Cảm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du – Quyển 1:[Kỳ VI] – Tác giả: Nhà thơ Hồ Văn Chi

Cảm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du - Quyển 1:[Kỳ VI] - Tác giả: Nhà thơ Hồ Văn Chi

Nhà thơ Hồ Văn Chi.

 

Bài 33: Phúc Thực Đình

復 實 亭

冬 寒 夏 暑 故 侵 尋
老 大 頭 顱 歲 月 深
京 國 鶯 花 千 里 外
江 湖 簑 笠 十 年 今
聚 頭 難 得 常 青 目
理 髮 當 知 未 白 心
藍 水 鴻 山 無 限 勝
憑 君 收 拾 助 清 吟
阮 倫

 

Phiên âm

PHÚC THỰC ĐÌNH

Đông hàn hạ thử cố xâm tầm
Lão đại đầu lô tuế nguyệt thâm
Kinh quốc oanh hoa thiên lý ngoại
Giang hồ soa lạp thập niên câm (kim).
Tụ đầu nan đắc thường thanh mục
Lý phát đương tri vị bạch tâm
Lam thuỷ Hồng sơn vô hạn thắng
Bằng quân thu thập trợ thanh ngâm.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Mùa đông lạnh, mùa hạ nóng, lần lữa trôi qua
Năm tháng chồng chất trên đỉnh đầu già cốc
Cảnh chim hoa chốn kinh kỳ, nay đã ở ngoài ngàn dặm
Mười năm rồi, sống giang hồ với áo tơi nón lá
Thường khó gặp được những người bạn mắt xanh mà tụ họp cùng nhau
Gỡ tóc mới biết lòng chưa được giải tỏ.
Sông Lam, núi Hồng đẹp vô cùng
Tha hồ nhặt nhạnh để làm đề tài ngâm vịnh.

 

Dịch thơ

PHÚC ĐÁP THỰC ĐÌNH

Đông hè lạnh nóng tiếp nhau qua
Năm tháng chồng lên trốc lão già
Cát bụi mười năm cùng nón lá
Kinh kỳ ngàn dặm mặc chim hoa
Gặp nhau chẳng dịp còn mong mãi
Sửa tóc nhưng lòng khó giải ra
Núi Lĩnh sông Lam nhiều cảnh đẹp
Tha hồ nhặt nhạnh để ngâm nga.

 

Bài 34: Hành lạc từ, kỳ nhất

行 樂 詞 其 一

俊 犬 黃 白 毛
金 鈴 繫 秀 頸
輕 衫 少 年 郞
牽 向 南 山 嶺
南 山 多 香 麋
血 肉 甘 且 肥
金 刀 切 玉 饌
美 酒 累 百 巵
人 生 無 百 載
行 樂 當 及 時
無 為 守 貧 賤
窮 年 不 開 眉
夷 齊 無 大 名
跖 矯 無 大 利
中 壽 只 八 十
何 事 千 年 計
有 犬 且 須 殺
有 酒 且 須 傾
眼 前 得 喪 己 難 認
何 事 茫 茫 身 後 名.
阮 攸

 

Phiên âm

Tuấn khuyến hoàng bạch mao
Kim linh hệ tú cảnh
Khinh sam thiếu niên lang
Khiên hướng nam sơn lĩnh
Nam sơn đa hương mi
Huyết nhục cam thả phì
Kim đao thiết ngọc soạn
Mỹ tửu luỹ bách chi
Nhân sinh vô bách tải
Hành lạc đương cập thì
Vô vi thủ bần tiện
Cùng niên bất khai mi
Di, Tề vô đại danh
Chích, Cược vô đại lợi
Trung thọ chỉ bát thập
Hà sự thiên niên kế
Hữu khuyển thả tu sát
Hữu tửu thả tu khuynh
Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận
Hà sự mang mang thân hậu danh.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Con chó hay, lông vàng đốm trắng
Cổ đẹp đeo chuông vàng
Chàng trai trẻ mặc áo cộc
Dắt đi về phía núi nam
Núi phía nam lắm nai hương
Huyết thơm, thịt béo
Dao vàng thái món ăn quý
Rượu ngon uống hàng trăm chén
Đời người ai sống đến trăm tuổi
Nên kịp thì vui chơi
Tội gì giữ nếp nghèo
Suốt năm không mở mày mở mặt
Di, Tề chẳng có danh lớn
Chích, Cược cũng chẳng giàu to
Sống lâu chỉ tám mươi tuổi
Cần gì tính chuyện ngàn năm
Có chó cứ ăn thịt
Có rượu cứ uống cho hết
Chuyện trước mắt hay dở đã không biết
Cần gì lo cái danh xa xôi sau khi chết.

 

Dịch thơ

VUI CHƠI, BÀI 1.

Chó lông vàng đốm trắng
Cổ đẹp đeo chuông vàng
Chàng trai mặc áo cộc
Dắt về phía núi nam
Núi nam nhiều nai hương
Huyết ngọt và thịt béo
Dao vàng thái món sang
Rượu ngon uống trăm chén
Trăm tuổi mấy ai màng
Vui chơi vừa gặp dịp
Tội chi sống bần hàn
Suốt năm không mở mặt
Di, Tề chẳng cần danh
Chích, Cược không giàu có
Thọ lắm tám mươi tuổi
Tính gì chuyện ngàn năm
Có chó cứ ăn thịt
Có rượu cứ uống tràn
Chuyện trước mắt dở hay đà không biết
Thì lo gì cái danh sau khi chết mà lo

—————–
* Ghi chú:Di, Tề: Bá Di và Thúc Tề là hai danh nhân đời nhà Chu, Trung Quốc. Chích, Cược: Hai tên trộm cắp nổi tiếng thời xưa ở Trung Quốc.

 

Bài 35: Hành lạc từ, kỳ nhị

行 樂 詞 其 二

山 上 有 桃 花
綽 約 如 紅 綺
清 神 弄 春 妍
日 暮 著 泥 涬
好 花 無 百 日
人 壽 無 百 歲
世 事 多 推 移
浮 生 行 樂 事
席 上 有 妓 嬌 如 花
壺 中 有 酒 如 金 波
翠 管 玉 簫 緩 更 急
得 高 歌 處 且 高 歌
君 不 見 王 戎 牙 籌 手 自 捉
日 日 會 計 常 不 足
三 公 臺 傾 好 李 死
金 錢 散 作 他 人 福
又 不 見 馮 道 晚 年 稱 極 貴
歷 朝 不 離 卿 相 位
鐘 鳴 鼎 食 更 還 空
千 載 徒 留 長 樂 敘
眼 前 富 貴 如 浮 雲
浪 得 今 人 笑 古 人
古 人 墳 塋 己 纍 纍
今 人 奔 走 何 紛 紛
古 今 賢 愚 一 丘 土
生 死 關 頭 莫 能 度
勸 君 飲 酒 且 為 歡
西 窗 曰 落 天 將 暮
阮 攸

 

Phiên âm

HÀNH LẠC TỪ, KỲ NHỊ

Sơn thượng hữu đào hoa
Xước ước như hồng ỷ
Thanh thần lộng xuân nghiên
Nhật mộ trước nê trĩ
Hảo hoa vô bách nhật
Nhân thọ vô bách tuế
Thế sự đa suy di
Phù sinh hành lạc sự
Tịch thượng hữu kỹ kiều như hoa
Hồ trung hữu tửu như kim ba
Thủy quán ngọc tiêu hoàn cánh cấp
Đắc cao ca xứ thả cao ca
Quân bất kiến Vương Nhung nha trù thủ tự tróc
Nhật nhật cối kê thường bất túc
Tam công đài khuynh hảo lý tử
Kim tiền tán tác tha nhân phúc
Hựu bất kiến Phùng Đạo vãn niên xưng cực quý
Lịch triều bất ly khanh tướng vị
Chung minh đỉnh thực cánh hoàn không
Thiên tải đồ lưu “Trường lạc tự”
Nhãn tiền phú quý như phù vân
Lãng đắc kim nhân tiếu cổ nhân
Cổ nhân phần doanh dĩ luỹ luỹ
Kim nhân bôn tẩu hà phân phân
Cổ kim hiền ngu nhất khâu thổ
Sinh tử quan đầu mạc năng độ
Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan
Tây song nhật lạc thiên tương mộ.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Trên núi có hoa đào
Đẹp như lụa đỏ
Sáng sớm còn đùa giỡn với sắc xuân
Chiều tối đã nằm trong bùn đất
Hoa đẹp không được trăm ngày
Người sống lâu, mấy ai được trăm tuổi
Chuyện đời lắm đổi thay
Sống kiếp phù sinh nên cứ vui chơi
Trên tiệc có kỹ nữ đẹp như hoa
Trong vò có rượu quí sóng sánh ánh vàng
Tiếng thủy quản, tiếng ngọc tiêu khi mau khi chậm
Được dịp hát to, cứ hát cho to
Há không thấy Vương Nhung tay gẩy bàn toán ngà
Ngày nào cũng tính toán mà trong bụng vẫn chưa cho là đủ
Đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng chết
Bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng
Lại không thấy Phùng Đạo, lúc về già, phú quý xiết bao
Trải mấy triều vua không rời chức khanh tướng
Thế mà miếng đỉnh chung rút cuộc vẫn là không
Nghìn năm chỉ lưu lại có bài “Trường lạc tự”
Phú quý trước mắt chẳng khác gì phù vân
Người đời nay chỉ biết cười người đời xưa
Người xưa chết, mồ mả vẫn ngổn ngang đó
Người nay sao vẫn bôn tẩu rộn ràng
Xưa nay, kẻ hiền người ngu cũng chỉ trơ lại một nấm đất
Không ai vượt qua cửa ải sống chết
Khuyên anh uống rượu rồi vui chơi
Kìa trông cửa sổ phía tây, bóng mặt trời đã xế rồi.

 

Dịch thơ

VUI CHƠI, BÀI 2

Trên núi có hoa đào
Như lụa hồng tươi đẹp
Sáng còn giỡn sắc xuân
Tối đã trong bùn đất
Hoa đẹp chẳng trăm ngày
Người mấy ai trăm tuổi
Chuyện đời lắm đổi thay
Cứ vui chơi thỏa thích
Trên tiệc, kỹ nữ đẹp như hoa
Trong vò, ánh rượu vàng sóng sánh
Tiếng đàn sáo khi mau khi chậm
Được hát to, cứ hát cho to.
Há không thấy Vương Nhung tay gảy bàn toán ngà
Ngày ngày tính toán vẫn chưa cho là đủ
Đài Tam công cũng đổ, cây mận ngon cũng tàn
Bạc vàng tiêu tan cho người khác hưởng
Lại không thấy Phùng Đạo, lúc về già phú quý xiết bao
Trải mấy triều không rời chức khanh tướng
Tiếng là “chuông đánh vạc bày”, rút cuộc vẫn không (*)
Nghìn năm chỉ lưu lại bài “Trường lạc tự”
Phú quý trước mắt như phù vân
Người nay chỉ biết cười người xưa
Người xưa chết, ngổn ngang mồ mả
Người nay vẫn bôn tẩu rộn ràng
Kẻ hiền người ngu cũng nấm đất
Ải sống chết, ai chẳng phải qua
Khuyên anh uống rượu, vui chơi thỏa thích
Kìa! Bóng mặt trời đã xế phía Tây.

———————
Ghi chú: (*): Dịch từ “Chung minh đỉnh thực”: Ngày xưa, nhà quyền quý đến bữa ăn phải đánh chuông đẻ gọi mọi người về ăn và bày các vạc lớn ra mà ăn; tả cảnh đời sống xa hoa.

 

 

Bài 36: Độ Long Vĩ giang

渡 龍 尾 江

故 國 回 頭 淚
西 風 一 路 塵
纔 過 龍 尾 水
便 是 異 鄉 人
白 髮 沙 中 見
離 鴻 海 上 聞
親 朋 津 口 望
為 我 一 沾 巾
阮 攸

 

Phiên âm

QUA SÔNG LONG VĨ

Cố quốc hồi đầu lệ
Tây phong nhất lộ trần
Tài qua Long Vĩ thủy
Tiện thị dị hương nhân
Bạch phát sa trung kiến
Ly hồng hải thượng văn
Thân bằng tân khẩu vọng
Vị ngã nhất triêm cân.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

 

Ngoảnh nhìn quê hương, nước mắt rơi
Gió Tây thổi suốt dọc đường
Vừa qua sông Long Vĩ
Đã thành người đất khách
Đi giữa bãi cát, càng trông càng rõ mái tóc bạc
Nghe chim hồng lìa đàn kêu ngoài biển
Bạn bè thân thích đứng trên bến nhìn theo
Vì ta mà nước mắt ướt khăn.

 

Dịch thơ

QUA SÔNG LONG VĨ

Ngoảnh lại quê nhà, nước mắt rơi
Gió Tây suốt dặm thổi liên hồi
Vừa qua khỏi bến đò thân thuộc
Đã trở thành người khách lẻ loi
Mái tóc bạc nhoà phơi giữa cát
Tiếng chim hồng lạc gọi ngoài khơi
Người thân trên bến nhìn lưu luyến
Lễ đẫm vì ta chẳng muốn rời.
—————–

* Ghi chú: Long Vĩ giang là khúc sông Lam gần quê hương của Nguyễn Du, cạnh biển. Sông Lam từ nguồn đến ngã ba Hưng Nguyên có tên là Thanh Long giang.

 

Bài 37: Tạp thi, k nht

雜 詩 其 一

壯 士 白 頭 悲 向 天
雄 心 生 計 兩 茫 然
春 闌 秋 菊 成 虛 事
夏 暑 冬 寒 奪 少 年
黃 犬 追 歡 鴻 嶺 下
白 雲 臥 病 桂 江 邊
村 居 不 厭 頻 沽 酒
尚 有 囊 中 三 十 錢
阮 攸

 

Phiên âm

TẠP THI, KỲ NHẤT

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
Xuân lan thu cúc thành hư sự
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên
Hoàng khuyển truy hoan Hồng Lĩnh hạ
Bạch vân ngoạ bệnh Quế Giang biên
Thôn cư bất yếm tần cô tửu
Thượng hữu nang trung tam thập tiền.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Tráng sĩ đầu bạc ngửng nhìn trời, lòng bi đát
Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt
Xuân lan thu cúc đã thành chuyện hão
Đông rét hè nóng cướp cả tuổi xuân
Dắt chó đi săn, mải vui dưới chân núi Hồng Lĩnh
Trong mây trắng, nằm bệnh bên sông Quế Giang
Ở thôn quê, thích nhất được mua rượu uống luôn
Trong túi hãy còn ba mươi đồng tiền đây.

 

Dịch thơ

THƠ LẶT VẶT, BÀI 1

Bạc đầu, tráng sĩ hướng trời than
Sinh kế, công danh thảy bẽ bàng
Thu cúc xuân lan thành chuyện hão
Hè oi đông lạnh dục năm tàn
Bên sông dưỡng bệnh nhìn mây trắng
Dưới núi săn nai dẫn chó vàng
Thích chốn quê mùa luôn có rượu
Sẵn tiền, ba chục vẫn còn mang.

——————–

* Ghi chú: Nguyễn Du có biệt hiệu là Hồng Sơn hiệp lộ, nghĩa là phường săn ở núi Hồng.

 

Bài 38: Tạp thi, k nh

雜 詩 其 二

鴻 山 一 色 臨 平 渠
清 寂 可 為 寒 士 居
千 里 白 雲 生 几 席
一 窗 明 月 上 琴 書
笑 啼 殉 俗 干 戈 際
緘 默 藏 生 老 病 餘
葉 落 花 開 眼 前 事
四 時 心 鏡 自 如 如
阮 攸.

 

Phiên âm

TẠP TH, KỲ NHỊ

Hồng Sơn nhất sắc lâm bình cừ
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư
Thiên lý bạch vân sinh kỷ tịch
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư
Tiếu đề tuẫn tục can qua tế
Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự
Tứ thì tâm kính tự như như.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Núi Hồng một màu soi xuống làn nước phẳng
Kẻ hàn sĩ có thể ở được nơi thanh tú tịch mịch này
Mây trắng từ nghìn dặm bay đến bên giường
Trăng sáng soi qua cửa sổ, chiếu vào túi đàn cặp sách
Buổi loạn lạc, cười khóc cũng phải theo đời
Thân già yếu nên im lặng giữ mình
Chuyện trước mắt đổi thay như hoa nở lá rụng
Quanh năm, cõi lòng vẫn thản nhiên như không.

 

Dịch thơ

THƠ LẶT VẶT, BÀI 2

Hồng Lĩnh in màu nước biếc lam
Bần nho ở đó cũng thư nhàn
Mây băng dặm thẳm sa giường chiếu
Trăng lọt song thưa rọi sách đàn
Thời loạn nói cười cho hợp cách
Thân già nín nhịn kẻo mang oan
Lá rơi hoa nở vù qua mắt
Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng.

 

Bài 39: Ký Huyn Hư t

寄 玄 虛 子

天 台 山 前 獨 閉 門
西 風 塵 垢 滿 中 厡
田 家 不 治 南 山 豆
貧 戶 常 空 北 海 樽
野 鶴 浮 雲 時 一 見
清 風 明 月 夜 無 言
遠 來 誌 取 相 尋 路
家 在 鴻 山 弟 一 村
阮 攸

 

Phiên âm

KÝ HUYỀN HƯ TỬ

Thiên Thai sơn tiền độc bế môn
Tây phong trần cấu mãn trung nguyên
Điền gia bất trị Nam Sơn đậu
Bần hộ thường không Bắc Hải tôn
Dạ hạc phù vân thì nhất kiến
Thanh phong minh nguyệt dạ vô ngôn
Viễn lai chí thủ tương tầm lộ
Gia tại Hồng Sơn đệ nhất thôn.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Nhà tôi ở trước ngọn núi Thiên Thai, luôn luôn đóng cửa
Gió tây tung cát bụi đầy trung nguyên
Là nhà nông, nhưng tôi không trồng đậu ở núi Nam Sơn
Nhà lại nghèo, thường để vò trống, không có rượu đãi khách như Khổng Dung
Anh như hạc nội mây ngàn, thỉnh thoảng mới gặp
Tôi ở đây có gió mát trăng thanh nhưng không ai chuyện trò
Anh ở xa đến, thì hãy nhớ đường mà tìm,
Nhà tôi ở xóm đầu dãy núi Hồng.

 

Dịch thơ

GỬI ANH HUYỀN HƯ (*)
(Cú trung đối)

Nhà trước Thiên Thai, cửa đóng ròng
Gió Tây cát bụi khắp miền trung
Rượu ngon Bắc Hải thường không có
Đậu quý Nam Sơn chẳng biết trồng
Hạc nội mây ngàn đằng đẵng biệt
Trăng thanh gió mát mỏi mòn trông
Tìm đường khi đến thì lưu ý
Tôi ở đầu thôn cạnh núi Hồng.

————————
(*) Huyền Hư là bạn của Nguyễn Du. Có nguồn cho rằng Huyền Hư là Ngô Thì Hoàng (1768-1814), còn có tên là Tịnh, biệt hiệu Huyền Trai; người làng Tả Thanh Oai, Hà Đông (cũ); là con của Ngô Thì Sĩ, và là em cùng cha khác mẹ với Ngô Thì Nhậm. Năm 1807 ông thi đỗ Tú tài triều Nguyễn.

 

Bài 40: Ký Giang Bc Huyn Hư t

寄 江 北 玄 虛 孑

長 安 去 不 息
鄉 思 在 天 涯
天 涯 不 可 見
但 見 塵 與 沙
西 風 脫 木 葉
白 露 損 黃 花
珍 重 好 自 愛
秋 高 霜 露 多
阮 攸

 

Phiên âm

KÝ GIANG BẮC HUYỀN HƯ TỬ

Trường An khứ bất tức
Hương tứ tại thiên nha
Thiên nha bất khả kiến
Đản kiến trần dữ sa
Tây phong thoát mộc diệp
Bạch lộ tổn hoàng hoa
Trân trọng hảo tự ái
Thu cao sương lộ đa.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Anh đi Trường An biệt tăm hơi
Nhưng chắc vẫn nhớ quê hương ở tận chân trời
Chân trời thì không thấy
Chỉ thấy bụi và cát
Gió Tây thổi lá rụng
Sương xuống làm hoa cúc rụng xác xơ
Xin anh hãy giữ mình
Càng vào thu, sương càng nhiều.

 

Dịch thơ

GỬI ANH HUYỀN HƯ Ở BẮC SÔNG

Trường An anh mãi biệt tăm hơi
Chắc vẫn nhớ quê tận cuối trời
Chẳng thấy chân trời xa lớp lớp
Thấy toàn cát bụi khắp nơi nơi
Gió Tây thổi, lá cây lìa lạc
Sương móc sa, hoa cúc rụng rời
Xin tự giữ mình khi lạnh nhé
Càng vào thu tiết lắm sương rơi

Bài 41: Ký hữu

寄 友

漠 漠 塵 埃 滿 太 空
閉 門 高 枕 臥 其 中
一 天 明 月 交 情 在
百 里 鴻 山 正 氣 同
眼 底 浮 雲 看 世 事
腰 間 長 劍 掛 秋 風
無 言 獨 對 庭 前 竹
霜 雪 消 時 合 化 龍
阮 攸.

 

Phiên âm

KÝ HỮU

Mạc mạc trần ai mãn thái không
Bế môn cao chẩm ngoạ kỳ trung
Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại
Bách lý Hồng Sơn chính khí đồng
Nhãn để phù vân khan thế sự
Yêu gian trường kiếm quải thu phong
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc
Sương tuyết tiêu thì hợp hoá long.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Cát bụi đầy trời mịt mù
Đóng cửa gối cao nằm khàn trong nhà
Trăng sáng giữa trời, tình bạn còn đó
Non Hồng trăm dặm, cùng chung một chính khí
Mắt xem việc đời như một đám phù vân
Thanh kiếm đeo lưng trước làn gió thu
Một mình im lặng nhìn đám trúc trước sân
Sương tuyết tan rồi, nó sẽ hoá rồng.

 

Dịch thơ

GỬI BẠN

Mờ mịt khắp nơi nổi bụi hồng
Cài then đặt gối, khễnh nằm trông
Đầy trời trăng sáng thân tình trọng
Trăm dặm non cao chính khí đồng
Mây nổi lơ thơ, đời đáy mắt
Gió lùa xào xạc, kiếm bên hông
Trước sân im lặng trông hàng trúc
Đợi tuyết sương tan sẽ hoá rồng.

Bài 42: Khai song

開 窗

門 前 煙 景 近 如 何
閒 日 開 窗 生 意 多
六 月 培 風 鵬 徙 地
一 庭 積 雨 蟻 移 窩
青 氈 舊 物 苦 珍 惜
白 髮 雄 心 空 咄 嗟
再 病 尚 須 調 攝 力
不 知 秋 思 到 誰 家
阮 攸

 

Phiên âm

KHAI SONG

Môn tiền yên cảnh cận như hà
Nhàn nhật khai song sinh ý đa
Lục nguyệt bồi phong bằng tỉ địa
Nhất đình tích vũ nghĩ di oa
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích
Bạch phát hùng tâm không đốt ta
Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực
Bất tri thu tứ đáo thuỳ gia.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Phong cảnh trước nhà, nay như thế nào rồi
Nhàn rỗi, mở cửa sổ ra xem, thấy mọi vật vẫn vui tươi
Chim bằng cưỡi gió bay luôn sáu tháng không nghỉ
Sân đọng nước mưa kiến dời tổ đi
Có chiếc nệm xanh là vật cũ, khư khư giữ mãi
Tóc bạc rồi, có hùng tâm cũng ngồi than thở suông mà thôi
Bệnh trở lại, phải lo điều dưỡng
Không biết thu đến nhà ai

 

Dịch thơ

MỞ CỬA SỔ

Trước nhà cảnh vật có vui tươi
Mở cửa trông ra thấy vẫn ngời
Sáu tháng cưỡi mây chim bỏ đất
Một vườn đọng nước kiến dời nơi
Chăn xanh vật cũ còn ôm mãi,
Tóc bạc lòng son chỉ thở dài.
Trở bệnh cần lo điều trị gấp,
Đâu màng thu đã tới nhà ai!

Bài 43: Bit Nguyn Đi lan,g k nht

別 阮 大 郎 其 一

我 且 浮 江 去
送 君 歸 故 丘
亁 坤 餘 草 屋
風 雨 宿 孤 舟
秋 夜 魚 龍 縶
深 山 麋 鹿 遊
休 其 不 甚 遠
相 見 在 中 州
阮 攸

 

Phiên âm

BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG, KỲ NHẨT

Ngã thả phù giang khứ
Tống quân quy cố khâu
Càn khôn dư thảo ốc
Phong vũ túc cô chu
Thu dạ ngư long trập
Thâm sơn mi lộc du
Hưu kỳ bất thậm viễn
Tương kiến tại trung châu.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Tôi cùng qua sông
Đưa anh về nơi ở cũ
Cả trời đất, chỉ còn lại mái nhà tranh
Khi mưa gió thì nằm trong chiếc thuyền côi
Đêm thu cá rồng ẩn nấp
Hươu nai nhởn nhơ trong rừng sâu
Ngày vui không còn xa lắm nữa
Sẽ gặp nhau ở trung châu.

 

Dịch thơ

TẠM BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG, BÀI 1

Tiễn nhau qua bến rồi
Anh về cố hương thôi
Đất trời lều cỏ cũ
Mưa gió con thuyền côi
Rồng cá ẩn thu tiết
Hươu nai dạo núi đồi
Ngày vui chắc chẳng ngái
Sẽ gặp tại trung châu.

Bài 44: Bit Nguyn Đi lang, k nh

別 阮 大 郎 其 二

送 君 歸 故 丘
我 亦 浮 江 漢
千 里 不 相 聞
一 心 未 嘗 間
夜 黑 豺 虎 驕
月 明 鴻 雁 散
兩 地 各 相 望
浮 雲 應 不 斷
阮 攸

 

Phiên âm

BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG, KỲ NHỊ

Tống quân quy cố khâu
Ngã diệc phù Giang Hán
Thiên lý bất tương văn
Nhất tâm vị thường gián
Dạ hắc sài hổ kiêu
Nguyệt minh hồng nhạn tán
Lưỡng địa các tương vương (vọng)
Phù vân ưng bất đoạn

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Tiễn anh về nơi ở cũ rồi
Tôi cũng lại qua sông
Cách nhau nghìn dặm, vắng tin nhau
Lòng không hề nguôi nhớ
Đêm tối sói hổ hoành hành
Trăng sáng hồng nhạn tan tác
Hai ta ở hai nơi, thường mong ngóng nhau
Ước gì đám mây trôi trên trời không bao giờ
đứt đoạn.

 

Dịch thơ

TẠM BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG, BÀI 2

Tiễn anh về cố hương
Tôi cũng qua sông Hán
Ngàn dặm dẫu không tin
Một lòng luôn nhớ bạn
Đêm đen hổ dữ gầm
Trăng sáng chim hồng tản.
Hai chốn đều chờ mong
Ước mây không đứt đoạn.

Bài 45: Bit Nguyn Đi lang, k tam

別 阮 大 郞 其 三

君 歸 我 亦 去
各 在 亂 離 中
生 死 交 情 在
存 忘 苦 節 同
柴 門 開 夜 月
殘 笠 走 秋 風
千 里 不 相 見
浮 雲 迷 太 空
阮 攸

 

Phiên âm

BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG, KỲ TAM

Quân quy ngã diệc khứ
Các tại loạn li trung
Sinh tử giao tình tại
Tồn vong khổ tiết đồng
Sài môn khai dạ nguyệt
Tàn lạp tẩu thu phong
Thiên lí bất tương kiến
Phù vân mê thái không.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Anh về thì tôi cũng đi
Hai ta cùng sống trong buổi loạn lạc
Sống hay chết, tình bạn vẫn nguyên
Còn hay mất, tiết khí vẫn giống nhau
Dưới ánh trăng, cửa tre để ngỏ
Trong gió thu, anh đi đầu đội nón rách
Nghìn dặm không trông thấy nhau
Chỉ thấy mây trôi mờ mịt chân trời

 

Dịch thơ

TẠM BIỆT NGUYỄN ĐẠI LANG, BÀI 3

Anh đi tôi cũng rời
Loạn lạc phải hai nơi
Sinh tử tình luôn khắc
Tồn vong nghĩa chẳng dời
Nón mê, luồng gió thổi
Cửa củi, ánh trăng soi
Ngàn dặm người xa biệt
Mây trôi phủ cuối trời.

———————–
* Ghi chú: Nguyễn Đại Lang tên thật là Nguyễn Đăng Tiến, còn gọi là Cai Gia, người vùng Quế Lâm Quảng Tây, “phản Minh phục Thanh” thất bại, sang Việt Nam đầu quân dưới trướng Nguyễn Khản (1734-1786), Tiến sĩ Thượng thư Bộ Lại, anh cả Nguyễn Du. Nguyễn Đăng Tiến hơn Nguyễn Du trên ba mươi tuổi; hai người kết nghĩa huynh đệ sinh tử nên Nguyễn Du gọi là Nguyễn Đại Lang.

Bài 46: Ngọa bệnh, kỳ nhất

臥 病 其 一

多 病 多 愁 氣 不 舒
十 旬 困 臥 桂 江 居
癘 神 入 室 吞 人 魄
饑 鼠 緣 床 喫 我 書
未 有 文 章 生 孽 障
不 容 塵 垢 雜 清 虛
三 蘭 窗 下 吟 聲 絕
點 點 精 神 遊 太 初
阮 攸

 

Phiên âm

NGOẠ BỆNH, KỲ NHẤT

Đa bệnh đa sầu khí bất thư
Thập tuần khốn ngoạ Quế Giang cư
Lệ thần nhập thất thôn nhân phách
Cơ thử duyên sàng khiết ngã thư
Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng
Bất dung trần cấu tạp thanh hư
Tam lan song hạ ngâm thanh tuyệt
Điểm điểm tinh thần du thái sơ.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Lắm bệnh hay buồn, tâm thần không được thư thái
Mười tuần nay, nằm co bên bờ Quế Giang
Thần ôn vào nhà muốn bắt vía người
Chuột đói leo giường gặm sách của ta
Chưa từng có chuyện văn chương sinh nghiệt chướng
Không để cho bụi bặm lẫn vào nơi trong sạch
Dưới cửa sổ trồng ba khóm lan, vắng bặt tiếng ngâm nga
Tinh thần dần dần về cõi hư không.

 

 

Dịch thơ

NGÃ BỆNH, BÀI 1

Bệnh lắm, sầu thêm rối cả lòng
Mười tuần lọm khọm ở ven sông
Thần ôn doạ bắt làm tan vía
Chuột đói tìm ăn cắn nát phòng
Chưa thấy thơ văn sinh nghiệt chướng
Đừng cho bụi bặm lẫn tâm trong
Trông lan trước cửa, lời ngâm vắng
Man mác tâm hồn giữa cõi không.

H.V.C

 

 

 

 

     


     

Bài trướcTinh thần văn hóa Việt của cây viết trẻ
Bài tiếp theoCảm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du – Quyển 1:[Kỳ VII] – Tác giả: Nhà thơ Hồ Văn Chi

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây