Sáng thứ hai 3 tháng 6 năm 2024, lần đầu tiên tôi được lên tầng hai Nhà số 4 Lý Nam Đế, lần đầu tiên tôi được gặp Thượng tá, Phó tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Phùng Văn Khai. Gặp nhau lần đầu thường để lại ấn tượng.
Tôi gặp nhà thơ chủ yếu nói về việc tôi phổ nhạc bài Thơ về mẹ của Phùng Văn Khai. Nghe Thượng tá, Phó tổng Biên tập nói phải cử người đi họp thay để có thì giờ tiếp tôi, thật là cảm động! Tôi tặng nhà thơ tập nhạc Màu áo chú bộ đội – 100 ca khúc thiếu nhi và mấy tài liệu về hoạt động âm nhạc của tôi, nhưng lại nhận được rất nhiều tập sách quý, đặc biệt là tập Thơ Phùng Văn Khai.
Hai ngày qua (ngày 3 và 4 tháng 6), tôi bỏ lại mọi việc phải làm để đọc tập thơ Phùng Văn Khai (339 trang) với lòng cảm phục và tình cảm chân thành về sức trẻ làm việc sáng tạo và tài năng của nhà thơ, Thượng tá, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi viết về cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc tập thơ Phùng Văn Khai. Mỗi bài thơ tôi ghi lại vài câu tôi tâm đắc nhất, bài Thơ về mẹ tôi đã phổ nhạc (toàn bài), (những chữ in đậm là ý của tôi). Ba bài: Sông Lăng (tr.42); Nhắn tìm đồng đội (tr.123); Tâm sự người may trang phục Bác Hồ (tr.127), tôi sẽ phổ nhạc (trích thơ).
Bìa tập thơ Phùng Văn Khai.
NHỮNG CÂU THƠ TÔI TÂM ĐẮC QUA CÁC BÀI THƠ CỦA PHÙNG VĂN KHAI
1. Bài Khúc sông Hồng (tr.09):
Mặt sông Hồng rạng như hoa
Mỉm cười trăm tuổi mẹ ta về trời.
Mẹ về trời câu hát vẫn ru ta
Thì thầm cúi hỏi sông thao thiết
Âm âm lời đá núi mây bay
U u sừng trâu cọ ngày vỡ đất.
2. Bài Người Hà Nội ở Trường Sa (tr.11)
Những người con Hà Nội ở Trường Sa
Mặt trời mọc bình yên chân cột mốc
Cây cau mẹ trao anh trồng góc sân chùa Nam Yết
Hoa nở trắng thì thầm lá xanh giữa trời xanh.
Những người con Hà Nội ở Trường Sa
Cúc thắm đào phai thêm ấm nòng súng thép
Mỗi người con một lá cờ Tổ quốc
Một ngôi sao mang máu thịt Tiên – Rồng.
Bìa tập thơ Phùng Văn Khai.
Nhạc sĩ Hoàng Giai (bìa trái) và nhà văn Phùng Văn Khai.
3. Bài Hạt giống (tr.12-13)
Hạt mẩy cựa mầm thơm giếng cổ
Chồi non tí tách bóng trăng loang
Ta từ buổi biệt tường rêu cũ
Hạt giống gieo xa mở mùa màng.
4. Bài Mùa màng (tr.15)
Nắng đã trải thơm đồng xanh tiếng hát
Cây dâng hương se sắt khúc đường xa
Kia mắt biếc hẹn ai mùa trĩu hạt
Quả trong vườn thơm ánh nắng u oa.
5. Bài Mùa màng (II) (tr.16)
Ta đất cát lấm lem khét tóc râu ngô mực loang áo vá
Em đứt cúc âm thầm măng nhú trâu lá gãy sừng
bật khóc trăng lên
Đá núi Ba Vì đêm đêm vọng tiếng người
chia thóc sân đình hạt mẩy đung đưa cổ tích
Ta lăn tròn trong hương lúa thơm nguyên.
6. Bài Lau sông Hồng (tr.18)
Vẫn là lau sông Hồng đấy thôi
Phần phật bay mừng Vạn Xuân – Trấn Quốc
Đinh – Lý – Trần – Lê… nối nền độc lập
Lau sông Hồng xanh mát suốt nghìn năm.
7. Bài Cây bàng góc phố (tr.20)
Trăm năm chống trời góc phố
chìm nổi thịnh suy
cơ hàn gân cốt
tự mình ngẫm nghĩ cao xanh.
8. Bài Hà Nội của tôi (tr.22)
Hà Nội của tôi
ngõ nhỏ không tên
gốc sấu già sần sùi khô khốc
cỏ sông Hồng thơm mát
vai em mềm như một tiếng chuông đêm .
Hà Nội của tôi
đau đớn, hiền lành
chân chất, thơ ngây, dịu dàng Hà Nội
mai rồi tan mây khói
tôi ở đâu trong hút hắt sông Hồng.
9. Bài Mưa hoa (tr.23)
Quả thơm hương đi về mây phủ
Nỗi mưa hoa mấy phố giăng đèn
Em về chim ấm tổ
Sông khuya loang lạnh lau đêm.
10. Bài Chợ đêm Long Biên (tr.24)
Mai rồi ta về với cỏ
Có còn chợ đêm Long Biên?
Sông Hồng ngoài kia còn đó?
Hoa lau còn bạc đêm đêm?
11. Bài Nhà số 4 (tr.25)
Nhớ người đi vào mây trắng
Trang văn nao nức lửa đèn
Nhớ người từng đêm lạnh vắng
Sông Hồng như lửa đang nhen.
12. Bài Hỏi sen (tr.27)
Sen ơi, sen bao nhiêu tuổi?
mãi thơm sâu nụ hôn đầu.
Sen ơi, áo ta sao bạc
mồ hôi ủ vết chân trâu.
Nhạc sĩ Hoàng Giai (bìa phải) và nhà văn Phùng Văn Khai.
13. Bài Sen cởi áo (tr.28)
Hé chồi nghiêng lưng
Mưa mừng chấp chới
Chúm chím hương bung
Xanh ngần tơ tuổi.
14. Bài Thơm sen (tr.29)
Mười năm
đằng đẵng sen khuya
đợi thức
xanh hương nhụy
Anh về
tấm giấy
tiếng mõ chùa tự bấy thơm sen.
15. Bài Khúc sen (tr.30)
Thơm vào tượng thơm vào bia
Thơm từ cổ tích nong nia giần sàng
Tháp Mười sóng nước mênh mang
Sen ôm bóng nước hồn làng xưa sau.
16. Bài Đêm sen Gò Tháp (tr.32)
Ta quỳ xuống trước mộ người tuấn kiệt
Quỳ trước sen Gò Tháp giữa sương khuya
Quỳ trước máu xương mấy nghìn tráng sĩ
Đã một đi không hẹn buổi quay về.
17. Bài Sen Tháp Mười (tr.33)
Mái dầm thơm từ mỗi gốc sen
Ngọn gió Tháp Mười thơm sắc cờ Tổ quốc
Máu chảy giữa lòng thơm lên phía trước
Sen thơm hồng trong đêm sáng ngoài kia.


37. Bài Cô tôi (II) (tr.66)
Chong đèn xót sợi tóc xanh
Bơ vơ bám níu thác ghềnh nhân gian
Cô tôi quét lá đa làng
Lặng mong một bóng đò ngang cuối trời…
38. Bài Lời lá dâu (tr.67)
Buồn mà chi lắm tằm ơi
Tơ vàng rút ruột, nợ đời trả xong…
Tôi sinh ra ở bờ sông
Mùa chan nắng cháy, mùa dầm mưa ngâu
Một đời bám bíu đất nâu
Đợi ngày khôn lớn làm dâu nhà tằm.
39. Bài Về (tr.68)
Ba lô bạc trắng ba miền
Cỏ may dệt kín nỗi niềm chắt chiu
Một mình con, một mình chiều
Một mình con với một chiều ngẩn ngơ…
40. Bài Sông quê (tr.69)
Một dòng sông, một mình tôi
Lao xao cá đớp, bồi hồi nước dâng
Cỏ may ngàn ngạt triền sông
Hoa bèo tây vẫn tím bầm… ngày xưa.
41. Bài Chị (tr.70)
Đời người như cánh buồm xuôi
Chị tôi lội ngược một thời xuân xanh
Mấy ngày một cuộc chiến tranh?
Mấy lần trăng khuyết trăng lành trăng vơi.
42. Bài Bên phố núi (tr.71)
Ngỡ ngàng phố chợt hiện ra
Bên là mây trắng bên là sông nghiêng
Mải mê trăng vẫn lưỡi liềm
Mặc ta tan với sắc riêng đất trời.

43. Bài Tự khúc (I) (tr.72)
Qua được thác, qua được ghềnh
Êm dòng tìm lại cái mình đánh rơi
Thuyền xưa đậu bến khác rồi
Chờ tôi mòn mỏi em tôi lấy chồng.
44. Bài Tự khúc (II) (tr.73)
Tôi còn sống còn thương yêu
Còn xa xót những cánh diều đứt dây
Còn thèm muối mặn, gừng cay
Cầm vàng còn bảo vàng hay không vàng.
45. Bài Tự khúc (III) (tr.74)
Tôi về thuyền ai qua sông
Ngu ngơ khói trắng thả trong mắt trời
Phởn phơ cây cải bên bồi
Thân rau răm đắng cạn đời còn đau
…
Đất cằn ai bỏ rơi thơ
Cái khôn không nhặt, tôi khờ nâng niu…
46. Bài Tự khúc (IV) (tr.75)
Người như biển rộng bao la
Bao nhiêu là đủ đủ là bao nhiêu
Xưa thương phận gái Thúy Kiều
Nay ta xót một lời yêu của mình…

47. Bài Tìm (I) (tr.76)
Chiến trường dài mấy mươi năm
Hai đầu cánh võng ai nằm nhớ ai
Bao giờ thì lá trầu phai
Người không về… rét giêng hai lặng thầm.
48. Bài Tìm (II) (tr.78)
Cái ngày người hẹn tôi
Vệt sóng hằn trên cát
bây giờ tôi trở về
trắng lòng sông bỏng rát.
49. Bài Dòng sông tự hát (tr.79)
Một đời dòng sông trôi xuôi
phù sa lấp chìm đen bạc
trời xanh bình lặng bao nhiêu
văng vẳng dòng sông tự hát…
50. Bài Nghe thu(tr.80)
Con đường quen tiếng chân lao xao
lá ngơ ngác rắc vàng xuống phố
cây lộc vừng chờ ai lá rơi đầy ngõ
lũ ve sầu không hát dắt nhau về đâu
trầm mặc con đường vòm sấu thâm nâu…
51. Bài Phố núi (tr.81)
Bao giờ tôi hết đam mê
về bên hoàng hôn phố Núi
chợt chiều chợt mây chợt khói
ngày xưa ai trốn ai tìm.
52. Bài Thơ về Cao Lỗ (tr.82)
Đất Gia Bình cây xanh muôn dặm
Thành Phong Châu mây trắng còn bay
Thạch Thần uy dũng xưa nay
Trời Nam nức tiếng tên bay nỏ thần.
53. Bài Bạch Đằng Giang (tr.85)
Vai áo em xanh mười chín tuổi
Bạch Đằng Giang xanh
Cỏ mềm chân em xanh mãi mãi
Thì thầm kết đóa hoa xanh…
54. Bài Chúc văn ngôi Đế Vạn Xuân (tr.86)
Đất có chủ muôn phần huân quý
Người phương Nam xưng đế phương Nam
Hồng Bàng kế đến Hùng Vương
Thục Vương, Triệu Đế, Trưng Vương một nhà.
55. Bài Lý Bí (tr.94)
Sáu tuổi vào cửa chùa
Trăng loang màu kinh sách
Bốn mươi tuổi lên ngôi
Lập Vạn Xuân khai Quốc.
—————
[1] Gia Bình thuộc tỉnh Bắc Ninh, là nơi sinh ra tướng quân Cao Lỗ, dân gian suy tôn là Thạch Thần.

56. Bài Vị quan trạng họ Phùng (tr.96)
(Tưởng nhớ Hữu tướng Phùng Thanh Hòa thời Tiền Lý)
An Hoa Trang sinh Trạng
Huân công phò Lý Bí lập Vạn Xuân
Người đi mây nước sáng ngần
Người về tơ tóc chuông ngân hoa cười.
57. Bài Trước đền Lý Thường Kiệt (tr.97)
Hành binh tiến vào đất giặc
Vang lừng Hịch lộ bố văn
Như Nguyệt đêm trăng giết địch
Vằng vặc Nam triều nghìn năm.
58. Bài Trước lăng mộ Thái phó Phùng Tá Chu (tr.99)
Người xưa đã về mây trắng
Cây xanh xanh mấy trăm năm
Đồi Cao thong dong mạch đất
Văn bia vằng vặc Tây Đằng.
59. Bài Hưng Đạo Vương (tr.102)
Ba lần đuổi Nguyên Mông
Trần triều thơm sử sách
Người khoan thư sức dân
Như mây trời thanh sạch.
—————-
[1] Một bản Hịch nổi tiếng của Lý Thường Kiệt.
[2] Phùng Tá Chu làm quan tới chức Thái phó, tước Hưng Nhân Đại Vương hai triều Lý – Trần.
[3] Đồi cao: Nơi đặt Khu lăng mộ Thái phó Phùng Tá Chu.
60. Bài Trước đền Phạm Ngũ Lão(tr.103)
Lặng thầm tre đan sọt
Giáo xuyên đùi như không
Mà tung hoành vạn dặm
Vang hịch truyền Quốc công.

61. Bài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (tr.105)
Thiên hạ mênh mang vạn dặm
tiếc gì một thoáng mây bay
Vương quyền đảo điên sớm tối
Cỏ hoa liệu có thanh nhàn.
62. Bài Trước lăng cụ Trạng(tr.106)
(Thay lời cảm tạ nhà thơ Trần Lê Văn)
Sinh từ mẹ từ cha
Sinh từ trời từ đất
Rường cột trải mấy triều
Mềm mại, cương cường, bất khuất
Mà nôm na đồng áng KẺ BÙNG.
63. Bài Xác Lộc hầu Phùng Đức Nhuận (tr.108)
Sinh đất Nội Hoàng, Yên Dũng
Lê Triều, Chúa phủ mang mang
Xuất tướng cầm quân đánh giặc
Nghiệp triều Tổng quản vua ban.
64. Bài Kính vọng Ức Trai (tr.110)
Ta đâu cần bia, bảng
Ơi nọc người thế gian
Trả máu non tơ tóc
Về u oa tiếng đàn.

65. Bài Phùng Cung(tr.111)
“Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh”
Ngựa già mấy kiếp phù sinh
Cung vua phủ chúa cũng đành đoạn thôi
Bỏ quên gươm báu bên trời…
…
Lẽ nào trần thế, thế thôi
Mặt nhân nghĩa chẳng sống đời nghĩa nhân.
—————-
[1] Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan… Bài Ông Trạng của nhà thơ Trần Lê Văn như ngân nga phảng phất đâu đây vọng về…
[1] Phùng Đức Nhuận được phong tước Xác Lộc hầu – Tổng Thái giám dưới hai triều vua Lê (Lê Hy Tông, 1675-1705; Lê Dụ Tông, 1706-1729), tương ứng hai đời chúa Trịnh (Trịnh Căn, 1682-1709; Trịnh Cương, 1709-1729).
[1] Phùng Cung (1928-1998) là một trong những nhà thơ có giọng thơ phong dao, đặc sắc… Bài thơ này có sử dụng nhiều ý thơ của ông… (viết cho thể hát văn).
66. Bài Mãi nhớ lời mẹ dặn(tr.114)
Yêu ai, ai ghét, ghét ai
Đêm Nghi Tàm buốt dặm dài áo cơm
Lời mẹ dặn đinh ninh trong dạ
Quỳ xuống đất làng con tạ quê hương.
67. Bài Nhớ nỗi mây bay(tr.116)
(Kính tặng Đại tướng Phùng Quang Thanh)
Mẹ vẫn ngóng người con thứ nhất
Con vẫn về bên mẹ thôi nôi
Hiền như đất, hiền như đôi mắt
Mà mở ra thanh thoát xa khơi…
68. Bài Vị Đại tướng họ Phùng (tr.117)
(Kính tặng Đại tướng Phùng Quang Thanh)
Trận đánh Đồi Không Tên
Kinh hoàng quân cướp nước
Đêm trăng sáng Khe Sanh
Trong ngẩn niềm mơ ước.
69. Bài Sắc cờ Phùng tộc với non sông (tr.119)
(Kính tặng Đại tướng Phùng Quang Thanh)
Con xin hát một câu hát cũ
Tiễn người đi vào cõi vô cùng
Con xin đọc lại lời thề cũ
Sắc cờ Phùng tộc với non sông.
70. Bài Cảm xúc Sài Gòn(tr.121)
(Tưởng nhớ nhà văn – liệt sĩ Nguyễn Thi)
Tôi đi
đêm mưa đều đặn những nốt giày
rồi sẽ tạnh thôi trời Sài Gòn là thế
câu mẹ hát ru cuộc đời dâu bể
ánh chớp thanh bình trong mắt cha tôi.

71. Bài Mưa xứ Đông(tr.126)
(Kính viếng nhà thơ Hoàng Cầm)
Trời rộng như nhau
mưa dần xanh cỏ
đời chật như nhau
bốn bể sóng gió.
72. Bài Tưởng nhớ Thanh Tùng (tr.130)
Người cất bước Hải Phòng áp tải
Cánh buồm giong ứa máu lưng cây
Câu hát cũ đã dần thinh lặng
Màu hoa kia tím sẫm hai tay.
73. Bài Người về đồng cói (tr.131)
(Tưởng nhớ nhà văn Lê Lựu)
Trăm năm mấy cuộc vần xoay
Người về đồng cói mưa bay mịt mùng
…
Đường càng xa chí càng bền
Một Thời xa vắng đã bên kia trời.
74. Bài Sài Gòn mùa thu(tr.132)
(Tặng nhà thơ Hoài Vũ)
Người ở đây ư? Sông Vàm Cỏ
Thu đã Sài Gòn, trong trẻo quá
Đã mấy bưng biền, đã mấy xa
Còi tàu đã khắp mấy sân ga.

75. Bài Người đi bỏ mặc nhân gian (tr.133)
(Tặng Đào Bá Đoàn)
Người đi tìm lửa tìm than
Ta ở lại với lá gan đợi người
Trăm năm muôn sự ở đời
Người đi xanh biển, đợi người xanh dâu…
76. Bài Kẻ độc thân (tr.134)
(Tặng Trần Hưng)
Một rùa thiêng mẹ Âu Cơ
Một rồng thiêng, một thế cờ Long Quân
Một năm, một tháng, một tuần
Một Trần Hưng với lưng chừng Trần Hưng.

77. Bài Nói với đường làng (tr.135)
(Tặng nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn)
Giọt nước từ vai em lăn xuống
Bật chồi xuân châu thổ sông Hồng
Đường làng đã tưng bừng khai hội
Sao có người vẫn đứng bâng khuâng…
78. Bài Bè bạn (tr.137)
(Tặng Nguyễn Anh Nông, tác giả Bàn tay lá cỏ)
Một bàn tay anh một bàn tay tôi
mơ xanh lá cỏ
một chân trời anh một chân trời tôi
gầm gào sóng gió
Chợ chiều chẳng họp mà tan
thương ai chiếc lá trầu vàng rụng rơi.



![[Clip]: Tháp cổ nghìn năm bên sông Lam, nơi phát hiện bảo vật quốc gia quý hiếm [Video]: Tháp cổ nghìn năm bên sông Lam, nơi phát hiện bảo vật quốc gia quý hiếm](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/06/Thap-co-nghin-nam-h2-218x150.jpg)















