Năm 2023, tập Tùy bút phê bình 15 gương mặt thơ của tôi ra đời. Với kích cỡ khoảng 280 trang đã gồm trong nó 17 bài phê bình về 17 tập thơ – trường ca. Lối viết của tôi kết hợp cả kỹ và thoáng; nhưng chủ đạo là chỉ gợi còn để độc giả tư duy nốt. Nay nhận được tập Những nẻo đường sáng tạo thơ ở một số thi sĩ Việt Nam nổi tiếng thời hiện đại của PGS.TS Phùng Minh Hiến (NXB Văn học năm 2024), có độ dày tương đương sách của tôi, nhưng chỉ tập trung vào ba thi sĩ thì hiểu ngay rằng sách nghiêng về nghiên cứu mặc dù ngoài bìa không ghi thể loại.
Khi được nhà văn Phùng Văn Khai tặng sách, tôi nghĩ đến cả viết phê bình mình cũng chỉ là tay nghiệp dư với “niên” chưa hề “thâm”; vậy tôi có thể viết ra được điều gì dạng “phê bình của nghiên cứu” khiến “rung lòng bạn” đây?
Lại lướt sơ cả quyển sách thấy đối tượng hướng tới của nhóm tác phẩm này chủ đạo là thiên nhiên, thứ tôi ít đề cập trong thơ mình, càng tự ti lắm. Tuy nhiên là người yêu sách nên tự nhủ trước hết cứ đọc còn viết được gì không đành để tùy duyên.
Khi tôi quay trở lại đọc kỹ, thấy các ý chính quan trọng sau đây.
“dẫn dắt, đối sánh và so sánh nghệ thuật với nền văn học đương thời trong nước và ngoài nước một cách công phu, cẩn trọng”. (nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Tuấn).
Còn tác giả ngay trong Lời nói đầu đã có những quan niệm đáng chú ý:
“Đối với nghệ sĩ tài năng, tuy sáng tạo là tự do, nhưng không phải là sự tự do tùy tiện, dông dài, mà là sự tự nguyện chấp nhận phụ thuộc vào đối tượng thẩm mỹ của sự khai thác nghệ thuật”.
“Cho nên, cái cuộc sống tinh thần bên trong ấy của nhân vật, dù cảm là chính (gắn liền với phong thái cụ thể của sự vật – hiện tượng), hay nghĩ là chính (gắn chủ yếu với thực trạng, bản chất của các liên hệ giữa chúng) luôn luôn gắn liền với kiểu tiếp nối chuỗi sự vật – hiện tượng làm nó xúc động.
“Thành tựu rực rỡ của những bài thơ hay cho thấy các yếu tố đó (cảm và nghĩ) xuyên thấm vào nhau, cái này chứa đựng cái kia và tiếp nối nhau như những “sinh thể” có cùng nguồn gốc, có họ hàng với nhau”.
“cảm nghĩ của nhân vật trong thơ trữ tình, về thực chất, là loại cảm nghĩ trong hình thức “độc thoại nội tâm””.
“nhân vật trữ tình cũng được sáng tạo nên, sáng tạo cả về mặt nội dung, lẫn về mặt hình thức”.
“cần phân biệt “nhân vật trữ tình” với tác giả qua tác phẩm “thơ trữ tình” đó”. “Với tư cách người thứ hai (nhà nghiên cứu, phê bình) ấy, chúng ta xem xét tất cả các bình diện tạo nên “lời tâm tình” của nhân vật trữ tình”.
“Bên cạnh tính uyển chuyển, lời tâm tình còn hấp dẫn và thuyết phục bạn đọc mạnh mẽ khi tác giả để nhân vật khám phá và thể hiện một cách nổi bật và bất ngờ cái sức mạnh ẩn kín bên trong sự vật”.
Vợ chồng PGS Phùng Minh Hiến.
Nhìn tổng thể, đối tượng nghiên cứu của tác phẩm là một ma trận bao gồm ba hàng là:
– Hàng 1: Với những con vật sống gần gũi, thân thiện bên cạnh con người
– Hàng 2: Với những cây ở quanh nhà và ở ngoài đồng
– Hàng 3: Với những hiện tượng và vật thể trong tự nhiên
Và ba cột là:
– Cột 1: Huy Cận
– Cột 2: Trần Đăng Khoa
– Cột 3: Hàn Mặc Tử
Trong mỗi hàng ấy có những hàng con là từng bài thơ cụ thể. Nhìn qua ma trận ấy, có thể thấy đối tượng nghiên cứu nghiêng về tĩnh hơn là động. Ở hàng thứ nhất, các đối tượng có thể thực hiện nhiều hành động như người trừ phần tiếng nói của người mà nếu để chúng “nói” thì nghĩa là phải áp dụng thủ pháp nhân hóa. Ở hai hàng còn lại nếu đối tượng “làm” hay “nói” sẽ đều trong thủ pháp nhân hóa.
Với những đối tượng như vậy, nhà thơ có thể dễ dàng xác lập quyền phát ngôn của mình mà không bị “cãi”. Điều này vừa lợi vừa hại. Lợi ở chỗ dễ gọi tên thậm chí áp đặt không khí, cảm xúc và tư duy của mình cho sự vật hiện tượng. Hại ở chỗ khó quyến rũ được những độc giả ưa tương tác hai chiều, kiểu kẻ tung phải có người hứng.
Với nhà nghiên cứu phê bình, khi lấy nhóm đối tượng này để nghiên cứu sẽ có môi trường thuận lợi để chia chẻ tỉ mỉ, nhìn tới nhìn lui, dùng cả kính hiển vi lẫn kính viễn vọng để quan sát. Tuy nhiên, rút cục để thành công và để “trò hơn thầy là trường có phúc” thì trò phải đem phương pháp ấy áp dụng vào nhóm đối tượng “động” hơn, tức chính là con người.
Ở một đất nước mà hiện nay mỗi năm có hàng nghìn tập thơ được xuất bản, nếu lập ma trận đối tượng nghiên cứu thì không chỉ có 3×3 = 9 như nhà nghiên cứu đã giới hạn trong tác phẩm này mà là hàng chục vạn phần tử. Các nhà nghiên cứu phê bình nếu không có bộ công cụ phân loại và sàng lọc đủ nhạy bén sẽ chết chìm trong ma trận.
Phương pháp làm việc của nhà nghiên cứu Phùng Minh Hiến là gì? Ở hàng thứ nhất, cột thứ ba của ma trận, bằng bí quyết riêng ông đã lọc ra nội dung phần tử là Huy Cận viết về mưa với 5 bài: Buồn đêm mưa; Mưa xuân trên biển; Đêm trăng mưa; Mưa đêm trên biển; Bắt đầu lất phất hạt mưa xuân.
Bằng tiêu chí của kẻ hậu sinh là chọn bài có tiêu đề khác biệt nhất trong 5 bài bởi là hiện tượng thiên nhiên hiếm hơn cả: Đêm trăng mưa.
Về ban ngày có một hiện tượng khá tương đồng là mưa bóng mây, tức về tổng thể trời vẫn đang nắng nhưng lại có cơn mưa nhỏ từ trong bóng của một đám mây đủ lớn. Đêm mà cả trăng lẫn mưa, tôi hình dung tính chất thì tương tự và chỉ là sự dịch chuyển về thời gian từ ngày sang đêm.
Nhà nghiên cứu đã để lại cho hậu sinh những bài học sau đây.
Bài học thứ nhất là bộ lọc thô khi chọn đối tượng nghiên cứu; chẳng hạn trong hàng tỷ người tự làm mà ăn, ngủ nằm, ngày ăn ba bữa thì chọn một hành giả đi khất thực, ngủ ngồi và ngày ăn một bữa.
Bài học thứ hai là xem xét bối cảnh in vào năm 1975 “Cùng với niềm vui lớn “Việt Nam chiến thắng vẻ vang” và “Việt Nam thống nhất đất nước”, lúc này bạn đọc yêu thơ có thêm niềm vui đón đọc tập thơ mới của thi sĩ họ yêu quí… Thì đương đại cấp cho một hiện thực là có những sư trụ trì phát biểu có thể thỉnh linh thức ra khỏi bào thai để nạo phá thai mà không sợ nghiệp sát sinh; trong khi hành giả kia tránh đi bộ lên cỏ và tránh ăn mọi sản phẩm từ sữa vì “ăn ấy với mặc kia đều thân thể chúng sinh/ sẽ còn duyên nợ” (Bài Giải nghi – Hoàng Liên Sơn).
Các tác phẩm của nhà nghiên cứu Phùng Minh Hiến.
Bài học thứ ba là xem xét mức độ hòa nhịp trong tinh thần chung của tập thơ “tâm niệm “Giữ sao nắng tỏa thực, mơ dưới trời; Làm sao thơ ấm tia người””. Thì các bài thơ phần Hạnh đầu đà của tập thơ Nguyện mở của Hoàng Liên Sơn cũng đều hướng con người tới sự giải thoát khỏi khổ đau phiền não, hướng tới chánh tín và tránh xa mê tín.
Bài học thứ tư là trăng và mưa trong bài thơ được dẫn “làm mới và làm đẹp lẫn nhau”. Trong bài Hạnh đầu đà của tập thơ kể trên, vị hành giả và cành sen mà Đức Phật giơ lên cũng có sự tương ưng như vậy; vị ấy làm sống lại những ký ức đúng là của Thế Tôn khi Ngài cũng đi khất thực và trong con mắt người dân vị ấy đang thực hành đúng giáo pháp chân kinh.
Bài học thứ năm là khi nhà thơ đã sàng lọc kỹ và chọn được mục tiêu thì nên sống thật sâu, thật kỹ với mục tiêu ấy bởi chỉ có thế mới quan sát được danh họa thiên nhiên đang tạo tác tranh:
Và nhà nghiên cứu cũng sống kỹ cùng từng dòng thơ ấy, để thấy phẩm chất danh họa thực thụ của thiên nhiên “còn lá và các nhánh lá thì được “phun” màu, hay dùng bút “vảy nhẹ” (“lá nhòa mực phai”)”. Ở ví dụ tôi dẫn, sự sống sâu và kỹ với đối tượng xem xét mới cho phép nhìn ra rằng việc xin ăn, giữ giới như vậy mới đúng là chân tăng; chứ không phải cứ khoác cà sa mang theo cả loạt chứng chỉ bằng cấp là sẽ thành chân tăng.
Bài học thứ sáu là xem xét chiều ngược lại từ thiên nhiên độc đáo tới nhân vật trữ tình. Nhà nghiên cứu chỉ ra “với khung cảnh này, có lẽ vì thấy “nhân vật trữ tình thi sĩ” đã say ngắm chân thành nên thiên nhiên cũng vì thế “giữ nguyên ý đẹp” giãi bày xúc động với kẻ đang “ngưỡng vọng” mình”.
Từ phía hành giả, người hoan hỉ với nhận thức rằng đã gieo được mầm chánh pháp ở chúng sanh, với vô số người đang ăn ba bữa thì giảm về hai; và hiểu dù đi làm từ thiện mà không giữ giới cũng không tới được bờ giải thoát.
Bài học thứ bảy là sự so sánh tác phẩm này với các tác phẩm trước đây của cùng tác giả “Ở sáng tác trước kia khách thể thẩm mỹ là cảnh người “một mình một ngựa”, lang thang lẻ loi giữa thế giới xa lạ. Còn trong sáng tác ngày nay, bây giờ, đối tượng thẩm mỹ của sự khai thác nghệ thuật lại là cảnh đêm trăng rạng rỡ có mưa (trong đó chúng làm đẹp nhau và nổi bật nhau) ở ngay quanh sân và vườn nhà thi nhân”.
Trong phần Hạnh đầu đà, hành động cự tuyệt tiền và nhất định không trữ thức ăn đến hôm sau tương phản với hành vi “quờ vật thực” của bậc cao tăng trong bài Hạnh thu thúc ở cùng tập thơ.
Xin chuyển sang phần tử khác của ma trận, thi phẩm Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn của thi sĩ Trần Đăng Khoa.
Với ví dụ này, tôi chợt nảy ra ý định viết về bài thơ này theo cách của tôi, rồi so sánh đối chiếu lại với nội dung của nhà nghiên cứu xem giống khác thế nào.
Ta đã thấy hiện trạng thiếu nước của đảo ở mức những “bóng đen sẫm” của “chúng tôi ngồi” đã “như gốc cây khô cháy”. Và việc mong mưa là dễ hiểu.
Cái tâm mong cầu sẽ an lắng nếu hoàn toàn không có dấu hiệu để hy vọng, nhưng oái oăm là “Ánh chớp xanh lấp loáng phía chân trời”, và thậm chí theo cảm nhận về nhiệt độ không khí hoặc hơi gió đưa về còn có thể thấy dường như đã có “cơn mưa” nhưng ở “thăm thẳm xa khơi”.
Ngay từ khổ đầu tiên, những dấu hiệu của cơn mưa mong cầu đã chập chờn ẩn hiện vừa xa vừa gần, vừa có vừa không.
Toàn bộ khổ thơ là sự hình dung, tưởng tượng nếu có mưa, nhưng được sắp xếp theo cường độ cảm và nghĩ và phấn hứng tăng dần.
Bắt đầu từ một dịch chuyển nhẹ nhàng của “hữu tình giác” con người là mặt “ngửa lên như đất” rồi thay đổi trạng thái mây mà dường như lần đầu được mô tả bằng tính từ “héo quắt”, biến không thành có khả năng di dưỡng cỏ cây của đá và đi tới một chuyển đổi không chỉ thuần vật chất mà đầy ắp tinh thần “Đảo xa khơi sẽ hóa đất liền”.
Sự “tính toán” của tác giả đã vươn tới tầm dài hạn, như thể mưa sẽ dồi dào tới mức không cần cạo trọc đầu để tiết kiệm nước nữa mà “để tóc lên như cỏ”.
Ở đó cả, cùng quan sát cả rồi, mưa đến sẽ đều đón nhận, vậy còn “kháo nhau” gì nữa? Nhưng chính khi người ta nhắc nhau, nhắc đi nhắc lại như rất thừa một điều ai cũng biết rồi, cho thấy điều ấy ý nghĩa đến mức nào!
Như thể mấy câu thơ chỉ đơn giản là điệp khúc nhấn nhá, nhưng hãy chú ý đến chữ “lớn” vừa xuất hiện. Nó gợi nhớ biến tấu “con cá vừa thấy là con cá to”.
Khi ý tưởng “sẽ hóa đất liền” khởi lên thì con người cụ thể hóa bằng “nhảy”, bằng “giãy giụa” để đóng hoạt cảnh đất liền trong mưa: “cá rô rạch nước”, “ếch nhái uôm uôm”. Lại từ cảm hứng cao độ với thủ pháp “vật hóa” mà thi sĩ dùng tiếp thủ pháp nhân hóa “Mưa cho táo bạo” để thể hiện khát vọng thiên nhiên quan tâm mong cầu của con người nhiều hơn.
Nhưng oái oăm thay, mà cũng là thi sĩ tài năng thay, khi thiên nhiên có vẻ rất mang tính người, y không “táo bạo” mà lại “ngại ngùng”.
Khả năng tạo kịch tính thường được đề cập trong các tác phẩm dài hơi chẳng hạn trường ca, tuy nhiên ở từng đoạn của bài thơ này thi sĩ đã có thể thực hiện được.
Bằng việc ấn ngay “thắc thỏm” trước “niềm vui không nói hết”.
Bằng việc từ đòi hỏi phải “mãnh liệt” và tỏ ra “chẳng thích đâu” cái “lèm nhèm” sớm chuyển sang biết thân biết phận (có lẽ từ bài học kinh nghiệm) rằng “mưa ngâu” thậm chí “mưa li ti” cũng được.
Và bằng thanh minh cho thái độ thay đổi chóng mặt: “Một giọt nhỏ thôi, cát cũng dịu đi nhiều”.
Khi độc giả ở tâm thế chuẩn bị đón nhận vẻ hụt hẫng ỉu xìu của người cùng đảo, kịch tính tiếp tục được đẩy lên cao hơn: Không có cái ỉu xìu ấy, thậm chí đảo không chỉ vượt qua tình trạng thiếu mưa mà còn vượt qua cả “đại dương đầy gió bão”.
Nếu cần một cái kết tràn trề tính cổ vũ động viên, bài thơ đã có thể dừng lại ở đoạn trên. Nhưng ở thi sĩ chất trữ tình công dân không lấn át chất người mà trong một hệ qui chiếu nào đó dễ qui là “tiểu tư sản”. Sau một khẩu hiệu được hô lên là một nhận dạng rất “người” ở thiên nhiên, vẻ như đã hết “ngại ngùng” nhưng thay thế lại là “yểu điệu”.
Cảnh huống này lạc quan hơn cảnh “cá gỗ” một chút, ở chỗ một bên chắc chắn về tính “gỗ”, một bên vẫn còn hy vọng không phải là “gỗ”.
Giờ xin quay trở lại với văn bản của nhà nghiên cứu, phần về bài thơ này. Những gì ông đã đề cập, đã gọi tên ra và đã liệt kê đánh số mà trong văn bản của tôi không có?
Các khái niệm “điểm khai thác nghệ thuật”, “nhân vật trữ tình”, “quãng cách của sự khai thác nghệ thuật”.
Cuộc đối thoại giữa nhân vật trữ tình và thiên nhiên được gọi bằng các tên khác nhau như “đấng quyền hành”, “tạo hóa”, “Cô mưa”, “Nàng mưa” …
Sự lên nước và xuống nước của “nhân vật trữ tình”. Sự nhấn mạnh tính chất “Như đá vững bền, như đá tốt tươi…” của những người lính đảo.
Những khác biệt giữa hai lối viết cho thấy mỗi tác phẩm có nhiều cách thưởng thức – cảm thụ khác nhau ở những cây bút nghiên cứu phê bình có kênh cảm thụ khác nhau và cùng xứng đáng tồn tại.
Lối viết của tôi nghiêng về hướng gợi cho người đọc bài phê bình hãy tìm tới tác phẩm thơ để đọc thêm và tự mình khám phá tiếp. Lối viết của nhà nghiên cứu phê bình Phùng Minh Hiến dành cho bạn đọc cần nắm tới chân tơ kẽ tóc của tác phẩm, đồng thời nắm lấy các phương pháp, công cụ mà áp dụng vào nghiên cứu phê bình các tác phẩm khác.
Hà Nội, tháng 10 năm 2024




















