Tài nguyên, trữ lượng dầu khí của thềm lục địa Việt Nam

Tài nguyên, trữ lượng dầu khí của thềm lục địa Việt Nam

Tài nguyên, trữ lượng dầu khí của thềm lục địa Việt Nam

Tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn năng lượng, nguyên liệu, thị trường có trên trái đất và trong không gian mà con người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình.

Tài nguyên thiên nhiên được chia thành 2 loại: tài nguyên tái tạo được (tài nguyên phục hồi) và tài nguyên không tái tạo (tài nguyên không phục hồi). Dầu khí thuộc tài nguyên không tái tạo.

Tài nguyên năng lượng là nguồn lực cơ bản có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á, có nguồn tài nguyên nhiên liệu-năng lượng đa dạng đầy đủ các chủng loại như dầu khí, than đá, thủy điện và các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, năng lượng địa nhiệt, năng lượng biển….Trong bài này đề cập chủ yếu về tài nguyên, trữ lượng dầu khí của thềm lục địa Việt Nam.

Các nước có hoạt động tìm kiếm, khai thác dầu khí đều có quy định riêng về hệ thống quản lý tài nguyên, trữ lượng dầu khí của mình như Mỹ, Liên bang Nga (Liên Xô), Nauy, Ucraina, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippin v.v. Cho đến những năm gần đây, trên thế giới tồn tại 2 hệ thống quản lý tài nguyên và trữ lượng dầu khí chính là hệ thống của các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa do Liên Xô trước đây soạn thảo và “Hệ thống Quản lý tài nguyên,trữ lượng dầu khí” (Petroleum Resources Management System) viết tắt PRMS do Hiệp hội Kỹ sư Dầu khí (SPE), Hội đồng Dầu khí Thế giới (WPC), Hội Địa chất Đầu khí Mỹ (AAPG) và Hiệp hội Kỹ sư tính Trữ lượng Dầu khí (SPEE) phối hợp soạn thảo và phê chuẩn. Tuy nhiên cho đến nay hầu hết các nước trên thế giới trừ Liên bang Nga, đã chuyển sang sử dụng PRMS của SPE/WPC/AAPG/SPEE.

Ở Việt Nam, năm 1998 Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã ban hành “Quy chế phân cấp và quản lý tài nguyên dầu khí” và năm 2005 Bộ Công nghiệp ban hành quyết định số 38/2005/QĐ-BCN “Quy định phân cấp tài nguyên, trữ lượng dầu khí và lập báo cáo trữ lượng dầu khí” để quản lý tài nguyên, trữ lượng dầu khí. Còn trước đó Việt Nam áp dụng theo hệ thống quản lý của Liên Xô cũ.

Vậy thế nào là tài nguyên dầu khí?

Tổng tài nguyên dầu khí là toàn bộ dầu khí tồn tại tự nhiên nằm trong vỏ trái đất hay còn gọi là toàn bộ dầu khí tại chỗ ban đầu, tính được ở thời điểm nhất định (tiếng Anh – Total Petroleum Initually in – place –PIIP hay HIIP).

Tổng tài nguyên dầu khí được phân ra tài nguyên đã được phát hiện và tài nguyên chưa phát hiện.

Tài nguyên dầu khí đã phát hiện là lượng dầu khí tại chỗ tính được ở thời điểm nhất định trong một cấu tạo cụ thể, mà sự có mặt của dầu khí đã được phát hiện bằng giếng khoan. Tài nguyên dầu khí đã phát hiện được gọi là trữ lượng dầu khí tại chỗ.

Trữ lượng dầu khí tại chỗ theo mức độ nghiên cứu địa chất và khả năng đưa thân dầu, khí hoặc mỏ vào phát triển được chia thành tổng lượng dầu khí đã khai thác(nếu có), trữ lượng có thể phát triển và trữ lượng chưa thể phát triển.

Tổng lượng dầu khí đã khai thác là sản lượng dầu khí cộng dồn đã khai thác được từ thân hoặc mỏ dầu khí tới thời điểm tính trữ lượng dầu khí.

Trữ lượng dầu khí tại chỗ có thể phát triển là trữ lượng dầu khí của các tích tụ dầu khí đã được phát hiện, có thể làm cơ sở để thiết kế khai thác thương mại bằng công nghệ, kỹ thuật phù hợp với các điều kiện kinh tế và pháp luật hiện hành vào thời điểm tính trữ lượng dầu khí.

Trữ lượng dầu khí tại chỗ có thể phát triển mà theo mức độ tin cậy được phân thành trữ lượng dầu khí tại chỗ cấp xác minh và trữ lượng dầu khí tại chỗ cấp chưa xác minh.

Trữ lượng dầu khí tại chỗ cấp xác minh (P1) là trữ lượng dầu khí của các thân chứa dầu khí mà trong quá trình thử vỉa đã thu được dòng dầu khí có giá trị thương mại trong các điều kiện kinh tế- kỹ thuật hiện tại.

Trữ lượng dầu khí tại chỗ cấp chưa xác minh được phân thành trữ lượng dầu khí tại chỗ cấp có khả năng (P2) và trữ lượng dầu khí tại chỗ cấp có thể (P3).

Trữ lượng dầu khí tại chỗ chưa thể phát triển là trữ lượng dầu khí của các tích tụ dầu khí đã được phát hiện, nhưng chưa thể đưa vào khai thác thương mại vào thời điểm tính trữ lượng dầu khí vì các lý do kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, môi trường và các chỉ tiêu khác. Trữ lượng dầu khí tại chỗ chưa thể phát triển được phân thành các cấp xác minh (P4), có khả năng (P5) và có thể (P6).

Tài nguyên dầu khí chưa phát hiện là lượng dầu khí tại chỗ ước tính được ở thời điểm nhất định, hoặc được dự báo khả năng tồn tại trong các tích tụ và có thể được phát hiện bằng các giếng khoan tìm kiếm, thăm dò trong tương lai.

Phụ thuộc vào mức độ nghiên cứu địa chất, tài nguyên dầu khí chưa phát hiện được phân chia thành tài nguyên dầu khí triển vọng (R1), tài nguyên dầu khí tiềm năng (R2) và tài nguyên dầu khí dự báo (R3).

Trữ lượng dầu khí thu hồi là tổng của lượng dầu khí dự kiến sẽ thu hồi từ trữ lượng dầu khí tại chỗ có thể phát triển trong một giới hạn thời gian nhất định, bằng công nghệ, kỹ thuật được lựa chọn phù hợp với các điều kiện kinh tế, pháp luật hiện hành vào thời điểm tính trữ lượng dầu khí và tổng lượng dầu khí đã khai thác được (nếu có).

Như vậy việc phân cấp tài nguyên, trữ lượng dầu khí ra các cấp khác nhau phụ thuộc vào mức độ công tác khảo sát địa chất, tìm kiếm, thăm dòcũng như các điều kiện kinh tế, kỹ thuật  và pháp luật hiện hành vào thời điểm tính trữ lượng dầu khí.

Biển Đông và thềm lục địa được hiểu như thế nào?

Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ 3o đến 26o vĩ bắc và từ 100o đến 121o kinh đông. Ngoài Việt Nam, còn có tám nước khác tiếp giáp với biển Đông là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia. Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan…

Tiềm năng dầu khí Biển Đông được đánh giá rất khác nhau.Theo một khảo sát tiến hành năm 1966 của Ủy ban Kinh tế của Liên Hiệp Quốc về châu Á và Viễn Đông, Biển Đông được coi là một trong những khu vực có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới, với khoảng 3 – 7 tỷ tấn dầu. Các công ty dầu khí và giới chuyên gia Trung Quốc còn lạc quan hơn nữa vào tiềm năng dầu khí ở Biển Đông khi đưa ra các con số ước tính khổng lồ, từ 17 đến 50 tỷ tấn dầu. Tuy nhiên, theo nhiều ước đoán từ phía Mỹ, thì trữ lượng dầu Biển Đông chỉ ở mức khoảng 1,5 tỷ tấn.Có chuyên gia Trung Quốc cho rằng trữ lượng dầu mỏ ở Biển Đông ước tính khoảng 213 tỷ thùng và 2.000 Tcf khí thiên nhiên (Tạp chí xanh số 15 ngày 01/12/2013), cho rằng vùng biển này là “Vịnh Ba Tư thứ hai” (Thời báo “Hoàn cầu” của Trung Quốc ngày 19/4/2000); có từ 28 tỷ thùng tới 213 tỷ thùng (Theo báo Jakarta Post, 22/6/2012); ước tính có khoàng 125 tỷ thùng dầu và 500 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên nằm trong khu vực biển Đông chưa được phát hiện (tháng 11/2012, theo CNOOC); lên tới 11 tỉ thùng dầu và 5.380 tỉ m3 khí đốt và có thể còn nhiều hơn nguồn tài nguyên của cả châu Âu gộp lại (thông tin Năng lượng Mỹ – EIA); trữ lượng dầu thô đạt 7 tỷ thùng và khí đốt đạt 25 nghìn tỷ m3 (theo Robert D Kaplan). Thậm chí chỉ có khoảng 2,5 tỷ thùng quy dầu (chuyên gia tư vấn năng lượng Wood Mackenzie). EIA dự báo dự trữ khí đốt sẽ có nhiều tiềm năng hơn so với dự trữ dầu mỏ ở Biển Đông.

Thềm lục địa: Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, toàn bộ đại dương trên thế giới được chia thành 2 bộ phận. Bộ phận thứ nhất là các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước ven biển (phần cột nước chia thành nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế. Còn phần dưới cột nước gọi là thềm lục địa). Bộ phận thứ 2 là các vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế (Hình 1).

Sơ đồ vùng biển và thềm lục địa

Hình 1: Sơ đồ vùng biển và thềm lục địa (Nguồn: Internet)

Điều 76 khoản 5, 6, 7, 8 của Công ước Luật Biển 1982 quy định: Thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng tối thiểu 200 hải lý (kể cả khi thực tế thềm lục địa nhỏ hơn 200 hải lý). Trong trường hợp khi rìa ngoài của thềm lục địa của một quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình tới một khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý…

Đối với các đảo xa bờ của quốc gia ven biển nếu thích hợp cho con người sinh sống và có đời sống kinh tế riêng thì mới có vùng Thềm lục địa riêng của các đảo đó.

Điều 17 Luật biển Việt Nam quy định “Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa” (Hình 2).

Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét (m).

Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam, bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư ở thềm lục địa Việt Nam.

Đồ họa các vùng biển của Việt Nam

Hình 2 – Đồ họa các vùng biển của Việt Nam (Nguồn: Internet)

Tài nguyên và trữ lượng dầu khí thềm lục địa Việt Nam.

Việc đánh giá tài nguyên và trữ lượng dầu khí thềm lục địa Việt Nam được các tổ chức Quốc tế và Việt Nam đánh giá vào thời điểm khác nhau và rất khác nhau, đặc biệt là vùng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Trước năm 1975 tiềm năng tài nguyên dầu khí thềm lục địa Nam Việt Nam được dự báo theo chủ quan của người đánh giá với nhiều mục đích khác nhau. Có người dự báo thềm lục địa Nam Việt Nam có tiềm năng dầu khí rất lớn, đến mức nếu lấy trữ lượng dầu khí của Trung Đông so với dầu khí của thềm lục địa Nam Việt Nam thì chẳng khác gì như con tem dán trên lưng con voi. Có người lại dự báo rằng thềm lục địa Nam Việt Nam không có tiềm năng dầu khí. Sau ngày Miền Nam giải phóng cũng đã có một số dự báo nhưng không phải cho toàn thềm lục địa mà chỉ cho một số bể trầm tích nhất định như bể Cửu Long, bể Nam Côn Sơn. Chỉ sau khi có một khối lượng khảo sát địa chất, địa vật lý nhất định thì con số dự báo có độ tin cậy cao hơn, không những dự báo tiềm năng tài nguyên mà còn ở cấp cao hơn là trữ lượng dầu khí. Mặc dầu vậy, theo các tác giả và các nguồn thông tin khác nhau thì con số đánh giá cũng rất khác nhau. Chẳng hạn vào năm 2005 trong công trình “Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam”do Tổng công ty Dầu khí Việt Nam biên soạn, thì
tổng trữ lượng dầu khí có khả năng thu hồi vào khoảng 4.300 triệu tấn quy dầu. Vào năm 2008 có đánh giá cho rằng tổng trữ lượng dầu khí có thể đưa vào khai thác khoảng 3,8-4,2 tỷ tấn quy dầu. Vào năm 2010 lại có đánh giá tổng tiềm năng dầu, khí khoảng hơn 9 tỷ m3 quy dầu. Vào năm 2012, theo đánh giá của Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ (EIA) thì trữ lượng xác minh là 4,4 tỷ thùng dầu và 24,7 nghìn tỷ feet khối (TCF) (Tạp chí Petromin, Nguồn: OGJ 06/01/2014, pg62); vào năm 2013 có ý kiến đánh gia tổng trữ lượng thu hồi dự kiến đã phát hiện của Việt Nam là 1.4tỷ m3 quy dầu và tổng tiềm năng dầu khí có khả năng thu hồichưa phát hiện khoảng 2,0-3,0 tỷ m3 quy dầu.

Cho đến nay đã xác định được trong phạm vi thềm lục địa Việt Nam hiện diện 8 bể trầm tích Đệ tam là bể Sông Hồng, Hoàng Sa, Phú Khánh, Cửu Long,  Nam Côn Sơn, Tư Chính- Vũng Mây, Trường Sa và  Mã lai -Thổ Chu.

Theo số liệu được công bố trong công trình “Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam” thì trữ lượng và tiềm năng dầu khí bể Sông Hồng có thể đạt 1,1 tỷ m3 quy dầu; tiềm năng tài nguyên thu hồi bể Phú Khánh có khoảng 400 triệu m3 quy dầu; trữ lượng tiềm năng có thể thu hồi bể Cửu Long có khoảng2,6 – 3,0 tỷ m3 quy dầu; tài nguyên có thể thu hồi bể Nam Côn Sơn có khoảng 900 triệu m3 quy dầu; tiềm năng tài nguyên dầu khí bể Mã Lai  – Thổ Chu có khoảng350 triệu tấn quy dầu; tiềm năng tài nguyên bể Tư Chính – Vũng Mây có khoảng 800 – 900 triệu  tấn quy dầu. Tuy nhiên, công ty CONOCO năm 2000 đánh giá chỉ 3 cấu tạo triển vọng nhất của các lô 133, 134 thuộc phạm vi bể Tư Chính – Vũng Mây đã cho con số tiềm năng từ 600 đến 1.600 triệu tấn nếu là dầu hoặc từ 10 TCF (286 tỷ m3) đến 30 TCF (857 tỷ m3) nếu là  khí.

Riêng đối với các bể Hoàng Sa và Trường Sa thì ngay cả EIA cũng thừa nhận rằng việc đưa ra một ước tính chính xác về tiềm năng dầu khí khu vực này là rất khó vì ở đây hiện chưa được thực hiện thăm dò đầy đủ, có rất ít thông tin và vì tình trạng tranh chấp lãnh thổ kéo dài. Cũng vì vậy “các con số đều chỉ mang tính phác họa”.

Các đánh giá lạc quan thì cho rằng nguồn tài nguyên tiềm năng của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể đạt tới 225 tỷ thùng dầu quy đổi, có thể trở thành một Vịnh Ba Tư thứ hai, còn đánh giá khiêm tốn cũng tới 105 tỷ thùng dầu (Theo Dầu khí xanh số 15 ngày 01/12/2013). Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết tiềm năng dầu khí ở vùng quần đảo Trường Sa của Việt Nam có trữ lượng đến khoảng 5,4 tỉ thùng dầu. Còn theo số liệu khảo sát của ngành địa chất Hoa Kỳ ước tính có khoảng 2,5 tỷ thùng dầu và 25,5 nghìn tỷ m3 khí đốt tự nhiên chưa được khám phá (Báo người lao động 13/02/2013). Theo dựu báo của Việt Nam thì Tổng tiến năng cho khu vực  Trường Sa giao động trong khoảng 3,3 – 6,6 tỷ tấn quy dầu, còn khu vực quần đảo Hoàng Sa tiềm năng khí tại chỗ dự báo khoảng 12 TCF (340 tỷ m3). Một phân tích vào năm 2010 của Cơ quan Khảo sát Địa chấn Mỹ đưa ra ước tính có khoảng 0,8-5,4 tỷ thùng dầu và khoảng 7,6-55,1 nghìn tỉ feet khối khí tự nhiên nằm trong lượng tài nguyên chưa được phát hiện. Theo đánh giá của ông James Hubbard (phụ trách bộ phận thăm dò dầu khí ở Châu Á của Ngân hàng đầu tư Macquarie, Hong Kong) không loại trừ khu vực này có một trữ lượng lớn khí đốt, bởi vì tại một số khu vực lân cận, kết quả thăm dò khá khả quan.

Các đánh giá bi quan thì theo một báo cáo năm 2013 của Cơ quan Thông tin Năng lượng (EIA) của Mỹ, các dữ liệu địa chất cho thấy khu vực xung quanh quần đảo Hoàng Sa không có nhiều khí đốt, khôngcó dấu hiệu nào của các mỏ dầu khí lớn truyền thống cho thấy khu vực này cũng không có tiềm năng đáng kể; gần như không có trữ lượng dầu mỏ xác định hoặc tiềm năng và có nguồn tin cho rằng khu vực này chỉ có khoảng gần 100 tỷ feet khối khí tự nhiên.

Mới đây, ngày 14 tháng 11 năm 2014, Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước đã xem xét và phê duyệt dự án “Đánh giá tiềm năng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam” do Viện Dầu khí Việt Nam (thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) chủ trì thực hiện.Theo đánh giá của Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước thì dự án “Đánh giá tiềm năng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam” lần đầu tiên đã xác định được tiềm năng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.

*

Như vậy từ nay chúng  ta có số liệu đáng tin cậy về tiềm năng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển ngành dầu khí trong thời gian tới nói riêng và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam nói chung.

TSKH Trần Lê Đông