Tiểu thuyết “Nam Đế Vạn Xuân” của đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.
Phàm là người viết tiểu thuyết lịch sử thường gởi gắm tâm tư vào trang văn để tái thiết một đời sống tươi đẹp, hay ký thác một ý niệm nào đó từ quá khứ. Song, trong cái thiển học thiển nghe của mình, khi đọc Nam Đế Vạn Xuân của nhà văn Phùng Văn Khai, tôi thiết tưởng ông là người viết tiểu thuyết lịch sử bằng tương lai. Bởi từ những trang văn đầu tiên, tôi đã nhận ra chất liệu viết nên tác phẩm là hiện thực của hôm nay. Do vậy khi đọc tác phẩm này với ánh mắt của một sử gia, người ta sẽ trở nên ngờ vực tính khả tín của tác phẩm. Còn khi đọc Nam Đế Vạn Xuân dưới bóng dáng văn học, ta sẽ nhận ra điều gì?
Trong ánh mắt suy tư của riêng mình, tôi đoan rằng điều tác giả viết nên, nếu bảy phần hướng về tiên hiền thuở trước, thời đến mười phần dành cho hậu hiền ngày nay. Hễ những ai yêu mến nòi giống, ắt người ta sẽ chạnh lòng, thậm chí ngờ vực về một lý tưởng Việt Nam vẹn toàn đến thế. Tại sao nói ngờ vực? Vì cái lý tưởng mà Phùng Văn Khai gửi gắm thâm viễn quá, cao xa quá, một lý tưởng mà hễ người Việt Nam nào nghe thấy đều trở nên ngán ngẩm. Đó là yêu thương, là nhân ái, đoàn kết, trọng nghĩa, trọng tình… rồi ngay cả những khẩu quyết xiển dương như là cõi thiêng đất Việt, văn hiến ngàn năm, di sản truyền thừa…Tại sao lại ngán ngẩm? Vì ngày nay chỉ cần nhấc đôi chân trần đặt xuống lề đường đã thấy những diễn ngôn ấy được treo thành băng rôn, áp phích khắp nơi. Một ý tưởng phổ thông đến ai ai cũng biết, vậy mà lạ thay, nhà văn Phùng Văn Khai lại lấy làm xương sống cho toàn bộ thiên tiểu thuyết của mình. Phải chăng ông đã viết say đến hoa mắt rồi ư?
Quang cảnh buổi Toạ đàm giới thiệu cuốn sách “Nam Đế Vạn Xuân” của đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.
Để hiểu tâm tư của một người say, nhiều lúc ta phải say cùng họ. Song men nồng càng thấm, tâm trí lại càng phải giữ lấy một mảnh sáng trong, như lời tục có câu “Rượu đào nhấp chén nhưng chớ say/ Vui cùng thế sự vài giây cho thỏa lòng”. Bởi lẽ, say men đời dẫu sao cũng chỉ là cuộc bôn ba tạm bợ của số phận, chếch choáng rồi chợt tỉnh, để lại trong hồn người sự mịt mờ, chênh vênh. Còn say chữ là thức men của trí tưởng tượng và tâm hồn, càng hớp lại càng thèm, đã say lại càng say. Chẳng thế mà nhà bác học Lê Quý Đôn cũng tỏ lòng “Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng/ Chẳng bằng kinh sử một vài pho”, Ngài Bảng nhãn say vì hương mực thơm, say vì ánh sáng le lói từ những trang viết cũ, say vì cái đạo lý, cái chân tình được kết tinh qua ngàn năm văn hiến… Hương men từ Quế Đường tiên sinh chưa kịp tan, nhà văn Phùng Văn Khai cũng tiếp bước tiên hiền mà nâng chén say sưa. Ông say với từng con chữ, say đến độ hoa mắt mà viết ra những điều ai ai cũng biết chăng?
Muốn thấm thía dáng vẻ khề khà say khướt của nhà văn, kẻ đọc như tôi đành ngồi xuống “cạn từng con chữ” cùng ông. Cạn chẳng phải để vơi đi, mà để lắng nghe, để tìm trong giấc mộng say của Phùng Văn Khai một tâm cảnh nào đó, vừa xa lạ, vừa thân quen, như bóng hình cõi nhân gian hiện lên dưới ánh trăng mờ của hơi men ngôn từ.
***
Trong cơn say ngôn từ ấy, cái tâm cảnh “vừa xa lạ, vừa thân quen” mà Phùng Văn Khai dẫn dụ ta vào, hóa ra không phải cõi mộng dứt lìa khỏi đất. Nó là một căn tính được chôn giấu rất sâu, một mạch nguồn văn hóa mà ông đào bới lên từ lớp bụi thời gian, để làm chất hướng thần cho tương lai. Đó chính là hình ảnh giáo pháp Luy Lâu thuở nguyên sơ – chùa chiền không phải nơi trốn đời, mà là trung tâm của một kiểu Phật giáo dân bản chưa từng bị uốn nắn bởi bất kỳ quyền uy nào.
Trong tầm nhìn của Phùng Văn Khai, ngôi chùa Việt cổ ấy không phải là tháp ngà xuất thế. Ông thấy nó như một “dạ hành quán” trong tâm hồn Việt, nơi dân làng gửi gắm nỗi lo toan trần thế, bàn chuyện mưa thuận gió hòa, và tìm sự bình an ngay giữa cõi tại gia phiền não. Chùa không chỉ thờ Phật, mà còn thờ Thánh, thờ Mẫu, thờ cả những vong linh oan khuất. Sự dung hợp ấy không phải hỗn tạp, mà là một thứ thiền định của bao dung, một minh chứng rằng cái tâm người Việt, tự thân, đã là một bản kinh sống động về lòng từ bi và hòa điệu.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.
Phải chăng, khi say sưa viết về lý tưởng “yêu thương, nhân ái”, Phùng Văn Khai đang mơ tới một tương lai viễn vông? Ông đang lùi bước về quá khứ, để lấy đà vọt tới. Ông chỉ cho ta thấy hạt giống của lý tưởng ấy đã được gieo từ hơn hai ngàn năm trước, trong mảnh đất Luy Lâu, nơi đạo Phật chưa kịp trở thành triết lý bác học mà đã nhanh chóng hóa thành một “đạo sống” – đạo của bà mẹ cầu tự, của người nông dân cầu mùa, của kẻ tha hương tìm chỗ nương thân. Cái say của ông, vì thế, là cơn say của kẻ tìm được thức rượu của tổ tông, loại rượu tinh thần được ủ từ lòng dân chứ không phải từ ngự thiện của vương quyền.
Bởi vậy, khi ta cạn từng con chữ về thiền phái Luy Lâu cùng ông, ta không uống thứ rượu mơ màng của quá khứ. Ta đang nếm thử chất men gốc. Đó cũng là lúc ta nhận ra những gì mình tưởng rằng lý tưởng cao xa, thực ra đã từng là đời sống thường nhật; những gì ta ngán ngẩm vì bị bình thường hóa, lại chính là sức mạnh nguyên khôi đã gìn giữ cho dân tộc này không bị hòa tan sau hàng ngàn năm bão táp. Phùng Văn Khai say để đánh thức trong ta một ký ức tâm linh, một ký ức về ngôi chùa không có cổng, nơi Phật, Thánh, và Dân làng cùng toạ dưới mái hiên của lòng thương và sự tỉnh thức tại tâm.
Ngẫm lại mà xem, ngày nay ta xây chùa to Phật lớn, mang tâm ta bà hướng về sự uy nghi, lộng lẫy. Ta tìm đến cửa thiền với bao lễ vật phẩm tiến, với hy vọng cầu được ước thấy, mà có khi quên mất căn cốt Luy Lâu thuở trước: chùa không phải để cầu xin, mà là nơi nương náo để tu dưỡng thân tâm. Phải chăng, ông say với hình ảnh đó như thể một lời chất vấn dịu dàng: Ta đang thờ Phật, hay đang thờ chính sự giàu sang, quyền uy mà ta gán ghép lên Ngài? Ông say trong quá khứ để tỉnh táo nhìn về hiện tại. Chất men ngôn từ ông dùng là chất men của ký ức, nhưng mục đích là để ta nhìn thấy rõ hơn căn tính của chính mình trong thế giới nhiều biến động hôm nay. Ông mời ta cạn từng chén Luy Lâu, thực chất là mời ta uống một liều thuốc giải cho cái say về hình thức đang khiến ta đôi lúc quên mất pháp Phật là gì, và “yêu thương, nhân ái” thực sự bắt nguồn từ đâu. Liệu có phải từ những băng rôn khẩu hiệu, hay từ chính cách ta đối đãi với nhau dưới một mái chùa, dưới một bầu trời chung của dân tộc?
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (mặc quân phục).
Và hương nồng của ký ức khi tuôn vào trang văn của Phùng Văn Khai, không đọng lại thành một bức tranh tĩnh vật hoài cổ. Nó lên men, chuyển hóa và kết tinh thành sơ đồ kiến tạo sống động đến bất ngờ. Đây không còn là hình ảnh chùa chiền chỉ có tiếng mõ văng vẳng và khói hương tịch mịch. Cổ Pháp trong tầm nhìn nhà văn như một tu viện hướng theo chí nguyện dấn thân: “Buổi sáng… luyện tập võ vật, cuốc đất trồng cây… Buổi chiều… đọc sách, gõ mõ tụng kinh… lại cho… xuống bến… luyện tập bơi lội, vác gỗ, chèo thuyền…”. Hớp từng chén về một thuở chùa làng như thế, Phùng Văn Khai không chỉ mời bạn hữu phương thuốc giải say về sự sùng bái hình thức, ông còn rót thêm chén suy tư nghẹn ngào và cay đắng về một chủ nghĩa yêu nước không chỉ bằng tình cảm, mà bằng năng lực thực chất của những con người toàn triệt: tay thủ ấn hành thiền mà vẫn nổi gân guốc, trí thông thánh hiền mà chân vẫn lấm ruộng bùn, tâm từ bi hỷ xả mà vẫn kiên nghị trước ác thù. Tất thảy là một ký ức năng lượng đã từng sinh sôi rực rỡ trong lòng xã hội Việt Nam, liệu ký ức ấy tiếp tục ngủ quên hay được đánh thức? Câu trả lời nằm ở lòng yêu mến quê hương của những con người hôm nay, có lẽ!
***
Từ chốn thiền phái Luy Lâu, nhà văn Phùng Văn Khai đưa lối ta về với một không gian thiêng liêng nặng trĩu phù sinh: cái “hậu sự” của đời người. Phải, người nước mình gọi việc cuối cùng ấy là “hậu sự”, chữ “hậu” vừa là sau rốt, vừa là hậu thế. Nó không phải chấm hết, mà là một lời giao phó thiêng liêng của người đi dành cho kẻ ở, một nghi thức chuyển giao ký ức và đạo lý. Và chính trong ý tưởng ấy, nhà văn lại tìm thấy một thức men của tình nghĩa, của sự tròn trịa trong phận người. Trong tầm nhìn thấu thị đó, đám tang Cù Nương hiện lên như một văn bản văn hóa được viết bằng những chi tiết nhỏ bé, mà mỗi chi tiết đều là một chỉ dấu đầy ẩn ngữ.
Về việc hậu sự, khi xưa gia đình trung lưu trở lên thường chọn gỗ Ngọc Am, gỗ Vàng Tâm, Xà Cừ hay gỗ Lim để làm áo quan liệm người đã khuất. Những thứ gỗ quý tựa những trang sức cuối cùng cho thân phận, một sự khẳng định đẳng cấp và bền vững vĩnh cửu. Thế nhưng theo di nguyện, thi hài Cù Nương được quấn chặt để trong “chiếc quan tài gỗ mít”. Gỗ mít thuộc hàng thông dụng, được trồng nhiều khắp nơi, và gỗ mít rất dễ mục khi đặt ở nơi ẩm thấp. Trong cái say với lý tưởng vẹn toàn, Phùng Văn Khai đưa vào chi tiết này một triết lý thuận theo tự nhiên, đặc tính “dễ mục” của gỗ mít ngầm gợi về sự hòa tan, trở về và tái sinh vào lòng đất mẹ.
Dường như trang văn không chỉ khám phá cõi chết qua hiện vật hữu hình, mà còn lắng nghe những rung động vô hình của âm thanh. Bởi lẽ, với người Việt, cái chết không phải im lặng vĩnh cửu, mà là một sự chuyển giao giữa hai cõi, và cần một thứ ngôn ngữ đặc biệt để dẫn lối. Thứ ngôn ngữ ấy chính là âm nhạc của “phường bát âm”, như ông bà ta khi xưa vẫn hay nói “sống dầu đèn, chết kèn trống”. Phường bát âm, tên gọi đội nhạc cổ truyền sử dụng các nhạc cụ làm từ tám loại vật liệu (Thạch, Thổ, Kim, Mộc, Trúc, Bào, Ti, Cách) được biểu hiện như kèn, sáo, trống, chiêng, đàn nguyệt, nhị… thường được gia chủ mời đến để chơi nhạc trong các đám hiếu nhằm xoa dịu nỗi đau, và cũng là tiếng thanh âm trân trọng dành cho hương linh người đã khuất.
Nhà nghiên cứu Trúc Lan Thiện Trí (Thái Hải Đăng).
Từ chiếc quan tài gỗ mít khiêm nhường, qua những âm ba của phường bát âm, ông dẫn dắt ta đến một hình ảnh đầy tính biểu tượng: hình ảnh ba người con đi giật lùi trước linh cữu mẹ. Chi tiết này cho thấy nhà văn là người có lòng nhiệt huyết trong việc tìm tòi văn hóa cổ truyền Việt Nam. Ông thấu hiểu đạo lý thâm trầm ẩn sau hành động ấy. Lời tục có câu “cha đưa mẹ đón” chứa đựng cả một triết lý ứng xử về đạo làm con. Cha như mặt trời đi trước dẫn đường, nên khi cha mất các con đi phía sau, tiếp bước và kế thừa. Còn mẹ như vầng trăng, như mặt đất, luôn ở phía sau để che chở, dang rộng đôi tay đón con trở về. Vì thế, khi mẹ mất người con sẽ không quay lưng với mẹ mà đi giật lùi phía trước. Có lẽ, vào thời Nam Đế Vạn Xuân chưa có phong tục này, nhưng để chi tiết xuất hiện trong tác phẩm của mình cũng là một cách gợi lên những giá trị xưa cũ dần dà phai mờ theo năm tháng. Có thể nói, tác giả đã tựa vào văn chương để nương lực hồi sinh cho một nghi thức văn hóa đầy tinh tuý mà nhiều thế hệ người Việt hôm nay có lẽ… đã quên.
Ông không xoáy ngòi bút vào độ chính xác khảo cổ, mà quan tâm đến những rung động tâm tình và đạo lý của người Việt. Ông biết rằng, bằng cách đưa chi tiết ấy vào, ông đang đánh thức một ký ức tập thể về sự tôn nghiêm của chữ Hiếu, về Đạo làm con mà thời hiện đại đang có nguy cơ phai lợt, nhòa mờ.
Khi “chiếc quan tài gỗ được đám tráng đinh dùng dây thừng ròng hạ xuống đáy huyệt sâu tút hút” cũng là lúc “ba cậu tang chủ nhỏ đứng sát vào nhau cắm ba chiếc gậy tre non xuống nền đất lạnh”. Nhà văn thấm nhuần câu cổ ngữ “cha trúc mẹ vông” (vông tức tầm vông), bởi trong sách Việt Nam Phong Tục của học giả Phan Kế Bính, chương về Tang ma có viết: “Hôm cất ma gọi là ngày phát dẫn. Hôm ấy, con cháu, anh em và người quen biết đều đi đưa cả. Cha mất thì con trai chống gậy tre, mẹ mất thì chống gậy vông. Con trai nào mất trước rồi thì con trai người ấy phải chống thay cho cha, hoặc con nào đi vắng thì treo cái gậy ấy ở đầu đòn đại dư (tức đòn lớn để khiêng quan tài)”. Chi tiết này vừa làm giàu chất liệu hiện thực, vừa cho thấy trong cơn say văn hóa của Phùng Văn Khai có một lớp váng biểu tượng, nơi mỗi sự vật đều được quy chiếu về trục giá trị nhân văn, một vũ trụ quan hài hòa với tự nhiên. Chiếc gậy tre không chỉ để chống, mà còn để “trồng” – trồng xuống nỗi đau, để hy vọng mọc lên…
***
Có lẽ trong vô vàn cách để chạm vào lịch sử, nhà văn đã chọn cho mình một con đường say khướt, đầy mê hoặc và cũng đầy bạo liệt. Trong Nam Đế Vạn Xuân, tôi nhìn thấy thức men mà nhà văn rót vào hồn mình là một thức men quyền lực, men khát vọng, men của những định mệnh đan cài trong buổi loạn ly. Phùng Văn Khai, qua cơn say của riêng mình đã không tái hiện lịch sử mà giải phóng nó khỏi những khuôn sáo, để nó hiện ra trong tất cả sự hỗn mang, phức tạp và đầy máu thịt của một thời Vạn Xuân vừa hưng khởi, vừa xa xăm, bảng lảng. Và độc giả, khi gấp trang sách lại sẽ nhận ra rằng: đôi khi phải say ta mới có đủ can đảm để nhìn thẳng vào những chân lý không dễ chịu của quá khứ, và thấm thía rằng, hào quang của bất kỳ triều đại nào cũng có thể được ủ men từ những cơn mộng du đầy xót xa.
Liệu ta có đủ can đảm để tỉnh dậy say cơn say của chính mình? Cơn say với những hình thức hào nhoáng, với những diễn ngôn sáo mòn, với sự vong bản êm ái trong dòng chảy toàn cầu? Phùng Văn Khai đã hoàn thành sứ mệnh của kẻ nâng đèn, soi rọi vào những góc khuất lấp lánh của quá khứ. Còn việc có bước theo con đường ấy, có cầm lấy chiếc gậy tre tinh thần mà tựa vào, có xây dựng lại giáo pháp Luy Lâu cho tâm hồn mình giữa thời đại này hay không – đó là lựa chọn của mỗi chúng ta, những hậu nhân mà ông đã đặt trọn niềm tin và nỗi day dứt.
Hương men văn chương của nhà văn rồi sẽ tan đi, nhưng cái dư vị chua chát, nồng nàn, và ám ảnh thì vẫn còn ở lại. Gợi nhắc ta rằng, yêu nước không chỉ là một cảm xúc, còn cần một năng lực kiến tạo – kiến tạo từ sự hiểu biết thấu suốt căn cơ, từ sự rèn luyện không ngơi nghỉ của trí, đức, thể, và trên hết là từ một tấm lòng biết xoay mình nhìn lại và cuối đầu trước quá khứ, mà vẫn đủ mạnh mẽ để tiến bước về phía tương lai. Xin tri ân tấm lòng của nhà văn Phùng Văn Khai, mong cho hồn thiêng sông núi của quê hương Việt Nam sẽ che chở cho ông trên con đường phía trước. Trân trọng!
Quý Châu, 24 – 12 – 2025




















