Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên – Mông: [Kỳ I] – Tác giả: Nguyễn Trâm Anh

Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên - Mông: [Kỳ I] - Tác giả: Nguyễn Trâm Anh

Tác giả Nguyễn Trâm Anh.

Tám thế kỉ đã trôi qua, hào khí Đông A vẫn trực trào trong huyết quản dân tộc như một biểu tượng bất diệt của tinh thần yêu nước và trí tuệ người Việt. Hướng tới đại lễ kỷ niệm 800 năm triều Trần, chúng ta – những hậu thế, những con dân da vàng máu đỏ – không chỉ kính cẩn nghiêng mình trước hàng loạt chiến công lẫy lừng trong ba lần đại thắng Nguyên – Mông, mà cần có trách nhiệm nhìn nhận lại hành trình từ đỉnh cao thịnh trị đến những bài học về sự hưng vong làm cơ sở cho việc kế thừa, vận dụng di sản lịch sử vào đời sống đương đại. Trong tâm thế ấy, tác phẩm “Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên Mông” của nhà văn Phùng Văn Khai đã trở thành nhịp cầu kết nối quá khứ với hiện tại. Tác phẩm lật lại trang sử vàng về 8 vị danh tướng kiệt xuất triều Trần từ thân thế, tài năng đến vị thế của họ trong ba lần chinh chiến đại quân Nguyên – Mông với góc nhìn đa chiều đầy nhân văn, đồng thời tìm về nguồn cội sức mạnh vua tôi nhà Trần.

Cuốn sách "Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên - Mông" của nhà văn Phùng Văn Khai.Cuốn sách “Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên – Mông” của nhà văn Phùng Văn Khai.

Hai danh tướng trụ cột triều Trần

1. Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ

Trong cuốn sách “Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên  Mông”, nhà văn Phùng Văn Khai đặt Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ ở vị trí khởi đầu như một sự thừa nhận: Không có Trần Thủ Độ, không có vương triều Trần và có lẽ cũng chẳng có được hào khí Đông A lẫy lừng muôn đời khắc ghi.

Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ (1194 -1264) là Thái sư đầu triều nhà Trần, có công sáng lập và là người thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước trong khoảng 40 năm đầu triều Trần. Ông cũng là nhân vật gây nhiều tranh cãi về công tội bậc nhất trong chính sử, người khen cho rằng ông “nhiều công lênh quá”, người ghét lại khép ông vào tội “khi quân loạn đảng”.Ở đây, tác giả không tiệm cận Trần Thủ Độ bằng cách “mặc áo quá vai”, càng không sử dụng con mắt của “phường ráo hoảnh” để buộc tội vị danh tướng mà nhìn ông ở góc độ con người với tất thảy những phần rồng phượng và rắn rết.

Trần Thủ Độ đã sớm nhận ra sự mục rỗng của vương triều nhà Lý và bằng nhãn quan chính trị của mình, ông nhìn thấy tất yếu lịch sử trong sự chuyển giao quyền lực giữa nhà Lý và nhà Trần. Nhưng tài năng của ông lại nằm ở nghệ thuật “đạo diễn” một cuộc hoán đổi vương quyền êm thấm, giữ cho thế nước từ chông chênh thành bền vững. Trần Thủ Độ là người ép vua Huệ Tông nhường ngôi cho Lý Chiêu Hoàng, khi đó mới lên 7 tuổi; cũng là người dàn xếp để Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và nhường ngôi, chuyển ngai vàng sang họ Trần vào cuối năm 1225. Tuy nhiên, cuốn sách làm rõ rằng vị Thái sư không đơn độc, ông là nhà chiến lược biết nhìn người khi cùng Thái phó Phùng Tá Chu bàn tính cặn kẽ mọi mưu kế từ việc trị quốc cho đến kiện toàn khoa cử để tuyển chọn hiền tài sau này. Dù sử sách ghi chép ông “không có học vấn”, nhưng ông lại là người tấu xin vua lập Quốc Tử Giám, mở khoa thi thái học sinh để tuyển chọn hiền tài. Chính nhờ tầm nhìn này mà những nhân tài như Trương Hán Siêu, Nguyễn Hiền,… mới có đất dụng võ, tạo nên một đội ngũ trí thức làm rường cột cho quốc gia.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai phát biểu tại Hội thảo sách “Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên - Mông”.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai phát biểu tại Hội thảo sách “Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên – Mông”.

Nếu trong trị quốc ông là một chính trị gia lão luyện, thì trong việc binh đao giữ nước, ông lại là một dũng tướng không biết cúi đầu. Tháng 12 năm Đinh Tỵ, khi vó ngựa xâm lược quân Mông Cổ tràn vào với sức mạnh khủng khiếp, quân ta thất thế phải rút lui, vua Trần Thái Tông lo lắng hỏi ý kiến ông và câu trả lời đanh thép “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” như một đòn trấn tâm chiến để vua tôi giữ vững tinh thần chờ thời cơ phản công. Ông cũng là người gạt bỏ mọi thù hằn cá nhân khi tin dùng Trần Quốc Tuấn vào vị trí tướng giữ biên ải trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất, dù biết An Sinh Vương Trần Liễu (cha Quốc Tuấn) từng có hiềm khích lớn với mình. Sự công minh ấy chính là tiền đề để nhà Trần sở hữu những vị tướng giỏi nhất cho các cuộc kháng chiến sau này.

Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ hội tụ đầy đủ “phẩm chất văn võ kiêm thông của một đại tướng và trí óc lão luyện của một chính trị gia”, một người quả đoán thậm chí đến mức tàn nhẫn, luôn đặt vương triều mình lên trên hết thảy, kể cả nhân phẩm con người. Ta nên coi ông là bậc anh hùng hay gian hùng? Thiết nghĩ phải mượn lời bình của Hứa Thiệu mà thưa: “Trị thế chi năng thần, loạn thế chi gian hùng”.

Quang cảnh buổi Hội thảo.Quang cảnh buổi Hội thảo.

2.Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn

Nếu như Thái sư Trần Thủ Độ là người đặt nền móng cho vương triều Trần, thì Trần Quốc Tuấn chính là người đã bảo vệ nền móng đó trước sức mạnh cuồng bạo của đế chế Nguyên – Mông trong cả ba lần kháng chiến. Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn được coi là một trong những bậc kỳ tài quân sự trong lịch sử được thế giới tôn vinh, là người trực tiếp cầm quân trong cả ba lần kháng chiến chống Nguyên – Mông của nước ta, có công lớn với đất nước và được hậu thế suy tôn là Đức Thánh Trần.

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần thứ nhất, Trần Quốc Tuấn khi ấy dù mới ở độ tuổi ba mươi nhưng đã sớm được tin cẩn giao trọng trách đại tướng nơi biên ải. Chính từ khói lửa của cuộc chiến đầu tiên, ông đã đúc rút được những hiểu biết sâu sắc về tư duy tác chiến, bản chất tham vọng cũng như các thủ đoạn quân sự và ngoại giao tinh vi của quân địch. Đó là nền tảng để ông âm thầm chuẩn bị một chiến lược hoàn hảo suốt gần 30 năm, biến những tri thức ấy thành sức mạnh áp đảo trong hai lần đại thắng sau này.

Ở cuộc chiến lần thứ hai với quân Nguyên – Mông, lường trước được những khó khăn về lực lượng, sức mạnh cũng như sở trường của giặc, Trần Quốc Tuấn đã khéo léo khích lệ lòng quân, lòng dân và cả lòng tự tôn của giới tôn thất, tướng lĩnh, quý tộc triều Trần bằng hai cuộc Hội nghị lớn và một cuộc tổng duyệt binh. Đến khi chiến tranh diễn ra, trước cách đánh chớp nhoáng của đại quân Nguyên – Mông, Trần Quốc Tuấn thực thi chiến lược chủ động lui binh để bảo toàn lực lượng, đẩy giặc vào cục diện lơ lửng, tiến thoái lưỡng nan. Nghệ thuật quân sự kiệt xuất của ông còn thể hiện ở việc dùng những trận đánh nhỏ để rèn bản lĩnh tướng sĩ, trước khi giáng đòn tiêu diệt liên quân Toa Đô – Ô Mã Nhi tại Hàm Tử, tạo tiền đề cho những chiến thắng vang dội Chương Dương, Tây Kết và thành công đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi.

Lần kháng chiến thứ ba, một lần nữa Hưng Đạo vương cùng quân và dân triều Trần đánh gục vĩnh viễn ý chí xâm lược Đại Việt của quân Nguyên-Mông. Trong các trận truy kích địch, điểm sáng chói lọi trong sử sách ngàn đời chính là trận Bạch Đằng giang. Bằng việc kế thừa tài tình kinh nghiệm của tiền nhân Ngô Quyền, ông lợi dụng sự am hiểu địa hình và sự vận động của thủy triều để thiết lập trận địa cọc khổng lồ, sẵn sàng nhấn chìm toàn bộ hạm đội hải thuyền quân địch dưới lòng sông. Chiến thắng Bạch Đằng không chỉ là một kỳ tích võ công mà còn là lời khẳng định đanh thép cho nghệ thuật quân sự Đại Việt: dùng trí thắng lực, lấy yếu chế mạnh, loại bỏ tham vọng bành trướng của quân phương Bắc xuống phương Nam.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (mặc quân phục) tặng sách tại Hội thảo sách “Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên - Mông”.Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (mặc quân phục) tặng sách tại Hội thảo sách “Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên – Mông”.

Như vậy, tài năng quân sự kiệt xuất của Trần Quốc Tuấn được kết tinh ở tư tưởng “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc mới là thượng sách giữ nước”, từ đó tạo tiền đề để ông vận dụng nghệ thuật tác chiến chủ động, linh hoạt ngay cả trong hiểm cảnh và phát động thành công sức mạnh tổng lực của toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc. Khi hào khí Đông A hoà quyện cùng triết lý giữ nước bất hủ “dĩ dân vi bản”, đó chính là lúc một dân tộc nhỏ bé trở nên vô địch trước mọi thế lực bạo tàn.

Sự giao thoa giữa bản lĩnh mưu lược của Trần Thủ Độ và trí tuệ hiền minh của Trần Quốc Tuấn đã tạo nên một bộ khung hoàn hảo cho vương triều Trần: một bên xây nền đắp móng bằng kỷ cương, một bên giữ nước bằng chiến lược và lòng dân. Khép lại chân dung hai vị đại danh tướng, hào khí Đông A vẫn sẽ tiếp tục được soi rọi qua những chiến tướng tài hoa, những người đã góp phần dệt nên bản hòa âm chiến thắng vang dội trong công cuộc chống quân Nguyên – Mông ở các kỳ tiếp theo.

N.T.A

————–

Danh tướng triều Trần trong ba lần đại thắng Nguyên – Mông: [Kỳ II] – Tác giả: Nguyễn Trâm Anh

 

 

     


     

Bài trướcQuảng Ngãi phấn đấu tăng trưởng hai con số
Bài tiếp theoBan Chấp hành TW Đảng khóa XIV thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây