Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai tại Đền thờ Phùng Khắc Khoan năm 2013.
CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI
DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT
(Kỳ thứ hai mươi bảy)
Lời người dịch: Sau buổi làm việc với nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh – Chủ tịch Hội đồng thành viên – Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục, tôi càng thêm quyết tâm trong việc sưu tầm, quy hoạch và dịch thơ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát. Các nguồn tài liệu đáng tin cậy về thơ văn của cụ đã được những người yêu quý gửi tới cho tôi trong đó có Sấm Thượng thư của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, mặc dù đã gần 500 năm với nhiều phiên bản song đây chính là một dấu mốc lớn thể hiện tài năng, tầm vóc của đức Trạng Bùng. Cũng từ một nguồn tư liệu đáng tin cậy, Phùng Khắc Khoan còn một tập thơ rất phong phú có tên Tặng thi tinh cảnh vật vịnh trong đó với những bài nổi tiếng đã được lưu truyền trong sử sách như Tây Hồ đề vịnh; Tây Hồ nhàn vịnh kỳ 1; Tây Hồ nhàn vịnh kỳ 2; Hải Dương đạo trung kỳ 1; Hải Dương đạo trung kỳ 2… càng cho thấy sự phong quang rộng lớn của một bậc đại thần nổi danh thời Lê – Trịnh trong văn chương chữ nghĩa.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
Nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) và phó chủ tịch huyện Thạch Thất Kiều Hoảng Tuấn tại Đền thờ Phùng Khắc Khoan năm 2013.
TẶNG THI TINH CẢNH VẬT VỊNH
夜月泛舟
湛湛潭心月色鮮, 扁舟稳駕向中天。 微風不動波濤帖, 在我優游濟巨川。
Phiên âm:
DẠ NGUYỆT PHIẾM CHU
Trạm trạm đàm tâm nguyệt sắc tiên, Biển chu ổn giá hướng trung thiên. Vi phong bất động ba đào thiếp, Tại ngã ưu du tế cự xuyên.
Dịch nghĩa:
Lòng đầm trong vắt, ánh trăng tươi sáng, Con thuyền nhỏ êm lướt ở giữa trời. Không chút gió nhẹ, sóng đầm yên lặng, Ta vui chơi như vượt qua sông lớn
Dịch thơ:
Lòng đầm trong vắt trăng soi Thuyền con êm lướt mây trời mênh mang Lăn tăn sóng bạc đôi hàng Ta như vượt cả trường giang rộng dài.
Phùng Văn Khai dịch
Nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) tại Hội thảo Khoa học Phùng Khắc Khoan năm 2013 tại Thạch Thất.
答擕酒乞詩
詩興濃於酒興濃, 一篇詩當酒千鍾。 詩成酒醉功收了, 酒帝詩王各就封。
Phiên âm:
ĐÁP HUỀ TỬU KHẤT THI
Thi hứng nùng ư tửu hứng nùng, Nhất thiên thi đáng tửu thiên chung. Thi thành tửu tuý công thu liễu, Tửu đế thi vương các tựu phong.
Dịch nghĩa:
Thơ hứng đậm hơn niềm hứng rượu nồng Một bài đáng giá ngàn vò rượu Thơ làm xong, rượu say, xong cuộc rồi Được phong người là vua rượu, người là chúa thơ
Dịch thơ:
Câu thần cao vút hơi tiên Bài hay hơn vạn chung men rượu hồng Cuộc bày thơ – rượu muôn trùng Thi tiên, tửu thánh mênh mông kiếp người.
Phùng Văn Khai dịch
題梓潼帝君廟
三才至理都通貫, 萬古彝倫賴植扶。 虎券龍符收岳瀆, 鳳箋鸞筆紀春秋。
Phiên âm:
ĐỀ ĐỒNG TỬ ĐẾ QUÂN MIẾU
Tam tài chí lý đô thông quán, Vạn cổ di luân lại thực phù. Hổ khoán long phù thu nhạc độc, Phụng tiên loan bút kỷ xuân thu.
Dịch nghĩa:
Nghĩa lý sâu xa về tam tài đều thông suốt, Đạo nghĩa thông thường muôn thuở nhờ được vun trồng nâng đỡ. Khoán hổ, bùa rồng thu phục cả sông núi, Giấy phương, bút loan ghi chép chuyện các đời.
Dịch thơ:
Ba ngàn thế giới đều thông Giương cao đạo nghĩa vun trồng xưa sau Rồng chầu, hổ phục thu thâu Bút loan, giấy phượng ngõ hầu xuân thu.
Phùng Văn Khai dịch
Lãnh đạo huyện Thạch Thất và các nhà khoa học dâng hương tại Đền thờ Phùng Khắc Khoan năm 2013.
海陽道中其一
野館榕陰飄瓦盡, 入村竹簡楬竿與。 別相景色山河看, 人物風流不改初。
Phiên âm:
HẢI DƯƠNG ĐẠO TRUNG KỲ 1
Dã quán dung âm phiêu ngoã tận, Nhập thôn trúc giản kiệt can dư. Biệt tương cảnh sắc sơn hà khán, Nhân vật phong lưu bất cải sơ.
Dịch nghĩa:
Quán cũ gốc đa ngói tốc sạch Khóm tre trong xóm cụt lơ thơ Non sông cảnh sắc đà riêng ngắm Nhân vật phong lưu chẳng khác xưa.
Dịch thơ:
Gốc đa ngói cũ còn đâu Khóm tre cuối xóm dãi dầu lơ thơ Non sông sắc vóc đây ư Phong lưu người cũ cảnh xưa có còn.
Phùng Văn Khai dịch
梦賦早梅
七日氣方來復始, 一枝花已放南邊。 占春調鼎孚時用, 樹得芳名億萬年。
Phiên âm:
MỘNG PHÚ TẢO MAI
Thất nhật khí phương lai phục thuỷ, Nhất chi hoa dĩ phóng nam biên. Chiếm xuân điều đỉnh phu thời dụng, Thụ đắc phương danh ức vạn niên.
Dịch nghĩa:
Khí bảy ngày mới lại bắt đầu trở lại, Một cành hoa đã nở ở phía Nam. Giữa trời xuân điều hoà vững trãi tin có lúc dùng, Tạo được tiếng thơm đến ức vạn năm.
Dịch thơ:
Bảy ngày khí mới sinh sôi Cành mai hé nở đất trời phương Nam Hiền nhân tất dụng giang san Tiếng thơm còn mãi trong ngàn sử xanh.
Phùng Văn Khaidịch
觀早梅偶成
直於萬物未生時, 早放南邊第一枝。 倒壓園林凡草木, 寒中獨自得春私。
Phiên âm:
QUAN TẢO MAI NGẪU THÀNH
Trực ư vạn vật vị sinh thì, Tảo phóng nam biên đệ nhất chi. Đảo áp viên lâm phàm thảo mộc, Hàn trung độc tự đắc xuân tư.
Dịch nghĩa:
Ngay từ khi muôn vật chưa sinh sôi nảy nở, Đã sớm bung ra một cành đầu tiên ở phía nam. Áp đảo hết các loại cây cỏ tầm thường ở vườn rừng, Trong tiết đông lạnh một mình riêng có một mùa xuân.
Dịch thơ:
Muôn trùng vạn vật im hơi Dậu nam bỗng hé một chồi rung rinh Vươn trên muôn chủng biếc xanh Mặc kia gió rét riêng mình tươi xuân.
Phùng Văn Khai dịch
西湖閑咏其一
浪泊西頭訪舊遊, 平湖如鏡水如愉。 有湖之處村坊市, 又似長江繞岸流。
Phiên âm:
TÂY HỒ NHÀN VỊNH KỲ 1
Lãng Bạc tây đầu phỏng cựu du, Bình hồ như kính thuỷ như du. Hữu hồ chi xứ thôn phường thị, Hựu tự trường giang nhiễu ngạn lưu.
Dịch nghĩa:
Hồ Lãng Bạc xem cảnh cũ hiện ra, Sắc hồ xanh như tấm gương phản chiếu. Thôn xóm xung quanh an nhàn tĩnh lặng, Bóng đổ dài như sông trường giang phía bờ xa.
Dịch thơ:
Còn nguyên cảnh cũ Tây Hồ Long lanh ngọc biếc, lô nhô sóng vàng Cư thôn dải rác bên đàng Xa trông một dải trường giang xanh trời.
Phùng Văn Khai dịch
西湖閑咏其二
蕭踈竹影見孤村, 三數漁家遶暮屯。 翁醉日斜正氣倦, 蘭舟一葉係柴門。
Phiên âm:
TÂY HỒ NHÀN VỊNH KỲ 2
Tiêu sơ trúc ảnh kiến cô thôn, Tam số ngư gia nhiễu mộ đồn. Ông tuý nhật tà chinh khí quyện, Lan châu nhất diệp hệ sài môn.
Dịch nghĩa:
Cảnh vật đơn sơ cô thôn bụi trúc thưa, Vài túp nhà ngư phủ lác đác. Ông già say sưa chừng không dậy được, Một chiếc thuyền nan nhỏ đậu nơi cửa thôn.
Dịch thơ:
Cô thôn tre trúc lưa thưa Túp nhà lấm tấm cũng vừa hiện lên Lão tiên túy lúy bên thềm Thuyền nan một lá bình yên dưới trời.