Tập thơ “Thơ viết cho mình” của Đại tá, nhà văn, nhà thơ Phùng Văn Khai – Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Cầm trên tay tập thơ có tên“Thơ viết cho mình” của Đại tá, nhà văn, nhà thơ Phùng Văn Khai – Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, không thể chần chừ được nữa, mà đọc ngay. Tập thơ không nhiều bài, nhưng đọc mãi không thể hết ngay trong vài giờ đồng hồ, bởi sức nặng nhân tình thế thái về con người, sự vật, sự đời và thời cuộc vang vọng những âm thanh không phải của một thời, không phải của một đời… và như vậy khiến người đọc bị cuốn hút theo “Thơ viết cho mình”.
Thơ viết cho mình hay còn viết để cho mọi người. Đại từ nhân xưng trong tên gọi tập thơ thật đa nghĩa. Tập thơ viết cho mình là viết cho chúng ta, mình viết về mình, là người trong cuộc viết về những dấu ấn lịch sử, về con người lịch sử, về những chiến công của dân tộc chống ngoại xâm, về danh lam thắng cảnh có số phận con người, về sông, về núi, về cỏ cây, ruộng đồng, về nơi giao lưu thương mại, về bến sông gắn bó với mỗi cá nhân mang tâm hồn Việt Nam. Như vậy, thơ viết cho mình là viết cho mỗi cá nhân chúng ta, mà nhà thơ là người đại diện chấp bút, thay mặt cộng đồng, dân tộc viết ra; theo đó tình cảm, tư tưởng của nhà thơ không là của riêng mà là của chung mọi người.
Nhà văn, nhà thơ Phùng Văn Khai là một người sớm thành danh vững chắc trên thi đàn văn học Việt Nam, được nhiều độc giả tìm đọc hàng chục năm qua. Phùng Văn Khai đã viết nhiều tiểu thuyết lịch sử như duyên nợ và thiên chức. Ngoài ra, anh còn viết nhiều tập truyện ngắn, bút ký. Là nhà văn được bạn đọc yêu thích tìm đọc các tiểu thuyết lịch sử như: Phùng Vương (2015); Ngô Vương (2018); Bộ Vương triều Tiền Lý gồm: Nam Đế Vạn Xuân, Triệu Vương phục quốc, Lý Đào Lang Vương, Lý Phật Tử định quốc; Trưng Nữ Vương (2 Tập, 2025); Các tập truyện và truyện ngắn: Khúc dạo đầu của binh nhì (1998), Hương Đất nung (2001), Truyện ngắn Phùng Văn Khai (2006), Mênh mang trời nước (2012), Tiếng rừng (2019) và các tác phẩm thơ: Lửa và hoa (2002), Khúc rong chơi (2016), Thơ Phùng Văn Khai (2023)…
Tập thơ có tên thật bình dị: “Thơ viết cho mình”, tưởng như chỉ có những lời tự răn mình, tự tu dưỡng mình và giữ riêng cho mình qua những ngôn từ mang tính tự sự, tự an ủi, là bài học cho riêng mình, là điểm tựa tinh thần để nuôi dưỡng mình vượt qua những khó khăn, thử thách của đời người có đặc điểm riêng tư.
Nhưng không, những bài thơ trong thi phẩm “Thơ viết cho mình” lại chứa đựng không gian và thời gian gắn với mỗi cuộc đời, thế hệ người Việt Nam, theo đó có không gian rất rộng và thời gian rất dài.
Tập thơ không đơn nhất về chủ đề và hình thức biểu cảm, mà hàm chứa, chuyển tải trong các bài thơ, vần điệu, nhạc thơ… Theo đó mỗi bài thơ là một mảng màu đặc sắc kết thành tập thơ đa nghĩa, mà nền tảng nguồn cội, thi hứng nảy sinh, phát triển từ lịch sử, truyền thuyết và từ muôn mặt đời thường. Vì vậy, tập thơ mang tính nhân loại sâu sắc, không chỉ của một đời, một thời. Thơ viết cho mình không chỉ viết cho mình, mà viết cho nhiều người, nhiều thế hệ có một mẫu số chung là khát vọng sống, yêu hoà bình, đồng cảm với những điều giản dị có trong cuộc sống, luôn luôn hướng tới chân, thiện, mỹ và làm chủ hành động của mình cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh lịch sử nào. Vì vậy, thi phẩm “Thơ viết cho riêng mình” đã hàm chứa khát vọng sống, làm chủ cuộc sống không phải chức phận của riêng một người, mà còn là bổn phận của muôn người trên thế gian này. Ý thức gắn kết giữa người với người mang tính nhân văn sâu sắc. Sự hàm ơn, sự ân hận, nuối tiếc được thể hiện rất rõ trong từng bài thơ trong thi phẩm, đã là những đúc kết, gợi mở cho những người của thời đại hôm nay và mai sau xác định rõ hơn về chức phận con người sống trên nhân thế luôn luôn lạc quan cho dù có những sự đổi thay ngoài ý muốn.
Tập “Thơ viết riêng mình” được chia thành hai phần tương đối độc lập.
Nhà thơ Phùng Văn Khai có những kỷ niệm đẹp, trở thành ký ức trong tâm can không phai mờ mà ngày càng rõ nét hơn. Những liên tưởng của nhà thơ với từng ký ức thật đáng trân trọng. Ký ức của nhà thơ không phải của một thời, không phải của riêng mình mà lan toả đến tâm khảm của mọi người và những ký ức như có hồn cốt của sự sống, vì nó mang hơi thở và nhịp đập của con tim nhà thơ. Nói về một con sông, nhà thơ nhủ với chính mình: “Viết về sông Hồng cũng là tự rèn luyện bản thân mình”:
Nhà thơ thấy được tầm vóc lớn lao và thiêng liêng như máu thịt của non sông là dòng sông Hồng. Nhận thấy ở con sông có những thăng trầm cùng lịch sử dân tộc, nhưng dòng chảy vẫn chuyển động, vẫn mải miết đắp bồi và mang đến cho con người nơi đây không chỉ là ngô lúa, rau màu mà còn là nghị lực sống và những lời hát ru lạc quan trong mọi hoàn cảnh.
Nói về một vùng quê, vùng đất văn hiến, đất Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội, trong Vài dòng tri ân vùng đất tổ có câu thơ:
Sông cũng như đời, trải quan bao thác ghềnh lịch sử thịnh suy của dân tộc, nhưng vẫn giữ được tấm lòng son sắt gắn với niềm vui, nỗi buồn của nhân dân, là chứng nhân lịch sử giữ được tư thế dáng vóc oai hùng mà thơ mộng, nhân từ của dòng sông nặng tình non nước, chẳng thay dòng trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhà thơ gán tâm hồn mình vào dòng sông và vì vậy sóng xôn xao tinh khiết, tải nặng tâm hồn Việt Nam cùng chiều dài lịch sử.
Về Chùa Cổ Pháp – Tiên Phong – Phổ Yên – Thái Nguyên, nơi Lý Bí – Lý Nam Đế xuất gia tu Phật từ khi sáu tuổi:
Văn Miếu Hà Nội là ngôi trường đại học đầu tiên của Việt Nam, tôn vinh những người hiền tài học giỏi để giúp dân, giúp nước. Các bậc hiền tài là nguyên khí quốc gia, là linh hồn của dân tộc, đất nước non sông ngàn đời văn hiến, là niềm tự hào của người Việt Nam qua các thời đại:
Khi đến ngôi làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây), nhà thơ chỉ xem mình là một cậu bé chưa từng trải, nhưng rất đỗi tự hào về những nét văn hoá Việt Nam từ ngàn đời vẫn hiển hiện thanh bình, đầy sức sống:
Truyền thống và bề dày văn hoá Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, những điệu hát, lời ca phát sinh từ cuộc sống lao động, sản xuất, bảo vệ non sông, được sáng tạo trường tồn cùng dân tộc, không thể phai mờ.
Với bài thơ Vị La Hán chùa Gia Thượng, Bồ Đề, Long Biên (Hà Nội), nhà thơ như hiểu được tâm tình của pho tượng, là hình ảnh được đúc kết từ tư tưởng, tình cảm, tín ngưỡng của con người, gắn với con người – xã hội và cũng có những vui buồn thuộc thân phận của con người:
Lầm than tượng cũng như người nông phu” (Vị La Hán chùa Gia Thượng). Thử liên hệ bài thơ này với “Các Vị La Hán chùa Tây Phương” của Huy Cận:
Biết ơn các bậc trí thức sống vì dân, nhà thơ có những câu thơ khái quát về Cụ Phùng Khắc Khoan với lòng biết ơn sâu sắc:
Nhà thơ mỗi khi về quê gốc của mình, làng Khoai – Minh Khai – Như Quỳnh – Hưng Yên, đứng trước sân đình thấy lòng bâng khuâng, xúc động, vừa tự hào vừa nghĩ đến bổn phận của mình đối với quê hương:
Những chứng tích, chiến công của dân tộc chống ngoại xâm, được nhà thơ khái quát nhưng vẫn làm nổi bất sức mạnh đoàn kết, một lòng chống giặc ngoại xâm bằng mưu lược có một không hai trên thế giới, từ cọc gỗ cắm dưới sông Bạch Đằng nhấn chìm thuỷ chiến của giặc đến khí thế của Hội nghị Diên Hồng quyết chống giặc Nguyên Mông (Nhà Trần Thế kỷ XIII), lá cờ thêu tung bay trên trận tuyến quyết tiêu diệt giặc ngoại xâm của các binh sĩ quần nâu, áo vải, nếm mật, nằm gai, giầy rơm, mã tấu, kiếm, gươm, tầm vông, giáo mác… xông pha giữa trận tiền máu lửa tiêu diệt giặc ngoại xâm, giải phóng quê hương, đất nước.
Với trách nhiệm và tình cảm của nhà thơ, Phùng Văn Khai viết về Bảo tàng Minh Chuyên, một nhà văn, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, khi thăm Bảo tàng Tác phẩm hậu chiến tranh tại thôn Thọ Lộc – Vũ Thư – Thái Bình cũ. Với sự trân trọng và quý yêu nhà văn Nguyên Minh Chuyên có hàng chục tác phẩm viết về chiến tranh, tố cáo tội ác của giặc Mỹ và bảo vệ những nạn nhân chiến tranh, trong đó có nạn nhân chất độc màu da cam:
Là người công tác nhiều năm trong ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế (Trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân Đội), Phùng Văn Khai không thể không cảm động trước sự ra đi của các bậc anh tài trong làng văn đã xây dựng nền văn học cách mạng huy hoàng như hôm nay.
Nhà văn khó nhất là viết về mình, gia đình mình. Yếu tố tâm lý trong quan hệ huyết thống luôn luôn làm cho người ta không khách quan như viết về người khác. Nhưng với lòng trung thực, tình yêu kính người cha của mình, nhà thơ Phùng Văn Khai đã có cách nói tinh tế, nhân văn của bậc làm con kính thương cha hết mực; nhưng không phải khi nào cũng thể hiện được đầy đủ nhất tình cảm của người con đối với người cha. Bằng các câu thơ khái quát, nhà thơ đã nói được lòng thành kính và biết ơn với bậc sinh thành, trong thời điểm người cha đã xa rời trần thế:
Và:
Mất mát nào lớn hơn là khi người cha, người mẹ qua đời. Cha không còn nói được nữa. Sự im lặng của người cha như nói với con rất nhiều điều. Người con tỉnh ngộ và hiểu được mất mát không có gì có thể bù đắp, khi người cha của mình qua đời. Ân hận ư? Xin lỗi vì con chưa làm được những gì như cha từng hy vọng ở con ư? Con ít khi về thăm cha và ít chia sẻ công viêc của con với cha? Cha ho, cha mệt nhưng con không nhận thấy cha đã yếu nhiều? Nhà thơ Phùng Văn Khai đã nói hộ bao nhiều người con trên thế gian này về tâm trạng khi người cha ruột của mỗi người ra đi mãi mãi. Trong hoàn cảnh đó, người con ước được quay về tuổi thơ để được cha dậy bảo, có thể là roi vọt khi con hư, lười học, ham chơi, ham nghịch, không biết giữ vệ sinh:
Trong thời điểm hiện nay, nhiều người hiểu sai về bình đẳng trong quan hệ gia đình, quan hệ cha con, mẹ con và những đòi hỏi quá trớn của người con được nuông chiều, bao bọc, chăm sóc… không sót một sinh hoạt nào, đã tạo ra lớp người thụ động, yếu đuối, phục vụ cho bản thân cũng không xong, nhưng khi được nhắc nhở lại nói về “nhân quyền”. Trong gia đình không phân biệt bề bậc, ngôi thứ… do vậy tạo ra sự bất lực của cha mẹ trong việc dạy dỗ con cái. Khi ngộ ra sự mất mát lớn lao, người con có hiếu lại ước mơ trở về ngày thơ bé có cha, và muốn cha dạy dỗ mình nghiêm khắc hơn.
Nhà thơ Phùng Văn Khai có gia đình hạnh phúc, có người vợ hiền thục, đảm đang và có các người con ngoan ham học. Nhà thơ thương vợ mình, qua bài thơ về vợ, lời ngắn, tình dài mà thương vợ biết bao:
Trong thi phẩm “Thơ viết cho mình”, Phùng Văn Khai viết về người bạn văn thân thiết của mình – Nhà thơ Hoàng Liên Sơn. Nhà thơ Hoàng Liên Sơn tinh tế trong quan sát, nhạy cảm với những sự kiện mà người khác cho là nhỏ, không quan trọng. Nhưng dưới bút pháp của nhà thơ Hoàng Liên Sơn thì mọi sự việc trong quan hệ xã hội, quan hệ vợ chồng, quan hệ cha con, quan hệ bạn bè và trong những công việc thường nhật, sinh hoạt thường nhật đều mang những triết lý nhân sinh lớn lao. Nhà văn có thể “khôn ra” từ những quan hệ thường nhật đó và những triết lý cao cả đều phải dựa vào đời sống vận động hiện thực trên cơ sở quan sát, cảm nhận, cảm thông, thấu hiểu để rút ra bài học làm người thông qua ý chí. Những bài thơ hay của nhà thơ Hoàng Liên Sơn đều bắt ngồn từ những quan sát, cảm nhận, cảm thông từ đời sống, công việc, hoạt động, quan hệ xã hội, quan hệ gia đình, quan hệ lứa đôi… mà bật ra những tứ thơ hay đến bất ngờ, phải suy nghĩ kỹ, chậm và ám ảnh người đọc. Vì vậy, nhà thơ Phùng Văn Khai và nhà thơ Hoàng Liên Sơn thân gần, gắn kết với nhau từ quan điểm sáng tác là điều không ngẫu nhiên. Tuy vậy, Phùng Văn Khai và Hoàng Liên Sơn đều là những cây bút chuyên nghiệp, có vị trí trong làng văn Việt Nam và mỗi người ngồi trên một khuôn chiếu riêng trong sáng tạo nghệ thuật. Nhà thơ Phùng Văn Khai thương lắm bạn mình là nhà thơ Hoàng Liên Sơn trong sáng tạo văn học, nghệ thuật:
Trong thi phẩm “Thơ viết cho mình”, nhà thơ Phùng Văn Khai đã chọn cách thức thể hiện rất độc đáo từ những đề từ với lý do kể một câu chuyện của mình bằng thơ, với cách viết này theo anh “rất thoải mái, tự nhiên, luôn dễ dàng, được viết tay toàn bộ trên những tờ lịch cũ, cứ thế chuyển đi bạn hữu thân quen thẩm định”. Cách viết này thật cầu toàn, anh muốn thơ của mình nhiều người chia sẻ, đồng cảm trước khi công bố chính thức. Quan niệm về trách nhiệm, về bổn phận của nhà thơ và coi thơ như một khoản nợ cho cuộc đời: “Tôi đã trả nợ được những địa danh, danh nhân văn hoá lịch sử, các danh thắng nơi mình từng thưởng ngoạn, ghi dấu ấn trong các tiểu thuyết lịch sử nay lần lượt hiện vào thơ…” và những vần thơ được viết ra “tất thảy đều từ tiếng lòng riêng mong muốn hoà vào tiếng lòng chung thiên hạ trong khả năng biểu đạt của mình”. Mục đích sáng tạo của nhà thơ Phùng Văn Khai thể hiện rõ trách nhiệm và tâm tình của người “thư ký thời đại” chuyên nghiệp, viết chủ động, có tư tưởng rõ, có mục đích thể hiện tính nhân văn sâu sắc.
Nhà văn, nhà thơ Phùng Văn Khai đã có “thần nhãn” được thể hiện rõ nét trong thi phẩm “Thơ viết cho mình”, từ sự am hiểu sâu sắc về quá khứ, hiện tại và dự liệu tương lai. Nhà thơ đã biểu cảm ở mức độ dâng hiến nhiều nhất tâm trí, tình cảm trong từng chữ, từng câu và bài thơ. Những ý tưởng và tình cảm của của Nhà thơ đã thể hiện trung thực chủ nghĩa nhân văn trong việc hàm ơn lịch sử, quá khứ, trân trọng hiện tại và khát vọng, niềm vui lạc quan, những điều tốt đẹp trong tương lai. Nhà thơ Phùng Văn Khai không trí tuệ hoá tình cảm của mình, mà gắn tâm hồn mình vào mỗi ý thơ, nhịp điệu thơ, nhạc thơ nhưng không lộ diện với tư cách người làm thơ. Vì vậy, hình thức câu chữ dường như ẩn mình để những tâm tư, tình cảm thông qua thẩm mỹ, thăng hoa của câu thơ được vang lên. Thủ pháp thể hiện của nhà thơ Phùng Văn Khai từ cung bậc cảm xúc, bình dị, chân thực, không làm dáng, mà nguyên khôi, tinh tuý, khoẻ khoắn, mập mạp nhạc điệu, ý thơ trong ngôn từ mang tính gợi mở, hun đúc cho khát vọng sống của con người luôn ước mơ và lạc quan với từng ngày, từng tháng. Thơ của Phùng Văn Khai vì thế đã kích thích cảm xúc hướng đạo hành động, trân trọng cái đẹp, không quên quá khứ, không thờ ơ với những di tích lịch sử gắn với quê hương, đất nước, gắn với mỗi dòng sông, cánh đồng, đường làng, cây cổ thụ, ngôi đình, ngôi miếu của nhiều vùng miền khác nhau mà nhà thơ đã đến. Nhà thơ đã thể hiện các bài thơ mang tính khai phá, ơn nghĩa tiền nhân thật trọn vẹn, đầy đặn. Nhà thơ Phùng Văn Khai đã chuyển tải từ ý thức, có trách nhiệm với độc giả bằng phương thức lan toả cảm hứng thông qua nhân sinh quan mang tính bao quát, đầy cảm xúc. Nhà thơ biểu cảm quan điểm, tư tưởng, mục đích sáng tạo thông qua hình thức thơ được cấu tứ thật độc đáo, bất ngờ. Nếu nói văn thơ hay và thâm thuý là “ý tại ngôn ngoại, thì thơ của Phùng Văn Khai đã đạt được yêu cầu thẩm mỹ đó.
Nhà thơ Phùng Văn Khai có nghệ thuật biểu hiện tứ thơ nhằm nhân lên tình cảm dân tộc, bổn phận công dân, tinh thần phục vụ, trách nhiệm với dân tộc, đất nước, lòng biết ơn và không bỉ qua những kỷ niệm gắn với cuộc sống thường nhật của đời người.
Nhà thơ Phùng Văn Khai sử dụng hình thức thơ không cầu kỳ, ngôn ngữ thơ dễ hiểu, chữ thơ không cầu kỳ. Nếu nói, chữ bầu nên nhà thơ, thì không có chữ nào đặc biệt trong thơ Phùng Văn Khai, nhưng nội dung thẩm mỹ, cách kết cấu bài thơ, câu thơ và tứ thơ là những điểm nhấn nổi trội. Những hình thức thơ được sử dụng đa dạng, phong phú, phù hợp với chủ đề của bài thơ về ý, nhạc điệu, thẩm mỹ ngôn ngữ, kết cấu. Có nhiều bài thơ có cấu trúc cổ điển, những câu thơ nhiều âm tiết, tạo hình thái, cấu trúc câu thơ đã mang lại hiệu quả độc đáo. Nhạc thơ không bị dồn nén, âm tiết các câu thơ linh hoạt, thoáng đãng tạo nên nhạc điệu trầm làm rung động người đọc sự đồng cảm, sẻ chia.
Sự sắp xếp ý thơ, liên kết vần điệu đã tạo ra những tứ thơ hay, nâng tầm bài thơ ở một cung bậc thẩm mỹ bất ngờ, độc đáo, thoát khỏi những câu chữ thông thường. Những ràng buộc về câu, chữ của thơ không được xem là nguyên nhân tạo ra bài thơ hay và ngược lại, mà thơ mang hơi thở của thời đại, không gian sáng tạo, nhận thức, thẩm mỹ và cách gợi mở của nhà thơ về tư tưởng, dụng ý sáng tạo được xem trọng. Nhà thơ Phùng Văn Khai đã thể hiện rõ và xuất sắc các đòi hỏi nghiêm ngặt của thơ trong thi phẩm “Thơ viết cho mình”. Nhà thơ Phùng Văn Khai viết truyện lịch sử, viết thơ về đất nước, dân tộc, về các anh hùng, các liệt nữ trong lịch sử hàng ngàn năm oanh liệt, huy hoàng của dân tộc Việt Nam và viết về những người công dân tử tế, nhân hậu. Xem đó như bổn phận của người cầm bút chuyên nghiệp, một sự tri ân tiền nhân, muốn được lan toả trong quá trình hình thành bản lĩnh, bản sắc trong mỗi con người Việt Nam.
Nhà thơ Phùng Văn Khai viết nhiều bài thơ gắn với lịch sử dân tộc, làm phong phủ hơn những trang lịch sử huy hoàng trong các cuộc chống ngoại xâm của dân tộc. Mối liên hệ máu thịt giữa thơ và các sự kiện lịch sử dân tộc bổ sung cho nhau, tính anh hùng ca trong thơ đã tạo nên hiệu ứng đẹp thể hiện tích chất hùng oanh của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử. Theo đó thơ của Phùng Văn Khai trong “Thơ viết cho mình” mang tính sử thi rất nổi trội. Cách viết này không phụ thuộc vào hình thức thơ. Nhà thơ có trách nhiệm, có tư tưởng rõ ràng, có tình cảm và trân trọng các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, không gian và thời gian lịch sử thì cho dù viết dưới hình thức nào, thể loại văn học nào cũng đều toát lên những khát vọng, trách nhiệm, bổn phận của nhà thơ trước mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội đương thời. Nhà thơ Phùng Văn Khai đã xác định rõ trách nhiệm của người cầm bút chuyên nghiệp và anh đã làm được những yêu cầu đó tự nguyện, hiến dâng với tất cả tư tưởng tình cảm của mình. Sự trải nghiệm, tính nhân văn của nhà thơ Phùng Văn Khai đã thể hiện rõ không những trong tiểu thuyết lịch sử anh đã viết, mà còn được anh làm rõ trong các bài thơ mang tính sử thi bi hùng, trầm lắng sâu sắc. Những trang tiểu thuyết lịch sử và các tập thơ của anh, đặc biệt trong thi phẩm “thơ viết cho mình”, đã gợi mở tư tưởng, ý chí, mục đích sống và khát vọng vươn lên cho nhiều người, nhiều thế hệ hôm nay và mai sau trong việc bảo vệ, xây dựng đất nước, tri ân tiền nhân và khát vọng vươn lên trong không gian Việt Nam và khẳng định bản lĩnh dân tộc Việt Nam trong các quan hệ quốc tế hôm nay và mai sau.
Qua các tập thơ trước của anh và thi phẩm “Thơ viết cho mình”, người đọc nhận thấy những nét nổi bật trong từng bài thơ, từng tập thơ của nhà thơ Phùng Văn Khai là nghệ thuật liên tưởng trong biểu cảm tư duy thẩm mỹ nghệ thuật. Những sự vật, sự việc và con người hữu danh hoặc vô danh được đặt trong mối quan hệ với đời sống xã hội nhất định đều hàm chứa một giá trị tự thân nào đó, nếu nhà thơ biết khai thác sẽ tạo ra những không gian nghệ thuật phục vụ đời sống tinh thần của con người không hề nhỏ. Qua bút pháp, trách nhiệm, mục đích, tư tưởng sáng tạo kết hợp với tình yêu thương con người, vì con người, đồng cảm với những số phận khổ đau, mất mát và gợi mở niềm tin, lạc quan, khát vọng sống, khát vọng vươn lên thông qua ngôn ngữ thơ phù hợp với nhiều người đọc, thì thơ sẽ được đón nhận không phụ thuộc vào chủ đề cũ hay mới. Sáng tạo nghệ thuật thơ thì không có chủ đề nào là cũ. Thơ Phùng Văn Khai trong thi phẩm “Thơ viết cho mình” đã đạt được những yêu cầu như đã viện dẫn trên đây. Theo đó, thi phẩm “Thơ viết cho mình” là sản phẩm trí tuệ mang lại lợi ích tinh thần cho mọi người thuộc mọi giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và không gian sống.
Hà Nội, tháng 4 năm 2026.

























