bình Tuy là nơi có nhiều bà con ở miền Trung phải bỏ quê hương bị tàn phá vào làm ăn. Tôi nhập cuộc với họ. Tôi nói tôi bị tai nạn, cha mẹ bị chết, nhà cửa bị tàn phá, nên vào làm ăn. Chắc anh sẽ hỏi vì sao tôi không khai báo là thương phế binh để lãnh lương mà sống có sướng hơn không. Lúc đó thương phế binh ngụy có nhiều quyền lợi lắm mà. Nhưng tôi, tôi không muốn nghĩ đến cái cũ nữa. Tôi muốn bắt đầu lại cuộc đời mình, như mọi người, làm việc và sống lương thiện. Tôi tha thiết như vậy.

– Để chú tránh dĩ vãng?

– Đúng. Anh nói đúng.

Ông lại cầm túi thuốc, quấn một điếu thật bự, nhưng chỉ hút có một hơi đã đưa tay dụi mãi dụi mãi xuống cái gạt tàn. Mắt ông chăm chú nhìn tay ông, dường như cái việc dụi tàn thuốc là việc đáng kể trong lúc này. Tôi đăm đăm nhìn ông. Bất giác, ông ngẩng lên nhìn tôi, nói tiếp, như nãy giờ ông đang nghiền ngẫm ý nghĩ của tôi mà ông đã nắm được:

– Chắc anh nghĩ tôi sợ cách mạng trị tôi nên phải nói dối bà con chứ gì. Không, tôi không sợ. Một thằng bạt mạng như tôi, đã đi lính là cầm chắc cái chết trong tay, đùa giỡn với cái chết như thế mà không sợ, huống hồ chi đã thành một thằng thương phế binh mà sợ cái gì. Tôi biết là ở chế độ nào cũng vậy, ai nỡ đi băm vằm bọn thương phế binh, một lũ bỏ đi rồi. Nhưng đúng là tôi chán mọi sự tôi đã làm rồi, tôi không muốn nghĩ đến nó nữa. Chẳng biết nó xuất phát từ chỗ nào nhưng đúng là như thế đó. Khi người ta đã lao vào mọi sự rồi, đã cụt một cái giò rồi, thì tự nhiên mình thấy thương mình và chán hết. Chỉ muốn sống lương thiện làm ăn thôi… chẳng còn ham hố cái gì hết.

Thế là còn một số tiền dành dụm, tôi mở quán chữa xe đạp…Tôi sống cô độc như một cái bóng, ai nhờ thì làm, không muốn thân với ai. Chỉ muốn quên dĩ vãng đi. Đối với đàn bà, tôi cũng không để ý, vì tôi nghĩ tôi què cụt rồi. Thế mà, một hôm, có một bà cụ ở nhà bên cạnh bị đau bụng thổ tả. Nhà ấy chỉ có hai mẹ con, bà và một cô con gái. Cô chạy sang nhờ tôi giúp đỡ. Tôi có thuốc, cho uống, bà cụ khỏi. Bà rất thương tôi. Cô gái thấy cảnh lẻ loi cũng thương tôi. Chúng tôi cưới nhau. Có con cái, tôi cảm thấy vui trở lại, mọi thứ cũng phai dần đi.

Miền Nam được giải phóng. Bà mẹ vợ tôi muốn về quê ở Bình Định. Nhưng tôi không muốn về, lấy cớ ở đây đất tốt dễ làm ăn. Ý kiến tôi trùng với ý kiến của ông anh vợ tôi. Ông đi cách mạng mà tôi không biết, giờ làm Bí thư Huyện ủy.

Vùng tôi ngày càng sầm uất. Bà con ở đây làm ăn ngày một khá lên. Bà con ở các nơi vào đây xây dựng vùng kinh tế mới ngày càng thêm đông vui. Xã tôi bắt đầu thành lập Hợp tác xã. Các ông ở xã thấy tôi chăm chỉ, lương thiện, lại là em rể ông Bí thư Huyện ủy nên cử tôi làm Chủ nhiệm. Tôi không nhận, bảo mình cụt chân, sức yếu. Họ ép quá, ông anh vợ tôi cũng la rầy nên tôi nhận. Phải nói, đầu óc tôi cũng nhanh nhẹn. Tôi tổ chức sản xuất lúa, trồng cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi, làm nghề tiểu thủ công nghiệp. Mọi ngành đều tấn tới. Hợp tác xã tôi tự nhiên nổi bật lên. Hết huyện rồi tới tỉnh khen. Tôi cũng được nhiều giấy khen. Cứ mỗi lần bầu ban Chủ nhiệm, tôi xin rút nhưng bà con cứ cử mãi, bầu mãi. Tôi đành nhận. Đang vui thì đột nhiên…

– Có người tố cáo chú? – Tôi hỏi.

Ông cười mặt nhăn nheo, đau khổ:

– Không phải. Họ đề nghị tôi làm sơ yếu lý lịch, khai rõ quê quán, tông tích để họ cho người đi điều tra kết nạp Đảng. Dẫu sao một Chủ nhiệm có thành tích như tôi thì nên đứng ở trong hàng ngũ Đảng. Lúc đầu tôi từ chối, bảo mình sức yếu, yêu cách mạng là đủ rồi, vào Đảng cũng không cống hiến được bao nhiêu. Nhưng ông anh vợ la rầy tôi quá, tôi đành thú thật. Ông bực mình vì lâu nay tôi không nói ra tung tích của tôi, nhưng rồi an ủi:

– Thôi được, dượng trước đây có tội nhưng lâu nay đã ăn năn làm ăn, giờ có thành tích, dượng chưa vào Đảng cũng được, còn việc lo ngại ở quê hương thì tôi sẽ giúp…

Chẳng biết anh ấy giúp thế nào mà một thời gian sau tôi được thư Sáu Trợ thay mặt Đảng ủy và Uỷ ban xã bảo anh ấy mừng cho tôi tiến bộ, mời về quê chơi, mọi người sẽ không nhắc chuyện cũ đâu…Tôi cũng vui vui, nhưng cũng ngại. Tôi muốn về thăm lại quê cha đất tổ nhưng cứ lần lữa, lần lữa hoài. Thì đùng một cái, tháng qua, trên định cho con tôi đi học nước ngoài vì em nó thi điểm cao. Họ đòi tôi phải ghi rõ lý lịch cho nó, có chứng nhận của Uỷ ban xã. Lần này thì vợ tôi thúc ép ghê quá. Bả động viên tôi đi, vì chẳng có chuyện gì đâu, anh Sáu Trợ đã bảo đảm rồi…

Ông đứng dậy đến bên chiếc túi cói, rút ra một chiếc cặp ba dây, đem đến giở cho tôi xem những giấy khen, bằng khen của ông. Đấy là những tờ chứng nhận tư cách ông trong những năm qua.

– Bây giờ chú ngại đi một mình về xã…

– Không! Không phải. Tôi đã xuống xe và đã rẽ về đến làng mình rồi. Tâm trạng tôi có rụt rè, nhưng qua thư anh Sáu Trợ tôi hiểu mình được khoan hồng. Thế nhưng khi thoáng thấy bóng cây đa làng, còn sót lại sau bao bom đạn, cày ủi, thì tự nhiên chân tay tôi bỗng run run kỳ lạ. Tất cả mọi cái tưởng quên rồi bỗng quay lại. Tôi toát mồ hôi lạnh, phải ngồi nghỉ, không bước tiếp được nữa. Tôi rút thuốc ra quấn hút, nhưng tay run không quấn được. Tôi cảm thấy cái bóng đa làng lừng lững như làng mình qua bao biến thiên vẫn đang đứng đó hỏi tội tôi. Dù anh Sáu Trợ và bà con có ân xá cho tôi, nhưng làm sao tôi quên được những tội lỗi mình đã gây ra. Anh ạ, tôi nghĩ, con người ai cũng có lúc sai lầm, miễn mình biết nhận ra và cố gắng sửa chữa. Nhưng mình tự kiềm chế để tránh những sai lầm thì vẫn tốt hơn. Chúng ta sẽ tránh được biết bao điều dằn vặt đau khổ mà đáng ra không phải có. Huống hồ, những việc mà tôi gây ra là những tội ác chớ không còn là những sai lầm nữa. Tới chừng này tuổi rồi, bao nhiêu năm nằm gác tay lên trán suy nghĩ nhiều rồi, càng ngày tôi càng thấy rằng những tội ác không có dịp sửa chữa được. Cho nên, con người không bao giờ được phép gây nên tội ác. Hằng đêm, tôi cứ nằm suy nghĩ mãi mà không cắt nghĩa nổi vì sao, có những kẻ lại coi việc đi gây tội ác như những thói quen hàng ngày. Càng tệ hơn nữa, họ lại nâng nó lên thành triết lý sống. Nói ra những việc trên, xin anh đừng cười tôi nghe bởi tôi đã gây tội ác rồi, giờ lại nói chuyện này như là cố tình coi mình là “tiến bộ”, hòng xuê xoa tội ác của mình, mong cách mạng bỏ qua. Không phải thế đâu. Tôi thực tình dằn vặt, đau khổ. Điều bắt tôi  suy nghĩ hơn, dằn vặt hơn là chuyện con tôi được cách mạng chiếu cố cho đi học nước ngoài, mở ra một con đường mới cho nó. Trời ơi, con tôi, con tôi chớ không phải con ai đâu anh à – ông bỗng thốt lên những lời quặn thắt nghe đến xé ruột – Con tôi, con của một thằng đã gây tội ác, không phải chịu cảnh đời cha ăn mặn đời con khát nước, mà được những người ngày xưa bị cha nó cầm súng bắn, bây giờ lại nâng đỡ nó, cưu mang nó. Tôi hy vọng cuộc đời tụi nó sẽ sáng sủa hơn đời tôi, tụi nó sẽ không lặp lại những lỗi lầm mà cha nó mắc phải. Bởi tụi nó được ấp iu trong chế độ mới. Đôi lúc tôi cứ ước ao giá mình cũng được như tụi nó, được trẻ lại để bắt đầu từ đầu, nhưng tôi đã già rồi…Càng nghĩ tôi càng thấy trước kia mình thật là…thật là – Ông rút khăn tay chậm rãi lau những giọt nước mắt chợt ứa ra trong đôi mắt khô héo của người già rồi nói tiếp, giọng thì thầm-Thế là, anh biết sao không? Tôi không dám về làng nữa mà cứ quay lui, quay lui rồi bỏ chạy ra đường quốc lộ như bị ma đuổi. Ngày xưa, cũng như thế, tôi bị ám ảnh bởi cây đa có những rễ lòng thòng như những vòng dây treo cổ mà bỏ đi xa. Nhưng mãi mãi nó vẫn theo tôi đến cuối đời.

Tôi ngẩn ngơ đứng bên đường đón xe. Nhưng tôi không đi được bởi họ đòi vé chợ đen quá cao. Tôi đành ra bến xe Đà Nẵng để mua vé chính thức. Nhưng anh biết không, tình trạng xe cộ của mình mỗi ngày một khó. Từ Sài Gòn ra đây, tôi chờ xe mất đến năm ngày, còn bây giờ, ở đây tôi đã chờ hai ngày rồi. Họ bán cho những con buôn “có giấy ưu tiên”…Chờ mãi, sốt ruột, tôi bỗng nhớ ai đó đã nói anh làm ở Tỉnh ủy, tôi đến đấy. Họ chỉ nhà anh ở đây. Tôi muốn…

Ông đột ngột ngừng kể, đưa tay cầm túi thuốc đang đặt ở mặt bàn lên, nhưng không quấn hút mà lại để lại chỗ cũ. Tôi nhìn ông và chợt cảm thấy, ông vừa hé mở cho tôi nhìn rõ những gì đã diễn ra trong ông, trong những người như ông, còn sâu xa và lớn lao hơn nhiều những gì mà trước đây tôi chỉ biết qua các hồ sơ báo cáo. Lúc này thì tôi hoàn toàn tin rằng ông đến đây chỉ đơn giản vì một nhu cầu ấy, nhu cầu muốn được một người ruột thịt hiểu mình…

Từ chối việc tôi mời ông nghỉ lại và không chịu để tôi đưa tiễn, ông khách giơ tay bắt tay tôi rồi bước nhanh ra khỏi phòng. Tôi đứng trên gác nhìn theo, thấp thoáng dáng gầy gầy của ông với mái đầu sớm ngả bạc vì đã trải qua nhiều dằn vặt trong cuộc đời, lẫn vào những tốp người và xe cộ giữa dãy phố vòng vo, đang ra con đường chính…

                 1984

 

HAI NGƯỜI BẠN

Nghề làm báo cho phép tôi có điều kiện đi đây đi đó, gặp được nhiều loại người, nghe được nhiều câu chuyện vui có, buồn có. Nhưng có một câu chuyện cứ làm tôi suy nghĩ mãi, không thể nào cắt nghĩa nổi.

Dạo năm 1971, tôi được các anh phụ trách tờ báo Quân khu cử về công tác tại xã Lân Vũ. Đây là một xã anh hùng ở vùng sâu. Muốn đến xã Lân Vũ phải vượt ba trục đường: đường xe lửa, đường số một và đường nội tỉnh. Từ căn cứ Huyện đội đến Lân Vũ phải đi mất hai ngày. Ngày đầu, tôi theo giao liên đi từ Huyện đội đến một rừng cây, sát đường xe lửa chờ đêm đến vượt qua. Sau đó nghỉ lại ở đội du kích xã Lân Hà. Đêm hôm sau vượt tiếp hai trục đường nữa mới đến Lân Vũ. Lân Vũ nằm sát biển. Trước đây, vùng này là một rừng dương xanh mát. Nhưng sau này, do nhiều lần càn quét vào xã bị đau đòn của du kích, nên bọn giặc căm tức thả hàng ngàn tấn bon, cày ủi hàng chục lượt, giờ đây chỉ còn là một bãi sa mạc hoang vu, cát bỏng cháy hừng hực trong nắng. Bà con bị chúng dồn vào những khu tập trung hay chạy tản mát vào thành phố. Đội du kích phải vùi mình trong những bụi cỏ lùng mọc ven bờ một con sông nhỏ. Đôi lúc phải chuyển đến ở dưới những lùm dứa dại hoặc chôn mình dưới những động cát bỏng. Bọn giặc đóng nhiều đồn bót ở trong xã, luôn mở những cuộc lùng sục.

Tôi đã hòa nhập vào đội du kích rất nhanh. Đơn vị có khoảng mười hai người, hầu hết là nữ, xấp xỉ trên dưới hai mươi, cùng lứa tuổi tôi. Vì thế, suốt ngày, các cô cứ vây lấy tôi mà trêu chọc anh “nhà báo”. Phải nói, tôi không đẹp trai, nhưng được cái gọn gàng, linh hoạt và vui tính. Tôi cùng sinh hoạt, cùng đi phục kích với họ. Người chỉ huy đội du kích là chú Tám, tuổi ngoài năm mươi, dáng người to ngang, tiếng nói oang oang như vốn có ở những  người miền biển. Sau chú là hai chị bằng tuổi nhau, khoảng ba mươi: đó là chị Tâm và chị Lãm. Chị Tâm người dong dỏng cao, da ngăm đen còn chị Lãm to ngang, thấp người nhưng nước da lại trắng trẻo. Hai chị rất thân nhau. Cả hai chị đều chưa có chồng. Ở đây một thời gian, tôi được hai chị nhận làm em nuôi.

Hai chị thường kể với tôi rằng, nhà họ chỉ cách nhau một hàng rào bông bụt. Từ nhỏ, hai người đã cùng nhau chơi nẻ, cùng rủ nhau đi bắt còng. Lớn lên, họ cùng sinh hoạt một chi đoàn, cùng vào du kích xã. Chị em trong đội thường cười bảo: “Họ như hai vợ chồng”, bởi lúc vào làng, khi đi phục kích, họ luôn ở bên nhau. Sau những lúc công tác, họ thường ngồi bắt chấy cho nhau, rồi ôm nhau ngủ. Cả hai chị đều có thành tích diệt giặc nhưng chị Tâm trội hơn. Tính chị lại hiền lành, bẽn lẽn, khiêm nhường hơn.

Chị em du kích kể rằng: Có một lần, hai chị cùng chú Tám chôn người trên một động cát để săn trực thăng Mỹ. Họ nằm từ sáng sớm cho đến trưa. Trời mỗi lúc một nắng. Người họ như bị rang trên cát. Ai cũng mệt mỏi, bứt rứt. Họ định quay về thì có một đàn trực thăng từ phía biển bay vào. Nó nghênh nghênh ngáo ngáo nhòm ngó khắp nơi. Một chiếc bay thấp trên động cát. Chị Tâm giơ súng bắn liền ba phát. Nó phụt cháy, chúi xuống động cát bên cạnh. Lập tức chị Lãm bắn bồi phát nữa. Chuyện là như vậy mà khi về, chị Lãm lại nói chị là người bắn đầu tiên. Chị Tâm bảo với cả đội:

– Đúng rồi, Lãm bắn trước. Thành tích đó là của Lãm.

Vốn biết chị Tâm khiêm tốn hay nhường thành tích cho bạn, chú Tám nói:

– Bây giờ ta sẽ xử. Chính tao thấy con Tâm bắn trước. Đây là công của Tâm.

– Lãm bắn trước chớ – Chị Tâm bênh vực.

– Im đi. Chuyện rõ ràng mà cãi tao – Chú Tám bực tức.

Một lần khác, họ phục giặc bên một bãi dứa dại. Hôm ấy, bọn địch từ trên bốt xuống ba thằng, trong đó có một thằng đeo ống nhòm, có lẽ là chỉ huy. Khi chúng đến gần, chị Tâm nổ súng bắn vào thằng chỉ huy. Tên này ngã quỵ xuống. Hai thằng kia bỏ chạy một đoạn rồi bắn lại. Đội du kích đuổi theo. Chị Tâm bị trúng một viên đạn vào bắp chân nên phải nằm lại giữa đường. Một lúc sau, họ diệt được hai tên kia và đưa tên chỉ huy bị thương về căn cứ của đội du kích. Trong một cuộc họp bình công, chị Lãm nói:

– Việc bắt được thằng chỉ huy là công của tôi. Tôi đã bắn qụy nó xuống và xông tới bắt nó.

– Đúng rồi. Tôi thấy Lãm nổ súng và chạy đến chỗ nó đầu tiên. Lúc ấy, tôi bị thương nên không làm gì được – Chị Tâm phụ họa.

Có biết bao nhiêu câu chuyện na ná như vậy mà tôi được chị em du kích kể cho nghe. Không rõ thực hư thế nào. Có thể họ thương chị Tâm hơn vì chị ăn nói nhỏ nhẹ còn chị Lãm lại hay “chanh chua”. Có điều, tôi được biết hai chị rất thân nhau và cùng rất quý tôi.

Vào những ngày cuối cùng của đợt công tác, tôi có thêm một người bạn mới. Đó là anh Vĩnh, một cán bộ làm công tác thi đua ở Quân khu xuống tìm hiểu tình hình, chuẩn bị cho đợt phong anh hùng. Thời gian này địch càn quét liên miên. Chúng tôi phải sống lưu động lúc chỗ này, khi chỗ khác. Có lúc, chúng tôi phải ngụp mình suốt ngày dưới dòng sông. Có khi lại phải vùi người trong cát, nằm giữa trời nắng. Đêm đến, chúng tôi mới được thơ thới, ra biển ngồi hứng gió. Những lúc ấy anh Vĩnh thường hỏi chuyện chị Tâm và chị Lãm. Tôi thấy chị Tâm thường ít nói, còn chị Lãm luôn bu lấy anh ta, nói rất nhiều, tôi nghe anh nói với chị Tâm:

– Qua mấy ngày tìm hiểu, tôi thấy chị với chị Lãm đều có thành tích. Có thể thành tích của chị còn trội hơn chị Lãm. Nhưng cha chị có một thời gian làm Liên gia trưởng, nên tôi muốn đề nghị chị nhường cho chị Lãm…

Chị Tâm reo lên:

– Lãm khá hơn tôi nhiều chớ. Lãm xứng đáng hơn tôi.

Anh Vĩnh ngồi im một lúc rồi tiếp:

– Nghĩa là tôi muốn chị để cho chị Lãm báo cáo gộp thành tích của cả hai người vào thành tích của chị Lãm. Như vậy, thành tích chị Lãm dày hơn, dễ được cấp trên chấp nhận phong anh hùng hơn. Vì có đề nghị chị cũng không…

Chị Tâm nghĩ ngợi một lúc rồi nói:

– Đúng, phải như vậy.

Tôi trở về đơn vị rồi được điều đi công tác ở một nơi khác. Mãi gần một năm sau tôi mới trở lại Lân Vũ. Tôi không còn gặp chị Tâm và chị Lãm nữa. Cả hai chị đều bị địch bắt. Chị Tâm bị bắt trong một lần bám vào làng công tác. Mấy hôm sau, chị Lãm lại bị địch bắt ở một nơi thật bất ngờ: chỗ chị em thường ngồi quan sát để chờ vào làng. Chị em bảo rằng: Chỗ đó chỉ có người trong đội du kích mới biết. Vậy đã có người khai? Ai khai?

Tôi từ biệt chị em trở về đơn vị. Dọc đường tôi bị một trận bom B.52, bị thương và được cho ra miền Bắc điều trị.

*

*     *

Sau một thời gian nằm viện, tôi được điều về công tác ở một tờ báo Trung ương. Vì vừa ở chiến trường ra, nên lãnh đạo phân công tôi viết những bài có liên quan đến miền Nam. Tôi thưòng đến K5, K15 là nơi cán bộ miền Nam ra điều dưỡng để lấy tài liệu. Một hôm, tôi bất ngờ gặp một du kích xã Lân Vũ: chị Hà. Chị ra Bắc chữa bệnh vì bị thương ở lồng ngực, phải cắt mấy đoạn xương sườn. Chị bị thương trong một lần địch tập kích vào nơi bí mật nhất của đội du kích tại một làng hoang. Nơi đây là vị trí cuối cùng, lúc tình thế khó khăn nhất, đội du kích mới đứng chân. Tại đây, dưới những lùm dứa dại, đội đã đào sẵn những hầm bí mật. Chung quanh bố phòng bốn lớp mìn, chỉ chừa một ngõ để đi vào. Vậy mà địch ập vào đúng cái ngõ ấy, nổ súng khi họ đang ngủ. Cả đội bị tiêu diệt. Riêng chị Hà liều lĩnh phóng ào qua bãi bố phòng. May sao thoát được. Nhưng địch bắn đuổi theo làm chị bị thương.

Chị bò vào nằm trong một đám cỏ. Trời tối nên chúng không tìm ra. Đêm hôm sau, chị bò mãi mới lên được căn cứ đội du kích Lân Hà. Vậy là có kẻ chỉ điểm. Nhưng kẻ đó là ai? Chị Hà ngồi trên giường bệnh, nhìn tôi chăm chăm:

– Theo tin của Chi bộ từ nhà tù báo ra thì chị Tâm đã khai báo và nhận việc địch giao. Vì vậy, địch đã tập kích đúng nơi đội du kích đóng…

Chị Hà vừa nói vừa nhăn mặt tỏ vẻ bực tức. Còn tôi, tôi sững sờ đến nỗi giật mình đánh thót, làm rơi cả bút và quyển sổ cầm tay. Tôi cúi xuống nhặt để giấu nỗi xúc động. Nhưng suốt hồi lâu, tay tôi vẫn còn run. Chị Tâm với dáng người dong dỏng cao, khuôn mặt phúc hậu, lúc nào cũng mỉm cười khiêm nhường bỗng hiện ra trước mắt tôi. Tôi hỏi chị Hà mà nghe giọng mình khản đặc:

– Có thật thế không chị?

Chị Hà á lên một tiếng. Có lẽ vết thương ở xương sườn làm cho chị đau. Một hồi lâu trên mặt chị hiện lên vẻ đau đớn cùng cực. Chị nhờ tôi đưa giùm cốc nước đặt ở đầu giường. Chị uống mấy hớp, người có vẻ tỉnh táo hơn.

– Sao lại không thật. Đấy chính là tin tức từ nhà tù do cơ sở của ta báo ra – Chị nghiến răng nói tiếp – Tôi không ngờ một du kích giỏi như chị Tâm lại sa sút như vậy. Nhưng có lẽ việc ấy cũng có gốc tích của nó. Cha chị ta từng làm Liên gia trưởng cho địch…

Chị xin phép tôi nằm xuống giường. Khi lưng vừa chạm vào mặt nệm, chị lại á lên một tiếng. Cái đau đớn của chị đã nói lên biết bao điều. Tôi im lặng nhìn chị. Một lúc sau mới khẽ hỏi:

– Còn chị Lãm?

Mắt chị Hà bỗng sáng rực lên. Chị nói rất tự hào:

– Người ta phong chị anh hùng là rất đúng.Đáng lẽ phải phong cho chị một lần thứ hai nữa. Chị Tâm phản bội, khai chị Lãm nên chị bị tra tấn rất dã man. Nhưng chị đã vượt ngục ra được. Anh biết chị vượt ngục bằng cách nào không? Chị đã dùng một cái thìa Mỹ, đào mãi đào mãi chân tường thành một con đường hầm để thoát ra ngoài.

– Hiện nay chị Lãm ở đâu?

– Lúc tôi còn nằm bệnh viện Quân khu thì nghe nói huyện điều chị về làm Chính trị viên Huyện đội.

Tôi im lặng nhìn chị Hà. Trong đầu tôi, hàng loạt câu hỏi được đặt ra: Tại sao một con người có nhiều thành tích, biết nhường nhịn người khác như chị Tâm lại khai báo và nhận nhiệm vụ của địch? Có phải sự dịu dàng nhường nhịn là cái vỏ che đậy một tâm hồn yếu đuối, mà nay trước thử thách của nhà tù mới hiện ra nguyên hình không? Tôi chưa hiểu được. Tôi thấy chị Hà thở dài, nói như vừa bắt được ý nghĩ của tôi:

– Có ai dè một người anh dũng, vượt qua mọi gian khổ ác liệt, tính tình dịu dàng khiêm tốn như chị Tâm lại phản bội lại bạn bè đồng đội như vậy. Tôi nghĩ mãi. Lúc đầu tôi không thể tin được, cho rằng có gì nhầm lẫn trong đó. Nhưng khi được một anh Huyện ủy lên Khu họp cho biết là cả Huyện ủy cũng bị tập kích, may phát hiện ra nên thoát được thì tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Theo lời anh Huyện ủy thì họ đã thẩm tra lại các cơ sở trong lòng địch: chị Tâm đã chịu đòn không nổi nên không những khai báo về đội du kích mà còn khai báo cả Huyện ủy nữa…

Chị Hà nói xong lại ôm ngực, mặt nhăn nhó. Tôi nhìn chị và bất giác nghĩ rằng: Chính sự phản bội của chị nuôi tôi đã gây nên đau đớn cho người phụ nữ này.

*

*     *

Sau bao nhiêu năm xa, nay tôi mới có dịp trở lại chiến trưòng cũ. N là một tỉnh khá ở vùng ven biển miền Trung. Những cánh đồng bị cày ủi, bỏ hoang hóa nay đã xanh ba vụ lúa. Cả dải bờ biển hoang vắng như sa mạc, cháy hừng hực trong nắng nay đã biến thành một rừng dương liên hoàn từ xã này sang xã khác, huyện này sang huyện khác.

Tôi về tỉnh N lần này với nhiệm vụ viết về một số đơn vị anh hùng mới sau mười năm xây dựng. Sau khi làm việc với Ủy ban Tỉnh, các anh mời tôi xuống thăm huyện Nghĩa Lân, một huyện khá, đã kết hợp công nông lâm ngư tốt. Tôi rất vui mừng vì được các anh cho biết chị Lãm đang là Chủ tịch Huyện. Theo các anh, chị Lãm là người lãnh đạo biết đi sát dân, biết dựa vào tập thể để tiến hành mọi công việc, đưa huyện đi lên. Ngoài việc ấy ra, tôi muốn gặp chị Lãm để hỏi thêm một số chi tiết về chị Tâm mà đến nay tôi vẫn còn thắc mắc.

Khi tôi đến Văn phòng Ủy ban Huyện thì chị Lãm đang xuống xã công tác.

Một tiếng sau, chị trở về. Thấy tôi, chị có vẻ sững sờ, không vồn vã, cười nói vỗ vai tôi như ngày nào. Có lẽ do cương vị công tác hiện nay chị cần phải trầm tĩnh. Mặt khác, tôi cũng không còn là một “cậu bé” như ngày nào. Chị đưa tôi sang phòng làm việc, rót nước mời tôi uống rồi quay ra nói gì với một cô nhân viên Văn phòng. Cô ta đi ra phố một lúc, quay về với bao thuốc “Du lịch” trong tay. Chị Lãm đẩy bao thuốc đến trước mặt tôi: Chị vốn biết tôi nghiện thuốc. Tôi ngồi nhìn chị đăm đăm. Chị không được khỏe mập như xưa. Giờ chị gầy, da xanh, nếp nhăn hiện ra nhiều ở đuôi mắt. Tôi thấy ngay có một điều khác xưa: Mắt chị luôn ngó xung quanh hay ngó xuống bàn, không nhìn thẳng, vui vẻ và hóm hỉnh với người đối diện như xưa. Chị nói khô khan:

– Bây giờ em cần gì nào?

– Chị nói cho em nghe về việc kết hợp công nông ngư nghiệp ở huyện nhà.

Chị bỗng sôi nổi hẳn lên. Chị mở tủ lấy ra một bản báo cáo, có lẽ chị từng đọc ở đâu đó. Nhưng chị không xem, mà nói như mình đã từng làm, từng tổng kết rồi. Chị nói liên tục hàng tiếng liền, không nghỉ, không uống nước.

Nghe chị báo cáo tôi sung sướng thấy rằng, huyện Nghĩa Lân từ một vùng cát bị địch tàn phá nặng nề đã dám nghĩ dám làm đi lên một cách vững vàng: Huyện đã sáng tạo trong việc làm thủy lợi ở vùng cát, đã trồng dương, lợp lại màu xanh lên vùng đất chết, đã biết tận dụng cát làm nguyên liệu xây dựng xí nghiệp thủy tinh, đã biết dựa vào sức người sức của trong nhân dân, lập nên một đoàn thuyền đánh cá, có thể đi tận những miền xa. Trong những công việc đó, ở đâu, lúc nào bóng dáng người Chủ tịch Huyện cũng xăng xái, bám công việc, bám dân, không chịu ngồi yên trên ghế xa lông tiếp khách. Hình ảnh người anh hùng từ chiến tranh bước ra lại lăn lộn vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là chủ đề mà các anh phụ trách tờ báo giao cho, tôi đã gặp ở đây, ở người chị nuôi của tôi.

– Em cần hỏi gì nữa không?- Chị Lãm mỉm cười nói.

– Dạ em ghi cả đây – Tôi chỉ vào cuốn sổ – Em sẽ mang về phòng nghỉ để nghiên cứu, có gì cần em xin hỏi chị thêm. Bây giờ có việc nhỏ này, ở ngoài Bắc em có gặp chị Hà. Chị cho em biết chị Tâm đã phản bội. Em băn khoăn quá, thắc mắc quá. Chị cho em biết.

Mắt chị ngó xuống rồi đảo một lượt rất nhanh khắp căn phòng. Chị bỗng mím môi lại, khuôn mặt hơi tái, giọng run run:

– Đó là việc rất đau lòng, vì theo em biết, Tâm là bạn thân của chị. Càng đau hơn là sau đó, Tâm được bọn địch cho ra tù và bị du kích diệt vì tội phản bội. Chuyện Tâm bị diệt ra sao chị không rõ vì lúc đó chị còn ở trong tù.

– Chị Tâm khai báo trong trường hợp nào?

Chị im lặng một lúc rồi mới nói:

– Ở trong nhà tù, chị và Tâm ở khác phòng nhau. Chị không biết chúng có tra tấn gì Tâm nhiều không. Riêng chị, chúng đánh đập luôn vì có người khai chị là anh hùng quân đội. Người nào khai thì chị không rõ. Có điều, chẳng bao giờ chị nghĩ là Tâm khai. Một hôm, chúng đưa chị vào phòng hỏi cung. Ngang cửa, chị gặp Tâm bước ra dáng ủ rũ, mắt cụp xuống khi gặp mắt chị, bước nhanh như chạy ra khỏi phòng. Chị vừa vô phòng thẩm vấn thì chúng đánh chị ngay. Chúng bảo chị là anh hùng mà không nhận, còn ngoan cố. Chúng khuyên chị nên làm như Tâm: khai báo và nhận việc chúng giao thì sẽ được tha. Chúng đưa cho chị xem một bản khai của Tâm về căn cứ của xã và của Huyện ủy. Đúng chữ của Tâm y sì …

Chị choáng váng cả người nhưng một mực từ chối. Chúng đánh chị chán lại đưa về phòng, dội nước lạnh cho tỉnh lại rồi đánh tiếp. Nhớ lại chuyện Tâm chị bực mình lắm. Thế rồi tin Tâm khai báo được chị Hồng lãnh đạo của ta ở nhà tù thông báo và đề nghị mọi người cảnh giác với Tâm – Chị mỉm cười, mặt tái mét – Sau đó chị bị đưa đi nhà giam Chí Hoà còn Tâm thì được chúng thả ra.

Chị Lãm nói tới đây thì có một anh cán bộ vào xin chị ký giấy gì đó. Tôi nghe chị bảo: “ Để bàn đã”, rồi quay sang nói với tôi :

– Trưa rồi, em nghỉ ăn cơm đã. Còn em muốn biết rõ chuyện Tâm thì sang Hội Phụ nữ gặp chị Hồng. Chiều nay chị bân họp.

Chiều hôm đó, tôi tìm sang Hội Phụ nữ. Chị Hồng đã lớn tuổi, tóc hoa râm. Da chị xanh. Mắt chị rất sáng, luôn mỉn cười nhìn thẳng vào mắt người nói chuyện. Hồi ở tù, chị nổi tiếng là một nguời gan dạ, đứng đầu trong mọi cuộc đấu tranh với địch. Đôi mắt nghề nghiệp báo cho tôi biết, đây là một người trung thực, đáng tin cậy.

– Cậu hỏi về chuyện chị Tâm à ? – Chị mỉm cười nói – Đúng là chị ta đã khai báo như chị Lãm nói. Hôm đó, sau khi chị Tâm ra, chị Lãm vô thì tôi đang ở buồng bên cạnh đợi đến lượt thẩm vấn. Qua bức tường mỏng, tôi được biết, lúc đầu chúng còn nhỏ nhẹ với chị Lãm. Sau đó, chúng tra tấn dã man. Tôi nghe thân người đổ phịch, bàn ghế ngã ầm ầm. Chúng vừa đánh vừa nói :

– Đây nè, con Tâm khai cả căn cứ xã, căn cứ Huyện ủy, khai cả mày là anh hùng nè. Mày còn chối làm gì ?

Tôi nghe chị Lãm gào to :

– Tôi không biết Tâm tiếc nào cả .

Chúng lại tra tấn nữa. Có lẽ chúng đạp vào người chị Lãm. Tôi nghe mà đứt cả ruột. Một lúc sau, giọng nói cộc cằn của thằng Ba Đen, thằng cảnh sát ác ôn nhất Quận này quát :

– Vứt nó sang phòng bên cạnh , dội nước lạnh cho nó tỉnh, để tra tiếp. Con mẹ ghê gớm quá .

Khi tôi bước vào phòng thẩm vấn thì nghe tiếng nước xối ào ào ở phòng bên cạnh. Sau khi trở về phòng giam, tôi thông báo ngay cho tất cả anh chị em trong nhà tù biết về việc phản bội của chị Tâm để mọi người cảnh giác chị ta. Cậu biết không ? Lúc đó tôi là Bí thư Chi bộ nhà tù, tôi phải có trách nhiệm. Tôi còn nhờ một anh lính ngụy là cơ sở của ta thông báo ra bên ngoài việc này để Huyện uỷ và xã Lân Vũ đề phòng. Nhưng không kịp nữa rồi …

Rời phòng chị Hồng, tôi về lại Ủy ban tìm gặp lại chị Lãm để hỏi thêm vài điều mà tôi băn khoăn. Nhưng chị em ở Văn phòng bảo tôi chị đang đi viện. Chị em cho tôi biết rằng, chị bị tra tấn nhiều nên thỉnh thoảng xúc động lại lên cơn. Trưa nay, sau khi gặp tôi, chị ra khỏi phòng thì ngã xuống ngất. Chị cứ giãy giụa kêu to :

– Không phải hắn. Không phải hắn.

Tôi hỏi :

– Chị Lãm có hay bị lên cơn không ?

Cô gái có khuôn mặt bầu bĩnh, mua thuốc cho tôi hồi sáng nói :

– Lâu lâu mới có một lần. Lần đầu là sau khi một người xưa từng làm cảnh sát ở Quận, đi cải tạo về, xin gặp chị. Chị với hắn ta nói gì với nhau găng lắm . Có lẽ hắn xin xỏ chị cái chi đó, bị chị phản ứng. Tụi em ngồi ở Văn phòng nhìn vô, thấy mặt chị đỏ bừng rồi tái mét. Có lẽ chị giận giữ lắm. Rồi thì hắn cười gằn bước ra. Còn chị thì lên cơn. Lần nữa .. hình như là sau khi chị đọc một lá thư của ai đó gửi cho chị, do một anh cán bộ từ xa đến công tác chuyển giùm. Sau những lần ấy, chẳng ai hỏi chị vì sao lên cơn, chị cũng chẳng bao giờ nói với ai điều gì cả. Mọi người chỉ phỏng đoán, có lẽ chị bị tra tấn nhiều nên giờ dễ xúc động, căng thẳng thần kinh thì lên cơn thôi. Rồi mọi người quen dần đi. Còn lần này – cô ta cười – là do anh đấy. Anh làm việc gì căng thẳng mà anh vừa đi khỏi độ mười phút là chị ấy lại lên cơn .

Có một ý nghĩ gì đó vụt loé qua đầu tôi, nhưng tôi chưa nắm bắt được. Tôi nhờ cô nhân viên chỉ đường đến bệnh viện thăm chị. Nhưng người gác cổng không cho tôi vào vì chị đang mệt. Tôi lững thững trở về. Giữa đường, tôi không ngờ gặp một người bạn cũ. Đó là cậu Mai, xưa từng làm Cảnh vệ ở Quân khu. Cậu là một nguời cao lớn, da ngăm ngăm, ít nói, nhưng chăm chỉ trong mọi việc. Cậu ta nổi tiếng là dũng cảm, đã nhiều lần cứu các đồng chí lãnh đạo thoát khỏi vòng vây của địch. Bây giờ cậu đang công tác ở huyện đội. Cậu ta rủ tôi vào một quán nhỏ bên đường uống cà phê :

– Lâu nay cậu bỏ anh em cũ hay sao mà không thấy vào đây công tác. Bây giờ cậu làm gì ở đây ?

– Mình vào công tác. Huyện cậu khá thật !

– Cậu đã đi những đâu rồi ?

– Chưa đi, nhưng nghe chị Lãm báo cáo. Chị Lãm thật xứng đáng là một anh hùng quân đội. Hiện nay chị vẫn tiếp tục …

Cậu ta mỉm cười :

– Chẳng giấu gì cậu. Huyện này khá thì khá thật , mình chẳng địa phương chủ nghĩa đâu. Còn chị Lãm thì …

Tôi trố mắt nhìn cậu :

– Thì sao nào ?

– Thì báo cáo giỏi chứ biết làm việc gì ra việc gì đâu. Suốt ngày chị ta cứ đi xuống xã, hoặc dự các cuộc họp của ngành này ngành nọ có vẻ xăng xái lắm, sát dân, sát phong trào lắm, cấp trên xuống thấy chị ta như vậy thì khen tít mù . Thực tình năng lực chị ta yếu lắm. Nhờ cái danh hiệu anh hùng mà cấp trên đưa lên Chủ tịch, cán bộ phải phục tùng chứ chị ta chẳng biết giải quyết công việc gì cả, mọi việc do mấy ông “phó” làm. Nếu có ai đề đạt vấn đề gì, chị ta cứ bảo “để bàn đã”, “để suy nghĩ đã” làm cho người ngoài hay cấp trên mới nghe tưởng chị trầm tĩnh chín chắn lắm. Kỳ thực chị ta chẳng biết giải quyết sao, chờ hỏi các ông phó. May là các đồng chí ấy tốt và có năng lực, nếu kẻ xấu thì họ chơi xỏ chị ta ngay. Có khi chị ta đưa những vấn đề đó ra cuộc họp thảo luận. Lúc ấy, chị ta ngó trước ngó sau, bên nào đông người ủng hộ thì chị ta quyết theo bên ấy.

Tôi ngập ngừng một lúc rồi hỏi:

– Tớ hỏi thật, cậu có thành kiến, có bực mình việc gì với chị Lãm không? Tại sao ông Chủ tịch tỉnh khen chị là người sáng tạo, quả quyết, còn cậu thì…

Cậu ta vỗ vai tôi:

– Cậu biết tính tớ rồi đấy. Xưa giờ tớ chẳng hề nói xấu, thêm bớt cho ai. Có gì tớ nói nấy, riêng chị Lãm tớ chẳng có gì thành kiến bực mình cả. Hồi còn ở Quân khu, nghe chị lên báo cáo thành tích, được phong anh hùng, tớ rất kính trọng chị, rất tự hào vì có một người đồng hương như vậy. Nhưng từ khi về đây, tớ thấy có những điều người ta đề cao chị hơi quá. Cậu không tin tớ thì cứ đi hỏi khắp cả huyện này thử đúng không. Cậu là nhà báo, cậu có quyền làm vậy chớ – Mai dừng lại nhìn thẳng vào mắt tôi rồi tiếp – Còn ông Chủ tịch Tỉnh khen chị thì cũng đúng thôi. Ai nghe chị báo cáo mà không thích, mà không cho rằng chị lãnh đạo rất cừ. Vả lại, các ông ấy đã nâng đỡ chị lên thì các ông ấy phải khen chớ. Cậu nghĩ coi, ai mà không thích ở tỉnh mình có hình ảnh một người anh hùng bước ra từ chiến tranh lại tiếp tục trở thành người anh hùng thời xây dựng. Xin hỏi thật, tờ báo của cậu có thích mẫu người như thế để tuyên truyền không?

Tôi từ biệt cậu ta với tâm trạng nửa tin nửa ngờ. Nghề làm báo đã dạy tôi rằng, trong việc tìm hiểu tài liệu để viết bài, mình không thể nắm có một chiều, nghe theo một số người mà phải dựa vào tổ chức và dư luận của quần chúng. Nắm vấn đề, sự việc thật kỹ, sau đó tuỳ yêu cầu, mức độ mà phản ánh.

Tôi trở về Văn phòng Ủy ban, ngồi tỉ tê nói chuyện với các cô nhân viên. Tôi được biết chị Lãm là người hay xuống cơ sở, ít thích ngồi ở cơ quan. Có lẽ chị bị địch tra tấn nhiều nên không được khoe, tuổi đã cao mà chưa lấy chồng. Tính chị thường ủ rũ, ít cởi mở tâm sự với anh chị em cùng cơ quan. Tôi dò hỏi những điều cậu Mai nói thì các cô chỉ mỉm cười nhìn nhau rồi bảo:

– Tụi em là nhân viên làm sao biết được chuyện cấp trên.

Ở lại thêm mấy ngày nữa, làm việc với một số ban, ngành trong huyện, tôi đã xác nhận lời cậu Mai nói là có căn cứ. Một lần, sau khi làm việc xong, tôi hỏi anh Sáng, Trưởng ban Nông nghiệp huyện:

– Tại sao các anh không đề nghị lên trên thay mà cứ để chị Lãm làm Chủ tịch? Chị có thành tích trong kháng chiến thì thưởng công ở chỗ khác chứ?

Anh mỉm cười:

– Đó là ý kiến của cấp trên. Chị ấy vừa là anh hùng vừa là phụ nữ nên rất hợp với cơ cấu nhân sự của tổ chức. Nghe nói sắp tới chị còn lên nữa – Anh dừng lại, châm một điếu thuốc rồi tiếp – Ở nước ta, việc ban thưởng đi đôi với việc cất nhắc về chức vụ, chưa tách bạch ra: Người có công thì được thưởng, người có năng lực thì phải đặt đúng vị trí. Tôi đọc lịch sử, thấy có gì giông giống với một số triều đại phong kiến xưa, anh là nhà báo, anh thấy tôi nói có đúng không?

*

*         *

Nghề làm báo đưa tôi đi từ nơi này sang nơi khác. Một lần tôi được cử đi công tác ở Gia Lai-Công Tum. Sau khi làm việc với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, trưa hôm ấy, tôi được giới thiệu đến một làng gần thị xã Plâycu.

Đó là một làng định canh định cư kiểu mẫu của tỉnh. Ở đây không còn thấy những ngôi nhà sàn, phần trên chật hẹp, mù khói bởi có một bếp lửa to ở giữa, phần dưới nhầy nhụa phân heo. Giờ đây là những ngôi nhà gỗ, sạch sẽ khang trang mọc hai bên con đường làng chạy thẳng băng. Những chuồng súc vật và hố xí hai ngăn được xây dựng cách xa nhà, rất hợp vệ sinh. Khi tôi đến, hầu hết người làng đều đi cấy lúa nước ở cánh đồng bên cạnh. Nhờ có đập nước Đắc Bla nên cánh đồng này đã gieo cấy được một năm hai vụ. Dân làng đã có lúa ăn, có quần áo mặc đủ ấm, không còn cảnh ăn sắn, bắp, lạt muối và cởi truồng đóng khố như xưa. Thú nhất là trong làng có đường dây câu điện từ thị xã vào. Tôi đã gặp những ông bà già ở nhà ngồi đan lát nong nia. Với một giọng lơ lớ, chưa sõi tiếng Kinh, họ khoe với tôi rằng: Có sự thay đổi trong làng là nhờ có vợ chồng Bí thư Chi bộ Nhun gương mẫu đi trước, hướng dẫn mọi người làm theo. Tôi háo hức muốn gặp ngay người Bí thư Chi bộ này. Những người già bảo: vợ chồng Nhun đang ở ngoài đồng bày vẽ cho mọi người cách cấy lúa thẳng hàng.

Xẩm tối hôm đó, tôi mới gặp được anh Nhun. Đó là một người đàn ông gần năm mươi tuổi, người tầm thước, da ngăm đen, trên mặt có nhiều vết sẹo. Anh sơ lược kể cho tôi nghe quá trình thực hiện định canh định cư của làng, rồi cầm tay tôi, giọng chắc nịch:

– Anh về nhà mình chơi, gặp vợ mình luôn. Vợ mình cũng người Kinh đấy. Vợ mình bày cho mình nhiều thứ lắm. Ngay đến việc đắp đập Đắc Bla cũng do vợ mình nói cho mình nghe, mình đưa ra Chi bộ, Chi bộ đồng ý hết…Anh về gặp vợ mình đi, nó kể hay hơn mình.

Ngôi nhà của anh Nhun cũng bằng gỗ, có nhiều cửa sổ thoáng mát như bao ngôi nhà trong làng. Khi bước vào sân, một người đàn bà Kinh có dáng cao dong dỏng, tóc lốm đốm bạc vui vẻ chào tôi. Tôi sững sờ nhìn chị. Chị cũng ngơ ngác nhìn tôi. Một câu hỏi bất ngờ, không kịp nghĩ trước, bật ra khỏi môi tôi:

– Chị quê Lân Vũ phải không?

Chị nhào tới ôm chầm lấy tôi:

– Phú! Chị là Tâm đây.

– Sao người ta bảo chị chết rồi…

Chị Tâm đưa tay quệt vội đôi mắt rồi mỉm cười gượng gạo:

– Chuyện dài lắm. Em vô nhà đi rồi chị kể cho em nghe.

Đang nói, thấy chồng có vẻ ngơ ngác nhìn hai chị em, chị quay sang giải thích:

– Đây là Phú, em nuôi của em từ hồi ở quê. Lúc nào em kể anh nghe.

Anh Nhun gật gật đầu:

– Hay quá. Hay quá. Mình biểu anh về nhà mình gặp vợ mình đúng quá mà.

Trong bữa cơm theo kiểu nông thôn miền Trung, có cá đồng kho khô, măng xào, rau luộc tôi được biết thêm hai chú bé con chị. Một đứa độ mười tuổi, đứa kia chừng sáu tuổi. Chúng mặc quần đùi, da ngăm ngăm như da của bố, nhưng mắt chúng lại giống mắt chị.

– Mời cậu ăn cơm đi – Chị bảo hai con.

– Mời cậu ăn cơm – Hai đứa vừa nói vừa thò đũa gắp lia lịa.

Đêm ấy, anh Nhun mượn cớ để hai chị em lâu ngày gặp nhau nói chuyện, dẫn hai con đi xem văn nghệ xã. Ngồi bên một chiếc bàn gỗ vừa uống nước chè tươi, chị em tôi vừa ôn lại chuyện cũ:

– Cho đến bây giờ – Chị Tâm mỉm cười – Ở quê ai cũng nghĩ là chị đã chết rồi. Chỉ có một người biết chị còn sống.

– Ai? Cha mẹ chị à?

Chị lắc đầu:

– Chị không còn anh em cha mẹ gì nữa.

– Thế thì ai?

– Đó là chị Lãm.

Tôi trố mắt nhìn chị:

– Trời ơi, em đã gặp chị Lãm. Chị ấy kể chuyện chị lúc ở tù và bảo chị chết rồi.

Chị Tâm khoát tay:

– Để rồi chị kể cho em nghe.

Chị kể rằng: Trong nhà tù, chị không hề khai báo. Chị tin chị Lãm cũng vậy. Chị ấy là anh hùng mà, phải vững hơn chị chứ. Đột nhiên, một hôm, mọi người nhìn chị với con mắt khinh bỉ. Chị ngạc nhiên lắm. Nhưng chưa rõ vì sao. Đột ngột, chị được bọn chúng cho ra tù. Chị mừng lắm, như vậy là chị được tiếp tục hoạt động. Nhưng vừa về đến xã, chị bị du kích bắt ngay. Chị hỏi vì sao lại bắt chị? Họ trả lời trong tù chị phản bội, cơ sở đã báo ra nên huyện ra lệnh bắt. Ngay đêm ấy, họ trói chị, giao cho một anh du kích dẫn đi bắn. Anh này có họ với chị, không tin chị phản bội. Anh dẫn chị ra một động cát, cởi trói cho chị rồi nói:

– Cô đi đi, đi càng xa càng tốt. Đừng bao giờ về quê nữa. Cô về tôi sẽ bị treo cổ đấy. Cô đi xong, tôi sẽ nổ súng và làm mộ giả cho cô.

Chị dừng lại thút thít khóc:

– Sau này, chị nghe tin anh ấy hy sinh lúc đi công tác. Chị thương quá. Nhờ ảnh mà chị còn sống đến bây giờ – Chị rút chiếc khăn lau mặt vắt sau ghế lau mắt rồi tiếp – Còn chị, lúc đó, chị băng cát, chạy thục mạng về đường số một.

Chị nằm lại ở giữa một cánh đồng sát đường chờ cho trời sáng, vì lên đường cái ban đêm sẽ bị bọn giặc đi tuần bắt ngay.

Sáng hôm sau, chị đón một chiếc xe khách đi cao nguyên để lên đây. Lúc bấy giờ, ở vùng này, đồng bào Kinh bị giặc bắt đi dinh điền sống rất nhiều. Chị đổi họ, đổi tên, nói với họ gia đình chị bị pháo dập chết cả, chị khổ cực, lên đây tìm việc sinh sống. Bà con thông cảm hoàn cảnh chị, giúp đỡ chị mọi thứ. Dần dần, chị biết trong bà con có tổ chức cách mạng. Chị đã tham gia…

Mãi sau ngày miền Nam giải phóng, chị mới bí mật nhờ người liên hệ với gia đình. Trời ơi, gia đình chị không còn ai nữa cả. Sau khi cùng bà con phá rã khu dồn để về quê, mới được có nửa tháng, cả nhà chị bị một quả pháo rơi trúng vào mâm cơm lúc mọi người quây quần ngồi ăn. Chị đã khóc rất nhiều. Chị đâm mê tín: Có phải chị nói với bà con ở đây là gia đình chị bị pháo dập chết cả mà sự việc xảy ra như vậy…

Từ đó, chị coi vùng này là quê hương thân yêu của chị. Chị lấy anh, một người cùng hoạt động trong tổ chức bí mật với chị. Chị lao vào công tác địa phương, chủ yếu là vận động bà con định canh định cư, trồng lúa nước và xây dựng nếp sống văn hóa mới ở một vùng đồng bào dân tộc. Nhiều lần, tỉnh đã trao bằng khen cho chị…Chị cố gắng dứt bỏ quá khứ để lao vào công tác hiện tại. Lòng chị thanh thản. Đôi lúc nghĩ lại việc cũ, chị cho đó chỉ là một sự nhầm lẫn đáng tiếc mà thôi.

Chị Tâm mỉm cười, đôi mắt mở to trong sáng nhìn thẳng vào mắt tôi. Trong đôi mắt ấy, tôi thấy hiện ra một vòm trời hiền hậu bao la.

– Thế rồi một hôm, chị nghe được một câu chuyện thật là…thật là…- Chị ngừng lại, khuôn mặt lộ vẻ xúc động và bối rối – Ở cạnh làng chị, sau giải phóng, một số đồng bào dưới xuôi lên lập khu kinh tế mới. Thời gian đầu, bà con thiếu kinh nghiệm làm ăn nên đời sống vất vả. Làng chị bàn nhau mang gạo, sắn đến giúp đỡ bà con. Nhà chị được phân công giúp cho một gia đình nghèo túng nhất. Gia đình này vốn đông con, anh chồng ngày xưa là lính nguỵ, cả nhà ăn theo nên không quen lao động chân tay. Ngay bữa đầu, khi chị mới bước chân vào nhà, anh chồng, một người cao gầy, khuôn mặt sáng sủa nhưng xanh xao cứ nhìn chị vẻ sửng sốt. Trong khi chị tặng quà, hỏi thăm tình hình gia đình, anh ta vừa trả lời vừa nhìn chị đăm đăm. Chị hơi lấy làm lạ nhưng không tiện hỏi vì sao như vậy. Mãi sau này, khi hai nhà đã thân mật với nhau, một hôm như vô tình, anh ta hỏi:

– Xin hỏi thật, chị đã từng ở nhà tù H phải không?

– Sao anh biết?

Anh ta ấp úng một lúc rồi nói:

– Dạ cũng thưa thiệt, tôi làm cảnh sát ở đó…

Câu chuyện mỗi lúc thêm cởi mở. Anh ta kể rằng, hồi làm cảnh sát, anh ta được chứng kiến việc chị Lãm khai báo về đội du kích xã, về Huyện ủy để cho địch đến đánh úp. Chị Lãm đã bàn với bọn cảnh  sát giả vờ đánh đập chị ta, tìm cách cho tù nhân nghĩ rằng chị đã khai báo để đánh lạc hướng tổ chức và việc chị ta nhận làm việc cho địch như thế nào…

Nghe anh ta kể, chị hoảng hồn thật sư. Tự đáy lòng chị có một tiếng thầm của ai đó bảo chị là sự việc xảy ra đúng như vậy. Nhưng chị cố gạt đi. Chẳng lẽ Lãm lại cùng bọn địch đóng trò đổ vấy cho chị, lừa gạt cả tổ chức? Lãm đã không chịu được tra tấn, đã khai báo lại còn muốn mình trong sạch trước Đảng để tiếp tục tiến thân sau này nữa ư? Có thể như thế được không? Chị không hiểu nổi. Trong đời chị, chị coi trọng chữ “tín”. Đối với bạn bè, đồng chí, bao giờ chị cũng đặt lòng tin.

– Xin lỗi anh, tôi không tin chuyện đó.

Anh ta cười:

– Tôi rất quý lòng tin bạn bè của chị. Ngay từ hồi ở nhà tù, tôi cũng rất phục chị, khinh bỉ chị Lãm. Nhưng mọi chuyện tôi kể là có đấy. Chị nên tin rằng tôi làm cảnh sát cũng vì miếng cơm manh áo, như vậy là tôi có tội với nhân dân, tôi không chối, nhưng không phải tôi xấu hết đâu. Tôi cũng có lòng trung thực của tôi chớ – Anh ta im lặng một lúc rồi tiếp – Tôi nói oan cho chị Lãm, khen chị để được cái gì? Chị Lãm bây giờ làm chức to, tôi nói không khéo dễ bị cắt cổ ấy chớ. Còn chị thì…

– Nhưng biết đâu anh lầm hai đứa tôi với một đôi nào khác? – Tôi chống chế.

– Lầm sao được. Sau giải phóng, đi cải tạo về, tôi có gặp lại chị Lãm. Chả là hồi ấy tôi xin vào làm việc ở một xí nghiệp tại thị trấn. Người ta không cho vì lý lịch của tôi. Tôi đến xin chị Lãm giúp đỡ. Chị ta thấy tôi thì mặt mày xanh lét. Tôi nói gần nói xa việc hồi chị ta ở tù, nhưng hứa sẽ không cho ai biết, miễn chị ta giúp cho tôi có việc làm không thì nhà tôi chết đói. Chị ta ừ ừ hử hử nhưng một thời gian, tôi bị họ đưa lên đây. Có lẽ chị ta tìm cách đẩy tôi đi đấy – Anh ta dừng lại, ngó đăm đăm vào mặt chị rồi tiếp – Tôi với chị cùng bị chị ta làm khổ cả. Nhưng tôi làm chi được vì chẳng ai tin tôi. Còn chị, chị có bà con ủng hộ. Chị có muốn “trả đũa” chị Lãm không?

Chị “á” lên một tiếng, người run bắn. Từ xưa đến giờ chị có biết trả thù trả oán ai trừ bọn địch đâu. Huống hồ Lãm là bạn thuở nhỏ…

– Tôi có hồ sơ về việc khai báo và nhận việc của chị ta đấy – Anh ta nói tiếp – Còn cả chữ ký. Kể cũng lạ. Hồi giải phóng vào phá nhà tù, mọi người chạy tứ tung, giấy tờ bay lộn xộn. Chẳng hiểu sao tôi lại vớ được xấp hồ sơ này. Mà kỳ hơn là tôi lại bỏ nó vào túi chạy về nhà và giữ nó đến bây giờ…

Anh ta đi vào buồng lục lọi một lúc rồi đem ra một xấp giấy đặt trước mặt chị. Trời ơi, đúng chữ Lãm y sì không chối vào đâu được, cả chữ ký ngoằn ngoèo không ai ký thay nổi nữa. Chẳng hiểu sao, lúc ấy, chị chộp lấy xấp giấy và nói với anh ta;

– Anh cho tôi, tôi cần giấy tờ này.

Có lẽ anh ta nghĩ rằng chị sẽ tố cáo Lãm nên đồng ý ngay:

– Dạ chị cứ cầm. Tôi tin chị.

Chị Tâm ngừng kể, mở chiếc tủ đứng bên cạnh lấy ra một xấp giấy được bọc trong giấy bóng đặt trước mặt tôi. Tôi xem lướt qua rồi hỏi:

– Chị đã làm gì với tập hồ sơ này?

Chị điềm tĩnh:

– Chị chẳng làm gì cả, cứ bỏ trong tủ thôi – Chị dừng lại một lúc rồi nói tiếp – Sau đó chị có viết thư cho Lãm việc này. Chị cũng bảo Lãm yên tâm, chị không báo cáo ai đâu.

– Chị Lãm có nhận được thư chị không?

– Có chớ – chị Tâm cười – Chị nhờ một người quen đi họp, đã trao tận tay chị ấy.

– Chị ấy có gởi thơ cho chị không?

– Chị ấy có gởi một tờ giấy, trong đó chỉ ghi có hai chữ “tuỳ chị” rồi đánh dấu hỏi thôi.

Chị Tâm im lặng, đôi mắt tự nhiên như mơ mộng xa vời…Hai chị em ngồi lặng một hồi lâu:

– Em sẽ đưa việc này ra ánh sáng – Tôi nói – Dù hai chị đều là chị em, nhưng em muốn công bằng.

Chị Tâm đang ngồi im, bỗng đứng dậy, nói với tôi, giọng van vỉ:

– Thôi chị xin em. Đời chị như thế này cũng được rồi. Chị muốn em để cho Lãm yên ổn, giữ nguyên chức vị, Lãm đang có danh vọng.

Tôi giả vờ vùng vằng bắt bí chị:

– Hay chị sợ tài liệu này không chắc? Hay chính chị đã khai?

Chị nhìn xoáy vào tôi, đôi mắt như có lửa:

– Vô lý. Chị không bao giờ khai. Còn giấy tờ này, theo chị là hoàn toàn đúng chữ của chị Lãm.

– Tại sao chị không dám lên tiếng?

Giọng chị dịu dàng như tâm sự:

– Nói thật với em, hồi trước chị thấy cha chị từng làm Liên gia trưởng, chị có mặc cảm, nên chị có báo cáo thành tích lên cũng chẳng ai khen thưởng chị. Chị nhường mọi thành tích cho Lãm vì Lãm là bạn thân của chị. Lãm đã được phong anh hùng là nhờ phần lớn thành tích của chị. Vậy thì…bây giờ…Trong khi đó, Lãm…

Tôi cảm thấy bức bối, khó xử trước những sự việc của chị Tâm. Tôi xin phép chị ra sân, đứng hít thở không khí trong lành một hồi lâu. Đêm vùng cao trời đầy sao. Nhìn những ngôi sao, có ngôi sao sáng, có ngôi mờ, tự nhiên tôi nghĩ: Có phải số phận của người đời cũng như những ngôi sao này không? Có lẽ có những ngôi sao thật sáng, thật to nhưng nằm sâu trong lòng trời, khiêm nhường núp sau những ngôi sao khác nên ta không nhìn rõ… còn…

Dòng suy nghĩ lại đưa tôi đến một câu hỏi khác. Tại sao trên đời có những người chỉ biết sống dựa vào công lao của người khác, khi mình được lên cao rồi quay lại làm hại chính người đã nâng đỡ mình lên. Tệ hơn, tại sao lại có những người vui vẻ tự nguyện để người khác đứng trên vai mình rồi sau đó lại chấp nhận sự hãm hại của người đó. Có phải vì điều này đã tạo ra miếng đất màu mỡ cho những kẻ xấu, kẻ cơ hội thiếu năng lực, gặp dịp may cứ leo hết bậc thang danh vọng này đến bậc thang danh vọng khác? Trong khi đó…

Có tiếng chân nhè nhẹ sau lưng. Chị Tâm đang đứng bên tôi. Chị vỗ vai tôi, giọng thấm đầy nước mắt:

– Chị xin em, chị xin em. Em đừng nói gì cho mọi người biết chuyện này. Lãm đang còn…(1)

 

  1986

Ở NƠI THẨM VẤN

I

Cái thằng cảnh sát đặc biệt ấy là cái thằng gì mà cả người nó giống như một khối sắt đen. Mập lùn, mặt sắt lạnh, râu đen, đội mũ nồi đen, đi đôi bốt đen, lúc nào cũng cầm một chiếc roi cá đuối đen. Nó đi đi lại trong phòng rộng, tường gạch, nền xi măng, miệng hừ hừ. Đi chán, nó chất đống người nó trên cái ghế tựa bằng gỗ, chân nhịp cộp cộp xuống sàn. Cạnh chiếc ghế là một chiếc bàn sắt chất đầy roi, kìm, dây điện. Bên kia bàn, đối diện với thằng cảnh sát là thằng Đẳng, một thằng chiêu hồi, ngồi cứng như bị đóng đinh lên chiếc ghế, y hệt ghế thằng cảnh sát. Thằng này khoảng ba mươi tuổi, dáng lùn tịt, mặt đen đầy mụn cá. Trông thằng ác ôn và thằng chiêu hồi ngồi bên nhau cứ giống như anh em sinh đôi.

Cô gái bị chúng bắt về đây từ hồi chiều. Người bé nhỏ, áo quần ướt át, môi tái nhợt, bị trói cắp ké, ngồi trên sàn trước mắt chúng.

– Mày tên gì? Thằng mặt sắt hỏi.

– Tôi tên là Ba.

– Cái thứ hay tên thật?

– Tên thường gọi. Tên khai sinh là Đặng Thị Xã.

– Quê ở đâu?

– Tôi ở Điện Ngọc, nhưng ra Đà Nẵng làm ăn đã lâu, các ông Hội đồng xã có biết-Ba nói cứng vì biết rằng có một số trong Hội đồng xã là cơ sở của cô.

Tên mặt sắt đứng dậy, đi một vòng rồi ngồi xuống ghế:

– Tao sẽ hỏi lại xã. Mày nói mày làm gì ở Đà Nẵng?

– Dạ, ở mướn.

– Căn cước đâu?

– Dạ tôi làm mất lúc qua sông.

– Tại sao mày ở Đà Nẵng mà vô đây để bị bắt?

– Dạ, tui định về quê, nhưng nước lớn nên quay lại.

– Nói láo nói láo nói láo-Cái roi cá đuối quật xối xả xuống người cô gái-Ông Đẳng đây bảo mày làm trong Ban chấp hành Phụ nữ Huyện.

Cô gái ngước cặp mắt đỏ ngầu nhìn tên Đẳng. Cô nhận ra cái thằng này ngay từ đầu. Nó làm An ninh quận 2 của ta. Có lần, cô đã gặp nó. Hẳn nó nhớ mặt cô nhưng không biết cô làm gì, tên gì. Nó khai ẩu cô làm Phụ nữ Huyện để lập công với chủ nó mà thôi. Cô phải đẩy lùi chúng nó trong trận hỏi cung đầu này. Cô trừng mắt nhìn tên Đẳng làm cho nó cụp mắt xuống rồi nhìn tên mặt sắt nói:

– Tôi nói thật đó, tôi đi làm mướn mà.

– Mày nói láo. Mày làm Phụ nữ Huyện. Mày có khai không?

– Tôi đã bảo tôi đi làm mướn thì biết cái gì mà khai với ông.

Chiếc bốt đen của thằng mặt sắt nhảy bổ lên xô vào người cô gái, làm cô bật ngửa ra…

Năm ấy, cái năm nao cô mới lên mười. Làng cô bọn Diệm kéo về đặc nghệt. Chúng mặc áo bốn túi, đội mũ bê-rê có tua. Chúng bắt người làng lên xã đánh đập, tra khảo. Cha cô cũng bị bắt, bị tra. Hàng ngày cô đem cơm cho cha. Cô thấy mặt mũi cha tím bầm. Cô thương cha, ghét bọn chúng lắm. Một lần, cô mang cơm cho cha, thằng gác không cho vô. Nó đá rổ cơm đổ úp xuống đất. Cô lượm những hạt cơm dính cát vừa khóc vừa đút vào miệng. Còn thằng gác thì cười.

Nhà cô rất nghèo, không có ruộng đất, quanh năm chỉ sống nhờ vào mấy vồng khoai trồng trên bãi cát.  Chẳng biết cha mẹ cô đem bát đũa về góp gạo nấu chung từ lúc nào mà cô có một lũ em, hàng lô hàng lốc, đứng cao thấp nhau cái đầu, miệng lúc nào cũng há hốc ra đòi ăn như lũ chim non đói mồi. Cô là chị thứ hai. Trước cô có một người anh. Theo thứ tự trong nhà cô là chị Ba. Cha mẹ, hàng xóm gọi cô là con Ba. Một hôm, mẹ bảo anh cô và cô:

– Các con à, cha bị bắt, mẹ nuôi các em cực quá, các con đã lớn, các con đi tìm việc làm ăn, giúp mẹ, giúp các em nghe.

Một người làng dẫn Ba ra Đà Nẵng. Đà Nẵng thật to, nhà cao đụng trời, xe chạy vù vù, Ba nhìn chóng mặt. Người làng dẫn Ba ra chợ Cồn. Chợ xếp đầy kẹo, thịt. Ba nhìn trân trân, ứa nước miếng. Nhưng người làng dẫn Ba đến trước một hàng vải.”Mình có áo đẹp rồi”. Ba vừa nhìn áo rách của mình vừa nghĩ. Bà bán hàng mập, trắng, mặc áo ni-lông trắng lốp, cổ đeo dây chuyền vàng, nhìn Ba từ đầu đến chân, lắc lắc đầu, cầm tay Ba bóp bóp:

– Nó hơi nhỏ, mà thôi, cũng được.

Ở nhà bà Mập, Ba quét nhà, nấu cơm. Nấu cơm sống, bà Mập đánh. Ba không khóc nhưng tức đầy ngực. Từ nhỏ đến giờ Ba đâu chịu ai bắt nạt. Ba trốn về. Về ôm mẹ khóc. Mẹ cũng khóc. Nhưng khóc đâu ra cơm. Ba lại ra Đà Nẵng. Lần này Ba ở nhà một người Tàu, làm ren. Nhà cao ba bốn tầng Ba leo mỏi cả chân từ sáng đến khuya. Ba phải bê một chậu nước, một cái bao tải để lau các tầng, lau cửa, lau bậc thang. Lau xong, bê chậu giặt. Giặt áo quần người lớn, giặt áo quần con nít. Giặt xong lại lau nhà. Nhà lắm khách. Đến nửa đêm còn lau. Vừa lau vừa ngủ gục. Ngủ ngay trên cán bàn lau. Đầu vập xuống sàn. Một cái đá làm Ba bật dậy. Nhưng không phải bà chủ mà là thằng mặt sắt đạp vào đầu, lôi Ba dậy.

– Mày nghe tao hỏi không, mày làm gì?

– Tôi nói ông nghe. Nhà tôi nghèo lắm. Năm lên tám, tôi đi lấy rau bị mấy ông quốc gia trên đồn bắn lạc đạn bị thương, tôi ra Đà Nẵng chữa rồi đi ở luôn.

– Ở nhà ai, tại đâu?

– Nhà bà Đường, chợ Cồn.

– Láo. Mày ngoan cố. Mày không khai mai tao sẽ cho đi máy bay, tàu thủy. Giờ thì đi tạm tàu điện đã.

Tên mặt sắt lại hừ hừ. Ở cô gái nhỏ nhắn, da xanh mét này có cái gì mà thằng mặt sắt bảo ngoan cố. Sức mạnh nào? Bắt nguồn từ đâu. Nó đâu có biết. Nó tưởng nó sẽ hỏi ra điều ấy bằng một sợi dây điện cắm từ bình ắc quy đến lỗ tai cô gái.

II

 

Hồi mình đứng dậy đồng khởi làng trên xóm dưới sao mà vui như có đám hát. Đồng bào mít-tinh, hội họp, còn bọn giặc thì trốn chui trốn nhủi trong đồn bót như lũ chuột.

Anh trai Ba đi bộ đội, anh bảo đi bộ đội để trả thù cho cha. Cha bị tra tấn quá, về nhà bị tức ngực ho ra máu rồi chết. Mẹ hay đau ốm luôn, làm bữa được bữa không. Ba đi làm gạch. Ngày ngày, đứng dưới nắng, đem đất nhào vô khuôn chữ nhật. Mặt cũng bẹt vào khuôn. Làm gạch cực nảy đom đóm mắt. Nhưng không làm ai nuôi mẹ nuôi em.

Một hôm cũng như mọi hôm. Ba đi làm về, tay vừa cầm củ khoai lang ăn trừ bữa thì anh Nhường tới. Anh là người trong họ. Họ Đặng. Anh nhìn Ba, anh cười:

– Cơm cá đâu mà ăn khoai, Ba ?

– Không ăn khoai thì ăn gì, anh.

Ba hỏi lại. Người Quảng Nam khi trả lời cũng chính là hỏi lại. Anh Nhường ngồi im một lúc rồi nói:

– Đi theo tau làm cách mạng sau này có cơm ăn.

Ba lắc đầu. Anh Hai đi rồi. Mình cũng đi thì ai nuôi mẹ nuôi em. Ba nghĩ vậy nhưng Ba im lặng. Anh Nhường cười:

– Mi sợ chết sao Ba, người ta đi rần rần đó.

– Tui không sợ. Nhưng tui đi, ai nuôi mẹ, nuôi em tui, anh.

– Hề hề. Chớ mi làm miết, còn thằng giặc thì nó ăn hớt hết lấy chi mà sướng mi. Bộ mi không muốn trả thù cho cha mi sao, Ba?

Ba ngập ngừng:

– Để tui hỏi mẹ tui thử.

Đêm đó, Ba thủ thỉ với mẹ xin đi du kích. Mẹ lắc đầu. Ba ôm mẹ, mẹ hất tay ra. Ba chọc lét mẹ, mẹ cười. Ba tấn công luôn:

– Bộ mẹ không cho con đi du kích để con trả thù cho cha, làm cho đời mình sướng hơn sao, mẹ.

Mẹ củng vào đầu Ba:

– Cái con nói miết. Bay đi thì đi gần, ở xa tao nhớ.

Ba mừng quá, vỗ tay to. Vỗ cái bốp. Mẹ đấm lưng Ba bảo con gái con lứa gì cứ như đàn ông rồi xoa đít thằng út nựng “Cái con chị Ba mi sắp bỏ mẹ con mình nè, bú đít thằng út nè”.

Ba được tổ chức vào du kích mật. Các anh bảo du kích mật là mình nằm ngay trong ruột địch để thụi nó. Ba hỏi làm sao mình chui trong ruột nó để thụi nó được. Các anh cười bảo con này chậm hiểu. Nghĩa là mình cứ sống trong dân, làm ăn bình thường tìm cơ hội để đánh địch hoặc phối hợp với anh em ở bên ngoài đánh nó, làm nó rối loạn, mất ăn mất ngủ, bớt lùng sục, co vào đồn hay bỏ đồn chạy. Cái đó thì Ba làm được. Làng Ba gần đồn. Bọn giặc ỷ thế, hay la cà xuống dân để cướp giật, chòng ghẹo chị em. Bà con tức lắm, mà chẳng biết làm sao. Chẳng lẽ để nó tấn công mình miết, mình thua nó. Ba để mắt một thằng ốm ốm hay uống rượu ở quán bà Sáu, lấy cắp thắt lưng lựu đạn của nó. Đi đâu, Ba cũng mang theo vài quả lựu đạn. Khi giấu trong sảo phân, lúc giấu trong mớ dây khoai. Chiều hôm ấy, cô đi trồng khoai về. Đến Cồn Sắn, cô thấy hai thằng đi ve gái về đồn muộn, cô đôi luôn một quả. Hai thằng toi.

Tụi địch không dám vô làng nữa, nhưng đêm đến, chúng phục kích ở bên ngoài và cho lính giả cán bộ ta kêu cửa để phát hiện cơ sở ta. Bà con lo sợ. Cán bộ du kích ta lo ngại. Hai bên rất khó bắt liên lạc. Ba nghĩ tức ói. Tối tối cô giả đò dẫn các em đi chơi, theo dõi. Cô biết chúng hay kéo quân xuống một bụi rậm giữa Cồn Chùa; một số phục kích quanh đó, một số chia nhau vô dân.

Đêm hôm sau, cô gài ở đó ba quả lựu đạn. Sáu thằng về chầu ông bà. Chúng bắt đầu thút lút vô đồn, đêm bắn vu vơ. Chúng thụt thì cán bộ và cơ sở ta bung ra.

Một hôm, các anh bộ đội huyện kéo xuống. Các anh bảo đi đánh một đơn vị Mỹ cụm ở Điện Vinh. Ba cũng xin đi.  Các anh bảo du kích mật đã đi thì bật mí. Bật mí thì bật mí chớ không đi đánh thì đâu là du kích. Bộ các anh không cho du kích học tập bộ đội sao. Các anh đi trước, Ba đi sau. Tới nơi, Ba ngồi bên một bờ dứa dại. Các anh bảo ngồi im như đá. Người mà ngồi như đá cực thiệt. Bữa ấy, gió lộng nhiều, Ba cứ muốn ho. Ba đút tay vào họng chặn cái ho. Cổ họng kêu ực ực. May quá, lúc ấy có lệnh nổ súng, Ba nhảy lên. Gặp mấy tên ngồi dưới một công sự. Ba lia một quả lựu đạn, rẹt một băng AR 15. Tụi nó ngủm.

Sau lần ấy, Ba vào đội du kích tập trung. Đội ở trong một khu vườn hoang có nhiều cỏ rậm, gai mắc cỡ, ổi, chuối. Vườn này, vốn là vườn nhà cũ của bà con, một bên sát sông, một bên có một cồn cát. Bà con bị chúng xúc tát quá phải đi nơi khác. Nhà cũ bị nát, anh em lấy lá lợp lều.  Đêm trải ni-lông trên nền đất mà nằm. Ngày cuốn ni-lông đi công tác.

Ba là đại đội phó, vừa chỉ huy chiến đấu vừa làm chị nuôi. Tóc tai bù xù, áo quần lem luốc.

Một hôm, Ba ghé về thăm mẹ, xin rau, mẹ nói:

– Mi lớn rồi chớ đâu phải con nít. Mi ăn bận xạc xài rứa coi bộ chẳng có đứa nào ưng.

– Con xấu xí, ai ưng thì ưng, không ưng thì con ở không đánh giặc mẹ à.

– Mi định ở vậy sao?

– Ở vậy suốt đời mẹ à.

Ba nói găng rồi cười. Hồi này, Ba cười hoài. Đi đánh giặc mà không cười thì lòng dạ nó không hồ hởi đánh làm sao hăng được. Ba hay cười nên có anh Mua bên Thanh niên trêu. Anh trêu miết, Ba cười miết. Đột nhiên, Ba không cười. Ba thoáng buồn. Vui đột ngột, buồn đột ngột là có chuyện. Chuyện gì? Ba khổ, ăn mặc tèng xí chẳng lẽ lại có chuyện ấy. Vậy mà có chuyện ấy. Cái con đường đi đến chuyện ấy là con đường nào? Ba đâu biết. Chỉ biết cuối năm ấy họ cưới nhau.

Lấy chồng, Ba cũng không về nhà làm dâu như người ta. Ba ở luôn đội du kích. Một hôm, đánh nhau xong, Ba ghé vô nhà mẹ chồng gội đầu. Mẹ bảo:

– Tau có con cũng như không. Chồng đi, vợ đi. Bay coi tau cưới dâu về làm chi.

Ba nói:

– Con tèng xí vậy mẹ cưới con chi hở mẹ?

– Thằng Mua nó cưới chớ tau đâu có cưới-mẹ cười-nói vậy chớ đừng trách mẹ. Bay đi bay trả thù cho cha bay, cha thằng Mua. Mẹ chỉ muốn có đứa cháu để bồng bế thôi con à.

Tưởng gì chớ chuyện ấy thì Ba có rồi. Có từ hôm anh Mua ghé qua, lúc đội du kích đi công tác vắng hết. Sau lần ấy, Ba hay bị ói, Ba biết. Nhưng Ba không nói ra. Nói ra mấy ảnh không cho Ba đi đánh giặc thì còn ra nước ra cái gì nữa. Ba nói với mẹ chồng:

– Chuyện đó mà lo chi mẹ.

– Lo chớ sao không lo. Bay còn con nít bay không biết lòng người già.

Ba còn nhỏ nhưng Ba biết. Ba sắp làm mẹ rồi chớ bộ. Nhưng Ba không nói. Ba cắp súng chào mẹ:

– Con đi nghe mẹ.

– Tổ cha bay.

…Ba tỉnh dậy thấy mình nằm trong một căn phòng rộng. Chung quanh có nhiều người nằm sắp lớp như cá. Bên cạnh cô ai đó thút thít. Cô hỏi:

– Ai khóc đó?

Tiếng khóc im. Một giọng nói quen quen cất lên:

– Mày tỉnh rồi bả Ba? Tau…

– Chị Chín hả, có gì đó chị?

– Tau…tau làm Phụ nữ xã mà nó đánh tau quá, tau khai ào du kích. Nó bắt bò, tau không biết bò, nó đánh tau.

– Đừng khóc chị à. Mình là cán bộ, mình khóc chị em nghe không có lợi. Lỡ khai thì phản cung.

Chị Chín nói thầm thì:

– Phản cách sao? Tau sai với Đảng rồi. Mày nói phản cung cách sao?

– Bảo tui là dân. Các ông đánh quá, tui khai ẩu. Giờ nghĩ lại, tui không phải du kích. Rồi cứ vậy miết.

Chị Chín ôm Ba:

– Tội mày quá, tau thấy nó đánh mày ghê quá, tau sợ. Tau sẽ cố. Ba à.

Ba nói:

– Cố miết nghe chị. Hồi ở ngoài, các anh bảo thằng giặc nó ghê lắm. Nhưng mình bước tới thì nó lùi. Mình lùi thì nó bước tới. Mình đừng lùi chị à.

Hai chị em ôm nhau thức cho đến sáng.

III

Tưởng đi máy bay là nó chở đi giam ở tỉnh nào, nước nào, ai ngờ cũng ngay tại cái phòng hôm qua, nó trói hai tay với nhau, hai chân với nhau rồi cột hai sợi dây điện treo ngửa người Ba lên lưng chừng nhà. Hai thằng cảnh sát mới lạ, người to lớn, mỗi thằng cầm một khúc gỗ đứng hai bên.

Ba liếc mắt nhìn căn phòng. Vẫn những thứ hôm qua, nhưng bữa nay, sau cái bàn, sát trong tường, chúng dựng lên một tấm bảng ghi “Thành khẩn được về, ngoan cố thì chết”

Thằng mặt sắt ngồi trên ghế cũ, mặt lúc to, lúc choắt lại. Thằng Đẳng vẫn ngồi đối diện, người nó giật liên hồi trên ghế, nóng nẩy như có lửa đốt.

Thằng mặt sắt hỏi:

– Mày làm Phụ nữ Huyện, phụ nữ chúng mày có những ai?

– Tôi là dân, tôi nói rồi mà. Các ông trên đồn bắn bị thương, tôi ra Đà Nẵng chạy chữa rồi ở mướn.

Thằng mặt sắt phẩy tay. Thằng bên phải tống khúc gỗ vào Ba, người cô chao sang bên trái. Thằng bên trái tống khúc gỗ vào Ba, người cô chao sang bên phải. Cứ như thế, người cô bị đẩy qua, đẩy lại. Cô cảm thấy chóng mặt. Người quay cuồng, muốn nôn ọe.

– Nói đi. Thằng mặt sắt hét lên.

– Thả tôi ra, tôi nói.

Lập tức, Ba thấy mình lao nhanh xuống đất. Đầu cô đập vào sàn đau điếng. Cô nằm im, thở. Thở muốn đứt hơi. Thằng mặt sắt dùng đôi bốt hất đầu cô dậy:

– Nói đi.

– Nói tôi là dân bị các ông bắn, tôi đi chữa bệnh rồi ở mướn à.

– Nó ngoan cố đấy-Thằng Đẳng nói-Nó làm Phụ nữ Huyện. Đêm đêm, nó vào trong dân. Nó hô hào đóng góp…

– Ông có làm thì ông chỉ tôi khai với.

– Tau làm là bởi nó bắt tau làm. Tau làm chơi. Tau chán rồi. Chẳng được gì, tau về với quốc gia. Tau thù cộng sản giết mẹ tau. Mẹ tau làm ăn ủng hộ cho quốc gia mà chúng bảo làm điệp.

– Ông làm gì thì ông biết, tôi làm sao biết được.

– Nó ngoan cố-tên Đẳng nói-chính tôi thấy nó làm Phụ nữ Huyện. Ông cho nó đi tàu thủy đi.

Tên mặt sắt lại vẫy tay. Hai thằng to lớn ban nãy xông ngay vào tuột quần áo cô gái. Chúng đặt cô lên cái ghế băng dài, trói hai tay cô vào hai chân ghế trước, hai chân cô vào hai chân ghế sau, đầu thòng ngoài ghế.

– Các ông làm gì mà bó tôi như người chết thế này. Các ông ở đầy nhà tôi chạy sao được. Ba nói.

Chúng vẫn câm lặng. Một thằng cầm một chiếc khăn lông bịt mũi cô, làm miệng cô há ra để thở. Một thằng đè tay trên bụng cô. Thằng mặt sắt cầm bình nước xà phòng để sẵn ngay trên cái bàn sắt đổ vào miệng cô. Cô sặc sụa thét lên:

– Thả tôi ra…tôi ngợp quá.

Tên mặt sắt nói:

– Muốn được thả thì khai. Mày có làm Phụ nữ Huyện không?

– Không có. Ba thét.

– Mày có làm Phụ nữ Huyện không?

– Không có.

Thằng mặt sắt cứ đổ mãi nước xà phòng vào miệng cô. Thằng to lớn cứ đè tay ép xuống bụng cô. Khi bụng cô phình lên, thằng mặt sắt sai hai tên to lớn nọ lấy một miếng ván đặt lên người cô, rồi ngồi hai đầu ván nhún qua nhún lại. Nước vọt ra từ miệng, từ mũi cô. Bụng cô đau quặn. Nóng như có lửa đốt, cô ngất đi…

Khi tỉnh lại, Ba thấy mình nằm co quắp trong một phòng tối. Cô duỗi chân ra thì đụng ngay vào tường. Ngồi thử dậy thì đầu đụng vào trần. Cô thả người xuống thì nghe cạnh đầu mình có mùi thối. Cô hơi ngạc nhiên. Chẳng lẽ mình…Nhưng cô chợt nhớ lại, hồi ở ngoài các anh hay bảo, ở trong tù rất chật. Muốn nằm được thẳng người, thì phải  gối đầu lên cầu tiêu. Cô gối luôn trên đó cho thoải mái. Cô cảm thấy sống lưng lành lạnh. Bụng cô cứ chướng lên tưng tức. Nhưng không phải như hồi nào cô thấy bụng nặng nặng và cái đau khe khẽ khi con cô đạp đòi ra.

Dạo ấy đang mùa nồm non. Nếu như những năm thanh bình thì những người gánh cá chuồn sẽ ơi ới gọi nhau đi chật làng chật xóm. Nhưng giờ đây, làng xóm vắng hiu. Cồn cát trắng lạnh. Trên mặt biển phía xa in hình những chiếc tàu chiến, những chiếc bo bo đen sậm. Chỉ có con tu hú là chẳng hay biết gì, như mọi khi, nó gọi hoài tu hú tu hú tu hú. Ba cùng đội du kích đi đánh xe về. Cô thấy người mệt xỉu. Cái thằng nhỏ trong bụng như kêu mẹ mẹ cho ra. Ba thầm nhủ: “Con ráng rải rải cho mẹ đánh giặc. Mấy bữa nay được trớn làm tới ngon quá”. Nhưng thằng nhỏ cứ đòi ra. Ba ngồi thở, mặt tái nhợt. Anh Lì Xã đội trưởng hỏi:

– Cô Ba có mang mấy tháng rồi hè?

– Còn vài tháng mới sinh-Cô nói dối.

Anh Lì cười:

– Cô xí gạt tôi. Ngó bộ đó chẳng nay thì mai, cô về nghỉ sanh đi.

Ba về nhà. Mấy hôm sau, cô sinh đôi được hai đứa con trai. Cô sinh được sáu ngày thì anh Mua về. Cái hôm ấy là hôm gì mà gió biển lộng dữ vậy. Cát sào sạo quanh nhà. Anh Mua đứng ở đầu giường, người mướt mồ hôi, giọng vui vẻ:

– Nghe Ba sanh, tôi đang đi công tác ở Gò Nổi, các anh cho tôi về.

– Sanh thì sanh chớ bỏ công tác về chi.

– Tôi về thăm Ba, thăm con.

– Thôi được rồi. Anh ra ngoài kia. Ở trong buồng tôi mới sanh hôi hám lắm.

Anh cười, cầm tay Ba. Bỗng nhiên, Ba giật thót người. Một tiếng súng nổ ngay ở sân nhà. Sau đó, Ba nghe tiếng bọn Mỹ xì xồ. Ba đẩy anh Mua vào hầm trốn máy bay rồi bồng cả hai con bước ra, ý ngăn chúng không được vào buồng đàn bà đẻ. Một thằng Mỹ trắng cao to, mắt gườm gườm, nói tiếng Việt lơ lớ:

– Có vi xi không?

– Không có.

Nó chỉ cái xắc cốt của anh Mua treo ở góc nhà cười hộc hộc. Sau đó, chúng bắt Ba, mẹ, các em ra sân. Chúng sục sạo trong buồng. Ba nghe tiếng mìn nổ. Người cô như chết điếng. Một lúc sau, chúng lôi anh Mua ra để nằm ở góc sân. Trên ngực, trên đùi anh, máu túa ra thắm đỏ áo quần. Mũi anh thoi thóp thở. Không kịp nghĩ gì, cô bồng cả hai con lao lại phía anh. Thằng Mỹ trắng xô cô ngã chúi. Một đứa bé văng khỏi tay cô. Thằng bé khóc thét lên. Mẹ cô vội đến bế cháu chạy ra một gốc cây. Một thằng Mỹ đen, chạy đến đỡ cô dậy, tay bóp bóp vào đầu đứa con còn lại trên tay cô:

– Con vi xi đép đép (đẹp đẹp).

Ba gạt tay thằng Mỹ đen ra, hằm hằm nhìn nó. Cô không biết sợ là gì nữa. Chồng cô đã thế thì cô cũng chết thôi.

Thằng Mỹ trắng ban nãy hỏi:

– Chồng mày phải không?

– Phải

– Nó làm gì?

– Làm ruộng

– Không phải.

Thằng Mỹ trắng bước vô nhà. Một lúc sau nó cầm ra một con dao. Nó cười hộc hộc rồi xông thẳng lại chỗ anh Mua nằm. Ba nghĩ: Nó sẽ chặt đầu anh. Cô đặt con xuống đất, mặc cho con khóc, hung dữ lao vào người thằng Mỹ. Thằng Mỹ trắng chồm cả người tới xô cô ngã ngửa. Nó cầm lấy lưỡi dao xẻo tai anh Mua. Nó vừa cười hộc hộc vừa cầm đến đút vào miệng Ba. Nước mắt ròng ròng, cô cắn chăt răng. Nó xông lại chỗ bà mẹ, đưa vào miệng bà, bà khoát tay, khóc òa lên. Nó cười. Bỏ lỗ tai vào cái túi áo rộng thùng thình của nó rồi xông lại cắt mũi anh. Nó lại đút vào miệng Ba, Ba vùng dậy húc đầu vào ngực nó. Nó đá vào bụng cô, cô ngã xuống.

Một lúc sau, Ba tỉnh dậy. Cô thấy chồng cô bị treo lên xà nhà. Hai cái răng vàng của anh bị chúng nạy lấy cắp. Ngay hai kẽ răng ấy, chúng thắp một điếu thuốc đút vào. Ruột anh bị chúng mổ, chảy lòng thòng xuống đất. Đầu tóc bù xù, áo quần rách toạc, Ba lao vào cắn xé bọn Mỹ. Chúng bắn dọa một phát súng qua đầu cô rồi lập tức đẩy cô, mẹ cô và các em cô ra ngõ. Ba nấc lên, ngồi xuống vệ đường, không chịu đi. Thằng Mỹ đen lôi cô dậy bắt đi. Đường cát nóng như rang. Tay bồng con, Ba bước như người mất hồn.

Chiều hôm đó, chúng cho gia đình cô về. Hai đứa con của cô yếu sức, lần lượt chết trong hai ngày tiếp theo. Ba bị sa tử cung, bụng đau quằn quại. Ngày thứ ba, Ba xin về đội du kích công tác. Anh Lì bảo:

– Ba làm công tác Phụ nữ hay Mặt trận chi đó thì được chớ làm du kích thì không nổi đâu.

Ba nói mếu máo:

– Gia đình tôi khổ. Cha tôi chết, giờ chồng con tôi chết. Các anh không cho tôi cầm súng đánh đuổi hết bọn chúng thì làm sao nước mình có độc lập tự do, nhà tôi được hạnh phúc. Các anh cho tôi đi chiến đấu liền đi.

Anh Lì im lặng một chút rồi nói, giọng trầm hẳn xuống:

– Được, nhưng cô phải nghỉ ít lâu đã.

IV

 

Vẫn căn phòng ấy, những thứ đồ vật ấy, vẫn câu khẩu hiệu ấy, vẫn tên mặt sắt và tên chiêu hồi giống như anh em sinh đôi ngồi trên hai chiếc ghế ấy. Nhưng hôm nay có cái mới: trên bàn có thêm bộ ấm chén trà và góc bàn có thêm cái ghế mới.

Ba vừa bước vào phòng đã thấy ngay một cảnh tượng đau lòng: Chị Chín đang bò không ra bò, lết không ra lết. Thằng mặt sắt và thằng chiêu hồi đang ôm bụng cười. Thằng mặt sắt hỏi:

– Mày khai mày là du kích sao mày không biết bò?

– Tôi không phải là du kích.

– Tại sao mày khai?

Chị Chín nhìn Ba rồi nhìn tên mặt sắt:

– Tại mấy ông đánh cô Ba quá, tôi thấy, tôi sợ tôi khai ẩu chớ tôi là dân ruộng mà.

– Đồ con từu-Tên mặt sắt chửi-mày sang phòng bên rồi mày sẽ biết.

Nó kéo chị Chín ra khỏi phòng. Khi đi ngang chỗ Ba, chị nhìn cô đầy ý nghĩa.

Vừa lúc ấy, một thằng dáng cao cao, mang kính trắng bước vào, ngồi xuống ghế thằng mặt sắt hay ngồi, giơ tay chỉ Ba ngồi vào chiếc ghế mới, nói:

– Mấy bữa nay, tụi nó đánh cô miết. Bậy quá, tôi không biết. Hôm nay, tôi mời cô đến đây uống nước, nói chuyện với ông Đẳng đây. Chuyện đồng chí với nhau mà. Cô có quên, ông ấy nhắc lại, ông ấy tâm sự-Hắn nhìn tên Đẳng rồi nhìn Ba-Xin phép, để hai người tự nhiên, tôi đi làm việc.

Tên kính trắng bước ra. Thằng Đẳng nhìn theo, mặt thoáng hốt hoảng. Đầu nó cúi xuống, có vẻ suy nghĩ lắm. Sau đó, nó lấm lét nhìn Ba. Ba nhìn thẳng vào mặt nó. Mắt nó cụp xuống. Khuôn mặt đầy mụn cá của nó đỏ ửng lên. Cái mặt mẹt của nó Ba không thể quên được.

Sau tết Mậu Thân 1968, bọn địch tăng cường càn quét hòng đẩy lực lượng chủ lực của ta về rừng núi. Ở quê Ba, chúng dùng chiến thuật Mỹ lết nhằm phát hiện, đánh phá, chống lại phong trào du kích của ta. Bọn Mỹ lết rất khôn. Chúng thoắt hiện thoắt biến. Vừa mới phát hiện ở Cồn Khe, chúng đã bí mật ngồi phục ở Cồn Chùa. Cán bộ, du kích đâm lo ngại, chưa biết cách trị chúng. Một số co thủ, một số đi chiêu hồi. Trên lệnh xuống phải tìm cách đánh chúng, bẻ gẫy chiến thuật này, đưa phong trào chiến tranh du kích đi lên. Đội du kích của Ba nghĩ mãi cách đánh. Ba cũng thao thức mãi…

Một hôm, Ba lần mò vào một bờ rào phòng thủ của địch, gỡ một trái mìn cơ-lay-mo. Hàng ngày, cô bỏ mìn và mấy quả lựu đạn vào rổ giả bưng đi chợ để tìm cách diệt chúng. Suốt ba ngày, cô đi mỏi chân qua những động cát, những bãi rậm mà không gặp chúng. Cô tức lắm. Chẳng lẽ mình chịu thua chúng để chúng làm tàng mãi. Ngày thứ tư, đang bưng rổ qua một xóm dân cách đồn địch vài trăm mét thì cô thấy một đứa trẻ chăn bò hổn hà hổn hển, mặt đỏ lưởng vì chạy dưới nằng, đến báo cho cô biết có 9 tên Mỹ từ Cồn Chùa qua Cồn Khe về đồn, có lẽ để nhận thực phẩm. Ba bám theo. Nhưng bọn này ranh lắm. Chúng không đi đường lớn mà cứ đi ngoắt ngoéo trong các nhà dân. Sợ đánh chúng sẽ ảnh hưởng đến dân, Ba quyết định mang rổ mìn chạy tắt đón đầu chúng. Đến gần cổng đồn, chúng có vẻ chủ quan đi nghênh ngang không chú ý gì cả. Ba đặt rổ xuống, giả bộ sửa dép để đặt mìn. Cô ngụy trang bằng một túm cỏ mang sẵn, giăng dây, rồi nhảy xuống bờ đường thản nhiên bứt lá é. Ba thằng Mỹ đi đầu đã tới quả mìn. Cô bấm nút diệt luôn. Bọn đi sau vụt nhảy xuống lề đường. Cô ném luôn hai quả US diệt nốt.

Trong khói mìn, Ba lẩn vào xóm dân. Nghỉ một lúc, cô quay về đơn vị. Giữa đường, thấy khát, Ba ghé vào nhà dân xin nước. Nhà trên vắng người. Cô vòng xuống phía bếp. Cô gặp ngay tên Đẳng này đang ngồi trên võng xì xụp uống sữa. Nó nói nó là cán bộ An ninh quận đi công tác bị ốm, nghỉ nhờ. Nói xong, nó lấm lét nhìn Ba, cái mặt đầy mụn cá đỏ rừ lên. Nó đưa tay vuốt tóc, nghiêng người làm điệu, rót nước mời Ba uống:

– Chị đi công tác ở đâu về ta?

– Tôi đi họp Phụ nữ-Ba nói lừa-Nghe mìn nổ tôi sợ quá chạy thục mạng. Mệt quá, xin anh miếng nước.

– Tôi nghe ai vừa đi ngang nói là du kích mới đánh Mỹ. Giỏi thật. Rồi đây bọn Mỹ lết sẽ không dám tác oai tác quái. Ta thoải mái vào sâu trong dân, ít ra cũng kiếm chác được cái chi bồi dưỡng chị hỉ-Đẳng nhìn Ba, nói ấp úng-Chị có mệt mời ngồi xuống võng tôi nghỉ.

Nó ngồi xuống bên Ba. Ba vừa uống nước vừa nghĩ: Cái anh chàng này cán bộ gì mà lạ vậy. Mới gặp mà đã liến láu. Cô đứng dậy xin phép về. Sau này, cô có gặp hắn đôi lần, nhưng cô tránh mặt.

Ba nhìn thằng chiêu hồi lần nữa làm cho nó lúng túng hơn. Nó ngọ ngoạy đầu, có vẻ bứt rứt suy nghĩ. Một lúc sau, hẳn nhớ đến việc chủ giao, nó cố gắng tự chủ, nhưng mắt không dám nhìn thẳng vào Ba, hắng giọng, nói ngắt quãng:

– Cô Ba, cô uống nước rồi ta trao đổi, tâm sự với nhau, cũng è…è…è giả tỷ như ta trao đổi công việc lúc còn ở đằng mình.

– Tôi có biết trao đổi trao điếc gì đâu!

– Cô cứ nói vậy-tên Đẳng cười nhạt-Cô tham gia cách mạng, tôi cũng tham gia cách mạng è…è…Nhưng bây giờ tôi nói với cô vầy è…è…Mình tham gia cách mạng mà chẳng được cái chi. Ăn uống cực khổ, sốt liệt giường liệt chiếu, ăn mặc rách rưới, ai tính cho. Lúc mình tích cực, mấy ông trên cũng động viên năm ba câu, có cho xu nào đâu. Vậy mà, tôi lỡ lẹm một ít tiền công è…è…Cái này nói hơi…kỳ…tôi cũng thiếu thốn tình cảm…Vậy mà họ phê bình gắt. Cô nghĩ thử coi, kiểu vắt chanh bỏ vỏ ấy, chịu sao thấu…Trong khi đó, Mỹ nó giàu, quốc gia nó mạnh, ta đánh sao nổi. È è nói vậy, để cô cùng tôi thấy là đằng mình không làm gì được…è è dù có anh dũng mấy. Tôi sang bên này sống khá lắm. Tôi hẳn lớn tuổi hơn cô. Có khi tham gia trước cô è è tôi khuyên cô cũng nên è è như tôi…mà có gì khai nấy rồi về.

Nó dừng lại nhìn Ba rồi nói tiếp:

– Tôi thấy cô xanh xao mà bị tra tôi khổ tâm quá. Nhưng, cô đừng trách mấy ổng. Đằng mình cũng vậy, bên này cũng vậy. Bắt được đối phương thì phải hỏi tra. Tôi…tôi làm An ninh tôi biết, è…è cô uống nước, cũng như hồi nào, tôi đã mời cô uống nước. Cô bảo cô làm Phụ nữ…tôi không biết nữa. Cán bộ ở vùng Đông mình đông quá mà…Hồi hôm tôi nhớ hình như cô là y tá, có lần tôi…tôi thấy cô băng cho một đồng chí cơ quan tôi, è…è có thể cô nói gạt tôi…Mà thôi, nhưng mà lỡ rồi.Cô cứ nhận là Phụ nữ đi. Đừng bảo tôi nói sai. Không lợi tôi, không lợi cô. Cô không nhận huyện thì xóm cũng được. Xóm mà ăn thua gì. Vận động đóng góp vài ba lon gạo, ủy lạo thương binh vài hộp sữa mà, ai không làm. È è cô cứ nói, tôi hứa thưa lại mấy ông…

Tiếng thằng Đẳng cứ rè rè như cái máy làm Ba phát mệt mỏi. Cô nói bực tức:

– Ông chỉ tôi khai chớ tôi không biết, tôi là dân.

Tên Đẳng ngẩn người, nói giật giọng:

– Nói gì lạ vậy, đồng chí. Tinh thần đảng viên của đồng chí đáng cho tôi học tập. Nhưng mà…

– Đảng viên là gì, tôi không biết, ông là đảng viên à?

Tên Đẳng giật mình, nóng nảy, nhưng nó ghìm lại. Nó sợ cô nói nó là đảng viên, bọn kia sẽ nghi nó khai dối. Nó dỗ:

– Nói gì lạ vậy, cô nhớ lung tung hết. Tôi mà ai cho vào Đảng. Nhà tôi ở Đà Nẵng giàu. Mẹ có quan hệ với quốc gia, bị cộng giết, ai cho tôi vào-Nó đẩy chén nước tới trước mặt cô, cười nhạt-Cô gan dạ thật. Nhưng cái gan dạ của cô để làm gì. Người ta dùng cái gan dạ để dời sông lấp biển, làm anh hùng sử sách ghi đời đời. Còn cô, cũng thường như tôi, ta sống chết như cây cỏ, giun dế. Vậy thì tội gì ta chịu khổ…è…è…Cô nghĩ tới ngày thắng lợi, bọn trên hưởng hết. Còn cô, cô làm gì, là người cán bộ thường, lương tháng vài chục, cô được gì…è è…tôi nghĩ, thôi cô khai quách, về nhà làm ăn. Ở cái chế độ nào cũng chỉ có phó thường dân là sướng nhất. Nghĩ đi cô à.

Hắn bước ra ngoài cửa nghiêng tai lắng nghe. Từ phía lầu hai tầng trước mặt, bọn chiêu hồi đang tập văn nghệ để chuẩn bị liên hoan với bọn cảnh sát. Nó tập bài gì mà giọng ỏn ẻn nghe muốn mửa, có “nhớ thương”  “đùm bọc”  “gừng cay muối mặn”. Chúng muốn “nhớ thương”, “đùm bọc” mà không nghĩ tới ai đào hầm giấu chúng, ai bón cháo cho chúng ăn, đổ bô cho chúng ỉa khi chúng đau ốm. Ai nhường chiếu cho chúng ngủ, ai đưa áo cho chúng mặc khi áo chúng rách. Chúng là cái thứ chi vậy? Đất chúng đứng ở đâu, trời chúng đội trên đầu ở đâu? Chúng thở bằng gì? Ăn cơm bằng gì?

Ba nhớ lại ngày mới tham gia du kích mật. Một hôm, nghe xã báo có một thằng đi chiêu hồi, khai ra làm cho một số đồng chí bị bắt, anh Nhường nói:

– Bọn ác ôn, bọn chiêu hồi đều là bọn chó đẻ. Tau mà gặp tau diệt không còn một thằng.

Ba ngây thơ hỏi:

– Nó là người sao lại bảo chó đẻ, anh?

Anh Nhường gằn giọng:

– Người đẻ nhưng nó làm chó, làm hại cách mạng, hại đồng bào.

Ba nghe, Ba cũng tức bọn chiêu hồi. Đời Ba khổ nhiều, thù nhiều. Ba chỉ theo cách mạng, không làm hại cách mạng, hại bà con. Ba không “chiêu hồi” được. Bây giờ, hiểu nhiều, Ba cứ tự cười mình, nhớ anh Nhường. Anh chết chưa kịp giết hết bọn chó đẻ, nhưng còn có bà con, có Ba.

Ba nhìn ra cửa thấy tên Đẳng vẫn đứng im nghe hát. Nó có vẻ chăm chú lắm. Bây giờ, chúng đang hát về “Tình bạn thủy chung giữa bao hoạn nạn” “Đôi ta gắn bó keo sơn” “Không sai tấc lòng”. Nó, không sai tấc lòng với ai chớ sai tấc lòng với dân với Đảng, với đồng đội. Ba nghĩ: Chỉ có anh em mình mới gắn bó, thủy chung. Trong gian khổ người ta yêu nhau hơn.

Ba nhớ đội du kích của cô ngày nào: một mảnh vườn hoang, một căn nhà lợp lá, những bữa cơm rau muống, những nét mặt căng thẳng và cởi mở.

Dạo đó, vào đầu năm 1969, Ba được trên quyết định về huyện. Anh chị em du kích đã tổ chức đi đánh cá về liên hoan, bắt Ba ăn đến ách bụng. Khi Ba đi, các anh chị dúi theo quà bánh, thuốc men. Người đi người ở đều thút thít. Nhưng Ba đi, Ba có quên anh chị em đâu. Lên huyện nhận chức Chính trị viên phó Huyện đội là Ba xin về vùng cát; quyết cùng anh chị em tạo thế cho vùng cát đi lên. Ngày đêm, Ba cùng các đồng chí tổ chức du kích mật, đột nhập vào khu dồn phát động quần chúng, đánh giặc, đưa bà con về làng cũ.

Chính lúc ấy, một hôm mưa lụt, Ba đang đi công tác đã bị một thằng du kích phản bội chỉ cho hải thuyền của địch bắt cô.

Ngay bên bờ sông Vĩnh Điện, tên Đẳng đã giở nón nhận mặt cô. Chiều ấy, chúng chở cô về Ty Cảnh sát Hội An này.

Mới vô tù, bị thằng mặt sắt đánh quá, Ba thoáng nghĩ: hay mình khai mình là bộ đội để nó đối xử mình theo kiểu tù binh cho rồi. Nhưng cô lắc đầu ngay. Cái bọn này chỉ dọa mình thôi, nó chưa biết gì về mình cả. Mình ráng chịu đánh, đánh hoài không nạy răng mình được là nó thua. Kinh nghiệm hồi ở ngoài, anh em dặn rồi: “Cái thằng giặc nó hay bắt nọn lắm. Nếu mình lùi một bước thì nó tiến một bước. Nếu mình tiến một bước thì nó phải lùi một bước. Mình tiến mãi thì nó phải chịu lùi mãi”.

Trong quãng đời đánh giặc vừa qua, Ba đã đánh bao nhiêu trận rồi, cô không nhớ nữa. Sau này (có lẽ cô chưa nghĩ tới đâu) hẳn có lúc cô sẽ được báo cáo trước Đảng và nhân dân thành tích của mình với những con số diệt địch, những trận đánh dũng cảm và mưu trí. Đó là chuyện sau này. Còn giờ đây, cũng như những trận đánh lúc chưa bị bắt, cái chính là cô phải nghĩ cách nào để tiến công địch, để thắng địch. Trong nhà lao, cũng là mình với thằng địch ấy, như ở ngoài thôi…

– Cô nghĩ kỹ rồi chớ-Đẳng quay lại nói-Cô đồng ý khai là Phụ nữ xóm nghe. Hay vầy, è…è…vầy thì không có lợi cho tôi. Nhưng ép cô không được. Cô cứ khai là y tá phục vụ cho phụ nữ nhưng tôi lầm. Y tá nó cũng nhẹ tội.

– Tôi không phụ nữ, y tá gì hết. Tôi là dân.

Tên Đẳng nói nóng nảy:

– Ngoan cố. Đã bảo ngọt không chịu nghe. Tùy cô đấy. Nếu cô cứ “sống vì Đảng, chết không rời Đảng” thì rồi ở tù mọt xương ra.

Ba đứng dậy:

– Ông nói láo.

Ba vừa thét vừa cầm chiếc ghế xông vào tên Đẳng. Nó kinh hoàng nhìn cô, rồi khi đã hiểu, nó ớ lên một tiếng và bước giật lùi ra cửa. Nó vấp phải ngạch cửa ngã xuống. Cái ghế chồng lên đầu nó.

Tên mặt sắt từ đâu chạy tới:

– Tại sao mày đánh ông Đẳng?

– Tại ông ấy muốn khai bậy để lấy tiền. Ổng bảo với mấy ông tôi là Phụ nữ Huyện, hồi nãy lại bày tôi khai là y tá. Vu cho tôi, tôi tức tôi đánh đó.

Tên mặt sắt gầm lên:

– Mày ngoan cố hả. Được, hừ…hừ…mày sẽ được nếm món này.

Nó giật tay Ba kéo ra phía sau phòng hỏi cung. Ở đó có mấy thùng phuy. Nó đưa Ba tới một thùng phuy. Nó bảo:

– Mày nhìn vào đi.

Ba nhìn vào, mặt cô xanh ngắt. Cô muốn té xỉu xuống ngay. Trong thùng lúc nhúc những rắn là rắn. Có con to như cổ tay, có con dài như roi bò. Vốn sợ rắn từ nhỏ, cô che mặt quay ra. Thằng mặt sắt hỏi:

– Có sợ không?

– Sợ chớ.

– Khai đi. Nếu không tao cho rắn vào người mày. Nó rúc nó phá mày. Nếu mày có chồng, thì chồng mày sẽ bỏ mày. Nếu mày chưa chồng thì không thằng nào chịu vác mặt đi hỏi mày.

Trong giây lát, Ba thấp thoáng nhớ lại câu nói ngày nào mình nói với anh Lì Xã đội trưởng: “Còn chúng thì chẳng ai có hạnh phúc cả”. Câu nói như một lời hứa thân thuộc từ một miền xa nào vẳng lại. Ba đứng thẳng người, nhìn trừng trừng vào thằng mặt sắt:

– Tôi đã nói rồi, tôi không biết gì mà khai. Tôi là dân bị các ông bắn gãy chân, ra Đà Nẵng chữa rồi ở mướn luôn. Các ông muốn cho về thì cho, không thì tôi chịu vậy. Tôi không còn gì để nói nữa.

Thằng mặt sắt vẫy tay một cái. Lập tức hai thằng cảnh sát to lớn bữa trước hiện ra. Nhanh như cắt, một thằng bẻ cụp hai tay Ba ra sau. Một thằng buộc hai ống quần cô lại. Thằng mặt sắt thò vào thùng phuy nắm luôn hai con rắn bằng ngón chân cái, kéo lưng quần cô xuống thả vào. Sau đó, chúng thả cô tự do và cười ồ lên.

Hai con rắn quẫy lộn trong người cô…

Ba cảm thấy mình sắp ngã quỵ. Nhưng cô gượng dậy. Những tiếng cười khả ố và những bộ mặt nham nhở của chúng làm cô nổi xung lên. Cô chẳng thấy sợ là gì nữa. Cô xông thẳng đến trước mặt chúng, tụt quần xuống.

– Mày không thấy xấu hổ à? Thằng mặt sắt hỏi.

– Không xấu. Chỉ bọn nào làm chuyện xấu mới xấu-Ba hít một hơi dài rồi nói-Tau sẽ lên buồng làm việc của tụi bay cho thằng nào nhìn tau nó sẽ mù mắt đi.

Thằng mặt sắt hất hàm cho hai tên kia:

– Thôi gắp rắn ra. Nó ngoan cố lắm. Trò này không ăn thua gì đâu.Cho nó vào phòng tra điện-Nó quay về phía cô-Nếu mày còn ngoan cố nữa, mai tao sẽ cho mày biết tay.

 V

 

Nó bảo nó làm hung nhưng nó chẳng làm cái cóc gì hết. Sáng hôm sau, chúng dẫn Ba ra nhà ăn. Thằng mặt sắt bảo một tên lính người thấp thấp, mặt mũi nom khắc khổ, áo quần lem luốc lọ nồi bưng lên một mâm cơm trắng tinh, có thịt bò xào, trứng tráng, thịt quay, rau sống. Thằng mặt sắt nói:

– Lâu nay mày ở trên núi, ăn uống cực khổ, thuốc men không có, người ốm yếu. Nay về đây, dù khai hay không khai, quốc gia cũng khoan hồng. Ăn đi rồi về.

Ba nghĩ: tau thù mày. Mày sống tau chết. Mày chết tau sống. Tau thèm ăn cơm của mày à. Cô nói:

– Các ông bảo ăn nhưng nước xà phòng đầy bụng làm sao tôi ăn.

– Cứ ăn đi. Tao lên đây chút.

Tên lính bưng cơm lúc nãy đến bên Ba giục:

– Ăn đi chị. Tội nghiệp, trên ấy khổ lắm.

– Trên ấy nào, tôi là dân ở dưới Đà Nẵng mà. Mấy ông cứ tra cứ ép tôi mãi. Tôi không ăn.

Tên lính im lặng. Đầu hắn gục xuống rồi ngẩng lên, vẻ mặt khắc khổ nhiều nếp nhăn của hắn nom có vẻ tội nghiệp:

– Chị ghét cả tôi nữa sao chị. Tôi có muốn đi lính đâu. Tôi cũng khổ.

– Đi lính có lương mà khổ gì.

Tên lính nói nho nhỏ:

– Mấy ông anh tôi cũng ở trên ấy. Tôi phải nuôi mẹ, vợ con, không đi được. Ở nhà đi cày bị mấy ổng bắt.

Ba ngó hắn chằm chằm. Vẻ mặt chất phác của hắn đã nói thay cho hắn. Cô hỏi:

– Sao không về làm ăn?

– Sao được. Nhà tôi ở khu dồn. Tôi trốn, chúng trù vợ con tôi chết-Hắn im một lúc rồi nói-Chị ăn đi cho nó khỏe, chị à.

Vừa lúc ấy, thằng mặt sắt quay lại. Nó nhìn mâm cơm còn nguyên rồi nhìn Ba hỏi:

– Sao mày không ăn đi?

– Tôi xây xẩm quá, không ăn được.

Dứt lời, cô ngã gục xuống ngay mâm cơm. Thau cơm, mấy đĩa thức ăn tung tóe rải từ bàn lan xuống mặt đất. Người cô dính đầy thức ăn.

– Đồ ngoan cố. Mày không ăn lại còn phá hại của người ta nữa. Tên mặt sắt thét lên.

– Không phải ông à-Người lính bưng cơm nói-Chị ta xây xẩm thực đấy. Hồi nãy tôi thấy mặt mày chị ta xanh như tàu lá chuối.

– Mày bênh à-Thằng mặt sắt tát vào má người lính-Đỡ nó dậy, đưa lên thùng phuy đựng nước để tao cho nó tắm.

Có cái gì đó làm cho người lính ngụy lúng túng. Anh ta há miệng ra, ngơ ngác không biết mình nên làm thế nào. Ngay lúc này, có lẽ Ba không hề biết, hai tháng sau, anh ta đã mang súng về với cách mạng. Anh ta đã nói với người cán bộ binh vận của ta rằng: “Tôi về là nhờ tôi gặp một chị…”Nhưng đó là chuyện sau này. Còn bây giờ thì anh ta phải đưa cô ra phía thùng phuy theo lệnh thằng mặt sắt.

Tên mặt sắt và hai tên cảnh sát to lớn đã đứng ngay bên thùng phuy đợi sẵn. Tên mặt sắt nói:

– Nó ngoan cố lắm. Bữa nay ta cho nó bơi đứng để nó tỉnh óc.

Một thằng cảnh sát chạy lại giở nắp thùng phuy sang một bên. Thằng kia nhấc bổng người cô bỏ vào thùng. Ba nhắm mắt lại, ngỡ chúng bỏ vào thùng rắn. Nhưng không phải. Đứng một lúc, cô nhận ra trong thùng chỉ có nước lã, cao ngang bụng cô. Cô nghĩ: Chắc nó nhận nước mình. Nhưng cũng không phải. Cô thấy hai thằng cảnh sát cầm hai khúc gỗ đứng hai bên thùng. Nó làm kiểu yêu gì hè? Ba chưa kịp hiểu thì một thằng đậy ngay nắp thùng phuy lại. Bây giờ, Ba phải cúi lom khom. Nước ngập tới ngực cô. Mắt cô tối bưng. Cô cảm thấy khó thở. Bỗng dưng cô nghe một tiếng đập vào vỏ thùng. Nước dềnh lên dâng một ngụm vào miệng cô. Một phút sau, lại một tiếng đập nữa. Nước lại dềnh lên, rồi hạ xuống. Chúng làm cái gì buồn cười vậy. Ba nghĩ. Bỗng nhiên, chung quanh vỏ thùng râm ran những tiếng đập, không thể đếm được nữa. Mắt cô thấy hoa lên. Tức ngực đến ghê gớm. Ba ngỡ như có một cái máy cán, ép vào, ép đến dẹp người cô ra. Máu từ lỗ mũi, lỗ miệng, lỗ tai trào ra. Từng lỗ chân lông của Ba bật máu. 

VI

 

Bữa ấy đâu như bữa thứ hai mươi sáu kể từ ngày Ba bị bắt.

Vừa tỉnh dậy, Ba đã nghe cái giọng khàn khàn như giọng của người lính bưng cơm bữa nọ nói vọng qua cửa:

– Đêm qua, các ông ở trên bàn nhau chắc là chị không làm gì nên chị không có gì để khai. Họ bảo ở đây dù ít dù nhiều ai cũng khai cả. Đánh chị mãi cũng chẳng được gì nên sáng nay mấy ổng cho chị về đấy-Anh ta im một lúc rồi tiếp-Các ông ấy còn cật vấn và bộp tai ông Đẳng, bảo ông ta là nhớ quàng nhớ xiên, lúc khai chị làm cái này, lúc cái nọ. Ông Đẳng chắc chẳng được mấy ổng tin nữa đâu. Khổ cái người đi chiêu hồi thật.

Ba thấy mừng mừng trong bụng. Cô tự nhủ: Mình tiến tới, nó chịu lùi rồi. Các anh bảo vậy thiệt hay. Lẽ đời như vậy thiệt hay. Nhưng, mình cũng phải đề phòng, biết đâu chúng nó còn lừa lọc. Có tin anh lính này cũng tin vừa thôi…Trong đời, mọi sự thiệt giả cũng khó mà lường được.

Vừa lúc ấy, một tên cảnh sát đến dẫn Ba vào cái phòng mọi bữa. Tên mặt sắt đã có sẵn ở đấy. Hôm nay, nó có vẻ không còn dữ tợn như mọi bữa. Nó chỉ nhìn cô dò xét một lúc rồi bảo Ba ngồi xuống cái ghế bên cạnh. Nó rút từ trong cái cặp da để trên bàn ra một tờ giấy, đưa bút cho Ba, trỏ ngón tay chỉ một chỗ trống bảo cô ký tên vào đó. Ba nói:

– Tôi không biết chữ. Tôi cũng không biết giấy gì hết.

– Nói láo. Làm cán bộ mà không biết chữ-nó gằn giọng-Có thật là mày không biết chữ không?

– Tôi không biết chữ. Tôi không được đi học. Tôi bị mấy ông bắn bị thương, ra Đà Nẵng chữa rồi đi ở, có lúc nào mà học.

– Thì lăn tay.

Cô chưa kịp hiểu nó định làm gì, thì nhanh như chớp, bàn tay sắt của nó, nắm chặt khừ lấy tay cô, nhúng mấy đầu ngón tay vào lọ mực và in vào chỗ trống. Ba giật tay ra bảo:

– Tôi không biết giấy gì mà ông cứ chụp tay tôi lăn vô. Sau này ai nói gì tôi không chịu đâu.

– Giấy cam đoan đó mà. Lăn tay để cam đoan sau này về nhà không làm cho cộng sản nữa.

Ba lắc đầu:

– Ông làm chi lạ quá. Hồi giờ tôi có làm gì đâu mà cam đoan. Ba vừa nói, vừa giơ tay với tờ giấy định xé đi. Nhưng nó đã nhanh nhẩu chặn tay cô lại.

Nó bỏ tờ giấy ấy vào cặp da, rồi rút ra một tờ giấy khác đưa cho Ba, bảo:

– Đặng Thị Xã, tức Ba, mày ngoan cố lắm. Dầu mày có khai hay không, chúng tao vẫn biết mày làm trong Ban chấp hành Phụ nữ huyện. Nhưng cấp trên thấy mày là phụ nữ, yếu đuối nên rộng lượng khoan hồng cho mày về. Cho mày về nhưng mày phải làm ăn, không được làm cộng sản nữa. Chúng tao sẽ theo dõi. Bị bắt lần nữa thì mày sẽ biết tay tao- Nó cười gằn- Giấy vừa cấp ban nãy là giấy cho về đấy.

Ba bước ra cổng. Cô nhủ thầm: Trước tiên mình sẽ về xã. Chúng có cho điệp theo dõi cũng chẳng biết gì. Tối nay, mình sẽ liên hệ với anh em du kích để đưa mình về Huyện đội thôi. Về cơ quan là mình lại xin xuống vùng cát. Bao cơ sở mật, bao bà con ở các khu dồn đang chờ mình. Mình phải góp sức mình hơn nữa để giải phóng quê hương. Một tháng bị bắt vừa qua, cực khổ vậy, nhưng cũng cho mình hiểu cái thằng địch trực tiếp hơn. Các anh bảo đúng thật: Hễ mình tiến thì nó lùi. Vậy thì mình tiến hoài. Ví như người nhảy cao, thì cả quãng đời trước đây của mình, kể cả một tháng ở nơi thẩm vấn, cũng chỉ như là bước lấy đà cho mình phóng vọt lên thôi.

Nhớ lại thằng mặt sắt ban nãy, cô bỗng cười thầm rồi bật ra tiếng. Nó nói dóc thật. Tra tấn người ta mãi không moi được gì phải thua người ta thì tự nhận đi cho “Tiến bộ” lại còn phách lác. Nó nói nó biết cô sao cô làm Chính trị viên phó Huyện đội nó lại bảo cô làm Phụ nữ. Còn chuyện này nữa thì biết là nó ngốc đặc! Cô đâu phải tên là Đặng Thị Xã. Cô chỉ khai ẩu cho nó mà thôi.

Người viết truyện này xin mách nhỏ với bạn đọc rằng: Cô gái ấy chính là chị Đặng Thị Én, một người mà sau này cả nước đều biết tiếng: Người nữ anh hùng của quân đội chúng ta.

                                                                      Đà Nẵng, tháng 12-1979

 

LA HAI

Lúc ấy, khoảng gần bảy giờ tối. Khi con tàu sắp rời ga Hàng Cỏ, tôi bỗng thấy một anh bộ đội vai mang ba lô, tay xách túi, dáng hớt hơ hớt hải chạy dọc theo các toa. Anh dừng lại bên tôi, đang nhìn ra cửa sổ con tàu, hỏi giọng đứt quãng:

– Đây…có phải…toa 8 không đồng chí?

– Vâng-tôi đáp và hỏi lại anh-Anh ngồi ghế số mấy?

– 12.

Tôi vui vẻ:

– Lên nhanh đi. Anh ngồi ở ghế đối diện với tôi.

Anh vui mừng nhờ tôi chuyển hộ ba lô qua cửa sổ rồi lao nhanh về phía cửa toa.

Đúng lúc ấy, con tàu hú lên một hồi còi dài rồi chuyển bánh.

Phải một lúc sau, lách qua bao nhiêu người đứng lộn xộn ở cửa và lăng xăng đi lại trong toa, anh mới đến được bên tôi. Anh treo túi xách và mũ lên móc rồi mỉm cười giơ tay bắt tay tôi thật chặt. Rõ ràng việc giúp đỡ nhau nho nhỏ ban nãy đã làm cho hai chúng tôi gần gũi nhau hơn.

Anh ngồi xuống ghế, rút từ trong túi quần ra một bọc giấy bóng đựng thuốc sợi Lạng Sơn:

– Không có thuốc điếu, anh hút tạm thứ này.

Anh mỉm cười đưa những ngón tay vàng khè chất ni-cô-tin ra quấn thuốc. Tôi cũng đưa những ngón tay vàng khè của tôi xin một điếu.

– Trời, may quá-Anh lại lên tiếng-Lâu ngày ghé Hà Nội, dạo loanh quanh mua vài thứ làm quà một chút, đến nơi tàu sắp chạy, tìm toa đến hụt hơi. Anh nghĩ coi, mình cũng có vé, người ta cũng có vé. Vé nào cũng có chỗ ngồi. Ấy vậy mà hình như sợ mình lên sẽ lấn chỗ họ nên khi tôi hỏi toa chẳng có ai chỉ cả. Có người thấy sự bối rối của tôi, chả là lần đầu tôi đi tàu Thống Nhất mà, họ còn cười nhạo anh à. May gặp anh cùng cánh cán bộ chiến sĩ với nhau cả.

Chúng tôi ngồi rít thuốc, im lặng nhìn ra cửa sổ. Con tàu đang chậm chạp đi qua thành phố rồi qua những cánh đồng, những làng mạc đang chìm trong bóng đêm. Anh bạn có vẻ mệt nhọc. Anh rít vội điếu thuốc rồi dựa người vào thành ghế ngủ gà ngủ gật. Hơn một tiếng sau, anh đột ngột bừng mắt nhìn ra bên ngoài:

– Tàu tới đâu rồi anh?

– Sắp tới ga Chợ Tín anh ạ.

– Cách Hà Nội bao xa?

– Độ 26 cây số.

Anh chép miệng:

– Ôi, sao mà nó chạy rì rì thế.

Chúng tôi lại cùng nhau hút thuốc, im lặng nhìn ra cửa sổ con tàu…

Đã mười giờ đêm. Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão treo ở giữa toa (vốn xưa ở đó có một cái bóng điện sáng, nhưng cũng như quạt máy và các thứ khác nó đã lặng lẽ biến đi lúc nào) mọi người đã ngủ gà ngủ gật. Có ai đó đã ngáy. Có ai đó thì thầm ngoài cửa toa. Có tiếng léo nhéo cãi nhau ở đâu đó. Bên ngoài, một cơn mưa đổ, gió đông bắc rú rít gào thét. Cửa sổ con tàu bị hỏng, gió lạnh và mưa cứ tạt vào. Tôi vứt mẩu thuốc, co chân ngủ chập chờn. Bỗng có một tiếng thét thật to, có lẽ ai đó ngủ mơ, làm tôi choàng dậy. Tôi thấy anh bạn vẫn đang ngồi im lặng hút thuốc.

– Sao anh không ngủ? Tôi hỏi.

– Tôi không ngủ được anh ạ. Ngày hôm nay, tôi đi một mạch từ Lạng Sơn xuống, mua vé đi ngay, người mệt đừ. Thế mà chợp mắt một cái đã tỉnh ngay. Tôi chỉ mong cho mau đến nơi, sốt ruột quá.

– Anh trở về đơn vị hay đi phép?

– Tôi nghỉ phép.

– Chị và các cháu ở trong đó?

Tôi hỏi thế vì vốn biết, nhiều cán bộ chiến sĩ người Bắc ta chiến đấu ở miền Nam, lấy vợ luôn trong ấy. Nay đơn vị dời ra ngoài này, vẫn tranh thủ mấy ngày phép đi về. Ngược lại, nhiều anh em cán bộ miền Nam tập kết, như kiểu tôi, lấy vợ miền Bắc, thỉnh thoảng lại đi phép về thăm quê. Đó là tình trạng chung của một đất nước bị chia cắt lâu dài như nước ta.Nhưng anh bạn lắc đầu:

– Không, vợ con tôi đang ở ngoài Bắc.

Anh quay lại nhìn vào mắt tôi. Trong con người có dáng cao gầy, khuôn mặt sạm nắng khắc khổ, đôi mắt thẳm sâu này có cái gì đó trông rất bồn chồn. Hình như anh muốn tâm sự. Đó là một đặc tính vốn có và đáng yêu nhất của những người chiến sĩ của chúng ta .

*

*     *

Cuối năm 1966, vừa tốt nghiệp lớp Mười, tôi nhập ngũ. Sau một thời gian ngắn huấn luyện, đơn vị chúng tôi được đưa vào chiến trường miền Nam. Dạo đó , bọn chúng tôi còn rất trẻ, mặt anh nào anh nấy cũng căng bóng tròn trịa. Nói như dân gian thì má còn búng ra sữa. Đôi anh còn muốn để bộ ria mép cho ra vẻ người lớn. Chúng tôi chưa am hiểu gì cuộc sống. Trong đầu chỉ có dăm bài thơ, một mớ lý luận học được, chúng tôi thường hay tranh cãi rất to tiếng với nhau về nhân dân, về Tổ quốc.

Đi mất ba tháng thì chúng tôi tới chiến trường Phú Yên. Người ta cho nghỉ ngơi, tập luyện thêm nửa tháng rồi có lệnh đi chiến đấu .

Cái đồn mà chúng tôi đánh nằm trên một hòn núi tên là Núi Một, nằm cô đơn giữa cánh đồng Tuy Hoà. Chung quanh nó là những làng mạc, trong đêm tối làng nào cũng giống làng nào, không làm sao phân biệt nổi .

Chúng tôi hành quân từ bìa ranh xuống, nằm phục quanh núi và nổ súng lúc ba giờ sáng. Nhưng trận đánh không gọn. Bọn địch phản ứng dữ. Chúng  giã pháo, cho trực thăng thả đèn quần bắn. Bọn lính mới chúng tôi rất hoang mang nên vùng chạy lung tung. Lệnh trên cho rút, nhằm hướng Tây mà rút. Tôi chạy ào xuống núi. Nói đúng hơn là tôi lăn người trên những lớp đá sỏi. Ngươi tôi sây sát đau điếng. Xuống tới đồng, tôi nhằm theo một con mương mà bươn tới. Pháo cối vẫn nổ trên đầu chúng tôi. Đang chạy, tôi nghe một tiếng pháo nổ sàn sạt và một vật gì đó táng vào bắp vế. Tôi ngất đi. Những tiếng rào rào bên mình như tiếng nước làm tôi tỉnh dậy, ngỡ mình đã đến bờ sông, địa điểm tập kết lúc đầu hôm. Nhưng định thần một lúc, tôi biết không phải là tiếng nước chảy. Đó là tiếng gió thổi qua đầu ngọn lúa. Tôi chợt nhớ, hình như có một bài thơ nào, tôi được đọc ngày nào thưở còn đi học có nói về những trận gió ở Tuy Hoà …

Trời vừa rạng sáng thì bọn địch càng làm dữ. Từng đàn trực thăng bay rà rà trên mặt đồng, dưới đất bọn địch chia nhau sục sạo. Chúng nó la ó, nổ súng loạn xạ. Tôi rất lo. Tôi sợ mình bị bắt quá. Trước khi đánh đồn, Chính trị viên có bảo vùng này là vùng địch, bọn Đại Việt rất nhiều, dân chúng gặp ta hay đánh mõ la làng nên tôi rất ngại. Nhưng chẳng lẽ nằm trơ ngoài đồng cho chúng bắt. Tôi đành bò theo bờ ruộng, đâm sả vào một cái làng, may ra sẽ gặp được một người dân tốt …

Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm trong một cái hầm tối. Thôi thế là mình bị bắt giam rồi. Tôi chưa biết bị giam ở hầm tối là thế nào. Nhưng hồi đi học, đọc sách thấy Bác Tôn và các chú các bác bị giam ở hầm tối là điều ghê gớm lắm. Tôi duỗi thử đôi tay, thấy tay mình không bị còng, tôi duỗi chân ra, chân mình còn tự do. Thế là thế nào ? Đang suy nghĩ thì tôi nghe thấy có tiếng lộp cộp trên đầu mình. Có tiếng gì như tiếng quy lát khua lắc cắc, rồi một giọng hỏi hách dịch:

– Có thấy thằng Việt cộng nào chạy quanh quẩn đâu đây không?

Một giọng khàn khàn của một bà già trả lời :

–  Đâu có thấy gì đâu mấy ông!

– Đù mẹ con mẹ Sáu này. Mụ là dân xứ cộng sản vô đây. Mụ có giấu cộng sản không, khai đi ?

– Có  gì đâu mà khai.

Cái giọng hách dịch ban nãy lại quát to hơn :

– Có người nói hồi sáng thấy mụ dìu một đứa vào đây. Mụ nên nhớ ở đây lắm người của quốc gia . Mụ giấu thằng cộng sản ở đâu ?

-Hồi sáng giờ tôi chưa ra khỏi nhà .

-Xét nhà .

Lập tức, trên đầu tôi, tiếng bước chân thình thịch, tiếng gì như tiếng báng súng gõ cồm cộp, tiếng đổ vỡ của những vật gì đấy kêu loảng xoảng. Và, bỗng nhiên, tôi nghe tiếng roi quất, tiếng gậy nện và giọng bà già la lên: “Uớ các ông ơi, các ông ác quá. Các ông nện báng súng vào lưng già này, thì làm sao tôi sống được”.

– Có giấu Việt cộng không?

– Không có.

Tôi nghe một tiếng “bịch”, và tiếp liền có tiếng đổ của thân người ngay trên đầu tôi. Ngay lúc ấy, tôi lại ngất đi…

Có bàn tay của ai đó lay lay tôi dậy. Tôi bừng mở mắt. Trong quầng sáng của một ngọn đèn dầu, căn hầm dần dần hiện rõ lên. Một bà cụ tóc bạc xoá, lưng khòm khòm, cúi xuống bên tôi hỏi:

– Con đỡ không? Má đem chai xá xị đây, con uống đi.

Tôi đưa tay cầm chai nước, uống ừng ực rồi đưa mắt nhìn bà cụ. Bà cụ nói:

– Hồi sáng, nghe tụi nó nói với nhau, hồi hôm bắt được mấy tên Việt cộng. Thế nào cũng còn sót, nên chúng đi lùng. Má giả bộ đi đồng, lội ra ruộng thử thì gặp con. Má đem con về đưa xuống hầm bí mật này.

Bà cụ nói xong với tay bên cạnh lấy một nải chuối bẻ một trái đưa cho tôi. Tay cụ đặt trên trán tôi. Cụ giục tôi ăn chuối rồi nói:

– Con bị sốt rồi. Má đi lên kiếm ít viên tê-tra-xi-lin đã. Con ráng nằm im, má băng chỗ đùi hồi sáng rồi, đừng cựa nhiều nó ra máu đó.

Bà cụ lo chăm sóc, thuốc thang, cơm nước cho tôi độ nửa tháng thì tôi bình phục. May quá, vết thương chỉ ở phần mềm. Cho tới bây giờ, nghĩ lại hồi đó, tôi cứ ứa nước mắt. Nhưng hồi đó, tôi còn vô tư lắm. Tôi đón nhận tình cảm của bà cụ mà chưa lúc nào tìm hiểu về cụ. Âu đó cũng là những nhược điểm của tuổi trẻ chúng ta! Có lẽ vì thế, mà khi lớn lên, ta mới hiểu được những lo toan của cha mẹ khi ta còn tấm bé quý giá biết chừng nào.

Anh bạn quấn một điếu thuốc, châm lửa hút rồi kể tiếp, giọng trầm hẳn đi.

– Cái đêm ấy, chẳng còn nhớ đêm nào mà mưa gió quá. Bà cụ lọm cọm dắt tôi đi gặp các anh du kích. Mưa tạt ào ào. Gió tràn như bão. Dáng cụ đi trước bước xiêu xiêu làm tôi nhớ mãi. Thỉnh thoảng, hai mẹ con tôi phải nằm dưới bùn nước lấp xấp để tránh bọn tàu soi và pháo sáng của giặc. Đến bây giờ, tôi như còn nghe hơi thở hổn hển và hàm răng đánh cầm cập vì lạnh của bà cụ. Chúng tôi cứ lội qua những bờ ruộng, những con mương nhỏ. Một lúc sau, chúng tôi đứng bên bờ sông, đúng là con sông bữa trước chúng tôi làm vị trí tập kết.

– Ộp ộp ộp – Phía trước tôi bà cụ bỗng giả tiếng ếch kêu lên.

– Ộp ộp ộp – từ bên kia sông có tiếng đáp lại.

Một lúc sau, có một chiếc thuyền thúng cập bến. Bà cụ nắm tay tôi:

– Thôi, con đi mạnh giỏi nghe con.

Tôi xúc động cầm tay cụ rồi chạy đến với các anh du kích. Khi sắp qua sông, chợt nhớ chưa nói lời nào từ biệt cụ, tôi quay lại thì cụ đã biến đi đâu mất rồi…

Trời đã hửng sáng. Con tàu đang đi qua một cái chợ nhỏ, bỗng đột ngột dừng lại. Mọi người đang ngủ như đang được ru trong nhịp đi của con tàu đều bật cả dậy. Có tiếng người nào đó hỏi:

– Tới ga nào rứa các anh?

– Đang ở giữa đường.

– Sao lại dừng nhỉ? Có sự cố chi chăng?

Người bạn tôi từ nãy đến giờ vẫn ngồi im lặng, chau mày. Hình như cú dừng lại đột ngột của con tàu đã cắt đứt câu chuyện của anh làm cho anh rất khó chịu. Nhưng chỉ mấy phút sau, anh lại kể tiếp:

– Tôi có cái khổ tâm là khi đi tôi vẫn chưa hiểu gì về bà cụ. Thậm chí cả cái tên tôi cũng không biết. Lúc sắp chia tay nhau ở bìa ranh, tôi hỏi một anh du kích. Anh nói:

– Tụi tui cũng chỉ biết là cụ Sáu, cơ sở tụi tui thôi anh à.

– Đó là tên cụ hay là cái thứ?

– Đấy có lẽ là thứ, ở miền Nam này chẳng mấy ai gọi tên.

Tôi ra đi, lòng ân hận mãi. Từ đó, tôi đã đi qua bao vùng quê, đánh bao nhiêu trận không nhớ nữa. Đôi lúc nhớ về bà cụ, tôi thấy mình như mất một cái gì quý giá mà suốt đời không tìm lại được.

Sau giải phóng miền Nam, đơn vị tôi hành quân ra phía Bắc. Xe dừng lại ở Tuy Hòa một ngày. Nhân thể, tôi xin phép đi tìm lại bà cụ dưới chân núi Một ấy. Khốn nỗi khi bước xuống xe lam ở sát bên núi, tôi chợt nhớ ra là mình không biết cụ ở làng nào để hỏi. Tôi đã kể với anh các làng ở đây giống nhau quá mà. Suốt ngày, tôi chạy rông các làng để tìm hỏi thì cũng ra mối, nhưng mọi người bảo cụ đã trở về quê cũ ở La Hai rồi. Tôi không biết La Hai ở đâu. Cái tên vùng quê này tôi mới nghe lần đầu. Nó ở nơi nào trong vùng nào sâu thẳm của đất nước ta? Từ đó, trong lòng tôi có thêm tiếng “La Hai”. Tôi cảm thấy mình mắc nợ với vùng đất ấy. Trong đời chúng ta, có biết bao vùng đất, bao con người mà ta mắc nợ phải không anh?

Vì không còn thì giờ nữa nên tôi phải quay về đơn vị.

Ra tới Phủ Lý, trong khi đơn vị tiếp tục lên phía Bắc, tôi được thủ trưởng cho phép về thăm nhà. Anh thử nghĩ coi, gần chục năm trời không tin tức gì, tôi nóng lòng biết mấy. Bấy giờ đã nửa đêm, nhưng tôi không nghỉ lại. Tôi phóng bộ luôn một mạch hai mươi cây số về làng Tân Tiến. Trời ơi, anh biết cái gì chờ đợi tôi không? Một cô bạn học cũ cho biết: hồi chiến tranh phá hoại, thầy mẹ cùng các em tôi đã bị một quả bom ném xuống giữa nhà lúc cả nhà đang quây quần ăn cơm tối…Chỉ còn một đứa em gái, lúc đó đang đánh dậm nên thoát, bây giờ, nó theo chồng vào miền Nam. Cô cũng chưa biết tin nó ở đâu. Tôi lặng người. Vốn gốc gác ở Hải Hưng, bố mẹ tôi lên đây làm ăn, giờ nơi đây không còn ai thân thuộc, tôi dạo loanh quanh trong xóm một ngày rồi hôm sau trở về ngay đơn vị. Ấy vậy mà cái làng quê ấy vẫn níu tôi trở lại. Có kỳ lạ không anh. Một năm sau, tôi lấy vợ, để lại đi đi về về nơi ấy. Thì ra, quê hương là nơi có sức hút diệu kỳ, con người nào mấy ai có thể dứt ra. Vợ tôi chính là cô bạn học đã báo tin buồn gia đình cho tôi. Cô có người em mới nhập ngũ lên đơn vị tôi, ở trong tiểu đoàn do tôi làm tiểu đoàn trưởng. Chúng tôi gặp nhau. Một năm sau, chúng tôi có một cháu trai dễ thương, giống tôi như đúc. Hạnh phúc của tôi đã nhóm lại. Nhưng cũng từ lúc ấy, những kỷ niệm cũ lại dậy lên trong tôi. Nó càng giày vò tôi nhiều hơn khi tôi gặp một người bạn. Số là, trong một trận đánh bọn bành trướng vừa qua, tôi và anh ấy bị thương, cùng nằm chung một phòng. Những buổi sáng, chúng tôi cùng ngồi ở sân viện chơi. Như bao người lính, chúng tôi hay tâm sự về thời thế, về lai lịch, về những kỷ niệm cũ. Đang vui chuyện, bạn tôi bỗng vỗ hai tay reo lên:

– Trời ơi, bà cụ Sáu La Hai ấy cũng đã nuôi tôi suốt một tháng ở dưới hầm nhà bà. Không có bà cụ thì tôi chết rồi. Chả là tôi bị thương vào phổi mà. Bà cụ đã nhặt tôi đem về, mướn bác sĩ tốt chạy chữa. Tôi không biết lấy gì đền ơn cụ. Sau khi giải phóng miền Nam, tôi về tìm cụ. Người ta bảo cụ đã về quê ở La Hai rồi. Tôi phóng ra La Hai để tìm. Tới nơi, người ta bảo ở đây có hai cụ Sáu cùng vào làm ăn ở Tuy Hòa về. Thế thì rắc rối quá. Tôi chẳng biết cụ nào là cụ nào. Tôi nhớ bà cụ Sáu chúng mình tóc bạc, rất gầy, không ăn trầu. Người ta bảo cả hai cụ đều gầy, đều không ăn trầu. Cuối cùng, tôi quyết định đến cả nhà hai cụ để nhận mặt. Đầu tiên, tôi đến nhà một cụ ở đầu làng. Đó là một ngôi nhà ngói đỏ vừa mới xây. Ở phòng khách có một bộ xa lông và một cái tủ đứng rất đẹp. Cụ đi vắng, mấy cháu của cụ chạy đi tìm gọi về. Vừa thấy một bà cụ tuy gầy nhưng nước da hồng hào, ăn vận sang trọng, đon đả mời vào chơi, tôi đã xin phép đi vì vội.

Chiều hôm ấy, tôi mới đến nhà bà cụ Sáu thứ hai. Chẳng hiểu thế nào mà linh tính báo tôi đây chính là bà cụ tôi tìm. Tôi hồi hộp, tim đập mạnh khi đứng trước một ngôi nhà như cái chòi, vách xiêu vẹo, mái tranh nhiều chỗ thủng dột. Tôi đánh tiếng gọi. Chẳng ai trả lời. Tôi ngập ngừng bước ra thì từ sau hè, một bà cụ có dáng lom khom, mắt hom hem, mặc bộ áo quần xanh bạc màu bước vào. Đó là bà cụ Sáu của chúng mình. Tôi lên tiếng chào. Cụ đến sát bên, hấp háy mắt nhìn tôi nhưng không nhận ra. Tôi nói:

– Thưa má, con là thằng Tới-khi tôi nói, cụ nghiêng tai sát bên tôi để nghe như vốn có ở những người già nặng tai- đã được má nuôi năm 1968 về thăm má.

Bà cụ cười võm vẽm có vẻ vui mừng rồi nói:

– Bay đến thăm, tao mừng lắm. Nhưng tao già, tao lẫn, tao chẳng nhớ tên đưa nào trọi.

Bà cụ tíu tít nắm tay tôi dắt vào nhà, lấy chiếc chiếu phủi bụi trên chõng tre, rồi trải ra mời tôi ngồi. Trong nhà cụ chỉ có cái chõng này với một sợi dây phơi quần áo cũ thay thế cho hòm tủ. Cụ vào bếp bưng ra một rổ khoai lang, một bát muối ớt mời tôi:

– Tao đi tù, hòa bình mới được thả về đây, nên nghèo lắm. Có gạo ăn gạo, có khoai ăn khoai, bay ăn cho vui.

Tôi cầm củ khoai trên tay mà nước mắt cứ chực trào ra:

– Thưa má, má sinh sống ra sao, má?

– Bay biết rồi, tao chẳng có ai, sống một mình, già rồi làm vườn ăn bậy bạ.

– Hợp tác xã có bán thóc điều hòa cho má không má?

Bà cụ ngồi im, một lúc sau mới lên tiếng:

– Uớ trời, xã này là vùng đồi núi, ruộng nương kém, làm ăn trầy trật lắm. Tao có xin mua gạo, nhưng họ chưa cho. Ở xã này nhiều gia đình có con em tham gia cách mạng hy sinh nên họ chiếu cố trước.

– Má cũng làm việc cho cách mạng.

– Kể gì chuyện đó. Ở đây, có ai biết. Mọi người còn bảo tao, trong ác liệt đã chạy vào vùng địch tránh bom đạn…

– Sao má không nói cho họ biết?

Bà cụ cười:

– Nói làm chi. Tụi bay đi rồi. Tụi du kích ở xã trong đó sau này cũng hy sinh hết. Giờ lớp mới lên, chẳng biết ai là ai. Tao chạy đi xin cái giấy chứng nhận để lãnh bằng gia đình có công với cách mạng cũng không đứa nào dám chứng nhận cho. Thôi, mình làm cách mạng mình tính chi công lao.

Anh ạ, nghe cụ nói tôi rơm rớm nước mắt. Tôi có quen với một anh cán bộ ở Phòng Thương binh Xã hội huyện, tôi chạy lên kể chuyện cho anh nghe, đề nghị anh can thiệp với xã bán gạo và giúp đỡ bà cụ. Anh hứa là sẽ giải quyết. Nhưng rồi tôi đi xa, biết họ có làm cho không. Anh ạ, tôi định có dịp nghỉ phép, tôi sẽ vào thăm cụ, coi thử ra sao. Nếu anh cùng đi thì vui quá. Ta sẽ cố sắp xếp thời gian nghỉ phép cho trùng nhau để cùng đi. Đường đi thì dễ thôi. Ta mua vé đi tuyến Hà Nội-Nha Trang. Nhưng tới ga Chí Thạnh thì xuống rồi đi xe lam lên La Hai. Tôi thạo rồi, anh cứ đi với tôi…

Con tàu lại đột ngột dừng lại. Nó cũng không dừng ở ga mà dừng lại bên một cánh đồng. Chúng tôi nhìn về phía đầu tàu thì thấy có mấy người đang xuống. Hành khách nhao nhao lên khi thấy tàu đậu lại một cách vô lý. Tôi hỏi một chị nhân viên phục vụ trên tàu đang đi ngang:

– Sao tàu lại dừng ở đây hở chị?

– Cho người nhà của trưởng tàu xuống, việc gì đến anh mà hỏi. Tàu cứ đưa anh đến ga anh đến là được.

Chị nhân viên ngúng nguẩy bước đi. Anh bạn tôi nhìn theo lắc đầu. Anh đưa thuốc cho tôi hút rồi kể tiếp, như việc dừng lại của con tàu không làm cho anh dứt chuyện được:

– Tôi đã nói với anh là tôi và anh bạn ấy trao địa chỉ cho nhau để liên hệ nhau, có dịp anh dẫn tôi cùng đi. Thế nhưng, một việc đáng tiếc xảy ra. Trên đường ra viện về đơn vị, xe anh đã bị một xe khác tông, anh đã mất. Tôi nghĩ, cái rủi ro kỳ lạ quá. Anh ấy đã vào sinh ra tử chẳng sao mà giờ chỉ vì một chiếc xe…

Chẳng hiểu sao, từ đó, tôi đâm ra có nhiều suy nghĩ lạ lắm về cái ngẫu nhiên. Sự ngẫu nhiên cho tôi gặp anh ấy, một tai nạn ngẫu nhiên làm cho anh ấy mất đi. Tại sao anh ấy không đi xe sau hay xe trước đó? Không đi ngày trước hay ngày sau đó mà đi chính ngày hôm đó? Những sự ngẫu nhiên đôi lúc làm cho đời ta thay đổi một cách bất ngờ. Nhưng thôi, đó là chuyện khác. Tôi quay lại cái chuyện của tôi. Sau khi ra viện, tôi về nhà. Cấp trên cho tôi nghỉ một thời gian để dưỡng sức, sau đó có thể cho tôi giải ngũ vì yếu sức. Câu chuyện của anh bạn, cái chỗ ở của bà cụ được anh chỉ ra, làm cho mộng ước cũ của tôi bừng lên.

– Thế là bây giờ anh đi vào tìm cụ? Tôi chen vô.

– Vâng. Tôi đi tìm cụ. Cái ý định này được vợ tôi tán thành. Chẳng phải lúc đầu cô ấy đã đồng ý ngay đâu. Chả là cô ta sợ tôi yếu sức, đi lại nhọc mệt. Nhưng thấy tôi sốt ruột quá nên cô ấy cũng gật. Cô ấy bảo: “Em dành dụm được ít tiền, anh mang đi mà tiêu. Nhân tiện sắm quà cho bà cụ luôn thể”. Tôi đi lần này còn có thêm nghĩa vụ nữa: Tôi đi cho cả suất anh ấy. Tôi sẽ vào xem thử họ đã thực hiện chính sách cho cụ chưa? Bản thân, tôi sẽ cố làm thêm một nhân chứng cho cụ. Đi tới đâu tôi cũng đi. Chẳng lẽ trong cuộc sống hôm nay, chúng ta quên lãng những con người như cụ hay sao?

Anh dừng lại, quấn một điếu thuốc nữa, rít liên tục mấy hơi liền rồi tiếp:

– Vợ tôi, cô ấy cũng là người có suy nghĩ lắm. Cô ấy bảo thế này, anh thấy có gan không: “Sắp tới, anh sẽ nghỉ mất sức. Bên em chỉ còn cậu Thắng đi bộ đội, chả còn ai, bên anh cũng vậy, xã đang vận động bà con vào Nam xây dựng vùng kinh tế mới, hay ta cùng vào chỗ cô nó (em gái tôi) làm ăn. Vừa qua cô nó bảo trong đó đất tốt lắm, người lại thưa, ngoài ta thì cũng khó khăn. Ta vào rồi, anh đến mời bà cụ lên ở với chúng ta. Cha mẹ anh sinh ra anh, cụ cứu anh thoát chết, coi như cụ sinh anh lần nữa. Anh thấy em nói có được không?”. Tất nhiên là tôi tán thành quá. Kỳ này, tôi vào thăm cụ xong sẽ lên chỗ cô em gái ở Lâm Đồng bàn thêm chút nữa. Nhiệm vụ của vợ giao đấy. Thế là, tôi vội vã quay lên Lạng Sơn xin giấy phép đơn vị rồi vù xuống Hà Nội mua vé đi ngay hôm nay.

*

*     *

Anh lại đốt thuốc lá ngồi trầm ngâm nhìn ra cửa sổ. Con tàu đang đi qua một vùng đồi núi hoang vu, lòi còi sim mua của miền Trung. Chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ đến Quảng Bình, Đông Hà, rồi đến Huế. Những vùng đất nổi tiếng ấy đã bao lâu rồi quen thuộc với chúng ta, làm cho nhiều hành khách qua đây đều nhoài người ra cửa sổ để chiêm ngưỡng. Nhưng có một miền quê ấy, miền quê chưa ai biết đến mà bạn tôi đang đi tìm: miền quê La Hai của bà cụ Sáu…đang hiện lên giữa trái tim tôi. Tôi cầu mong anh sẽ thực hiện được ý định trong chuyến đi này và mường tượng ra cuộc gặp gỡ giữa anh với bà cụ Sáu. Hẳn lúc đó với tuổi già, bà cụ cũng sẽ không nhận ra anh như ngày nào đã từng không nhận ra người bạn của anh vừa mới mất.

Anh bạn tôi vẫn ngồi sốt ruột nhìn về phía đầu máy đang ì ạch kéo con tàu lên dốc như muốn thúc cho nó chạy nhanh hơn.

Tuy Hòa, 12-1981

 

BÀ MẸ VUI TÍNH

 

Hôm ấy, một đoàn nhà báo từ Trung ương vào tham quan xã Sơn Kỳ đã ghé thăm nhà mẹ Xoài. Ngôi nhà tranh vuông vức, vách trát đất giống như bao ngôi nhà khác trong làng, được dựng trên một khu gò, vốn xưa là rừng gai quít lổn nhổn sỏi đá. Cổng nhà nằm ngay lề con đường chính của xã. Hai bên lối vào sân là hai hàng đu đủ quả chi chít như bầy lợn con rúc vào thân mẹ, đang chín tới, da ửng vàng. Vườn trồng sắn, dong riềng, rau muống, rau lang xanh um. Phía trước nhà, bên kia con đường chính là cánh đồng Hợp tác xã rộng tới 200 héc-ta, lúa đang uốn câu. Cánh đồng này trước đây chỉ cấy được một vụ lúa với một vụ bắp. Từ khi dân làng đắp một hồ chứa nước giữa hai ngọn đồi gò Sỏi, gò Sạn và đào hệ thống kênh mương để đưa nước về cánh đồng, bây giờ đã cấy được ba vụ. Sau cánh đồng là những ngọn đồi thoai thoải, ngày nào sim mua mọc dày, nay là vùng chuyên canh sắn của Hợp tác xã. Nối liền với màu xanh của sắn chạy dài tới những dãy núi trùng điệp ở chân trời phía tây là nông trường trồng dứa của tỉnh.

Câu chuyện của mẹ Xoài đã được Ban Văn hóa Thông tin xã báo cáo nhưng đoàn nhà báo muốn nghe chính mẹ kể ở nhà mình.

Anh chị em vây quanh mẹ, tranh nhau hỏi tíu tít. Một anh nhà báo, người nhiều tuổi nhất đoàn, đeo kính cận, râu quai nón chạy vào nhà xách ra sân một cái ghế mời mẹ ngồi. Anh chị em trong đoàn lót dép ngồi xuống nền đất lắng nghe. Mẹ Xoài nhìn mọi người mỉm cười. Đã 60 tuổi, khuôn mặt nhăn nheo như vỏ cây sồi khô, nhưng đôi môi có vết trầu đỏ tươi thì luôn nở nụ cười. Mẹ nói:

–  Qua nói thiệt chớ chuyện qua gỡ mìn ai cũng làm được có chi mà kể. Ở hội nghị tỉnh qua bị “bắt” lên báo cáo mà người run như thằn lằn đứt đuôi, nói lộn xộn, mọi người nghe cười rân rân. Vậy mà khi kết thúc, ông Chủ tịch “quy kết” qua là con người lạc quan, giản dị chi chi đó nghe mà phát mắc cỡ. Qua đâu có vậy. Tính qua quen vui. Không vui thì mình không sống được. Hồi đánh Mỹ ngụy qua là dân trụ bám. Chúng nó lùa xúc, qua cứ bám rịt cái đất này hoài. Cuối năm 1973, chúng đến bắt qua. Nhưng trước khi đưa lên xe, chúng còn bàn nhau (qua giả bộ nghễnh ngãng nhưng nghe hết) trói qua vào cột nhà bắn dọa chơi “để thử gan con già này”. Chúng định thử gan qua thì qua cũng phải tỏ cái gan trời cho chúng biết. Chúng dùng súng, qua dùng miệng thử ai hơn ai. Cho nên, khi nghe một tiếng súng nổ cái đùng bên tai, qua liền sờ thử thấy tai còn y sì nhưng qua la ầm lên: “Uớ trời, các ông ác quá, bắn sứt tai tui rồi”. Một thằng mặt còn con nít nói: “Bắn dọa chớ đâu có bắn thiệt mà la sứt, bà”. Biết được thóp của chúng, qua đẩy thêm bước nữa. Thế là, khi phát thứ hai bay tít trời xanh, qua nắm chỏm tóc gào: “Làng xóm ơi, đầu tui lìa khỏi cổ rồi, làng xóm ơi, đầu tui lìa khỏi cổ rồi”. Một thằng tóc hơi bạc bạc nói: “Con mẹ lì gớm bây. Nó cố gào để cả xóm nghe đến đấu tranh với mình đó, chắc nó là loại thân cộng cồ. Đừng dọa nữa, tống lên xe cho vô nhà pha thôi” – Mẹ cười rồi tiếp – Bây giờ thì khác. Việc mình mình làm – Gian khổ nguy hiểm chi cũng làm. Càng nguy hiểm mà làm được nó càng vui. Qua kể lộn xộn các cô các chú đừng “quy kết” chi tội nghiệp.

Mắt mọi người sáng lên vui vẻ. Mẹ nhìn các anh chị nhà báo, giao hẹn đừng chụp ảnh thì mẹ mới kể, rồi nói tiếp:

– Bây giờ, sau ba năm các cô các chú thấy làng xóm nó sáng sủa vậy chớ hồi mới về thì cỏ lút đầu. Cả làng như rừng hoang. Giải phóng xong, ai cũng muốn về làng làm ăn nhưng sợ mìn quá, đành vật vạ trú ngụ ở các nơi quen. Vợ chồng qua cũng do dự. Có đứa em dâu ở dưới đường quốc lộ nó bảo: “Anh chị ở quách dưới này cho các cháu vui. Từ khi anh nhà em mất, em ở một mình cũng buồn”. Qua nghe cũng mùi mùi tai. Nhưng ông già lừ mắt nhìn qua bảo: “Nhà mình, ruộng vườn mình, mình không về còn ở đâu. Tụi du kích chưa gỡ tới thì mình gỡ mìn cất nhà, kiếm hột lúa củ khoai chớ. Bộ mụ sợ lắm hả?”. Qua chưa kịp đáp, ổng lại nói to như quát “Mồ mả ông bà ở đó, thằng Hai, con Ba nằm xuống ở đó, mụ định bỏ trơ nhang khói mà sống ở đây hả?”. Qua nói: “Thì tui có biểu ở đây đâu. Nhưng mình cũng rài rài tính đã” – “Không rài chi hết, mụ không đi thì tui đi, tui đi bây giờ”. Ổng nói. Qua can mãi ổng mới chịu để hôm sau đi. Nhưng suốt đêm ấy, ổng đi ra đi vào, đứng ở thềm ngó miết lên đây. Mờ sáng, ổng gọi qua dậy đi ngay. Qua phải kiềm ổng lại ăn uống chút xíu lót ruột. Với lại, qua cũng có chút việc: Hai vợ chồng mới ra tù, chẳng có đồng xu. Qua mượn con em dâu ít ngàn(1) chạy ra chợ sắm sanh chút đồ vặt: Vải nhựa, chiếu, dây nhợ, cốc, rựa với ít gạo, ít củ để ăn tạm. Lần khân miết, chiều hôm đó hai vợ chồng mới về đến làng. Làng vắng hiu. Đụng chỗ nào cũng thấy chồn với chuột chạy sàn sạt. Chỉ trừ con đường chính là có dấu chân của bà con từ xuôi lên núi hái củi. Qua phát sợ, ổng đi trước, qua đi sau, mắt ngó dớn dác, chân cố đặt đúng dấu chân ổng. Tim qua đập thình thịch như muốn chạy ra khỏi ngực. Qua tính bàn ổng quay lui. Nhưng sợ ổng cho mình nhát, ổng lại la nữa. Đành đâm lao phải theo lao.

Đi quanh đi quẩn một lúc lâu, hai vợ chồng qua mới bàn nhau ra dựng lều ở cây đa đầu làng, sát con đường chính, cho nó sáng sủa và đỡ hiu quạnh. Đang mùa nắng, chẳng lo gì. Chỉ cần treo tấm nhựa, dọn rác rưởi, trải chiếu xuống là nằm được. Nghĩ nó cũng như hồi trụ bám thôi. Nhà cửa gì, nằm hầm nằm bờ bụi miết.

Trong lúc qua lo quét dọn thì ông già cầm rựa đi thăm vườn. Ổng quay về nói có nhiều mìn lắm. Qua tính đi nấu ăn thì ổng biểu dẹp, vô ngồi xem ổng chỉ cách gỡ mìn. Ổng ngồi trên chiếu, tay giơ lên xuống rồi cúi khom khom như gỡ mìn thật. Trông tướng ổng, qua thắc cười quá. Ổng hét: “Còn ngồi đó cười, lại đây thực tập chớ khi gỡ lôi thôi thì nát xương”. Qua im thít, chăm chú nhìn. Chuyện gì chớ việc gỡ mìn ổng thạo lắm. Phải nói các cô các chú hay, hồi chống Pháp ổng là công binh của xã đó.

Sáng hôm sau, vợ chồng qua đi thăm vườn. Nghĩa là đứng ngoài đường ngó vô. Nền nhà qua cỏ tùm lum. Nhìn mấy cây ổi tong teo không ai chăm mà ứa nước mắt. Người qua bỗng run lên:

– Ủa, sao hồi trụ bám với ở tù mình không run mà giờ run vậy ông?

– Tại mụ sợ chết đó. Già mà còn sợ chết.

Nghe ổng nói, qua tức rực trong đầu. Cái ông này bộ khinh mình ta.

– Sao ông cũng đứng sững như trời trồng mà không chịu xáp vô vườn đi.

– Còn tính chớ.

Qua nói luôn:

– Ông cũng sợ hả?

Ông già suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Tui trù vầy nè: bà lui ra cho tui gỡ mìn vướng trước đã. Sau đó tui phát cỏ tui gỡ thử một số mìn dưới đất cho bà xem, lần lần bà dạn bà mới tập gỡ được.

Qua sợ ổng khinh nên nói:

– Tui mà nhát à, ông gỡ được, tui gỡ được, cùng làm một lúc không ai trước ai sau hết.

– Được.

Tưởng nói cứng chơi ai ngờ ổng công bình quá. Ổng phân công vầy: ổng đi thẳng lối cổng chính, qua đi lối bên phải – Mẹ chỉ ra cổng- đại khái giống như cổng qua đó, nhưng nhà cũ kia, nhà này là nhà ta xây dựng theo quy hoạch để lấy đất sản xuất. Cách gỡ thì các cô các chú hẳn biết, tìm hiểu thêm, qua nói sơ  thế này: đầu tiên mình ngồi xổm đưa tay từ dưới lên quá đầu. Nếu ta gặp dây là ta đụng mìn vướng. Ta gỡ hết mìn vướng xong thì phát quang. Sau đó dùng thuốn, một cây sắt dài độ một mét giống hình chiếc đũa, dưới nhọn để xăm chếch 30tìm mìn ríp hay bom ba càng. Tuỳ từng loại ta gỡ. Nói đơn giản vậy nhưng khi bắt tay vào thì rắc rối hơn. Mình phải nắm vững cách gỡ lại phải bạo dạn nữa. Cho nên, xôm vô độ nửa tiếng, ông già gỡ được hai quả, còn qua chưa được quả nào. Qua nhìn mà phát ghen. Nói thiệt không có mìn càng tốt. Nhưng qua sợ ổng gỡ nhiều mà mình không có ổng coi thường cho xem. Mà ổng cũng khôn lắm. Ổng giành chỗ nhiều mìn, để mình chỗ ít, hẳn là muốn chơi trội đây. Đang nghĩ vậy thì tay qua chạm một sợi dây. Tự nhiên chân tay qua cứ quíu đi. Trời, mình quyết tâm vầy mà sao gặp mìn cũng ngại hé. Qua quay lại ngó ông già cầu cứu. Thấy ổng cười cười nhưng giả bộ ngó lơ. Sau này mới biết ổng để ý nhất cử nhất động của qua để giúp đỡ. Nhưng lúc ấy qua thấy phát tức. Qua ngó lần nữa. Bấy giờ ổng mới quay lại:

– Chuyện chi đó?

– Mìn.

– Thì gỡ đi. Trời ơi chiến sĩ trụ bám mà cũng sợ ta. Có chết thì để lớp con cháu nó hưởng cuộc sống mới chớ gì mà sợ dữ mụ.

Nói vậy, chớ ổng đến bên biểu qua xê ra, rồi ổng lần lần theo mối dây ổng gỡ.

Trưa đó, trong bữa cơm- mà đâu phải cơm, bắp bung đó – ổng vừa trệu trạo nhai (răng ổng rụng hết rồi) vừa nói:

– Tui tưởng mụ làm bạn chiến đấu với tui được nhưng mụ nhát quá. Thôi để tui gỡ, mụ phục vụ. Chiều nay mụ không đi nữa, ở nhà chặt dây thép để tui xỏ chốt.

Ổng nói, mặt ngẩng lên, tay vuốt râu làm cao.

Qua bảo:

– Làm phách hoài. Bộ ông muốn có công mình ông sao. Hồi giờ tui thua ông cái gì chớ? Ông trụ bám được, tui trụ bám được. Ông ở tù được, tui ở tù được. Ông còn nhớ ông đã không dám mang gạo vào rừng cho tụi du kích hồi Nam Hàn nó đóng chớ? Sao ông không tính. Tui không chấp hành ý kiến ông. Tui ra xã ngoài tui học bọn du kích về tui làm.

Ông già cười khá khá:

– Thử bà đó. Bà không quen thôi, làm mãi rồi cũng được. Nè, gỡ xong mìn bà định trồng gì trong vườn? – Lão đấu dịu.

Qua không trả lời.

– Bà giận sao bà, trồng sắn hả?

Qua thấy nguôi nguôi:

– Trồng sắn, trồng chuối nước chi cũng được.

– Ờ, ờ hay lắm.

Qua thấy thương ổng, răng cỏ không còn mà phải nhai bắp:

– Thôi, chiều nay cho bạch đầu quân ăn cháo nghen.

– Ờ!

Ăn xong, qua lo dọn thì ổng xách thuốn chạy ra gỡ tiếp. Trưa nắng hồng hộc, mồ hôi mồ kê đầy người. Qua cũng đâu chịu thua. Qua bỏ chén đũa chạy ra. Gỡ một chút thì qua gặp quả US. Qua ngồi ngẫm nghĩ cách gỡ thì nghe ổng nói:

– Mìn nữa hả, có dám không thì để thằng già này.

Qua nghe tức rực. Tự nhiên chân tay qua mạnh lên. Gỡ xong, qua giơ mìn lên nói với ổng: “bắt này”. Ổng thét:

– Nè, đừng có anh hùng rơm mụ.

Qua cười, đặt quả mìn xuống nhẹ nhàng rồi gỡ tiếp. Phải nói làm mãi nó cũng quen các cô các chú à. Sau mấy hôm, ông già phấn khởi hung. Ổng công nhận qua là bạn chiến đấu như hồi trụ bám, hồi ở tù.

Ổng nói:

– Công việc này là công việc của đàn ông, mà mụ cũng làm, tui nghĩ thương mụ quá.

Qua cười:

– Gỡ mìn tức là giải phóng đất để gieo trồng ra khoai lúa nuôi người, tức là bắt cái chết thành cái sống, ông làm được tui làm được. Sao ông làm cách mạng hoài mà còn phân biệt đờn ông đờn bà hả?

Vợ chồng qua gỡ được trăm quả. Đúng lúc qua gỡ được quả thứ hăm sáu, bỗng nghe nổ cái đùng, bụi bay lên chỗ ông già. Qua chạy ào đến, thấy máu me đầy chân ổng. Tưởng ổng chết, qua ôm ổng qua khóc, may mà ổng chỉ ngất. Ổng bị thương. Ổng nói nho nhỏ:

– Mụ à, tại tôi sơ ý đó. Mình làm sai kỹ thuật nên gặp tai nạn. Chớ mìn có chi là đáng sợ mụ.

Qua xé ngay vạt áo băng cho ổng. Xong qua lọm cọm dìu ổng ra đường. May gặp mấy người hái củi cáng ổng đi viện ở dưới thị trấn chớ không qua chẳng biết làm sao.

Bác sĩ khám nói ổng bị thương nhẹ, chỉ mươi lăm hôm là khỏi. Qua thương ổng quá, không muốn rời. Ổng bị sốt mê man. Khi tỉnh dậy thấy qua ở đầu giường, ổng bảo:

– Sao không về mà gỡ cho hết đi, còn có xíu chớ mấy. Vợ chồng già mà cứ như còn trẻ, xoắn xít ở đây thì bao giờ mới gỡ xong, mới có đất sản xuất.

– Thì ông bị thương tui cũng phải lo chớ.

– Lo cái gì, phải gỡ cho xong chớ mưa xuống thì không chạy kịp thời vụ đâu. Tui mà chết, mụ nhịn đói chết theo à, già mà…

Mẹ Xoài cười hóm hỉnh. Anh chị em xung quanh cười rộ theo. Anh nhà báo lớn tuổi nói:

– Thưa bác, tình già nó gắn bó hơn lúc trẻ đó bác.

– Chẳng biết gắn ghiết làm sao. Nhưng thấy ổng bị thương mình cũng đứt cả ruột – Mẹ Xoài cười tiếp – Nhưng nghe ổng nói, qua giả bộ giận đứng dậy đi ra. Đi một đoạn nghĩ thương ổng. Qua móc túi thấy còn hai ngàn đồng. Qua quay lại nói:

– Ông cầm tiền đưa bọn nhỏ nó mua gì ăn.

Ngỡ ổng vui thì ổng lại la lên:

– Tiền với bạc, về mua giống mua hom sắn, về…về…về, tui chết thì bà kiếm một ông cũng móm mém nữa chớ chi mà lo dữ vậy.

Ổng cười. Qua cũng cười rồi quày quả ra về. Mười ngày sau, qua xuống thăm ổng. Phải nói là trong mười ngày đó, qua cố gắng làm được vài việc: gỡ xong mìn, đi mua hom sắn, xin dây khoai về dặm. Lúc này bà con về đông. Tụi du kích cũng đã gỡ tới thôn này. Qua giúp nhà bác Khang bên cạnh gỡ mìn. Nhà bác đông con cái nên làm mau, lại giúp qua làm xong cái sườn nhà. Hôm đó, xuống thăm ổng, qua cũng tự kiêu lắm. Để chộ ổng, qua mang luôn một rổ mìn đã gỡ. Nhưng tới cổng bệnh viện, bác già gác cổng mặt mày xanh lét, khoát tay lia lịa. Qua giải thích là mìn chết rồi, bác ta cũng bắt bỏ ra ngoài. Qua bước vô, ngó lại thấy bác ta nhìn rổ mìn người run như phát sốt rét. Vô tới phòng, qua gặp ổng chống nạng bước ra. Qua dẫn ổng ra cổng. Thấy rổ mìn, ổng đứng sững như ngẫm điều gì, một lúc sau ổng nói:

– Được, mụ này khá.

– Ông ăn ngon chưa?

– Ngon lắm, mụ khỏi lo. Mụ gỡ gần xong chưa?

– Xong rồi, tui còn giúp bác Khang. Mọi người về đông. Xã có tổ chức một đội thanh niên gỡ ngoài đồng, chuẩn bị vụ mùa.

– Cha chả, mình về chắc không còn gì mà làm nữa – bỗng ổng ngẩng mặt lên, vuốt râu – Hay mìn kia là du kích nó gỡ cho mụ, mụ đem lừa tui đó mụ ?

Qua hứ một cái, quày lưng lại, không thèm nhìn ổng. Ổng nói nịnh :

– Nói giỡn chút chứ tôi không biết năng lực bà sao ? Bốn mươi năm ăn ở với nhau rồi. Nè mụ về xin tre để tui về làm nhà cho.

– Tui đã nhờ bác Khang dựng dùm rui mè rồi , ít bữa nữa cắt tranh là lợp xong .

Ổng trợn tròn mắt :

– Thiệt sao mụ ?

– Thiệt

– Thế này thì tui về gấp thôi .

Ổng đập cái gậy xuống đất như giận dữ ai . Mấy hôm sau thì ổng về. Bà con chòm xóm đã về đông. Mọi người lo dọn vườn, làm tạm nhà ở. Một hôm, thằng Toán Bí thư xã đến nói với vợ chồng qua :

– Thưa hai bác, việc gỡ mìn quanh khu vực làng đã xong. Giờ thì du kích với thanh niên nó gỡ ngoài đồng. Xã định huy động bà con gỡ ở gò Sỏi, gò Sạn để làm một cái hồ chứa nước, sau đó mình làm kênh mương tưới cho ruộng. Đất mình không có thuỷ lợi thì chỉ trồng sắn bắp với một vụ lúa, như vậy thu hoạch kém lắm. Nay mai ở trên chủ trương thành lập Hợp tác xã, mình làm ăn sao đây. Cháu biết bà con nể hai bác. Vậy, nhờ hai bác đi trước, để vận động, bày vẽ cách gỡ mìn cho bà con.

– Tưởng gì chớ vậy thì cũng được, còn chi nữa ? – Ông già hỏi.

Thằng Toán cười:

– Thưa hai bác, cháu còn định vầy, nhưng sợ bà con thắc mắc, cháu nói trước hai bác coi thử: cháu tính là làm thuỷ lợi xong, mình gỡ mìn ở rừng quít. Đất ở đó xấu. Sau đó, ta giúp nhau chuyển nhà lên đó cất, để đất dưới này sản xuất. Đất ở đây tốt hai bác à-Nó ngừng lại chút rồi nói tiếp-còn mồ mả thì ta xây nghĩa trang ở đồi Mười, đưa hết anh chị em lên đó nằm cho mát.

Ông già trù trừ:

– Cũng khó đó. Để tính thử chớ dỡ nhà, chuyển mồ mả mắc công quá.

– Dạ cháu cũng thấy vậy nhưng bà con mới làm nhà tạm, mình không chuyển ngay, sau dinh cơ đề huề nó khó ra.

– Thì cứ làm đi cháu à – Qua nói.

Ông già trừng mắt:

– Giỏi nói leo.

Qua nguýt ổng, ổng trừng lại. Khi thằng Toán đi rồi, ổng ngồi im lặng rất lâu, quấn thuốc, hút hết điếu này đến điếu khác. Đột nhiên, ổng hỏi qua:

– Bà không nhớ gì hết sao?

Nghe ổng hỏi, qua nhớ liền. Ngay bữa mới về làm dâu, ông cụ (cha chồng qua) đã già, ốm nặng nằm trên giường kêu ổng với qua đến:

– Cha chắc sắp chết. Cha chẳng có gì để lại cho hai con. Chỉ có cái nhà với miếng vườn này. Đó là của cải ông nội để lại cho cha. Các con phải giữ lấy, nghèo khổ mấy cũng đừng bán, đừng bỏ xứ mà đi…

Hết thằng Pháp đến thằng Mỹ chà xát, xúc tát hoài, vợ chồng qua, nhớ lời ông cụ, nghe theo cách mạng, cứ bám ở đây hoài. “Một tấc không đi, một ly không rời” mà. Bây giờ, thằng Toán nó biểu đi chỗ khác chẳng khác nào ngày xưa nó biểu mình trụ bám. Nó muốn mình sung sướng hết thôi. Qua nghĩ vậy (những người trụ bám tụi qua cái chi cũng phải nghĩ nhanh gọn để bắt tay vào làm liền hè). Qua nói với ổng:

– Tôi nghĩ vầy ông coi thử phải không: Hồi trước Đảng biểu mình phải trụ bám thì kháng chiến mới thành công. Đảng nói đúng. Giờ Đảng bảo mình dời nhà đi nơi khác để lấy đất sản xuất làm cho dân giàu nước mạnh, chẳng lẽ Đảng nói sai sao ông?

Ông già im lặng. Hình như ổng cũng nghĩ giống như qua. Vợ chồng mà, một chặp sau ổng nói:

– Nếu như phải dời nhà thì mồ thằng Hai, con Ba chôn trong vườn mình bà tính phải mang theo hay đưa lên nghĩa trang liệt sĩ xã?

Qua bàn:

– Mình đi, mang bàn thờ tụi nhỏ đi theo coi như nó vẫn ở với mình. Mấy đứa miền Bắc hy sinh trong này, cha mẹ nó có mang về được đâu. Tui nghĩ vầy: con mình lúc sống nó cùng đánh giặc với anh em, giờ nó hy sinh cũng phải ở chung với anh em cho có bạn có bè chớ.

Ông già không nói gì, hút hết điếu này đến điếu khác. Lát sau ổng đứng dậy, vô nhà xách thuốn ra mài. Xem ra ổng cũng đã thuận. Chẳng thế mà hôm sau ổng dậy sớm, chuẩn bị cơm nước sẵn sàng lãnh nhiệm vụ chỉ đạo đội quân toàn cụ già và đờn bà gỡ mìn quanh khu gò Sạn. Khu này nhiều mìn lắm. Vì nó là đường lên chốt núi Mít của địch. Nhưng cũng có cái thuận lợi là mọi người làm quen, với đông người càng vui cho nên làm mau. Khi sắp xong gò Sạn, thì đùng một cái qua bị thương. Đó là vì bác Sáu ở phía trên đỉnh đồi làm lăn hòn đá lớn xuống. Qua mải làm tránh không kịp bị dập bàn chân, lại phải đi nằm viện. Công việc đang bộn, nghĩ thiệt tức. Một tuần sau, thì ông già xuống thăm. Ổng quảy một con gà với mấy nải chuối. Ổng hỏi qua:

– Đã đỡ chưa? Ngó mụ còn xanh quá.

Qua nhướn mắt:

– Đỡ chớ sao không đỡ. Ông không lo gỡ mìn cho xong để làm kênh mương mà xuống làm chi?

Ổng vuốt râu:

– Xong mìn rồi, đang đào mương ở trển. Xã cử tôi đại diện xuống thăm mụ, gởi quà cho mụ đây.

– Hứ, lấy quà của xã làm chi?

– Thằng Toán ép miết. Nó còn tính tiền công tui với mụ gỡ mìn cho xã đó.

Qua thấy tức rực ở đầu, ở chân.

– Bộ ông lấy tiền rồi hẳn. Chỉ làm dở.

– Lấy chớ sao không lấy mụ – Ổng gân cổ cãi.

Qua nói ấm ức:

– Ông làm cái chi lạ vậy?

Qua quay mặt đi chỗ khác. Bây giờ ổng cười kha khá. Tính ổng vẫn vậy. Bốn mươi năm rồi, qua biết. Hễ ổng cười kha khá là lúc đắc ý vì đã chọc tức được qua đó.

– Nói vậy chớ ngu sao mụ – Ổng cười nói – tui bảo với nó: Vợ chồng tao làm là làm việc nghĩa, làm cho làng cho xóm. Già rồi, không làm được nhiều, chỉ làm có vậy thôi. Bay nói chuyện tiền nong nghe nó kỳ cục quá- Ổng vân vê bộ râu rồi tiếp – Tui bảo: Vậy chớ tụi tao làm, lỡ chết, vậy là vì tiền à. Dẹp, dẹp, dẹp. Xong chỗ này, tụi tao gỡ chỗ khác. Có chết bay cứ cấp cho tụi tao cái liệt sĩ. Con cái đi cách mạng hy sinh cả thì làng xóm thắp cho cây nhang vậy.

Qua nhỏm người về phía ổng:

– Được, lão già được.

Ổng vuốt râu làm cao:

– Tui mà không được, mụ. Phỉnh mụ chơi chút vui á.

Qua nhìn ổng, thấy thương quá. Qua bảo:

– Thôi được, chúng cho gà, cho chuối thì ta ăn. Mà này – qua cười nói với ổng- Ông thương binh, tui thương binh. Ai cũng như ai, bình đẳng. Ông ở lại đây, tui nhờ mấy con y tá làm gà cho ông cùng ăn. Ông ở nhà chỉ ăn khoai, người xanh rớt kìa.

Ông già lắc đầu quầy quậy rồi đứng dậy vụt bước ra cửa, biến luôn.

Mẹ Xoài mỉm cười. Mọi người cười rộ. Một chị nhà báo rất trẻ có khuôn mặt tròn, tóc phi dê hỏi:

– Ba bây giờ ở đâu ạ?

– À, ổng nghe nói ở trên nông trường có máy đào sắn hay lắm, ấn tay một cái đã nhổ được một gốc ngay. Ổng định lên học để về làm đó. Ổng phân qua ở nhà gặt lúa kiếm thêm công điểm. Qua nôn quá, qua muốn gặt cho mau rồi cũng lên xem thử, chớ một mình ổng biết, về ổng làm cao á.

Mẹ Xoài nói xong đưa mắt nhìn quanh mình như tìm kiếm vật gì. Từ nãy giờ, để mẹ vui lòng, các nhà báo ngồi yên lặng. Đến bây giờ họ lại nhớ đến nhiệm vụ. Anh nhà báo nhiều tuổi nhất đoàn chạy ra một góc sân mở máy giơ lên ngắm. Khi anh chuẩn bị bấm thì mẹ phát hiện được, cúi mặt xuống làm cho anh chụp trượt. Anh xuýt xoa năn nỉ nhưng mẹ lắc đầu. Anh đưa mắt ra hiệu cho chị phi dê. Chị này hỏi:

– Thưa mẹ, còn gì mẹ kể tiếp cho chúng con nghe đi mẹ.

– Vậy chớ có gì đâu mà kể. Làm xong khu gò Sạn, xã lại đề nghị gỡ mìn ở gò Quýt này để chuyển nhà rồi làm gò Me để xây trường học, trạm xá. Cùng lúc cả xã rầm rập làm thuỷ lợi, chạy mua giống lúa, hoa màu mới, học tập các quy trình kỹ thuật gieo cấy lúa mới rồi lập tổ đoàn kết sản xuất, làm hoài hoài. Chuyện nhà nông mà – mẹ cười – Đầu năm nay, thấy xã làm ăn được, tỉnh bảo: lập Hợp tác xã thí điểm ở một vùng trung du thử xem sao, thế là tụi qua lập Hợp tác xã. Vậy thôi mà…

Mẹ dừng lại nhìn ra vườn rồi quay lại chỗ anh nhà báo khi nãy tỏ vẻ thông cảm:

– Thôi, qua sẽ để chú chụp ảnh. Nhưng trước tiên, qua nói thế này, giờ cũng nửa buổi rồi: “Khách đến nhà không gà thì vịt”- Qua chẳng có gà vịt. Có mấy quả đu đủ chín kia, qua hái khó – Mẹ quay lại phía chị phi dê – Cháu ra hái, qua vô bếp lấy dao, bổ ra cho các chú ăn rồi để chú có râu kia chụp ảnh.

Mọi người lại vỗ tay hoan hô rồi kéo nhau ra thăm vườn mẹ. Khi anh nhà báo nọ chợt nhớ đến nhiệm vụ chạy vào nhà tìm thì không còn thấy mẹ nữa. Mẹ đã lặng lẽ biến đi đâu mất rồi.

                   1978

 

TRONG LÒNG HỒ

Đối với Toàn thì việc một người nhỏ tuổi hơn phải nghe lời một người lớn tuổi hơn gắn liền với việc bà nội là người lớn nhất nhà. Ngày má còn sống, bà nội sai cái gì, má cũng “dạ” rồi đi rót rót. Có lẽ, ba Toàn đi bộ đội mà không hy sinh, khi về, cũng phải chạy quýnh lên khi bà sai. Bà hay nói với Toàn:”Cái thằng Hai cha mày hồi nhỏ mà hư, không nghe lời bà, bà bắt nằm xuống phản quất cho mấy roi thì cứ “con lạy mẹ, con lạy mẹ, con không dám làm trái lời mẹ nữa” bà mới thôi. Thế mà, từ khi ông nội tập kết ở miền Bắc về, Toàn thấy ông nội lại là người lớn hơn bà nội. Ông bảo gì bà cũng “dạ”, cũng nghe lời ông. Bữa xưa hai bà cháu ra Đà Nẵng thăm ông, ông chạy ra cửa đón, hỏi:

– Bà cháu vừa ra đó à ?

– Dạ.

Ông xoa đầu Toàn rồi biểu hai bà cháu:

– Hai bà cháu lên phòng tui nghỉ, giải quyết xong công chuyện này chút rồi tui lên.

– Dạ. Bà nói.

Muốn lên phòng ông phải leo không biết bao nhiêu bậc thang bằng xi măng. Toàn mỏi hết cả chân. Phòng ông nội rộng lắm. Chung quanh có tường ngăn, chắc chắn chớ không hẹp và xiêu xiêu như cái lều hai bà cháu ở quê. Trong phòng có tủ đứng, có bàn, có cái treo áo, cái giá đựng nhiều sách. Ông nội chắc ham học lắm. Cái giường ông nội ngủ thì lớn hơn giường cả hai bà cháu nằm. Ngồi lên nghe êm ro. Toàn nhún nhún thì thấy người nó nẩy nẩy lên thiệt thích.

Bà cháu ngồi nghỉ một chút thì ông lên. Ông cười, mở tủ lấy ra lọ đường, cầm phích nước bên cạnh pha hai ly đưa cho hai bà cháu uống. Toàn uống ngon quá, nước hết rồi mà cứ mút ly. Ông lại cười, pha cho Toàn ly nữa. Vừa lúc ấy, một ông cũng có râu, mặt già như ông bước vô nói:”Thưa thủ trưởng, tôi xin báo cáo”. Ông nội lại đi ra.

Chiều hôm đó, ông nội đưa hai bà cháu đi chơi. Chú lái xe hỏi:

– Thưa thủ trưởng, đi đến đâu ạ.

– Đi chợ Hàn.

Ông nội biểu sao chú lái xe làm vậy. Ông nội lớn thiệt. Ở trong chợ, ông nội rút ví lấy tiền mua cho Toàn một gói kẹo thiệt to, một bộ quần áo thiệt mới. Ông tưởng Toàn đâu còn con nít nên định mua cho con búp bê. Toàn lắc đầu. Toàn học lớp một rồi, cao tới một mét rồi chớ bộ. Toàn đòi ông mua cây súng bắn tạch tạch ra lửa để về làm oai với thằng Xí, con Hà chỉ có súng bẹ chuối, chơi trận giả. Được súng, Toàn thích lắm. Đêm đó, Toàn ôm súng ngủ luôn. Giữa khuya, Toàn thức dậy, thấy đèn còn sáng. Cái đèn này Toàn thấy kỳ ghê. Đầu nó chúc xuống. Mà đâu có cần thắp lửa. Hồi xẩm tối ông nội chỉ lại góc phòng bật cái miếng gì xanh xanh gắn trong tường kêu “tách” là sáng liền. Ông với bà đang ngồi bên bàn, ngay dưới cái đèn đó nói chuyện. Toàn nghe ông hỏi:

– Bà định mai về à?

– Mai tui về. Ở nhà còn nhiều chuyện lắm.

Ông ngồi im. Người ông cao to, mũi ông thẳng, da mặt hồng hào. Bữa trước Toàn nghe các chú trong làng bảo ông có “tướng”lắm. Một lúc sau ông nói:

– Tui muốn bà ở chơi vài bữa nữa. Nhưng bà muốn về thì tui bàn cái này: bà ở trỏng có một mình, lúc đau ốm ai lo. Trước bà khổ rồi, giờ bà cũng còn khổ mãi sao. Tui định đưa hai bà cháu ra ngoài này. Lúc đầu ở với tui, sau ta mua nhà ở cho tiện. Khi đau khi ốm nó cũng gần bệnh viện.

Bà nội thở dài, tóc bạc của bà rung rung. Chẳng biết sao bà nhỏ tuổi hơn ông mà tóc bạc trắng còn tóc ông trắng với đen xen nhau. Dáng bà thấp thấp mà bà ngồi khom khom trên ghế nên Toàn thấy bà nhỏ xíu. Bà rút cái khăn xéo vắt vai lau vết trầu trên môi.

– Tui nghĩ không được ông à. Xuống dưới này bỏ nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả ông bà con cháu cho ai. Đàn ông các ông thì đi xa dễ dàng hơn đàn bà tụi tui.

Ông nói:

– Tui tính như vậy tiện hơn. Tui lương cũng khá, nuôi được bà. Bà ở trong đó một mình, nay mai thành lập Hợp tác xã làm sao bà theo được công điểm.

– Thì hồi giờ không có lương ông tui cũng sống hoài, cũng làm ra lúa khoai nuôi tụi cán bộ du kích, nuôi con nuôi cháu, có sao đâu.

Ông nội im lặng. Bà nội cũng im lặng. Toàn ngủ quên. Khi thức dậy thì Toàn thấy bà đã chuẩn bị khăn gói đâu vào đó rồi. Toàn biết bà sắp về. Toàn tiếc lắm. Ở với ông cái gì cũng thích. Nhưng bà về thì Toàn cũng về. Toàn thương bà hơn. Ông hỏi Toàn:

– Toàn ở lại với ông hay về?

– Cháu về.

Ông xoa đầu Toàn:

– Cái thằng cháu ông cứ bám lấy bà, bộ cháu không thương ông sao?

– Dạ thương. Toàn nói.

Ông cười, xoa đầu Toàn lần nữa rồi biểu chú lái xe đưa hai bà cháu ra bến.

o0o

Ở trên xe, bà nội cứ ngồi im. Thỉnh thoảng lại giở trầu ra ăn. Xe lao vút vút. Cây cối đồng lúa hai bên đường chạy ngược lại nhanh nhanh vậy mà lúc lúc bà lại hít hà:

– Răng xe bữa nay chạy chậm vậy hè?

Chắc bà muốn mau về nhà đó. Ông bảo ở lại thêm ít bữa bà không chịu. Ông bảo ra ở luôn Đà Nẵng bà cũng không chịu. Đã là người nhỏ hơn phải nghe theo người lớn hơn chớ. Bà biểu Toàn như vậy. Cô giáo cũng biểu Toàn như vậy. Ngạc nhiên với chuyện mới lạ này, Toàn nhìn bà chăm chăm rồi hỏi:

– Răng bữa trước bà nói ông lớn hơn bà mà bữa nay ông biểu bà ở lại bà không nghe lời, bà ?

Bà nội chỉ cười, ôm Toàn vô lòng ru ru theo nhịp xe.

Về tới nơi, bà đứng sững trước sân, ngó trân trân như mới thấy cái nhà lần đầu. Sau đó, bà run run đẩy cửa bước vô. Bà vừa lẩm bẩm nói gì trong miệng vừa dọn cái gối, giũ cái chiếu, chạy xuống bếp tóm tóm tro bếp bị gà bươi. Thấy con mèo mướp chạy rình chuột, bà kêu “meo meo”. Nó chạy đến nằm xuống trước mặt bà như làm nũng. Bà ôm nó vuốt vuốt. Nó sướng quá hai mắt cứ nhắm rồi mở. Con chó trắng ở đâu chạy về như bì với con mèo, chạy vô cọ cọ đầu vào chân bà. Bà lại xoa đầu con chó. Bà nói với tụi nó:”Tội nghiệp, hôm qua tao đi vắng, tụi bay ở nhà có đói không?”. Bà làm như tụi nó cũng nghe được lời bà như Toàn ấy. Sau đó, bà ra vườn thăm mấy cây ô ma, mấy cây đu đủ. Mấy cây này bà trồng hồi mới giải phóng. Bà vừa tưới nước, vừa vuốt ve chúng như thể chúng cũng là người vậy.

Hai bà cháu về nhà được mấy bữa thì ông về. Ông nói rủ rỉ gì với bà. Toàn đâu có nghe. Nhưng Toàn thấy bà lắc đầu hoài. Ông cười:

– Thôi, tui chịu thua mấy bà trụ bám đó. Ở ngoài Bắc tui nghe anh em ra kể tụi nó bắt bà chở trên xe đưa đi khu dồn bà cũng nhảy xuống để về nhà. Giờ đây bà cũng trụ bám hoài hoài.

– Chớ ông biểu tui bỏ xóm làng, nhà cửa, mồ mả của ông cha mà đi răng được.

Ông cười:

– Nói mãi mà bà không đi thì tui cũng chịu. Thôi, bây giờ thế này: tui có tiết kiệm được một ít tiền. Tui sẽ nhờ mua gỗ, mua tôn về làm cái nhà cho khá hơn, chẳng lẽ để bà ở cái lều này miết. Có cái nhà đỡ đỡ tui cũng có chỗ đi về, giỗ chạp cũng không hổ danh với ông bà. Bà đồng ý không?

Bà cười:

– Tùy ông chớ.

Ông nói rồi ông làm thiệt. Mười ngày sau, ông mướn xe chở gỗ chở tôn về. Ông kêu mấy ông thợ xóm trên xuống. Mấy ông cùng chỉ chỉ vẽ vẽ, gật gật đầu với nhau cười. Ông sai bà nội đi chợ sớm, dặn mua đủ thứ. Bà cứ “dạ, dạ” làm theo liền. Bây giờ thì ông lớn hơn bà thiệt. Ông nói gì bà cũng phải nghe. Bà đi chợ về, quên mua chè, ông nhăn mặt một cái, bà quay ra chợ mua liền. Mấy bữa đó, bà nấu cơm không, kho thịt, kho cá lu bù cho mấy ông thợ ăn. Toàn thích ghê. Ăn xong, đi học Toàn cứ mong về. Mỗi bữa đi học về, Toàn thấy một khác. Bữa đầu, mấy ông thợ chỉ trồng lên mấy cây cột. Sau đó có khung nhà, sau đó mấy ổng lợp. Mới mười ngày nhà đã xong. Nhà rộng thinh, thẳng đứng, trên lợp tôn, không nhỏ hẹp, xiêu vẹo như cái lều tranh cũ. Nhà Toàn nhất làng. Trước nhà có cái sân rộng. Toàn thấy mỗi lần thằng Xí, con Hà được Toàn rủ đến đánh bi, chơi trận giả cứ ngó nhà Toàn trân trân. Toàn thấy tụi nó nhìn Toàn oai lắm. Đi chơi đâu một lúc, Toàn nói: “Về coi nhà tao đi”. Tụi nó đến liền.

Bà nội Toàn còn thích nhà hơn. Bà vui vẻ dọn dẹp, khiêng bàn thờ để giữa nhà. Bà thắp nhang, nấu một nồi chè cúng nhà mới, kêu hết bọn nhỏ đến ăn. Bà hết ra sân lại quay vô nhà, đứng ngắm nghía, miệng cười tót tét. Ông nội cũng hay về hơn trước. Ông nói ông cũng ưng cái nhà này. Ông mang bàn, ghế, tủ, ảnh về nhiều lắm. Ông nói, năm tới trên cho về hưu ông sẽ về ở đây nghỉ cho khỏe, cho yên tĩnh. Ở Đà Nẵng ồn ào lắm.

o0o

Một buổi sáng, Toàn vừa cắp vở ra đường thì thấy một chiếc xe to lắm chạy đến chân núi. Bốn chú lạ hoắc vẫy Toàn đứng lại. Các chú hỏi:

– Cháu đi học à ?

– Dạ đi học.

– Đây có phải thôn 5 không cháu ?

– Dạ phải.

Các chú đi vô làng. Khi Toàn đi học về thấy các chú đứng bên một cái máy gì không biết hỏi các chú nói là máy khoan đang làm việc. Một chú cầm một cái giống như cái đồng hồ, miệng nói :Đông Bắc, Tây Nam. Khoan xong, các chú lấy đất đá lên coi, nói gì với nhau. Bữa hôm sau các chú lại đi lên thôn 6. Tụi Toàn học xong, cũng chạy lên đó coi, thấy các chú cũng khoan, cũng coi đá đất, ghi ghi vô sổ như hôm trước. Các chú làm gì hè? Toàn định hỏi bà, bà lớn hơn chắc bà biết. Nhưng học xong là Toàn lo đi đánh trận giả nên quên mất. Mấy hôm sau Toàn không thấy các chú ở đâu nữa.

Bữa nay đi học về. Toàn thấy bà Hai, một bà cao gầy, chân bị thọt, ở cuối thôn ngồi nói chuyện với bà nội. Bà Hai nói:

– Tui nghe mấy anh ở đoàn khảo sát nói trên định xây một cái hồ chứa ở đây để lấy nước tưới cho các huyện phía Nam tỉnh ta. Họ biểu xã mình nằm trong lòng hồ, nước ngập hết chị à.

Bà nội nói:

– Vậy nhà cửa, mồ mả, làng xóm ở đây làm răng?

Bà Hai nói:

– Họ biểu nhà cửa thì chuyển lên Xuân Bình, mồ mả thì chuyển lên núi.

Bà nội giẫy nảy:

– Ông bà con cái giận chết. Bao năm trụ bám, nhà cửa bị đốt phá phải ở rừng, ở hang, ruộng vườn hoang hóa, mồ mả sụp lở chừ mới dựng được cái nhà, sửa cái vườn coi cũng chưa vừa con mắt, mồ mả chưa tu bổ đã phải dời đi chỗ khác. Bao giờ mới yên. Tui ở đây, tui không đi mô hết.

– Tui cũng vậy. Răng họ không làm ở chỗ khác hè ? Xã mình mấy chục năm bầm dập, bị dồn lên xúc xuống. Răng họ không chiếu cố, họ xây hồ ở chỗ khác. Họ xây hồ ở đây thì sướng ở dưới kia chớ mình được cái chi, chị ?

Bà Hai đi rồi. Bà nội ngồi im như hồi má chết. Nước mắt lặng lẽ chảy. Bà nhìn ra những dải đồi núi bao bọc quanh làng rồi nhìn xuống thung lũng có đồng lúa xanh xanh. Nếu như má còn sống, sau khi nhìn như vậy bà thường tỉ tê kể chuyện. Bà có nhiều chuyện lắm. Bà kể rằng, hồi xưa vùng này là rừng hoang, cọp beo luôn rình rập bắt người. Ông gì to lắm, bà nói là ông Tổ, Toàn không thấy ảnh bao giờ, mộ của ông nằm trên đồi ông Tú, đã làm miếu tế cọp rồi đẵn cây, phát lách làm ra đồng ruộng, làng xóm. Đến thời ông cố thì có một ngôi nhà lá mái rất to, quanh vườn có thơm, mít, xoài, ổi sum suê lắm chớ không trơ trọi như bây giờ. Một hôm, nhiều người gọi là Việt Minh đến trụ tại làng để tìm cách đánh thằng Pháp. Ông cố Toàn cũng tham gia vô Việt Minh. Ông gặp ông cố ngoại. Hai ông gật gù với nhau gả bà nội cho ông nội. Bà về mấy năm thì cả nước nổi lên chống thằng Pháp. Ông cố vác gậy xuống Tam Kỳ đánh Pháp, bị nó bắn chết. Ông nội thương ông cố, cầm lấy cây gậy xin vô bộ đội. Bà ở nhà nuôi ba miết miết. Khi ba lớn, ba cũng đi bộ đội, bỏ bà một mình. Kể tới đó xong, bao giờ bà cũng quay sang má chỉ lên một ngọn đồi hỏi:

– Cái đèo Tư Yên kia năm mô mình diệt 10 xe của địch, Lành?

– Dạ năm 64 má à.

Bà nội hít hà một lúc rồi nói.

– Ờ năm đó. Sư 2 đánh xong, thằng Hai cũng xin đi bộ đội mà tau quên. Tau già tau lẫn rồi, hỏi bay miết-Bà cười rồi hỏi má-mi còn nhớ năm 67 ra răng không Lành?

– Dạ nhớ. Lúc đó xe tăng, bộ binh Mỹ vô đầy đồng. Máy bay Mỹ bay trên trời như chuồn chuồn. Con sợ quá. Gặp ai chúng cũng giết, nhà nào chúng cũng đốt. Chúng dồn người lên máy bay chở xuống trảng Bà Mù. Mùa hè nóng quá. Con tính tìm cách trốn mà không biết làm sao. Con nhìn mọi người thử ai cũng giống như mình. Con thấy má có vẻ suy nghĩ. Con đến bên hỏi:”Làm răng về làng bác? Không có mình, mấy ảnh chẳng có ai tiếp tế, làm răng mà chiến đấu”. Má nói:”Để tau cho tiền thằng gác rồi hai bác cháu về”. Được ra khỏi rào dây thép gai, hai má con mình dông tuốt một lèo về đây. Má nhanh trí thiệt.

Bà nội cười:

– Còn tau lúc đó tau bỏ bụng con nhỏ mồ côi ni được. Tau cố kèm để rấm cho thằng Hai tau. Vậy mà năm 70 nó về, tụi bay cưới nhau thiệt. Cưới mà không có lễ lộc chi hết. Ngồi trong hang đá với nhau, thằng Mười với mấy đứa ở xã hút ru-bi, uống hớp trà trong bình tông chứng nhận. Hai vợ chồng mi ăn ở hai ngày trong cái hang đá đó. Rồi thì mi có mang thằng Toàn.

Má Toàn đỏ mặt lắc đầu:

– Má cứ…Má cứ…

Nội cười, giở trầu ra ăn. Bây giờ má Toàn không còn. Má chết năm ngoái ở ngoài đồng. Toàn nhớ bữa đó má đi họp về nói với nội.

– Xã tổ chức thanh niên đi gỡ mìn ngoài đồng. Trên có nói nhà mình neo người nên cho con nghỉ để ở nhà giúp má.

Bà nội bảo:

– Cứ đi đi con. Đừng ỉ neo đơn mà ở nhà. Tau lớn tau biểu bay phải nghe.

Vậy là má đi liền. Một hôm má sơ ý để mìn US bật cần. Sợ các cô chú chung quanh cũng bị thương, má nằm ôm luôn trái mìn. Má chết. Toàn khóc ghê lắm. Bây giờ nghĩ lại Toàn cũng muốn khóc. Bà nội thì ngồi im. Nhưng nước mắt cứ chảy ra từ hai hố mắt đã mờ mờ của bà. Bà nói với bà Hai:

– Tội con nhỏ. Nó là con dâu mà như con đẻ tui.

Toàn nói:

– Răng bà bắt má đi, mà má chết bà…

Nội xua tay. Hôm ấy nội ôm má, nói chuyện với má hoài, làm như lúc má còn sống, đêm đêm bà nằm giường bên kia nói với má và Toàn nằm giường bên này:

– Con ơi, con còn nhớ hồi má đau, con phải lặn lội xuống Tam Kỳ mua thuốc. Tụi nó bảo con đi tiếp tế cho cách mạng, nó bắt nó đánh không Lành?

Nếu như hồi trước thì Toàn nghe má trả lời:”Dạ, con nhớ”. Nhưng giờ thì má im lặng. Má chết rồi thì đâu có nói được.

– Con ơi, con còn nhớ hồi hai má con mình đào hầm nuôi thằng Mười không? Sau này thằng Mười đi, nó xăm lộ hầm, nó bắt má nó đánh, con chạy lại đỡ đòn cho má. Con nhớ không? Sao con không nói. Con bỏ má một mình với thằng nhỏ con đi sao, Lành?

Má cũng không trả lời. Bà nấc lên rồi lấy vạt áo lau mắt.

Chiều nay bà nội không còn ai để nhắc chuyện cũ, bà buồn lắm. Bà ngó ra mấy dãy núi, ngó ra cánh đồng thở dài lẩm bẩm nói một mình.

– Chẳng lẽ mọi cái sẽ chìm dưới nước. Chẳng còn ai nhắc đến nó nữa sao?

Nói xong, bà đứng dậy vác rựa ra rào phát cỏ. Vừa lúc ấy, chú Mười đến. Vẫn như mọi bữa, người cao cao, bộ quần áo ni-phăng xanh bạc màu, đi đôi dép cao su. Bà nói hồi xưa, hồi Toàn còn chưa có, bà đã nuôi giấu chú trong nhà, không cho thằng Thoàn ác ôn bắt. Bây giờ, lần nào đến, chú cũng mang kẹo cho Toàn. Toàn thích lắm.

Toàn la:

– Chú Mười!

Chú móc túi áo lấy cho Toàn gói kẹo rồi vuốt má Toàn. Bà nội đang chặt cây, bỗng cuống quít chạy vào giơ cái rựa lên nói:

– Cái thằng quỷ kia. Tau chặt mi ba khúc cho thỏa cái tội lâu không đến.

Toàn tưởng bà chặt chú thiệt, sợ quá, nhưng đâu có. Bà ném cái rựa xuống, chạy lại ôm chú, nhìn vào mặt chú, xoa đầu chú như con nít. Chú lớn rồi mà cứ đứng trân trân, nước mắt chảy ra. Toàn nghe người lớn nói chú Mười lớn lắm, lớn nhất nhiều làng như làng mình. Vậy mà bà cứ biểu chú như biểu Toàn:

– Thằng Mười vô nhà chơi, uống nước.

– Dạ.

Chú Mười nghe lời nội cái rốp. Mà chú ngồi khép nép như má ngồi trước mặt bà nội chớ.

– Lâu nay mi đi mô không thấy về chơi, Mười?

– Dạ thưa bác, cháu bận quá. Hôm nay ghé qua làng mình một chút. Bác có khỏe không?

Bà nội cười:

– Khỏe chớ răng lại không, mi. Còn thằng Mỹ, tau còn trụ mười năm nữa.

Chú Mười cười, kéo Toàn vô lòng, đưa tay vuốt vuốt đôi má. Chú hỏi thăm bà Hai, ông Sáu, ông Bảy, hỏi hết cả làng. Bà biểu chú uống nước rồi nhìn chú có vẻ nghĩ lung. Đột nhiên bà hỏi:

– Mi đến đây chơi hay có chuyện chi, Mười?

Chú Mười lúng túng:

– Dạ cũng có cái chuyện này.

– Chuyện tụi tau phải dời nhà để làm hồ phải không?

– Dạ bác biết rồi à?

– Người ta đồn rân lên mấy bữa ni rồi. Răng cái làng ni bầm dập vậy mi? Trước bay biểu trụ bám giờ lại biểu đi.

Chú Mười gãi gãi đầu như Toàn lúc bị bà la:

– Dạ cháu cũng nghĩ khổ tâm quá. Bà con ở đây chịu gian khổ, hy sinh nhiều. Giờ mà đi cũng là tiếp tục hy sinh nữa. Nhưng mình có đi thì mới làm được cái đập Phú Ninh tưới cả mấy huyện. Phía Nam tỉnh mình đỡ hạn lụt, chủ động sản xuất được ba vụ. Đó là chưa nói chuyện làm hồ nuôi cá, chỗ nghỉ mát, đó bác.

– Mi nói chi chi ở mô sướng chớ còn cái làng ni?

Chú Mười ngồi im. Bà nội cũng ngồi im. Những nếp nhăn trên trán bà như sâu hơn. Bà nhìn ra cánh đồng ở trước nhà, những dãy núi ở xa xa. Toàn ngỡ như đôi mắt đã mờ của bà sâu thăm thẳm.

Chú Mười nói:

– Dạ, cả làng này sẽ dời, ở trên sẽ đền bù. Mồ mả sẽ dời lên nghĩa trang chung trên núi. Nhà cửa sẽ dời lên Xuân Bình. Huyện đã cho thanh niên phát rừng để làm nhà, làm trạm xá, trường học, để mở đất sản xuất rồi. Riêng bác, nếu bác muốn ở với bác trai cho vui thì trên sẽ đền tiền cho bác mua nhà ở phố.

Bà nội nói nghẹn ngào như khóc:

– Bay nói cái lợi tau nghe cũng  ra. Trước bay nói trụ bám để đánh Mỹ, sẽ thắng lợi. Bay nói đúng. Chừ bay nói dời đi để làm hồ chứa nước tưới ruộng đất tau nghĩ cũng đúng. Nhà cửa thì lo gì. Hồi xưa Mỹ nó phá hết, mình ở hầm, ở bờ bụi có chi mô. Nhưng, còn cái làng ni…

Bây giờ thì chú Mười im re. Mặt chú từ trắng chuyển sang vàng ệch.

– Dạ, dà, cháu nói rồi, ta chuyển làng lên Xuân Bình để xây dựng vùng kinh tế mới.

– Không, bay không hiểu tau. Tau không nói cái đó. Cái gì lợi thì làm. Tau muốn nói là: Nay mai cái làng ni chìm dưới lòng hồ, liệu mọi nơi người ta đến đi thuyền dạo mát, tham quan, đánh cá, người ta vui vẻ. Người ta có biết dưới đáy hồ, xưa có một cái làng không. Người ta có biết bà con ở đây sinh ra lớn lên, đánh Pháp, đánh Mỹ cực khổ ra răng không. Họ có biết không, Mười?

Nước mắt chú Mười từ từ chảy ra. Chú nói:

– Dạ, trên biết hết. Mọi người rồi cũng sẽ biết hết. Trên đánh giá làng mình cao lắm. Chúng con đã đề nghị chính phủ tặng huân chương cho làng mình. Còn từng nhà thì bà con ta phải tiếp tục coi còn ai là liệt sĩ, ai có công với cách mạng, ai trụ bám mà chưa được khen thưởng để đưa lên chính phủ duyệt. Mình cố gắng đừng bỏ sót công tích một ai bác à?

Bà nội nhìn chú, mắt sáng ra:

– Chính phủ có nghĩ hết như vậy à?

– Dạ chính phủ nghĩ hết. Nay mai sẽ có Ban Thi đua với Ban Thương binh xã hội xuống làm việc. Bác nói dùm bà con khai cho kỹ nghe.

– Vậy là trên biết hết, tau tưởng…

Chú Mười đi khắp cả làng rồi mới về. Hôm sau có bốn chú xuống, tay cầm những tờ giấy to to. Tụi Toàn thích quá cứ bám theo coi. Các chú ghi làng mình đã nuôi bao nhiêu cán bộ, bộ đội, cung cấp bao nhiêu gạo, ai hy sinh, ai trụ bám, ai đánh được nhiều Mỹ ngụy. Các ông già bà già, các cô các chú trong làng tập trung ở nhà Toàn kể lại hết.

– Hồi Mỹ vô, ba thằng nớ đi bộ đội sớm nhất làng đó. Bà Hai chỉ Toàn nói.

– Con Sít nhà bà đi sau có hai ngày chớ mấy. Bà nội nói thêm.

Các chú nhìn Toàn cười, ghi ghi.

Các chú ở mấy ngày rồi về. Mười ngày sau, chú Mười cùng mấy chú lại đến. Cả làng tập hợp làm mít tinh vui lắm. Toàn ngồi trong lòng bà nghe chú Mười nói chuyện. Toàn đâu hiểu gì. Toàn chỉ nghe bà nội nói với bà Hai:

– Trên khen thưởng làng mình như vậy mới đúng. Làng mình hồi giờ là căn cứ địa của huyện. Cả Tỉnh ủy, Khu ủy cũng đóng ở đây mà.

Vừa lúc ấy chú Mười đọc tên từng người lên nhận giấy. Bà nội cũng nhận được hai tờ giấy. Bà vui lắm. Khi xuống bà gõ gõ ngón tay lên đầu Toàn, kéo Toàn vô lòng hôn thật lâu. Toàn nghe chú Mười nói:

– Thưa bà con, trên đã tặng huân chương cho làng ta, đã chứng nhận các loại giấy cho từng người. Giờ trên định dời làng ta để làm hồ như tôi đã báo cáo. Bà con có còn bàn gì thêm?

Mọi người rì rầm. Bà nội giơ tay thật cao. Bà nói:

– Bàn chi bàn miết. Trước mình trụ bám để giữ nước. Giờ đi cũng để làm hồ giữ nước. Bay biểu chi tụi tau làm liền chớ bàn chi nữa.

Mọi người cười ồ ồ, vỗ tay bộp bộp. Bà nội lớn thiệt. Bà nói gì ai cũng phải nghe. Toàn nhìn bà nội rồi ngủ thiếp đi.

Khi hai bà cháu về thì thấy ông nội đã ở nhà. Ông hỏi bà:

– Bữa nay bàn chuyện dời nhà hả?

– Dạ, bàn chuyện ấy.

– Hội nghị có nhất trí không?

– Nhất trí.

Ông nội hỏi:

– Họ định đền nhà ta bao nhiêu?

– Tui báo cáo cái nhà năm trăm đồng. Vườn tược, cây cối nữa, tính rẻ rẻ vị chi chín trăm đồng.

Ông la lên:

– Trời ơi, bà không tính công thợ, tiền ăn uống, chuyên chở sao. Bà làm như tiền là nước lã ấy.

Bà im lặng. Ông nói tiếp:

– Họ trả chưa?

– Chưa. Nghe nói trả một ít, còn một ít gửi tiết kiệm.

Ông nội nói bực dọc:

– Thôi bà ơi! Bà quen thằng Mười. Bà lên báo lại kiếm thêm ít trăm nữa. Bà biểu tụi nó đưa tiền ngay. Tui gạ mua một cái nhà 3.000 đồng ở dưới bãi biển Thanh Bình, bà định làm tui lỡ dịp sao?

Bà nội nói:

– Ông làm chi lạ vậy. Thêm bớt gì nữa, mình người lớn mà. Bà ngừng lại một chút rồi nói tiếp:

–  Đòi tiền ngay làm chi. Nhà nước nói đền là đền, lo chi mà hối hối thúc thúc.

– Nhưng lỡ việc của tui.

– Ông có một phòng to, mua nhà chi nữa.

– Mua cho bà cháu bà xuống chớ. Trước bà không chịu xuống, tui chạy vạy mãi mới cất được cái nhà. Giờ thì phải dời nhà. Bà lên rừng núi làm chi cho khổ. Tui cũng sắp về hưu rồi…

– Tui ở đây, làng đi tui đi, ở Đà Nẵng tui đâu có quen.

Ông nói:

– Bữa trước bà nói bà ở làng cũ vì có mồ mả ông bà. Giờ dời đi chỗ khác thì khác gì ra Đà Nẵng.

– Nhưng cả làng đi thì tui đi. Bà con ở đây đã đề nghị với trên, khi lên chỗ mới vẫn giữ tên làng Trường Cửu này. Như vậy làng mình đâu có mất. Làng mình chỉ đổi chỗ ở thôi. Ông cứ lo công tác, lâu lâu có dịp ghé thăm bà cháu tui là được. Còn nếu về hưu thì tùy ông…

Bà nội im lặng. Ông nội im lặng.

o0o

Sáng nay, vừa cắp vở ra đường, Toàn đã nghe mọi người cười nói xôn xao. Các cô các chú ở đâu đến cùng bà con trong làng cầm rựa, cuốc, xẻng tập trung tại con đường chính thiệt đông. Hai chiếc xe to cộ cũng vừa ở đâu đến đứng thở rồ rồ. Các chú nói với Toàn đó là xe ủi đất, ủi gốc cây, làm đường phẳng cho ô tô chở cả làng lên khu kinh tế mới Xuân Bình. Chẳng kịp hỏi thêm, Toàn vội đi học. Khi quay về, Toàn thấy một tốp đông các cô các chú đang phát đường. Hai chiếc xe cứ chạy lui chạy tới hùng hổ húc đất, húc gốc cây. Đứng nhìn một lúc, Toàn phóng ra miệt đồng. Giữa đường Toàn thấy chú Sóc, chú Bé cùng một đám đông đang đào mồ mả lên, lấy xương, bỏ trong những cái hũ nho nhỏ. Toàn hỏi, các chú nói các chú đang rước ông bà, các bác, các cô về tập trung ở đồi Xuân Bình nghỉ ngơi cho cao ráo. Toàn vội chạy về nhà. Đến nơi, Toàn ngạc nhiên quá. Mái tôn đâu mất. Chỉ còn cái sườn nhà trống hoác đang nhìn Toàn giận dữ. Dưới sân, bà đang lặng lẽ xếp tôn. Mặt bà nội buồn buồn, mắt đỏ hoe như muốn khóc. Toàn cũng muốn khóc. Từ nay đâu còn nhà đẹp để khoe với thằng Xí, con Hà. Toàn kéo áo bà, mếu máo hỏi:

– Bà, sao mấy chú lấy nhà mình, bà?

– Không, mấy chú dỡ nhà để đưa đi chỗ khác đó.

– Đi đâu bà?

– Lên chỗ mới ở Xuân Bình.

Toàn đứng im, ngơ ngác một lúc rồi hỏi:

– Lên chỗ mới có nhà đẹp, có chỗ đánh bi không bà?

– Có. Bà nội vỗ vỗ vào đầu Toàn đáp.

– Có bằng nhà ông ở Đà Nẵng không bà?

– Gần bằng.

– Vậy thì sướng quá rồi. Đi mau đi bà. Răng bà cứ chầm chậm vậy. Bà tiếc nhà cũ à.

Bà nội cười, trong mắt có ngấn nước. Vừa lúc ấy, chú Mười đến. Chú chào bà nội rồi nói:

– Mai sẽ có xe đưa làng ta đi bác à. Tới 40 chiếc. Cháu phải qua thôn 4 đây. Mong bác với bà con lên đó khỏe luôn, cố giữ truyền thống của làng ta nghe bác.

– Ừ, tụi tau sẽ cố gắng làm theo lời bay.

– Cháu đi nghe. Bữa nào cháu lên chỗ mới đó.

– Bay lên nghe.

– Dạ.

Chú Mười kéo Toàn vô lòng, vuốt vuốt đôi má, rồi chú đi. Toàn thấy lạ quá. Vì trong đầu luôn sẵn cái ý nghĩ là người nhỏ tuổi hơn phải nghe lời người lớn tuổi hơn, Toàn thấy mọi chuyện cứ lộn xà ngầu. Chẳng biết sao mà Toàn thấy lúc thì bà nội nghe theo ông nội, lúc thì ông nội nghe theo bà nội, lúc thì chú Mười nghe theo bà nội, lúc thì bà nội nghe theo chú Mười. Người lớn nhiều cái kỳ thiệt. Nó chẳng hiểu ra làm sao cả. Nó hỏi bà nội:

– Bà ơi, bà lớn hay nhỏ hơn chú Mười?

– Lớn hơn chú Mười.

– Vậy bà lớn hơn hay nhỏ hơn ông nội?

– Nhỏ hơn ông nội.

– Răng bà nghe theo chú Mười mà không nghe theo ông nội bà?

Bà nội cười. Cháu bà chưa hiểu hết đâu. Chuyện đời nó như vậy đó. Cũng như cháu đâu có hiểu hết lòng bà khi phải xa cái làng này, nơi có mồ mả ông cha, nơi bà phải đổ bao nhiêu mồ hôi cấy trồng, nuôi dạy con cái, chung thủy chờ chồng, nơi có bao nhiêu kỷ niệm buồn vui. Cháu làm sao hiểu hết những hy sinh gian khổ của bà cũng như cái làng này, suốt ba mươi năm trụ bám. Tất cả đó là để giữ mãi cái làng này, mong muốn sau này sẽ xây dựng nó đẹp đẽ hơn. Nhưng bây giờ phải ra đi như ngày xưa phải trụ bám. Cái gì cần làm thì phải làm thôi. Cháu bà làm sao hiểu hết chuyện ấy. Bà vỗ vỗ tay lên đầu Toàn nói nhỏ:

– Cái thằng cháu bà chuyện chi cũng muốn biết hết. Ráng lớn lên rồi sẽ hiểu mọi việc ở đời, con.

Đà Nẵng, 2-1979

 

KỶ NIỆM NHỎ TRONG RỪNG

                                                                                                

          Mùa hè năm ấy tôi từ Hội Văn nghệ giải phóng Khu V xuống công tác ở tỉnh N. Sau khi cho biết khái quát tình hình chung trong tỉnh, các anh ở Ban Tuyên huấn khuyên tôi nên xuống công tác ở huyện X. Cơ quan huyện X đóng ở vùng rừng núi phía nam tỉnh. Vì là đường núi nên từ tỉnh xuống huyện không có trạm giao liên, cán bộ, bộ đội đi công tác phải tự hỏi đường mà đi. Các anh bảo hình như bên Ban Đấu tranh chính trị có người sắp xuống huyện X công tác, nên tôi qua đó để cùng đi.

Người được Ban Đấu tranh chính trị cử đi công tác là Ba. Cô gốc người tỉnh N nhưng được sinh ra ở miền Bắc. Cô vào chiến trường đã hai năm nhưng da dẻ còn hồng hào chứ không xanh bủng như chị em khác. Có lẽ cô ít bị sốt rét. Chân cô dài và đặc biệt cô có khuôn ngực cao.

– Có anh đi, em càng vui, nhất là các anh nhà báo thì chắc có nhiều chuyện vui lắm. Cô vui vẻ nói.

Ngày hôm sau, chúng tôi lên đường. Những giờ đầu, chúng tôi đi theo con đường liên huyện nên gặp nhiều người đi công tác, gùi cõng. Nhưng đến gần trưa thì vắng hẳn người. Đường về huyện X lại lắm đèo dốc và rừng rậm. Đến chân một con dốc, Ba đang đi trước, quay lại bảo tôi :

– Đoạn này biệt kích hay phục , em đi trước, anh đi sau một đoạn, có việc gì anh chạy lui còn mọi việc để em tự giải quyết.

Chúng tôi im lặng leo dốc. Dốc cao và cái nắng hừng hực ban trưa làm chúng tôi rất mệt. Khi qua dốc xong, chúng tôi gặp một con suối:

– Nghỉ lại đây ăn trưa anh ạ. Ba dừng lại nói.

Cô trì cái gùi đựng đồ đạc làm bằng bao bột mì tôi đang mang trên lưng xuống cười ngặt nghẽo:

– Sao gùi rách thế này. Bộ chưa có cô nào may vá hộ sao ?

– Chưa.

– Thực hay đùa – Cô hỏi – Các anh nhà báo thì tán giỏi lắm mà.

– Thực mà. Tôi nói.

Cô nhìn tôi, đôi mắt lúng liếng:

– Các anh hay vờ vịt lắm, vợ con đề huề mà cứ chưa chưa.

Tôi quay đi giả làm mặt giận, cô vỗ lưng tôi :

– Đùa tí ông anh. Mà ông anh người tỉnh P à ?

– Sao biết giỏi thế ?

Cô nói nhỏ nhẹ :

– Em cũng có một người bạn trai quê trong đó. Chúng em đi một đoàn từ Bắc vào Khu. Anh ấy giúp đỡ em rất nhiều. Đến Khu, ảnh được phân về trong ấy, em về đây.

Nói xong, cô bước xuống suối để rửa chân tay. Tôi thú thật, mắt tôi như dán vào cặp đùi trắng ngần của cô…

– Sao không xuống suối rửa tay chân rồi ăn trưa – Cô nói – đây là chân em có gì mà nhìn.

– Nó đẹp quá không nhìn sao được. Tôi nói liều rồi bước xuống bên cô.

Trong bữa ăn, cô nhường cơm và thức ăn cho tôi :

– Em nghe nói các anh ở trên Khu chỉ ăn sắn và dớn. Giờ thì anh ăn nhiều cơm và ruốc thịt đi. Tụi em ở gần đồng bằng, dễ lấy gạo và kiếm thức ăn hơn.

Ăn xong, chúng tôi lại tiếp tục đi. Con đường cứ lên dốc xuống dốc liên tục. Người ai cũng ướt đẫm mồ hôi. Chiếc áo mỏng dán vào lưng Ba làm cho tôi thấy rõ làn da trắng hồng của cô. Tự nhiên, tôi muốn ôm riết cái thân thể ngồn ngộn sức sống kia và hôn… Đã 25 tuổi, tôi chưa được ôm hôn cô gái nào.

– Này đi sau đừng tranh thủ nhìn lưng người ta đấy. Cô quay lại mỉm cười giơ tay dọa.

Chiều hôm ấy, chúng tôi dừng lại bên một dòng suối. Một con đường mòn nhỏ cỏ lu lấp dẫn xuống bến nước. Giữa suối có một tảng đá to bằng phẳng cứ gợi cho tôi nhớ những ngày ở Khu cùng bạn bè ngồi uống trà ngắm dòng Nước Nghêu sủi bọt quanh những chiếc bàn đá như thế. Sát bên bờ suối là một khóm cây săng lẻ cao vút thuận tiện cho việc mắc tăng võng. Có lẽ những người đi trước cũng hay dừng nghỉ ở đây nên tôi thấy trên những thân cây còn in dấu cột võng và cạnh đó là 3 hòn đá làm ông táo… Ba bảo tôi nhóm lửa nấu cơm còn cô xuống suối hái rau và tranh thủ tắm một chút. Khi tôi bắc xong nồi cơm thì cô cũng vừa về, trên tay mang một nắm rau mương và môn dóc. Cô rút từ gùi mình ra một cái hăng gô, một ống lương khô thịt heo mà tôi được ăn từ trưa. Cô đem hăng gô xuống suối múc nước rồi đem lên đặt cạnh hăng gô cơm. Khi nước sôi, cô nghiêng ống lương khô bốc một nắm ruốc thật to bỏ vào hăng gô canh :

– Sao cho lương khô vào canh nhiều thế. Phải tiết kiệm chứ. -Tôi nói.

– Lo gì anh – Cô bảo – Xuống huyện xuống xã bà con lại cho đầy ống đấy mà. Em đã bảo hôm nay em đãi anh mà.

Trăng vừa lên. Dưới ánh trăng cảnh vật bỗng trở nên mơ màng như phủ một lớp sương mỏng. Tôi có cảm giác như không còn chiến tranh, không có bom đạn, không còn địch phục. Chỉ có cảnh thanh bình như một ngày đã xa, như một ngày mai tới. Chỉ có tôi và cô gái mới gặp nhưng đã trở thành thân thiết qua một ngày đi đường vất vả. Tôi nhìn cô, thấy người con gái vốn xinh đẹp ấy lại càng xinh đẹp hơn. Cô đang lom khom trải ni lông, dọn cơm canh. Tôi nhìn lướt qua cổ áo rộng của cô, đưa mắt ngắm từ chiếc cổ trắng ngần đến khuôn ngực có cặp vú cao đang phập phồng…

Chúng tôi ngồi đối diện nhau ăn cơm, như hai anh em, như hai vợ chồng. Cô nhường cơm, thức ăn cho tôi như vợ nhường cho chồng, em nhường cho anh, như đức tính vốn có ở những người con gái Việt Nam…

– Anh nói anh chưa có vợ thì có thể tin. Nhưng mà…- cô ấp úng – anh biết đàn bà chưa…

– Biết. Đàn bà thì ở đâu không gặp.

Cô cười hồn nhiên :

– Kìa, là…là em hỏi anh đã…với cô nào chưa ?

– Chưa !

– Phịa.

– Thật đấy. Lúc nhỏ thì không nói rồi. Lúc vào Đoàn thì sợ kỷ luật Đoàn, vào Đảng thì sợ kỷ luật Đảng…giờ thì…

– Ngộ nhỡ hai bên cùng đồng ý thì sao ?

– Sợ lắm. Mình còn chưa dám hôn cô nào nói chi…

– Giờ anh có muốn… Cô cười phá lên

Ăn xong, trong khi tôi ra suối tắm, Ba còn ngồi nấu một hăng gô nước rồi lấy trà từ trong gùi mình ra pha vào bình tông của tôi.

Khi tôi vừa từ suối bước lên, cô đã rối rít :

– Uống trà anh. Anh đừng cười em con gái mà cũng uống trà. Ba em làm công nhân Khu gang thép Thái Nguyên. Từ nhỏ em ở vùng trà nên uống trà quen rồi.

– Uống trà rất tốt, có sao đâu, sợ không có mà uống ấy chứ.

Chúng tôi cùng cười rồi ngồi bên nhau uống cho đến khi cạn bình tông. Cô lại múc nước nấu một hăng gô nữa chế vào bình tông rồi nói :

– Thôi lên võng nằm nói chuyện anh.

Trăng đã lên cao. Mặt trăng tròn và sáng rỡ. Dưới ánh trăng, cả núi rừng, những trảng tranh và dòng suối hửng lên một màu vàng rực rỡ :

– Hồi nhỏ, những đêm trăng thế này em và các bạn học hay ra ngọn đồi sau nhà chơi, có khi chơi tới khuya. Ba vừa đưa võng vừa nói với tôi .

– Về có bị ông già mắng không ?

– Không, ông cụ rất thương em. Em là con út mà.

– Nhà có mấy anh em ?

– Dạ có ba. Anh cả học ở Nga, anh hai học tàu thủy ở Ba Lan, chỉ còn em ở nhà. Mới tốt nghiệp trung cấp kiến trúc thì em xin vô đây. Vô đây, không có nghề xây dựng, các chú chuyển sang Ban Đấu tranh chính trị.

– Ông già cũng cho Ba đi Nam sao ?

– Thì cũng phải cho. Em nói nhà mình có 3 anh em, 2 anh đã học nước ngoài, còn em không đi thì nhà mình chẳng có gì đóng góp cho cách mạng miền Nam cả. Mà mình là người miền Nam nữa ! Thanh niên miền Bắc xung phong vào Nam chiến đấu ào ào chẳng lẽ mình không đi. Thế là ông già chịu. Hôm em đi bà già khóc như mưa. Còn ông già rót cho em chén trà, bảo:” Thôi con đi, bằng chị bằng em” rồi ông quay mặt đi. Thế rồi trên đường đi, em gặp anh ấy. Anh ấy mang giúp 2 ruột nghé gạo cho em, cột võng tăng cho em, có lúc còn cõng luôn ba lô cho em bởi em bị trặc chân. Anh ấy rủ em cùng vào tỉnh P với anh ấy. Em tính đi rồi, nhưng trên phân về đây. Thế còn ba má anh giờ ở đâu ?

– Ba má và các em mình đều ở miền Nam chiến đấu cả. Mình đi tập kết có một mình lúc lên 10 tuổi.

– Mọi người biết anh về Khu chưa ?

– Biết rồi. Mình có nhận được thư ba mình. Vậy mà 5 năm nay chưa về công tác ở tỉnh để kết hợp thăm gia đình được.

– Tội nghiệp. Anh xa gia đình lâu quá – Cô dừng một chút rồi nói – Thôi nghỉ đi anh.

Chúng tôi cùng im lặng. Mi mắt tôi đã cứng đờ. Qua một ngày đi đường, giờ đây tôi mới thấy mỏi nhừ từng đốt xương. Tôi thiu thiu ngủ chợt bỗng giật mình. Tôi nghe có hơi thở gấp gáp phả vào mặt tôi. Không mở mắt, tôi cũng biết đó là Ba. Toàn thân tôi rúng động như có luồng điện chạy qua. Nhưng tôi cố nằm im.

– Anh ấy ngủ rồi – Ba nói – rồi se sẽ bước về phía võng mình.

Một lúc sau, cô lại bước sang võng tôi. Lần này cô áp ngực lên ngực tôi và đưa tay vuốt tóc, vuốt đầu tôi. Cả người tôi tê dại, tôi có cảm giác thèm muốn ghê gớm. Tôi muốn vùng dậy ôm chặt cô rồi ra sao thì ra. Nhưng tôi lại sợ, và cái sợ lẩn quẩn lại bắt tôi cố nằm im.

Cô quay về võng. Tôi nghe cô đưa võng thật mạnh rồi cô thở dài. Một lúc sau, cô đứng dậy và bước ra suối. Bây giờ thì tôi thấy mình hết sức thèm muốn. Tôi lò mò dậy, len lén bước ra phía bờ suối. Tôi thấy Ba ở trần đang ngâm mình dưới suối. Cô kỳ cọ, kỳ cọ rất lâu rồi để trần bước lên ngồi trên tảng đá lớn giữa suối. Bây giờ thì cả thân thể trắng ngần với cặp vú cao của cô rõ mồn một. Nỗi thèm muốn như con nước mỗi lúc một dâng cao trong người tôi. Tôi muốn quên tất cả, cả chiến tranh, cả nỗi sợ để chạy xuống suối ôm cô vào lòng, riết thật chặt. Tôi nghe cô thở dài lần nữa rồi lại xuống suối ngâm mình. Tôi nuốt nước bọt rồi sè sẹ đi về võng mình. Tôi ngồi trên võng đưa thật nhanh thật lực và cố nghĩ đến những công việc sắp tới để hạ cơn thèm muốn xuống. Thế rồi, có lẽ do đầu óc quá căng thẳng, tôi ngủ thiếp đi.

Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng rõ. Ba đang ngồi bên bếp nấu cơm. Mặt cô hơi buồn và hốc hác.

– Anh dậy rồi à – Ba nói – dậy ăn cơm rồi đi. Chỉ một đoạn ngắn là tới thôi. Hôm qua ráng đi cũng tới nhưng…

Trong bữa ăn, cô ít nói hơn hôm qua mà lặng lẽ xới cơm, gắp thức ăn cho tôi.

– À anh, em đổi cái gùi của em cho anh rồi đấy. Ai lại mang gùi rách xuống huyện các cô cười cho đấy. Các cô ở Ban Tuyên huấn huyện xinh lắm. (Sau này, đến cơ quan huyện tôi mới phát hiện ra cô đã bỏ trong gùi cho tôi ống lương khô và bao gạo của cô).

– Cảm ơn Ba. Nhưng Ba ở dưới này đi công tác nhiều hơn, cần gùi chắc hơn.

– Không lo, em xuống tới huyện là các cô các chị cho gùi mới liền – Cô nhìn tôi – hồi hôm anh ngủ ngon chứ ?

– Ngon lắm, không biết trời đất gì. Ba ngủ ngon không ?

– Ngon lắm. Đang nói chuyện với anh thì mắt em díp lại ngủ luôn một giấc sáng bảnh mới dậy.

Tôi biết cô nói dối và tự tôi cũng nói dối. Nhưng thôi cái gì đã qua thì quên đi…

Chúng tôi lại tiếp tục đi. Hai tiếng sau, chúng tôi lại đến một con suối. Từ bên kia suối vọng sang tiếng chặt cây, tiếng đài bán dẫn, tiếng người. Ba dừng lại nói:

– Thôi anh đi về đường này – Cô chỉ một con đường nhỏ bên kia suối – Còn em cũng đến cơ quan ở gần đây. Anh đi khỏe nhé.

Chúng tôi chia tay nhau như hai người vừa mới gặp nhau trước đó một lúc chứ không phải đã từng đi với nhau 2 ngày qua. Chúng tôi không quay lại nhìn nhau, không vẫy tay lưu luyến. Tôi vừa đi vừa nghĩ lại chuyện đêm qua. Có phải vì tôi sợ kỷ luật mà không dám đến với Ba, hay tôi muốn giữ Ba cho người đồng hương của tôi ? Hay vì điều gì nữa …

Từ đó tôi không bao giờ còn gặp Ba nữa. Không biết bây giờ Ba còn sống hay đã mất. Nếu còn sống thì Ba lấy người đồng hương của tôi hay người khác ? Ba có được sung sướng hay bất hạnh ? Ba ơi, anh mãi mãi cầu mong cho em hạnh phúc.

                     Đêm 14-6-1997

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ANH BỐN CỔN LẤY VỢ

 

Câu chuyện anh Bốn Cổn lấy vợ có lẽ là câu chuyện hấp dẫn nhất ở cơ quan chúng tôi. Không những thế, tôi tin nó còn là câu chuyện hấp dẫn nhất ở thành phố này, tỉnh này, thậm chí cả ở nước Việt Nam này nữa.

Đã 50 tuổi nhưng anh Bốn Cổn vẫn chưa lấy được vợ. Có phải vì anh xấu trai không? Thì đấy, anh là một người đàn ông khoẻ mạnh, dáng cân đối, người dong dỏng cao, đôi mắt sáng tinh nhanh. Có phải vì anh kém thông minh không? Xin nói gọn thế này thì bạn biết: anh là kỹ sư, Quản đốc phân xưởng thuộc Công ty chúng tôi. Quản lý một lũ kỹ sư nghịch như quỷ con chúng tôi không phải là dễ đâu, ấy mà chúng tôi đều phục tùng anh. Hay là anh ấy ăn nói thô lỗ ? Điều đó thì tôi xin thưa rằng: trái lại anh vốn là người hóm hỉnh, ăn nói tế nhị, điềm đạm lắm. Bạn sẽ mỉm cười bảo: hay là…hay là? Cái đó thì chúng tôi, các bạn trai của anh giải thích hộ cho anh ngay: chẳng phải thế đâu. Bây giờ thì ta có thể đoán rằng, do anh tham gia cách mạng sớm, sau đó học hành, công tác nên lỡ lứa rồi ì luôn chăng? Mà nếu vậy thì làm sao giải thích có những vị tuổi cao hơn anh mà lấy tới hai, ba đời vợ? Thế thì vì cái chi vậy, tôi cũng xin chịu luôn.

Công ty tôi có khối cô đẹp ra đấy, nếu cử đi thi hoa hậu thì tôi tin hàng chục cô trúng phốc ngay danh hiệu ấy. Vậy mà anh không ngó ngàng đến ai. Nếu trêu chọc anh với ai đó thì anh cứ “hừ, hứ, đó là lũ con nít. Mà bụt chùa nhà không thiêng đâu”.

Đã thế thì tìm người ngoài vậy. Chúng tôi một lũ trẻ hơn anh, yêu mến anh nên ai cũng lo cho anh. Đi đến cơ quan nào công tác cũng mắt la mày lét, không phải tìm bồ cho mình, mà cho anh Bốn. Người đầu tiên mà chúng tôi chọn cho anh là cô Duyên. Đó là một cô gái khoảng 35 tuổi, tròn lẳn, làm kế toán ở một Sở nọ (xin cho được giấu tên). Chúng tôi tổ chức một cuộc bia và rủ anh chị đến. Giữa chừng, chúng tôi kéo nhau đi và để lại hai người. Ngồi lại ở một cái quán gần đó, chúng tôi “rình” hai người. Một lúc sau, chị chàng ra trước rồi anh chàng lủi thủi ra sau. Chúng tôi kéo ùa ra vây quanh anh:

– Ưng ý chớ anh Bốn?

– Cắn câu chớ anh Bốn?

Anh nói lì xì:

– Tớ nói không được là không được.

– Vì lẽ gì chớ? Cô ta con nhà tử tế, cũng được gái, công tác tốt lắm mà.

– Cô ấy là kế toán hả?

– Ừ, kế toán thì sao?

– Kế toán chớ sao – anh nói gọn lỏn – không được.

Bẵng đi một thời gian, chúng tôi “gài thế” mời một cô làm công tác thư viện đến nhà tập thể chúng tôi. Cô ta tên là Xuyến, khoảng 32 tuổi, có dáng dong dỏng cao, ăn nói lịch sự. Hẳn là hợp với anh lắm. Chúng tôi vồn vã pha nước cho anh chị rồi lặng lẽ bỏ đi. Đêm ấy, chúng tôi hỏi anh:

– Đám này được chớ?

– Không được.

– Sao lại thế? Cô ta nhanh nhẹn, có học thức, con nhà tử tế mà.

– Mà cô ta làm thư viện phải không? Anh hỏi chúng tôi.

– Đúng rồi, có khối sách cho anh đọc.

Anh ta nói như kẻ chán đời:

– Quả là làm thư viện. Không được đâu các cậu ơi.

“ Thế thì cứ để cho ông ta chết già”, chúng tôi nghĩ vậy và suốt cả năm liền không nhăm nhe làm mối đám nào cho anh nữa.

Một hôm, có một chị khoảng gần bốn mươi tuổi, không đẹp nhưng trông có duyên, công tác ở Hội Phụ nữ đến xưởng chúng tôi xin tiền để làm lễ 8-3. Xin nói thêm rằng: xưởng chúng tôi là cơ sở kinh tế, cũng ăn nên làm ra nên nhiều cơ quan đến xin tiền, xin quà: Thiếu niên nè, Công đoàn, Hội Văn nghệ nè…

Mấy anh em chúng tôi ngồi tiếp chị bên bàn trà. Tất nhiên là phải cho tiền rồi, họ là phụ nữ mà. Nhưng chúng tôi còn nói đùa thêm rằng: muốn có tiền, chị phải làm mối cho anh Bốn, thủ trưởng chúng tôi một cô thật “ngon”. Chị ta cười nói:

– Các anh cứ cho đi. Còn anh Bốn tôi sẽ làm mối cho, cơ quan tôi có khối cô.

Tưởng chị ta nói thế để xong việc là quên ngay. Nhưng một tuần sau chị ta gọi điện đến:

– Có mối rồi. Mời anh Bốn đến chỗ tôi: Phòng số 26, tầng 2, nhà Y.

Anh Bốn Cổn không chịu đi. Anh đã chán cái trò làm mối này lắm rồi. Nhưng chúng tôi thúc mãi anh cũng ừ ừ è è. Để “trấn áp” anh và đề phòng anh bỏ cuộc, tôi mượn honda hộ tống anh tới tận cổng. Anh vô rồi, tôi vẫn nhìn theo cho chắc ăn rồi mới quay về.

– Thế nào?-Sáng hôm sau chúng tôi hỏi – Đám này được không, anh Bốn?

Anh ta chỉ ừ è:

– Chưa tới đâu.

– Bây giờ ra sao rồi?

– Chưa…chưa…

Một tháng sau, anh ta tuyên bố sẽ cưới vợ. Chúng tôi vui mừng lắm, tụm nhau bàn việc tổ chức cho anh. Bất chợt, anh Hồng, một kỹ sư đã có vợ hỏi:

– Nhưng mà anh cưới ai, sao lại không “trình diện” anh em?

Anh Bốn lúng túng:

– Thôi mà…thôi mà.

– Hay anh đùa bọn này?-Chúng tôi đề phòng.

– Có mà…có mà. Hôm cưới sẽ hay.

Chúng tôi nhao nhao:

– Nói đi anh Bốn.

– Chuyện xảy ra ra sao anh Bốn?

Bị thúc ép, anh ta đỏ mặt quay về phía tôi mỉm cười:

– Cậu Quyên nhớ chớ? Hôm ấy cậu chở tôi đến nhà Y.

– Nhớ rồi. Nhớ rồi. Nhưng chuyện gì sau đấy chớ? Anh gặp vợ tương lai ra sao?

– Rài rài (1) đã – Anh Bốn nói giọng thủng thỉnh-mình vô nhà, mình gõ cửa…

– Ờ, thì vô nhà phải gõ cửa chớ. Nói nhanh đi anh Bốn.

– Chị cán bộ phụ nữ hôm nọ mở cửa ra, mời mình ngồi, rót nước cho mình uống và mỉm cười nhìn sang cửa phòng bên cạnh…

– Từ đó chị Bốn tương lai sẽ hiện ra hả?

– Chị ấy son phấn choáng lộn lắm hả?

Anh Bốn vẫn nói giọng rề rề:

– Mình ngồi vừa uống nước vừa ngó theo hướng chị ta nhìn, tim giật thon thót. Có gì đâu. Một mặt mình muốn thấy cô ấy hiện ra, một mặt mình cứ sợ gặp cô ấy. Mình cứ nhấp nhổm không yên.

– Thì sao nữa anh Bốn?

– Thế là nàng xuất hiện nè, áo dài màu hồng nè, miệng cười lỏn lẻn nè, phải không anh Bốn?

Anh Bốn xua tay:

– Không phải vậy. Thấy mình nhấp nhổm, chị ấy phá lên cười nói: “Không có ai đâu”.

Tất cả chúng tôi như vỡ cả tim, đồng loạt hét lên:

– Trời, nói dối, nói dối trơ trẽn.

– Lừa người ta. Trời ơi.

Tôi nhanh nhảu:

– Thế rồi anh tức quá, anh bỏ về, đi lang thang như trong tiểu thuyết và gặp chị bây giờ phải không?

– Ờ…ờ..Anh Bốn nói lấp lửng.

Cả bọn lại nhao nhao:

– Câu chuyện ra sao anh Bốn?

– Hấp dẫn quá ta.

– Như là tiểu thuyết ấy.

Anh Bốn vuốt tóc, ngồi nghiêm chỉnh, có lẽ chuẩn bị kể lại “thiên tình sử” kỳ lạ của mình. Anh nói:

– Có gì đâu. Chị ta cười lần nữa rồi nhìn thẳng vào mặt mình nói…

– Bả nói đùa cho vui, bả xin lỗi phải không anh Bốn?-Tôi hỏi.

– Cái cậu này cứ lanh chanh-Anh Bốn giả bộ nghiêm mặt-bả nói rằng: “Cái anh này lạ quá. Làm mối cái gì nữa. Anh vốn là giải phóng quân, tôi vốn là quân giải phóng. Anh chưa vợ, tôi chưa chồng. Anh không xấu, mà xem tôi có xấu đâu. Anh ăn tập thể. Vậy thì chuyện gì không để tôi nấu cơm cho anh ăn, vá áo cho anh mặc mà phải đi làm mối cho người khác…”

Bọn chúng tôi cười rộ lên, thú vị đến bất ngờ. Còn anh Bốn thì đỏ mặt lên, giọng anh lắp bắp như một kẻ cà lăm:

  • Cái bà…cái bà…Nói cứ như thật ấy.

 

 

VỢ CHỒNG NGƯỜI LÍNH

                                                                                      

Ở các đơn vị bộ đội làm kinh tế trên Tây Nguyên, ta thường thấy bên cạnh những dãy lán tập thể dài, đơn sơ, bao giờ cũng có những ngôi nhà nhỏ, xinh xắn gọi là “nhà hạnh phúc” do chiến sĩ ta tranh thủ giờ rảnh dựng lên cho những cặp vợ chồng họ nhà lính.

Khách xa đến đội 4, đội của trung đoàn chăn nuôi bò cũng gặp kiểu nhà “hạnh phúc” như thế. Đó là nhà của chị Lan và anh Khang. Ngôi nhà tranh nhỏ nhắn vuông vức, vách lát nứa vừa kín đáo lại vừa chống được lạnh. Trong nhà, lính ta đóng cho đôi vợ chồng một chiếc giường đôi, một bộ bàn ghế, một chiếc tủ đứng bằng gỗ tạp xin từ các trung đoàn khai hoang về. Trên nóc tủ, anh Khang có đặt một khuôn ảnh lồng kính mang từ quê vào. Khuôn này rộng, đủ dán hàng chục chiếc ảnh cho cả gia đình từ cha mẹ, vợ chồng đến con cái. Nhưng trong khung ảnh chỉ có ảnh Khang và Lan. Họ có vẻ còn ngượng ngùng nên hai chiếc ảnh để cách nhau hàng gang tay. Anh là cán bộ ở Phòng Kỹ thuật, chuyên lo việc xây dựng các đập nước. Chị là Đội phó đội 4. Mang tiếng ở cùng một sư đoàn nhưng họ ít gặp nhau. Thành thử nhà họ còn vắng vẻ, không có chiếc sào phơi tã lót trước sân, không có tiếng trẻ khóc oe oe, và cũng chẳng thấy một cô bé hoặc chú bé mắt ngộ nghĩnh như mắt chim vụt biến vụt hiện.

*

*     *

Chiều nay, Khang cưỡi một chiếc xe hon-đa đen bám đầy bụi hồng phóng một mạch từ đơn vị, theo đường 21, về thăm nhà. Tới đỉnh dốc Ta-ki, anh dừng xe lại. Dưới chân dốc, đội 4 hiện lên giữa thung lũng Krông-Ding, trải dài từ rặng Chư Pao cao vòi vọi ở phía Nam đến sông Krông Năng xa trông như một sợi dây mỏng mảnh ở phía bắc. Sau những dãy lán dài của đơn vị là ngôi nhà nhỏ của vợ chồng anh. Khang cho xe lao nhanh. Khi gặp cầu số 3, chiếc cầu bắc qua con suối lớn bắt nguồn từ ngọn Chư Pa đổ ra sông, chợt thấy mấy con bò đang gặm cỏ, anh đi chậm lại, hú gọi thử có Lan ở đấy không rồi lắc đầu, mỉm cười đưa mắt ngắm đồng cỏ giữa nắng chiều.  Đến lối rẽ vào đơn vị, nghe tiếng các cậu lính trẻ đang chơi ở sân bóng chuyền reo lên, anh vui vẻ rù máy thật to phóng qua khu doanh trại, bay luôn về phía nhà mình ở đằng sau. Cửa nhà vẫn khép hờ, chắc là Lan đang chăn bò đâu đây sắp về. Anh tắt máy hon-đa nhảy ra sân trước bắt tay anh em rồi rút bao thuốc Đrao ra mời. Khuôn mặt anh rám nắng, đôi môi lúc nào cũng như đang cười. Khang ham hoạt động lại hay nói vui tếu nên nhiều người ưa gần anh nói chuyện.

Chị nuôi đánh kẻng báo giờ ăn, anh xuống bếp lấy hai suất cơm, lững thững về nhà. Lan vẫn chưa về. Anh ngó ra chuồng bò, bứt rứt. Anh mở xắc lấy quyển “Một số bệnh của gia súc và cách trị” mang về cho Lan ra đọc để chờ Lan. Rồi anh lại đặt sách lên bàn, chạy ra hè đứng nhìn.

Đã sáu giờ chiều. Mặt trời lặn để lại những ráng đỏ trên ngọn Chư Pa. Đàn bò lũ lượt vào chuồng. Khang vẫn không thấy bóng Lan đâu. Anh quay về nhà, hý hoáy lục soạn cái tủ, rồi khuôn ảnh cho đỡ sốt ruột.

Lan bước vào. Chị mặc bộ quân phục đã cũ, mặt đỏ lựng. Hình như cái nắng mùa khô ở đây đã trút cả lên da mặt chị. Dáng mảnh khảnh dễ chừng chị cao hơn anh một cái đầu. Mắt chị trũng sâu, môi hơi thâm sau những đêm mất ngủ và những cơn sốt rét. Anh giả vờ lặng lẽ làm việc. Biết chị vừa cất nón xong, anh ngẩng lên hỏi như mới nhác trông thấy chị:

– Làm gì mà giờ mới về.

– Khổ quá, con bò khoang trắng lại say nắng. Trưa nay, nó kiệt sức nước mắt nước mũi trào ra, bốn chân nó dạng háng, đầu cúi xuống trông đến thương. Em đang chăn bò phải giao lại cho cậu Thắng, đưa nó vào chỗ mát, múc nước giội, giờ nó mới đỡ.

Chị với chiếc khăn treo trên sợi dây căng màn bước ra vò nước sau hè để rửa mặt. Quay vào nhà, chị ngồi xuống chiếc ghế trước mặt anh và hỏi:

– Đập Ê-a-ka xong rồi chứ anh?

– Xong rồi, chuyển sang làm tiếp Ê-a-Đui. Được nghỉ một bữa mượn hon-đa của thằng Tuấn về chút, mai lại đi.

– Mai lại đi? Chị lặp lại, mắt tròn xoe nhìn anh.

– Ờ, bận lắm, hết đập này đến đập khác, làm liên tục chứ lỵ.

– Thế thì về làm gì cho khổ.

Anh hơi bực.

– Chứ cô không muốn tôi về sao?

– Không muốn. Chị cười.

– Thế mà cứ bảo em thích có chú nhóc để bồng. Người ta không về lại kiến nghị lên Sư đoàn bảo là không quan tâm phụ nữ đấy.

Chị cầm cái khăn còn ướt quất quất:

– Cái anh này cứ làm như trẻ con ý.

– Chứ đâu có con mà làm người lớn.

Chị cười. Mắt chị bỗng nhìn lên khuôn ảnh. Chị ngạc nhiên quá. Anh đã cắt hình trái tim lồng ảnh hai người vào đó hồi nào.

– Cái ông này làm gì kỳ lạ thế này.

Anh xoa xoa bộ râu lâu ngày không cạo, nhìn chị cười. Đã ba tháng nay hai vợ chồng mới gặp nhau. Nhưng lần nào cũng như lần nào, hễ gặp nhau là họ lại “trẻ con” với nhau. Chị chợt nhớ ra điều gì liền đứng dậy, tay với chiếc đèn lồng đặt ở góc bàn nói:

– Ồ, em quên mất. Em định vào lấy viên thuốc an thần cho con bò khoang trắng, gặp anh mải chuyện, giờ em phải đi đây. Anh ăn cơm trước đi nhé.

– Thì ăn đã. Cứ tất ba tất bật.

Chị chạy vọt ra ngoài. Anh đứng nhìn theo hơi bực mình. Nhưng rồi, anh lại mỉm cười.

Vốn ở cùng làng, hai người đã có cảm tình với nhau từ lâu. Hồi Khang còn ôm cặp đến trường Đại học Thủy lợi, Lan đã là tổ viên tổ chăn nuôi hợp tác xã. Năm 1966, học xong, Khang với chiếc mũ tai bèo trên đầu về thăm quê để vào Tây Nguyên, gặp Lan, Tổ trưởng tổ Chăn nuôi đang chỉ vẽ cho chị em cách chăm sóc lợn đẻ. Xa nhau, chẳng ai nhận được thư ai. Nhưng Lan vẫn biết về Khang, ấy là vì, chị hay đến thăm bà cụ Khang, gánh nước thổi cơm hộ cụ. Năm 1975, Khang về phép. Bấy giờ, Khang đã 35 tuổi, còn Lan 28. Người làng gặp hai người vừa băm bèo vừa cười nói bên trại chăn nuôi. Ít lâu sau bạn bè rủ nhau mua hoa đến tặng họ.

Cưới xong, Lan xin nhập ngũ vào Tây Nguyên xây dựng kinh tế để gần chồng. Chẳng ngờ, vào đây mỗi người một nơi, thỉnh thoảng mới gặp nhau. Lần trước Khang vừa bén gót đến sân nhà đã thấy Lan vội vã khép cửa cầm nón bước ra. Đụng đầu nhau, Lan cười cười, xin phép Khang rồi nhảy vọt lên chiếc xe đang nổ máy đậu ở góc sân để đến đoàn 754 lấy mật mía về cho bò uống. Hôm sau tới đứng bóng Lan vẫn chưa về. Lần này rồi cũng vậy cho coi. Khang thở dài, nhìn theo dáng Lan đang tất bật đi về phía chuồng bò.

Khu chuồng ở giữa đồng cỏ, nằm về phía bắc doanh trại 300 mét, lợp tôn, sạch sẽ. Chuồng xây xa nhà thì hợp vệ sinh, nhưng cũng có cái bất tiện. Bữa trước, Lan viết thư buồn bã báo cho Khang là một hôm, chị vừa đổi trực sang cậu Mực, cậu này ngủ gật để hổ xông vào bắt mất một con bò mập ú. Một lần, bọn Phunrô lẻn đ̓