Văn học nghệ thuật & chức năng(Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật) (Kỳ 1) – Tác giả: Tiến sĩ Lâm Vinh

Văn học nghệ thuật & chức năng(Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật) (Kỳ 1) - Tác giả: Tiến sĩ Lâm Vinh

Văn học nghệ thuật & chức năng(Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật) (Kỳ 1)

Tác giả: Tiến sĩ Lâm Vinh


Cùng bạn đọc
Nhân dịp xuất bản nhiều kỳ tập sách “Văn học nghệ thuật và chức năng” (Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật) của Tiến sĩ Lâm Vinh trên vansudia.net


Kính gửi: Bạn đọc vasudia.net

Từ khi có giấy phép xuất bản đến nay, vansudia.net đã đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến  Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc, được bạn đọc ủng hộ và động viên. Mục Địa lý Việt Nam và các tỉnh thành, quận huyện trên lãnh thổ Việt Nam là một điểm sáng, rực rỡ, hiệu quả nhất, có lượng bạn đọc truy cập nhiều nhất trên trang tin. Tiếp theo là mục Văn học, Lịch sử, Tác giả tác phẩm, Tư liệu. Đặc biệt, với cách xuất bản nhiều kỳ hoặc trích đoạn giới thiệu một tập thơ, một tập truyện ngắn hay một công trình nghiên cứu về địa chí, văn học nghệ thuật… đã được bạn đọc đặc biệt quan tâm, như trường hợp các trích đoạn giới thiệu tập sách “Văn học nghệ thuật và chức năng (Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật)” của Tiến sĩ Mỹ học Lâm Vinh là một dẫn chứng.

Khi công trình “Văn học nghệ thuật và chức năng (Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật)” của Tiến sĩ Lâm Vinh đang còn ở dạng bản thảo, nhà thơ, dịch giả, nhà nghiên cứu lịch sử Bùi Xuân đã đọc và đề nghị với tác giả trích đăng một vài kỳ trên vansudia.net. Cho đến nay các trích đoạn này vẫn đang có số lượng truy cập lớn và thường xuyên.

Tác phẩm “Văn học nghệ thuật và chức năng (Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật)” khởi thủy là Luận án Phó Tiến sĩ của Tiến sĩ Lâm Vinh (Tên luận án: Phân loại văn học nghệ thuật theo chức năng) được biên tập, bổ khuyết và nâng cao khi in thành sách. Theo Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh: “Đây là một luận văn viết rất công phu, về khối lượng và chất lượng thật sự vượt ra ngoài khuôn khổ một luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn”. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hữu Tá:“Có thể khẳng định: đây là một luận án công phu, bề thế, có chất lượng cao, vượt quá yêu cầu một luận án Phó Tiến sĩ khoa học ngữ văn”. Và Giáo sư, Tiến sĩ Lê Ngọc Trà đã nhận xét rằng: “Những vấn đề được đặt ra trong luận án thực sự đụng chạm đến các vấn đề lý luận phức tạp, hiện nay ít được nghiên cứu ở nước ta, trong khi đó thực tiễn văn học lại đang đặt ra, đòi hỏi phải lý giải”.

Đến nay, theo yêu cầu của bạn đọc, vansudia.net đã đề xuất với Tiến sĩ Lâm Vinh, được đăng tải nhiều kỳ, trọn tập tác phẩm “Văn học nghệ thuật và chức năng (Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật)” theo bản in của NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh năm 2018 (trong đó tác giả đã sửa chữa một số chi tiết).

Đây là một niềm vui đối với vansudia.net và chắc chắn sẽ đáp ứng được sự quan tâm, mong đợi của nhiều người, nhất là đối với các giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên các chuyên ngành mỹ học và văn học. Với việc xuất bản (nhiều kỳ) tác phẩm “Văn học nghệ thuật và chức năng (Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật)” của Tiến sĩ Mỹ học Lâm Vinh, vansudia.net mong muốn tạo ra một chuyển động của mục Văn học, như đã tạo ra được với mục Địa lý của trang tin. Ban Biên tập cũng đang có những chuẩn bị tương tự với mục Lịch sử, trong đó sẽ chú trọng đến lịch sử các ngành và địa phương.    

Trên tinh thần đó, vansudia.net xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Lâm Vinh, tác giả cuốn sách “Văn học nghệ thuật và chức năng (Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật)” và vui mừng giới thiệu cùng bạn đọc.

     Trân trọng!

Đà Nẵng, ngày 18/6/2021

vansudia.net

 

Tiến sĩ Lâm Vinh và Nhà thơ Bùi Xuân Mẫn (Tổng biên tập vansudia.net)Tác giả: Tiến sĩ Lâm Vinh (bìa phải) và Nhà thơ Bùi Xuân Mẫn (Tổng biên tập vansudia.net)

 

Văn học nghệ thuật & chức năng(Lộ trình khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật)

Tác giả: Tiến sĩ Lâm Vinh

Kỷ niệm 20 năm (1997 – 2017) bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ khoa học Ngữ văn

Thành kính tri ân và dâng tặng các Thầy đã khuất:

Lê Đình Kỵ, Lê Trí Viễn, Hoàng Như Mai,

Trần Thanh Đạm, Tô Vũ

Dâng tặng song thân

NỘI DUNG

(Mục lục)

Lời giới thiệu của nhà xuất bản  11

Lời nói đầu. 13

Những lời nhận xét – Những lời tri âm  15

Nội dung:

(Mục lục)

Phàm lệ. 21

Chú thích thêm về nguồn tài liệu  25

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1. 27

NGỌN NGUỒN LỊCH SỬ VÀ LÝ THUYẾT  27

  1. VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI HỌC CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT 29
  2. TÌNH HÌNH PHÂN LOẠI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT THEO TIÊU CHÍ CHỨC NĂNG VÀ VẤN ĐỀ PHÂN CHIA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT THÀNH HAI HỆ THỐNG 44
  3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.. ……………………………………………………………………………..68

Chương 2. 75

VẤN ĐỀ CHỨC NĂNG VÀ TÌNH HÌNH PHÂN LOẠI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT THEO CHỨC NĂNG.. 75

  1. CHỨC NĂNG LÀ GÌ? QUAN HỆ GIỮA ĐẶC TRƯNG – CHỨC NĂNG NGHỆ THUẬT VÀ SỰ PHÂN LOẠI NGHỆ THUẬT. 77

1.1.       Chức năng là gì? Chức năng vốn có và chức năng cần có. Quan hệ giữa chức năng nghệ thuật vốn có và vấn đề đặc trưng bản chất của nghệ thuật 78

1.2.       Chức năng là tiền đề, loại thể là hệ quả. 83

  1. TÌM CHỨC NĂNG KHÁCH QUAN CỦA NGHỆ THUẬT – NHỮNG THU HOẠCH VÀ NHẬN ĐỊNH.. 87

2.1.       Ba mươi năm công cuộc tìm kiếm chức năng khách quan của nghệ thuật: 87

2.2.      Vậy chức năng là ở đâu?. 93

  1. BA BẬC THANG THẨM MỸ HÓA VÀ SỰ PHÂN CỰC VỀ CHỨC NĂNG 94

3.1.      Từ cái đẹp – phi nghệ thuật đến nghệ thuật đơn tính: …………………………………………………………………….97

3.2.      Sự phân cực về chức năng: chức năng phi nghệ thuật và chức năng nghệ thuật: 100

3.3.      Về tính chất “quang phổ” của chức năng và loại thể trong quá trình phân cực, với sự không dứt khoát của những vùng giáp ranh. 110

Chương 3. 117

CHỨC NĂNG THẨM MỸ – 117

PHI NGHỆ THUẬT. 117

  1. NGHỆ THUẬT VÀ PHI NGHỆ THUẬT – TÍNH THỐNG NHẤT VÀ SỰ PHÂN BIỆT CHỨC NĂNG.. 119

1.1.      Trường thẩm mỹ – phi nghệ thuật, cái nôi nuôi dưỡng những hình thức nghệ thuật đầu tiên. 120

1.2.      Khoa học và nghệ thuật – vấn đề Einstein– Dostoevskij: 123

  1. TÍNH TẠO HÌNH VÀ BIỂU HIỆN TRONG VĂN BẢN KHOA HỌC, CHÍNH LUẬN VÀ NGHỆ THUẬT.. 128

Chương 4. 151

CHỨC NĂNG THẨM MỸ  – ……………………………………..

NGHỆ THUẬT ĐƠN TÍNH.. 151

  1. ĐỐI TƯỢNG ƯU TIÊN KHI TÌM ĐẾN ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT 153

1.1.      Tìm một thước đo. 153

1.2.      Đặc trưng – nghiêng về chủ thể – Chủ thể là ai?. 155

1.3.      Hình mẫu: từ âm nhạc và thơ. 165

  1. NHỮNG QUY LUẬT ĐẶC TRƯNG VÀ CƠ CHẾ CỦA TÂM LÝ SÁNG TẠO 169

2.1.      Quy luật chủ thể hóa nghệ thuật 174

2.2.      Quy luật tình cảm – cảm xúc. 188

2.3.      Quy luật tưởng tượng – hư cấu. 207

2.4.       Tâm thế tự do – quy luật và điều kiện sản sinh nghệ thuật ………………………………………………………………………211

  1. ĐẶC TRƯNG VỀ CẤU TRÚC CỦA TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT ĐƠN TÍNH 221

3.1.      Từ cấu trúc của “tế bào” hình tượng. 221

3.2.      Tác phẩm NTĐT – một chỉnh thể thống nhất, toàn vẹn, hài hòa. 224

Chương 5. 235

CHỨC NĂNG THẨM MỸ – 235

NGHỆ THUẬT LƯỠNG TÍNH   235

  1. NGHỆ THUẬT LƯỠNG TÍNH VÀ VĂN HỌC LƯỠNG TÍNH 237

1.1       Suy từ nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật “kiến trúc tính”  ………………………………………………………………………237

1.2.      Sự ra đời của các hình thức văn học lưỡng tính đầu tiên: văn học dân gian  241

1.3.      Sự ra đời của các hình thức văn học lưỡng tính trong văn học viết 246

  1. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC NGHỆ THUẬT LƯỠNG TÍNH 248

2.1.      Những đặc trưng về chức năng, 249

2.2.      Những đặc trưng sinh thành và vận động. 260

  1. SỰ TUÂN THỦ MỘT PHẦN NHỮNG QUY LUẬT CỦA SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT: (quy luật chủ thể hóa nghệ thuật, quy luật tình cảm, quy luật tưởng tượng hư cấu). ……………………………………………………………………………………..275

3.1.      Trước tiên, chuyển từ lĩnh vực lý tính sang cảm tính bằng những thủ pháp đơn thuần hình thức: nhạc, vần, hình ảnh:…………………………………………………………………………….277

3.2.      Yếu tố chủ thể – cá thể, cái tôi nghệ thuật được thể hiện ở giọng điệu, thái độ tình cảm của người viết. 279

3.3.      Về quy luật tưởng tượng – hư cấu. 280

  1. ĐẶC TRƯNG VỀ CẤU TRÚC CỦA TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT LƯỠNG TÍNH 288

4.1.      Quan niệm của Hegel về cấu trúc của nghệ thuật tượng trưng…………………. 288

4.2.      Những đặc trưng về cấu trúc của tác phẩm văn học nghệ thuật lưỡng tính. 292

  1. PHÂN LOẠI TÁC PHẨM VĂN HỌC LƯỠNG TÍNH.. …………………………………………………………………………….309

TỔNG KẾT PHÂN LOẠI 313

CÁC BẢNG DANH MỤC PHÂN CHIA LOẠI HÌNH LOẠI THỂ  CỦA NGHỆ THUẬT   319

TÍNH THẨM MỸ ĐẶC THÙ CỦA CÁC NHÓM NGHỆ THUẬT ĐƠN TÍNH   324

KẾT LUẬN.. 333

PHẦN CUỐI

Những lời nhận xét – Những lời tri âm (Phần tiếp theo) 342

PHỤ LỤC. 351

Phụ lục 1. 351

Phụ lục 2. 356

Phụ lục 3. 359

Phụ lục 4. 364

MỤC LỤC CÁC SƠ ĐỒ. 367

THƯ MỤC   371

Những chỉnh sửa – bổ sung về bố cục văn bản

Luận án “Phân loại văn học theo chức năng” bảo vệ năm 1997 (đang lưu tại thư viện) vốn thuộc ngành lý luận văn học, nhưng tác giả đã mở rộng mục tiêu nghiên cứu ra ngoài lĩnh vực văn học để tìm cách xác định đặc trưng văn học trong đặc trưng chung của hệ thống nghệ thuật. Do đó, tác giả phải vận dụng quan điểm liên ngành mỹ học – nghệ thuật học – lý luận văn học và nội dung luận án thường đề cập những vấn đề không chỉ văn học, mà nghệ thuật nói chung.

Do đó, khi luận án in thành cuốn sách này, tác giả xin chỉnh sửa một số câu chữ để phù hợp với ấn bản mới như sau:

  • Tên luận án: Phân loại văn học theo chức năng.
  • Tên sách: Văn học nghệ thuật và chức năng.
  • Phần dẫn luận của luận án chỉnh sửa thành Chương 1 của sách, đặt tên chương là “Ngọn nguồn lịch sử và lý thuyết” , nhằm mượn “mảnh vườn văn học” để bàn rộng ra lĩnh vực thẩm mỹ và nghệ thuật. Các tiểu mục của Dẫn luận cũng đổi thành tiểu mục của Chương 1 – Chương mở đầu.
  • Luận án vốn có 4 chương, nay lấy Dẫn luận làm Chương 1 nên nội dung cuốn sách có 5 chương, không kể phần kết luận.
  • Cuối Chương 5, ngoài hai bảng Phân loại văn học, bổ sung thêm các bảng Phân loại nghệ thuật.

TÁC GIẢ                                      

Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố  Hồ Chí Minh (2018)

     Sau ba mươi năm nghiên cứu – giảng dạy tại khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, từ những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy được, tác giả Lâm Vinh đã trình bày bản luận án Phó tiến sĩ (theo thủ tục đặc cách) vào năm 1997. Luận án có tên là “Phân loại văn học theo chức năng”, được đánh giá là “xuất sắc”, và có những phần cao hơn trình độ phó tiến sĩ. Đó là một công trình

“công phu, do kết quả tích lũy, nghiên cứu cả một đời”. (GS Lê Trí Viễn)

… “rất có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn”. (GS Lê Đình Kỵ)

… “có ý nghĩa thực tiễn đối với hoạt động lý luận phê bình trước mắt”. (GS Phương Lựu)

… “đụng chạm đến các vấn đề lý luận phức tạp, hiện nay ít được nghiên cứu ở nước ta”. (GS Lê Ngọc Trà)

… “đề xuất và giải quyết được một vấn đề có tính chất bức thiết hiện nay của ngành lý luận văn học”. (PGS Nguyễn Thanh Hùng).

… “là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống những quan niệm và phương pháp phân loại văn học nghệ thuật từ trước đến nay”. (PGS Trần Đăng Xuyền)

     Với những nhận định trên, các giáo sư nhất trí đề nghị luận án nên tu sửa và được in ra để phục vụ việc giảng dạy đại học và sau đại học ở các ngành văn học nghệ thuật.

     Tuy khuôn khổ chuyên ngành văn học, nhưng do mục tiêu và yêu cầu của đề tài nghiên cứu là khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật qua con đường phân loại theo tiêu chí chức năng (chức năng luận), nên tác giả đã vận dụng phương pháp liên ngành lý luận văn học, mỹ học, nghệ thuật học, nay xuất bản thành sách, lấy tên là Văn học nghệ thuật và chức năng.

     Qua việc xuất bản công trình này, chúng tôi cũng muốn ghi nhận kết quả của tinh thần tự học của tác giả và của việc đào tạo trên đại học trong nước, mà tác giả gọi đây là “tấm bằng nội địa”.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

NHÀ XUẤT BẢN

Lời cảm ơn

                                    Tác giả xin chân thành gởi lời cảm ơn:

–  Nhà Xuất Bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh,

 và riêng cán bộ biên tập của Nhà xuất bản.

–  Trung tâm Truyền thông Nghệ thuật

 trường Đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh,

và riêng Giám đốc Trung tâm Trần Văn Bình.

–  Họa sĩ – Nhà design học Nguyễn Hồng Hưng

 trình bày bìa và ký họa chân dung tác giả

–  Các bạn Bích Ngọc, Thanh Tuyền, Cẩm Nhung, Nguyễn Dung đánh máy, thiết kế hoàn chỉnh ấn phẩm

 

Lời nói đầu

Năm ấy tôi đúng 60 tuổi, “cũng lều, cũng chõng, cũng đi thi”, bạn hữu và học trò ngạc nhiên không ít. Với tôi, đó là một cố gắng cuối cùng để “kỷ niệm” trước khi về hưu. Anh em du học đó đây, mình không đi đâu, đành cố gắng kiếm một tấm bằng nội địa. Nhưng công việc bận rộn, tôi cất bản luận án và quên đi. Khi tìm được thì tài liệu đã quá cũ, rách nát nhiều. May sao, tôi đến thư viện Đại học Sư phạm vẫn thấy còn lưu giữ bản luận án của tôi. Tôi nhờ photo và cho in lại, xuất bản thành cuốn sách này.

…Tôi viết luận án trong thời gian – không gian bao cấp: bao cấp về vật chất và tinh thần. Người làm khoa học xã hội chỉ có được tài liệu bao cấp của Liên Xô và Đông Âu. Bức tường chiến tranh lạnh ngăn chặn những kiến thức từ phương Tây không cho lọt vào đất thánh xã hội chủ nghĩa. Phải trung thành tuyệt đối chủ nghĩa duy vật, bài xích mọi thứ tư tưởng duy tâm. Vì vậy, khi cần đến một cuốn Mỹ học của Hegel, tôi phải xin đọc nhờ bản dịch (do Phan Ngọc) in rônêô của một tủ sách “nghiên cứu nội bộ”[1]*. Hegel không được xuất bản chính thức, vì duy tâm. Kant lại càng không được. Nhưng chuyện đã cũ, thời ấy hình như đã qua rồi. Năm 1996, năm tôi viết xong luận án, cũng là năm “mở cửa”, “cởi trói”. Và sau đó một năm, 1997, khi tôi trình luận án trước hội đồng thì hai tập Mỹ học Hegel được cho xuất bản chính thức.

Nói cho công bằng, trong rủi có may. Luận án của tôi thuộc ngành lý luận văn học, lý luận mỹ học. Mỹ học thời Xô Viết là một nền mỹ học tuy có những quan niệm thiên lệch, nhưng khá phong phú và nghiêm túc. Nhà nước Xô Viết rất quan tâm đến vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho toàn dân nên khuyến khích nghiên cứu và xuất bản các loại sách mỹ học. Ngay cả các tác gia kinh điển như Kant, Hegel… vẫn được dịch ra tiếng Nga để xuất bản. Trên thực tế, trước khi Liên Xô tan rã, chế độ Xô Viết sụp đổ, các khuynh hướng mới và tác phẩm mới về lý luận khoa học xã hội của phương Tây đã từng được thâm nhập vào Nga (cách phân biệt theo sơ đồ quang phổ trong luận văn này là phỏng theo một tuyển tập của Lôtman về phương pháp chính xác trong nghiên cứu nghệ thuật). Tôi viết luận án trên cơ sở tham khảo các tác giả Nga và Xô Viết, đến nay vẫn thấy an tâm và biết ơn họ (Vưgotxkij, Kagan, Timopheev, Pospelov,…)

Nhưng vấn đề tư liệu tham khảo dù quý hiếm đến đâu cũng chỉ góp được một phần giá trị của luận án. Công trình nghiên cứu phải có một hệ thống luận điểm riêng. Tôi không dám khẳng định điều này nếu tôi không nhận được những lời đánh giá của các thầy các bạn (Xin xem phần cuối sách).

Mục tiêu cuối cùng của bản luận án là khám phá đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật, trả lời câu hỏi: Nghệ thuật là gì? Thế nào là sáng tạo nghệ thuật?

Để đạt được mục tiêu đó, tôi dùng phương pháp phân loại học, hình thái học nghệ thuật. Để phân loại, tôi chọn tiêu chí chức năng (chức năng luận).

Lấy hoạt động thẩm mỹ của con người trong thực tiễn đời sống (tôi gọi là hoạt động mỹ hóa – từ dùng của Lỗ Tấn) từ cả hai quan điểm đồng đại và lịch đại, làm cái trục chính để xem xét quá trình mỹ hóa từ dạng sơ khai đến dạng trưởng thành. Lộ trình đó diễn ra một cách khách quan cả trong lịch đại và đồng đại, đó là: Ba chặng đường mỹ hóa và hai hệ thống nghệ thuật. Nếu quan sát lịch đại, sẽ thấy quá trình đó diễn ra hàng ngàn năm, từ thời đồ đá đến thời xuất hiện nhà nước cổ đại. Nếu quan sát đồng đại, sẽ thấy ba dạng mỹ hóa đó thường xuyên diễn ra trong môi trường sống quanh ta. Mỗi chặng đường mỹ hóa được trình bày, phân tích thành một chương của luận án. Trong lộ trình mỹ hóa, nghệ thuật xuất hiện dần dần từ nghệ thuật ứng dụng đến nghệ thuật thuần túy. Quá trình lý giải đặc trưng sáng tạo của hai loại nghệ thuật này sẽ trả lời câu hỏi “Nghệ thuật là gì?”. Và không thể tránh khỏi việc cho ra đời một số khái niệm, thuật ngữ “tự tạo” để diễn đạt luận điểm mới nảy sinh (cái đẹp – phi nghệ thuật, nghệ thuật ứng dụng – lưỡng tính, nghệ thuật thuần túy – đơn tính…) kèm theo việc sơ đồ hóa kiểu hình học và dạng quang phổ…

Luận án viết cách đây đã hai mươi năm.

Hai mươi năm ấy, biết bao nhiêu tình: thời kỳ đổi mới, nhiều tư liệu – thông tin khoa học mới và cả một thế hệ các nhà khoa học được học nhiều hơn thời của chúng tôi. Vậy những luận điểm trong luận án đã lạc hậu rồi chăng? Dù sao đi nữa, chúng tôi cũng mạnh dạn công bố, mong các bạn đọc xem như sự cố gắng về tư duy khoa học của một thời – thời bao cấp (!).                                                                         

2017

Tác giả

 

Những lời nhận xét – Những lời tri âm

Lê Đình Ky – cố vấn khoa học

Luận án đề cập đến nhiều vấn đề vừa rất rộng, bao quát, theo hệ thống riêng, vừa mới mẻ, là kết quả của một quá trình nghiên cứu giảng dạy hơn 30 mươi năm về mỹ học và lý luận văn học, có thể coi như công trình của cả một đời. Anh Lâm Quang Vinh hết sức tâm huyết với đề tài mình đã chọn, và dồn tất cả tâm lực của anh cho luận văn được hoàn thành, trong hoàn cảnh hết sức khó khăn về vật chất, sức khỏe.

Với tư cách là người lãnh nhiệm vụ cố vấn khoa học, tôi tự thấy sự giúp đỡ của mình đối với công trình luận án này có bị hạn chế nhiều, vì vấn đề không chỉ giới hạn trong phạm vi lý luận văn học, mà liên quan về nhiều mặt với mỹ học lý thuyết, mỹ học ứng dụng, không chỉ phương Tây mà cả phương Đông.

Lê Trí Viễn

  1. Đề tài hay, rộng, cần thiết, có ích cho lý thuyết về văn học, cũng như cho thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy, nhất là ở cấp trên đại học. Nó nhằm một mục đích là phân loại. Nhưng phân loại là vấn đề khó có tiếng nói cuối cùng. Bởi, khoa học ngày càng tiến, nhiều ngành khoa học lại nẩy sinh ở giáp ranh giữa các “loại” coi như đã phân giới rồi. Chân lý đạt được chỉ bằng con đường tiếp cận dần, bước tới được bước nào tốt bước ấy. Vấn đề phân loại cũng thế.
  2. Luận án này được viết rất công phu, bao quát nhiều tài liệu tiêu biểu, về lý luận văn học, mỹ học, triết học, nghệ thuật học, lịch sử văn học… và hầu hết như đã nhuần nhuyễn trong nhận thức thành xương máu của người viết nên có thể coi đây là “công trình một đời” qua nghiền ngẫm, suy tư giảng dạy và biên soạn.
  3. Lấy chức năng làm tiêu chí phân loại cũng là một cách làm có cơ sở. Mặc dù vẫn không từ bỏ cách phân loại thi pháp học từ xưa ở phương Tây, nhưng đã kinh qua sự suy nghĩ độc lập, dựng thành một hệ thống, cơ bản có sức thuyết phục, đóng góp cho khoa lý luận văn học, cho mỹ học và cho cơ chế sáng tác về cấu trúc bên trong ở từng “loại”, nghệ thuật lưỡng tính, nghệ thuật đơn tính. Cách phân loại ấy rành rõ, dễ nắm bắt, có thể vận dụng thỏa đáng. Có kết quả thiết thực về lý luận cũng như về thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy. Một số mắc míu đến nay còn chưa được gỡ ra, nay có khả năng vượt qua được một cách bình yên.

… Rất công phu, do kết quả tích lũy, nghiên cứu “cả một đời”, và mọi tiếp nhận, trải nghiệm đều được biến thành của riêng đủ căn cứ, từng khái niệm được xác định kỹ lưỡng. Nhiều vấn đề cao hơn một luận án Phó Tiến sĩ.

Hoàng Như Mai

Những luận văn về vấn đề lý thuyết văn học nghệ thuật, tôi muốn nói không chỉ các luận văn của nghiên cứu sinh mà cả những công trình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, thường có cái đặc điểm là khó đọc, cũng có thể nói thẳng là mang tính kinh viện, nặng về khái niệm, tư liệu và đó là nhược điểm. Luận án này đọc không nặng nề rối rắm mà vẫn không dung dị hóa vấn đề, vẫn đi sâu vào những ngóc ngách tinh tế cần thiết. Đối với tôi, tôi thấy các lập luận phân minh, khúc triết, tiếp nhận được đầy đủ, không khó khăn, không cảm thấy quá phức tạp.

Tôi đánh giá tốt tính chất giáo khoa của luận văn này, và điều này cũng đã giải thích: những kiến thức ở đây không còn là kiến thức vừa được sách vở cung cấp cho, có khi chưa kịp tiêu hóa; những kiến thức ấy đã được vận dụng trong giảng dạy mấy chục năm, cộng thêm với những kinh nghiệm, những suy nghĩ, những điều bổ sung, khám phá thêm của thầy giáo bạc đầu trong nghề. Tôi nghĩ rằng nguyên văn bản luận văn này có thể dùng ngay làm sách học cho sinh viên.

PGS. Trần Thanh Đạm

Tôi đã đọc luận án “Phân loại theo chức năng” với một sự quan tâm có phần đặc biệt. Nói rõ hơn đó là sự quan tâm mỗi lúc được tăng thêm, đi từ sự hoài nghi dần dần đến sự thuyết phục. Trước hết, đề tài của luận án là một đề tài về lý luận, chủ yếu có tính chất lý luận từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp. Nếu khoa học là giả thuyết được chứng minh thì luận án này quả là một công trình khoa học. Đây cũng là một đề tài mới mẻ, không đi vào vết cũ lặp lại, lặp lại các vấn đề đã cũ, có tính chất “truyền thống”. Nghiên cứu vấn đề này, tác giả luận án có thể góp phần làm sáng tỏ thêm một vấn đề cơ bản khó khăn mà lâu nay lý luận văn học vẫn còn quanh quẩn chưa thoát ra được. Đó là vấn đề: Văn học là gì? Văn học và không phải văn học có ranh giới như thế nào? Cái gọi là tính văn học (littérarité/ literariness) của văn học với tính cách là một loại hình nghệ thuật ở chỗ nào? v.v…

Vì vậy hướng nghiên cứu cũng như kết quả nghiên cứu của luận án là rất quý, rất tốt, rất đáng hoan nghênh. Luận án là kết quả học tập, nghiền ngẫm, suy nghĩ khá lâu dài, rất đáng hoan nghênh. Luận án là kết quả học tập, nghiền ngẫm, suy nghĩ khá lâu dài, gần như suốt đời của tác giả, một người từ rất sớm đã say mê và theo đuổi môn mỹ học, một môn học rất “đỏng đảnh”, như cô gái kiêu sa làm cho nhiều người say mê song lại ít khi ban phát cho họ thành công và hạnh phúc. Tôi thấy hình như luận án này là nụ cười đầu tiên của “cô nàng” ban phát cho gã si lang là chàng Lâm Vinh. Đề tài và kết quả luận án có thể thành một chuyên đề để giảng dạy về mỹ học và lý luận văn học, có thể tu chỉnh để thành một cuốn sách nghiên cứu và tham khảo có giá trị.

Nhạc sĩ Tô Vũ

Do tính phức tạp của đối tượng, các hình thức VHNT luôn luôn có những hiện tượng nảy sinh, phát triển, ổn định rồi lại chuyển hóa, tổng hợp, phân tách, “muôn hình vạn trạng” rất khó để đưa ra những quy ước chung về tiêu chí phân biệt có thể được tất cả mọi người đồng tình. Vả lại, mục đích cứu cánh của phân loại cũng không phải là đồng nhất hoặc dễ dàng đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu phê bình và các nhà sư phạm, giữa ngữ văn học và mỹ học. Nhưng nếu cứ để tình trạng “sứ quân” trong lĩnh vực này kéo dài mãi thì thật không thể tránh được những trở ngại lớn, đặc biệt trong lĩnh vực sư phạm, đào tạo. Vì vậy, tôi thật sự hoan nghênh NCS Lâm Quang Vinh khi anh chọn lựa đề tài phân loại văn học và sử dụng phương pháp tiếp cận mỹ học và chức năng luận để xử lý đề tài đó.

Nhìn theo góc độ của một luận án với ba khâu cơ bản: đặt vấn đề, trình bày phương pháp xử lý, xác định giải pháp hay kết quả, chúng tôi cho rằng luận án P.LV.H.T.C.N của NCS. Lâm Quang Vinh là một công trình nghiên cứu công phu, đặt vấn đề rõ ràng, rành mạch, chứng minh chặt chẽ, kết luận có sức thuyết phục, có ý nghĩa ứng dụng cần thiết và kịp thời.

Mặt khác, chúng tôi cũng cảm thấy luận án trên đây của Lâm Quang Vinh hình như là vượt ra ngoài khuôn khổ một cái “thèse” quy ước, mà có dáng dấp của một công trình khoa học lý thuyết về phân loại trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.

Trên đây là ý kiến nhận xét của các vị giáo sư đã quá cố, còn ý kiến của các vị khác chúng tôi xin in tiếp ở phần cuối sách, theo thứ tự abc.

 

PHÀM LỆ

Đề tài luận văn có vận dụng cơ sở mỹ học, sẽ gặp những thuật ngữ, khái niệm mỹ học và nghệ thuật chưa được sử dụng một cách chuẩn xác và ổn định trong tiếng Việt, mong được sự quan tâm và tạm thời đồng tình, thông cảm với cách dùng của tác giả như sau:

  1. Các thuật ngữ – khái niệm đã có sẵn nhưng chưa phổ biến nay đề nghị dùng một cách phổ biến:
  • Thuật ngữ nghệ thuật ứng dụng (Pháp: art appliqué, Nga: prêklađnôê ixkuxtơvô, Anh: applied art), ở Việt Nam còn dịch: nghệ thuật thực dụng, nghệ thuật thực hành.
  • Dùng phổ biến để chỉ các nghệ thuật thủ công, mỹ nghệ, mỹ thuật công nghiệp (còn gọi mỹ thuật ứng dụng).
  • Mới được dùng gần đây trong văn học: văn học ứng dụng (Từ điển Bách khoa Liên Xô), thơ ứng dụng (R. Giacopxơn, và các tác giả khác), có ý nghĩa tương tự thơ minh họa.
  • Nay đề nghị dùng phổ biến cho tất cả các nghệ thuật, kể cả văn học, khi gặp các thể loại mang tính chất “ứng dụng”
  • Cặp khái niệm nghệ thuật hai chức năng, nghệ thuật một chức năng: hai chức năng chỉ các nghệ thuật ứng dụng vừa có chức năng ích dụng (utilitaire) vừa có chức năng thẩm mỹ – nghệ thuật; Một chức năng: chức năng thẩm mỹ – nghệ thuật. Theo Hegel, trường hợp thứ nhất, “nghệ thuật” hiểu theo nghĩa hẹp, trường hợp thứ hai hiểu theo nghĩa đầy đủ của từ “nghệ thuật”.
  • Cũng như trên, nay đề nghị dùng cặp khái niệm này một cách phổ biến cho mọi nghệ thuật khi ở đó có các thể loại mang tính ứng dụng, kể cả văn học, để chia văn học nghệ thuật thành hai hệ thống (xin xem mục 2, Chương 1).
  1. Cải biến cách gọi một số từ và thuật ngữ để khỏi bị hiểu nhầm:
  • Cái đẹp và cái có ích (P: utilité, A: Utility, N: pôleznơx ở Việt Nam đã dịch: cái có ích, cái vụ lợi, cái vị lợi, cái ích dụng). Đề nghị dùng từ ích dụng, tương đối sát nghĩa và ít bị hiểu nhầm (các từ “vụ lợi”, “vị lợi” trong tiếng Việt còn có ý nghĩa tiêu cực về đạo đức – đây không phải vấn đề đạo đức).
  • Đổi chức năng thành tính năng (trong trường hợp của cặp khái niệm nghệ thuật một chức năng, hai chức năng). Các tài liệu lý luận văn học của Việt Nam đang dùng “chức năng văn học” theo nghĩa chức năng chung của văn học nghệ thuật, để phân biệt với các hình thái ý thức khác, như một thuật ngữ ổn định, khác với cặp khái niệm chức năng ta đang dùng. Do đó đổi cặp trên thành tính năng để tiện hiểu theo nghĩa riêng: tính ích dụng, tính thẩm mỹ. Hơn nữa, dùng tính năng có lợi thế khi gọi tên: nghệ thuật đơn tính, (một tính năng) nghệ thuật lưỡng tính (hai tính năng). Thể lưỡng phân trong mỗi nghệ thuật, mỗi tư duy sáng tác của nghệ sĩ, cũng dùng theo nghĩa này.
  • Nghệ thuật thuần túy có thể đổi thành nghệ thuật thuần nhất: đây là loại nghệ thuật một tính năng, không mang ý nghĩa ứng dụng (thơ trữ tình khác với thơ tuyên truyền, quảng cáo, minh họa)

Nhưng trong tiếng Việt “nghệ thuật thuần túy” còn có nghĩa xấu (Từ điển Thuật ngữ văn học của NXB Giáo dục đã định nghĩa “Nghệ thuật vị nghệ thuật còn gọi là nghệ thuật thuần túy” (tr 139). Vậy xin đổi “thuần túy” thành “thuần nhất”, vì nó chỉ có thuần một tính năng, một chức năng thẩm mỹ – nghệ thuật.

  1. Trả lại cho từ ngữ mỹ học ý nghĩa đích thực của nó: đó là trường hợp “tính minh họa”, là một thao tác kỹ thuật và nghệ thuật thông thường. Rất phổ biến khi người ta dùng nghệ thuật để minh họa cho những tư tưởng triết lý, chính trị, đạo đức (xem mục 2, 2, chương 5).

Nhưng trong đời sống văn học, từ này còn bị dùng để chỉ những tác phẩm sáng tác bị ép buộc minh họa cho một đường lối chính sách nào đó, người sáng tác không tự nguyện. Ngay Từ điển Thuật ngữ văn học cũng định nghĩa: “Tính minh họa hạ thấp phẩm chất tư tưởng và nghệ thuật của văn học, tạo ra phế phẩm của văn học” (tr 237). Trên thực tế, sáng tác minh họa là một bộ phận của nghệ thuật lưỡng tính, một hiện tượng sáng tác có tính phổ biến và tự nhiên (bị ép buộc, áp đặt chỉ là hiện tượng cụ thể, không dân chủ trong quan hệ, không liên quan đến nghệ thuật minh họa).

  1. Các từ ngữ thường được sử dụng chung cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, khi dùng vào sáng tạo thẩm mỹ và nghệ thuật phải kèm theo những tính từ “thẩm mỹ””, “nghệ thuật”. Thí dụ: chủ thể, khách thể, tình cảm, cảm xúc, tưởng tượng… và ngay cả hình tượng, điển hình, hư cấu… đều có thể sử dụng cho triết học, tâm lý, đạo đức, và các khoa học khác nói chung. Có những cuộc tranh luận (như cuộc tranh luận về “hư cấu” trong thể ký) kéo dài, chỉ vì khái niệm đó có nghĩa rộng, có thể hiểu nhiều cách (xem mục 3, 3, chương 5). Vậy xin thông cảm với cách phân thang, chia quang phổ cho hệ thống khái niệm trong luận văn này: hình tượng – phi nghệ thuật, hình tượng – tiền nghệ thuật, hình tượng – nghệ thuật,v…

 


Chú thích thêm về nguồn tài liệu

Tài liệu cơ bản được sử dụng, chỗ dựa cho những luận điểm trong luận văn này là những phát biểu của Marx, Engels, của Aristotle, và đặc biệt là của Hegel trong Giáo trình mỹ học về sự ra đời của nghệ thuậtsự phân biệt các giai đoạn phát triển của nghệ thuật. Kế tiếp là luận điểm của các nhà mỹ học và ngữ học, về hình thái học nghệ thuật, về chia hai hệ thống nghệ thuật, như I.Hecđe, V.Krug (TK XVIII), R. Giacovson, M. Kagan (đương đại). Riêng về Kagan, “nhà bác học Xô Viết” (chữ dùng của giáo sư Hoàng Xuân Nhị), ông đã có nhiều công trình giá trị về triết học (đặc biệt về phương pháp hệ thống), về mỹ học và lí luận nghệ thuật. Hình thái học của nghệ thuật là tác phẩm lý luận-lịch sử, nghiên cứu toàn diện về hình thái học nghệ thuật, là một tài liệu tham khảo quan trọng của tác giả cuốn sách này.

Xin nói về nguồn tài liệu Liên Xô cũ được tham khảo nhiều trong cuốn sách này như sau:

Công cuộc đổi mới toàn diện của Liên Xô cũ vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước không phải là một sự đột biến. Dấu hiệu đổi mới về ý thức tư tưởng đã xuất hiện như những “tân thư” trong nhiều năm trước đó. Nếu theo dõi thông tin khoa học Liên Xô thời kì 1960-1970 sẽ thấy có những chuyển biến rất quan trọng về quan điểm và phương pháp trong khoa học xã hội và nhân văn, đó là quá trình dân chủ hóa và mở rộng nhãn quan khoa học, chống giáo điều và đóng cửa trong nghiên cứu khoa học, và mỹ học là một trong các khoa học được hưởng đầu tiên những thành quả đó. Việc những nhà khoa học lớn và tác phẩm của họ được phục hồi uy tín và tái bản (như Vugodskij, Proop, Vexelovxkij, Bakhtin,…), việc một số học thuyết khoa học trước đây bị bài xích một chiều nay được nghiên cứu một cách nghiêm túc và vận dụng từng mức độ theo quan điểm Macxit (cấu trúc luận, phương pháp hệ thống, phân tâm học, giá trị luận,…), kể cả việc liên kết nghiên cứu khoa học tự nhiên-kỹ thuật với khoa học xã hội-nhân văn, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến những công trình mỹ học Macxit những năm 70 của thế kỷ XX, thể hiện trong những luận điểm mới và phong phú về đặc trưng bản chất của nghệ thuật. Ngành khoa học đầu tiên có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu đặc trưng của tư duy nghệ thuật là tâm lý học (đặc biệt với tác phẩm của Vugodskij). Phân tâm học cũng đóng góp đáng kể, tiếp theo là ký hiệu học. Về phương pháp luận, phương pháp tiếp cận hệ thống có vai trò quan trọng trong nghiên cứu đặc trưng nghệ thuật, kể cả tác dụng có ý nghĩa phương pháp của ngành ngôn ngữ học hiện đại và ký hiệu học. Thành tựu nghiên cứu của Liên Xô đã đi dần vào Việt Nam, tiêu hóa vào các công trình mỹ học và lý luận văn học của Việt Nam, thường phải mất một khoảng thời gian trên dưới mười năm. Thí dụ: vấn đề tiếp nhận nghệ thuật, tính đa chức năng của nghệ thuật, tâm lý học sáng tạo… khởi nguồn ở Liên Xô từ đầu thập niên 70 (thế kỷ XX), được phổ biến ở Việt Nam từ những năm 80; thi pháp học khởi nguồn từ đầu thập kỷ 80, phổ biến ở Việt Nam những năm 90,… Đối chiếu vấn đề nghiên cứu chức năng nghệ thuật của các tác giả Liên Xô cũ và Việt Nam trong bảng Phụ lục 3, có thể cho thấy điều đó.

[1] * Bản Mỹ học Hegel trong thư mục của sách này là bản in roneo lưu hành nội bộ.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây