Phải sống cạnh nhau [Kỳ cuối] – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Phải sống cạnh nhau [Kỳ cuối] - Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa phải) tặng tập thơ mới "Nguyện mở" (NXB Hội Nhà văn, 2024).

 

Chiến tranh là trạng thái bất thường. Ở đó có những điều vốn là ưu điểm trong thời bình giờ thành nhược điểm, bởi tính toán của Trần Bá Tiên là: “Tên Lý Bí vốn xuất thân cửa Phật ắt sẽ không lỡ rời thành bỏ mặc dân chúng sẽ càng khiến quân chúng thêm rối mà vỡ trận”. Y đã đọc vị được không chỉ tướng lĩnh mà ngay cả quân vương. Quả thực, trong màn tái chiến Lý Nam Đế dường như không còn là một nhà quân sự nữa; hầu như không tham gia vào bàn thảo các kế hoạch tác chiến ngay cả khi còn chưa ốm bệnh. Ngần ngại giết người có thể cũng từ tâm Phật mà ra.

Thật bạc phước cho nhà nước Vạn Xuân; bởi còn non trẻ mà đã gặp ngay kẻ địch quá cáo già, là vị vua đầu triều của nhà Nam Trần. Sau khi đội tuyển bóng đá Việt Nam bị loại ở vòng loại trực tiếp, nếu đối thủ ấy vô địch thì fan đội nhà có được cái giải an ủi là chỉ thằng vô địch thắng được ta. Bạn đọc yêu nước của tiểu thuyết này cũng có được giải an ủi ấy.

Trần Bá Tiên quả là có chân mệnh đế vương; bởi ngay từ khi chức bé, y đã kết giao và giữ bên mình mưu sĩ ghê gớm. Những băn khoăn của y ở tầm đế vương. Y nói với Trang Sâm: “Hoàng thượng vốn ưa thích đánh cờ người và việc khiến tướng kiềm chế canh chừng lẫn nhau vẫn là hảo công phu của hoàng thượng. Hạ quan chỉ e rằng cáo thỏ săn hết thì cung tên tất bị phế bỏ mà thôi”.

Trang Sâm cười ha hả: “Cái chính yếu là Tiêu thị muốn răn đe các đại thần, các thuộc quốc lân bang ở Trung Nguyên đấy. Giao cho ngài thống suất thủy quân lại để ở chức Tư mã Giao Châu trong khi phong Dương Phiêu làm thứ sử ý tứ sâu xa lắm”.

Và sau khi nghe lời Trang Sâm, họ Trần đã dặn dò bọn quan văn nhất loạt “mọi mệnh lệnh, phép tắc, công trạng đều là vâng mệnh Lương Vũ Đế, thừa lệnh Dương thứ sử để tránh sự xúc xiểm sau này”.

*

*     *

Ở tiểu thuyết Nam Đế Vạn Xuân, tam bảo Phật Pháp Tăng đều đã góp phần lớn lao trong tiến trình chuẩn bị khởi nghĩa cũng như giành độc lập dân tộc. Vậy khi chuyển sang giai đoạn giữ nước thì sao?

Dâng hương bên chùa Khai Quốc xong, hoàng thượng nói với sư phụ Phùng Hiển: “Ta nay dẫu vạn lần không muốn, song trước mắt chưa có kế gì ngăn chặn dã tâm phương Bắc. Hay tại ta tài đức quá mỏng, không xứng ở ngôi quân trưởng nên đất trởi nổi giận chăng?”.

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa trái) và các bạn vănNhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa trái) và các bạn văn.

Trước đây Phùng sư phụ vốn tính tình phóng khoáng, vẫn uống rượu bằng bát lớn và không phân biệt chay mặn. Tuy nhiên từ ngày đô đốc Triệu Quang Thành tử trận, Phùng sư phụ đột nhiên tuyệt không dùng đồ mặn nữa. Ông thong thả đáp: “Hoàng thượng nói như vậy là có ý trách trời đất vô tình chăng? Hay hoàng thượng cho rằng các vị sư phụ đã dắt người vào cơn mê lú?”

Và từng lời sau đó của sư phụ cho thấy sự điềm đạm minh triết của người có đạo học, xứng đáng là đệ tử chân truyền của Tôn giả Xá-Lợi-Phất, người được tôn xưng là trí tuệ đệ nhất trong các đại đệ tử đầu tiên của Đức Phật.

Ông nói về cái cách mà chúng sinh bình đẳng trong tâm không phân biệt: “Cây cao thì chống trời cỏ thấp thì mát đất há dễ so bì”.

Ông chấp nhận vị trí của nghịch duyên: “Chẳng có quốc thái dân an nào không bắt đầu từ núi đao biển lửa. Ác mọc như lông mọc”.

Ông cũng chỉ ra cái dã tâm của người phương Bắc tựa như “tập đế” trong tứ diệu đế khổ – tập – diệt – đạo chẳng dễ phá bỏ: “Dã tâm người phương Bắc đâu chỉ có ở một sớm một chiều”.

Đáp lại, Lý Nam Đế cũng khiêm nhường chia sẻ: “Ngay cả ngày lễ trọng nơi thái miếu tổ tiên Tiêu thị đã quy định phải giết trâu bò dê lợn, Lương Vũ Đế đã nhất nhất hạ lệnh thay đổi cho nặn đồ chay hình thù trâu bò dê lợn thế thân gây chấn động đạo gia các phái Trung Nguyên, tức là độ hành pháp của Tiêu thị đã tự giác ngộ cao lắm. Vậy cớ gì không chỉ Vạn Xuân xa xôi chịu tai ương binh lửa, ngay Nam Tề, Bắc Ngụy lân bang, lương Vũ Đế cũng khiển tướng chinh chiến liên miên, xương người chất cao như núi”.

Và, tôi giật mình vì đức vua nói: “chuyển nhà đã khó, chuyển nước là chuyện khó hơn lên trời.” Bạn đọc thân mến, bạn có thấy tương đồng với điều gì được lãnh đạo ta mới chia sẻ không? “Muốn hay không vẫn phải sống cạnh nhau, không ai chọn được láng giềng”. Còn ai nói xin để bạn tự lục tìm trong ký ức của mình; cũng là dịp để bạn tự quán chiếu lại xem mình quan tâm đến vận nước bao nhiêu. Cũng bởi lẽ đó mà bài tùy bút này có tên là Phải sống cạnh nhau.

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (ngoài cùng bìa phải) tặng tập thơ mới "Nguyện mở" (NXB Hội Nhà văn, 2024) của ông cho sư thầy chùa Phúc Lâm - Ân Thi - Hưng Yên.Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (ngoài cùng bìa phải) tặng tập thơ mới “Nguyện mở” (NXB Hội Nhà văn, 2024) của ông cho sư thầy chùa Phúc Lâm – Ân Thi – Hưng Yên.

Ông cũng chỉ ra rằng dù Phật pháp nhiệm màu, vẫn vô vàn pháp bất khả tư nghì, huống chi chuyện nhận ra bản lai diện mục của hoàng đế họ Lương sau khi giết vua cùng họ do chính y lập lên: “Đột ngột sùng Phật, chuyên cần chay tịnh đến cổ kim chưa thấy càng như câu hỏi mãi mãi không có lời giải đáp thấu đáo thì quả rằng Tiêu thị đã là đại lão hồ li nghìn tuổi không dễ gì nắm bắt tâm can chí hướng được đâu”.

Tới đây, tôi chợt nhớ việc cả dòng họ Thích đã bị vua Tỳ Lưu Ly giết mà Đức Phật cũng chỉ có thể ngăn được lần thứ nhất (bằng lời khuyên) chứ không ngăn được lần thứ hai. Ngài chân thành nói: Ta có hai điều không thể, một là không thay đổi được nhân quả và hai là không độ được kẻ vô duyên.

Vậy, trong tiểu thuyết này tam bảo thời đó đã cho chúng ta hiểu từ các bậc thánh tới phàm nhân; để có thành tựu, bên cạnh trí tuệ siêu việt còn buộc phải thực hành hạnh kham nhẫn. Có lẽ cũng giống như người Do Thái trước khi có nước thì phải chịu ly tán lưu đày mấy nghìn năm.

*

*     *

Phe xâm lược đã tính toán đúng một nửa về Lý Nam Đế. Trái ngược với Lương Vũ Đế, ông quả thuần khiết và dễ nắm bắt hơn trong quá trình thực hành giáo pháp của Đức Phật.

Tuy nhiên dù cá nhân ông có thể: “Ta sao lỡ rời các vị lão thần mà tìm yên ổn cho mình. Lý Bí ta đâu phải không thành thạo cung kiếm, đao thương. Hãy để ta ở lại cùng các tướng tử chiến giữ thành”.

Thì bầy tôi vẫn phải hiệu chỉnh những sự cực đoan dù là bắt đầu bằng cái tâm đại từ đại bi đi nữa: “Hoàng thượng là quốc chủ của một nước, là long mạch của quốc gia, nếu không vạn bất đắc dĩ tuyệt đối không được xông trận. Hoàng thượng phải giữ gìn long thể để toàn dân trông vào mới yên đại cục”.

Rốt cuộc ông đã nhận ra nhiệm vụ đích thực của mình: “Nay mai cả đội quân của Trung lang tướng từ Hàm Hoan, Cửu Đức trở về cứu giá cũng giao cho nhị vị tiết chế. Ta sẽ sớm tới thành Gia Ninh cùng quân sư và các lão trượng vùng Cổ Pháp, Bạch Long, Tây Vu, Phong Sơn, Tân Hòa… hiệu triệu trai tráng làm kế thanh viện cho các tướng”.

Sau những chiến thắng liên tiếp, Trần Bá Tiên sơ kết với Trang Sâm, không rõ là khiêm tốn giả vờ hay nghĩ tới thời vận: “Cả đám binh hùng tướng mạnh Vạn Xuân vài tháng trước còn hung hăng vượt biển phạm vào Hợp Phố thoắt cái đều như cá trong nồi. Như vậy có phải là trời giúp ta chăng?”.

Trang Sâm tỏ ra quá hiểu thượng cấp: “Trần Tư mã quả là khéo hỏi! Nay quân Đại Lương nhờ thiên uy của hoàng thượng, sự vũ dũng của Tư mã tạm thắng được vài trận khiến vua tôi man di phải cùng đường tuyệt lộ dắt díu nhau vào nơi rừng rú, đến ngôi thành đất cũng sắp bị san bằng; không riêng gì là ở lòng trời đâu”.

Y nhắc khéo yếu tố chủ quan đồng thời giảm bớt yếu tố khách quan trong những chiến thắng đó để đưa họ Trần về lại mặt đất.

Và y cảnh báo rõ ràng: “Việc bình định phương Nam mới chỉ bắt đầu mà cái họa đã sớm có mầm rồi đó”.

Bạn đọc sẽ trải qua những cảm xúc hết sức nặng nề khi thành Tô Lịch mất sau một trận chiến khốc liệt không cân sức, hai vị lão tướng Triệu Túc và Phạm Tu hy sinh; nhưng cũng đến lúc được cổ vũ bởi họa của giặc cũng là phúc của ta.

*

*     *

Một chiến thắng hoàn hảo của Lý Thiên Bảo trước Bố Đa Ngai không đủ để lật ngược thế cờ; nhưng cũng từ đó xuất hiện nhân tố mới là Lý Phật Tử, mặt rộng mũi to, cằm vuông tai lớn tỏ ra có tầm nhìn xa trông rộng: “Nay nếu quân ta dốc toàn binh lực về Long Biên cứu giá, chẳng may bọn Dương Sằn, Trần Bá Tiên dùng chiến thuyền tập kích vào cửa biển Hoan Châu, Ái Châu khi đó đã trống rỗng, rồi chúng trong đánh ra ngoài đánh vào, Vạn Xuân ta ắt không còn cơ hội nào thủ thắng. Nay chi bằng ta hãy chia binh thủ hiểm ở Hoan Châu, Ái Châu, phái ba ngàn kỵ binh chiến giáp vượt đèo cổ họng xuống Long Biên nghe ngóng binh tình rồi tùy cơ hành sự mới là thượng sách”.

Nhà văn Phùng Văn Khai (áo trắng) và các bạn vănNhà văn Phùng Văn Khai (thứ 2 bìa trái) và các bạn văn.

Đó là người được Lý Thiên Bảo nuôi dạy và từ nhỏ đã khiến bản thân ông “mừng thầm nhưng vẫn phân vân không biết liệu rồi thằng bé thông minh nhưng có phần lạnh lùng tàn nhẫn này mai kia công quả sẽ ra sao?” Ông phân vân, nhưng chính vì vậy mà Lý Phật Tử mới trở nên khó nắm bắt và suy đoán, đủ sức cầm và giữ cây gậy cha anh trao cho trong cuộc chạy tiếp sức đường trường của lịch sử.

Mặc dù lúc đó Lý Thiên Bảo đã không bằng lòng: “Mưu kế của Phật Tử dẫu có lý song chỉ là kế giữ mình mà thôi. Quốc gia lâm nạn, hoàng thượng phải bôn ba khỏi kinh thành, hỏi rằng ngồi giữ binh tướng nơi Hoan Châu, Ái Châu để làm gì? Ta thà thịt nát xương tan quyết dốc toàn lực xuống Long Biên huyết chiến với giặc”.

Mặc dù vậy, kết cục của trận đánh tiếp theo đã cho thấy đại cục cần đến cái “có lý” của Lý Phật Tử. Trung lang tướng thua trận và vẫn phải rút lui qua những ngả đường vô danh sang tá túc tạm bên vùng đất của người Lạo chờ thời.

Mất Long Biên, Gia Ninh, Cổ Loa; và ngay cả căn cứ chế tạo thuyền bè vũ khí Đầm Bạch Long cũng phải bỏ nốt để lui về hồ Điển Triệt. Sự chênh lệch quá lớn về lực lượng trong điều kiện thời tiết mưa to gió lớn nước hồ dâng cao gây bất lợi cho các chiến thuyền nhỏ của Vạn Xuân, nên căn cứ cuối cùng cũng mất nốt, mất luôn cả vị quân sư lỗi lạc Tinh Thiều.

Tuy nhiên, tướng và quân mất, thành mất vẫn chưa phải là mất trắng. Còn đó một vị quốc chủ vẫn sáng suốt dù mắt đã mù: “Xương máu sĩ tốt bách tính Vạn Xuân không thể phung phí bừa bãi được. Nay trẫm lệnh hai tướng hãy đem quân bản bộ về đất của mình chiêu tập hiền sĩ bốn phương kiên trì mưu đại nghiệp. Các ngươi còn trẻ mới là chỗ trông cậy của bách tính Vạn Xuân”.

Và khi hai tướng dập đầu nói: “Chúng thần thà chết nguyện theo hoàng thượng” thì ngài rành mạch: “Hai tướng bất tất phải theo lối ngu trung”.

Tôi đã khựng lại ở cụm từ ngu trung này rất lâu, cảm nhận một màu nhiệm sâu xa. Bởi vì từ vài chục năm trước tôi đã trao đổi với bạn bè người thân về khái niệm “ngu hiếu”. Nôm na là cứ chiều theo ý của cha mẹ mà cố đẻ cho được đứa cháu trai nối dõi tông đường thì đó là ngu hiếu. Có cái hiếu mù quáng thì cũng có cái trung mù quáng.

Phải chăng sự tương đồng trong tư duy ở nhiều lĩnh vực giữa tôi và tác giả đã khiến tôi đọc, viết mà như đang hòa nhịp với chính suy tư cùng cảm xúc của ông?

*

*     *

Trước khi cuộc khởi nghĩa Lý Bí nổ ra, phương Bắc đã thiết lập một hệ thống cai trị có chiều sâu, cắt đặt người đại diện tới tận chính quyền quận huyện; đó cũng là kết quả của một quá trình dài tính bằng nhiều thế kỷ.

Lần này mặc dù đã cơ bản tiêu diệt quân đội của Vạn Xuân, nhưng sau đó theo lệnh của Dương Phiêu: “Rút về quân doanh Long Biên chỉ để lại một ít quân thủy bộ cùng vài tên đô tướng trấn giữ thành Gia Ninh và đội chiến thuyền năm mươi chiếc đóng ở ngã ba Bạch Hạc”.

Tình hình đó cũng tạo điều kiện để các vị tướng theo lệnh Lý Nam Đế gây dựng dần lại lực lượng chờ thời cơ.

Nguyên nhân sâu xa là như lời Thứ sử Dương Phiêu: “Ta dẫu muốn ở lại Giao Châu trị nhậm an hưởng tuổi già song hoàng thượng vừa có mật chiếu triệu ta về Kiến Khang. Hiện ở triều đình đang có mầm loạn uy hiếp sự an nguy của hoàng thượng”.

Cho hay, người thua vất vả đã đành mà kẻ thắng cũng chẳng dễ gì nhàn hạ. Đến cả con hồ li nghìn tuổi Lương Vũ Đế cũng đến lúc thất bại với chiêu trò từng luôn công hiệu: “Nay Vũ Đế đã già, triều Đại Lương năm bè bảy mối. Ngay như Hầu Cảnh, một đại thần Đông Ngụy theo hàng Vũ Đế đột nhiên tin dùng là bản tính của Tiêu thị lấy ngoài trị trong, dùng mới trị cũ cũng có ý răn đe các thân vương, hoàng tử, tướng lĩnh trong triều ngoại nội. Đây cũng là thú chơi dao hai lưỡi suốt mấy chục năm của Vũ Đế”.

Không rõ vì nội tình ngổn ngang đó hay chủ trương án binh chờ thời rồi quay về Trung Nguyên làm chuyện lớn, hoặc quá quan liêu trong nắm tình hình dân chúng mà cặp đôi Dương Phiêu – Trần Bá Tiên đã lơi lỏng hai năm liền và Triệu Quang Phục có cơ hội tốt xây dựng lại lực lượng. Bài học rút ra từ thất bại: “Sau trận thua bình hồ Điển Triệt, Triệu tướng quân ngày đêm suy tính cho mời các thợ giỏi chuyên đóng thuyền tới nghiên cứu chế tác cách khắc chế chiến thuyền quân Lương”.

Kết quả sau đó là: “Triệu tướng quân quyết cho chế tác loại thuyền nhẹ nhẹ thuôn dài sáu mái chèo có thể lướt như bay trên mặt nước, trên khẩu độ đâm húc của “thần chông” nửa tấc”.

Bên cạnh việc cải thiện năng lực của vũ khí và phương tiện chiến tranh, kinh nghiệm thực chiến đặc biệt là kinh nghiệm từ thất bại của Triệu Quang Phục; cộng thêm có trang chủ Phùng Kim tham gia giúp lực lượng thủy quân ở Đầm Dạ Trạch đã mạnh lên đáng kể.

Phe giặc, Trần Bá Tiên cũng tỏ ra rất cẩn trọng, và hành động theo cách không khác gì chiến tranh vi trùng, sinh hóa học thời nay. Y nói với Dương Sằn: “Sở dĩ ta y kế của tướng quân, giao bọn thương nhân Giang Nam, Giang Tô đem ba mươi thuyền cá sấu vằn sông Dương Tử xuống thả vào quân doanh tên bại tướng họ Triệu cũng là để bớt phần cung tên giáo mác giết bọn man di mà thôi”.

Lũ cá sấu ấy đã trở thành một kẻ thù chưa từng có đối với quân dân Vạn Xuân. Chúng tấn công chỉ với mục đích chính là thả được lũ cá sấu đó xuống rồi chấp nhận thiệt hại khá nhiều chiến thuyền mà rút đi. May thay, sau những thiệt hại đáng kể thì quân dân Vạn Xuân đã tìm được cách tiêu diệt lũ cá sấu, lấy thịt ăn và lấy da làm những bộ áo giáp gọn nhẹ tên bắn giáo đâm không thủng. Hóa ra họa ở đó mà phúc cũng là ở đó, nếu ta có đủ năng lực chuyển hóa.

*

*     *

Những động loạn ở Trung Nguyên đã khiến Trần Bá Tiên mặc dù rất tức giận với việc Triệu Quang Phục được suy tôn giữ ngôi quốc chủ Vạn Xuân nhưng vẫn không dám bỏ qua lời nói của Trang Sâm: “… củng cố đại quân, đóng thêm chiến thuyền, tích trữ lương thảo, kiềm chế giặc cỏ, giấu mình chờ thời”.

Tôi giật mình nhận ra, cuộc chạy tiếp sức ấy, tất nhiên rồi, không chỉ diễn ra ở đất Nam ta mà phía phương Bắc cũng có: Đặng Tiểu Bình đã đưa ra chủ trương “giấu mình chờ thời” cho Trung Quốc vào những năm 1990. Ông ta còn nhấn mạnh: Quyết không đi đầu, không ham hố vai trò lãnh đạo phe chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô để lại.

Tuy nhiên sau một thời gian phân vân, Trần Bá Tiên vẫn quyết định cho thủy quân tấn công vào Đầm Dạ Trạch nhưng hắn ẩn cái thân hắn ở quân doanh chứ không trực tiếp điều binh như trận hồ Điển Triệt, chỉ điều Dương Sằn dẫn quân đi. Sự thận trọng ấy là sáng suốt bởi sau đó thủy quân của y đã thất bại thảm hại.

Nhưng lạ mà không lạ là ở chỗ, sau đó y lại đổ tội cho thuộc tướng khi nói chuyện với Trang Sâm: “Bọn Dương Sằn nôn nóng đòi tiến binh đến nỗi bị bại trận ta đã trách phạt chúng còn cho tăng phu phen thuế khóa bù vào những thiệt hại trong quân”.

Tuy nhiên điều cộng hưởng với thất bại trước Triệu vương là: “Nay ta vừa được mật báo từ triều đình bọn phản loạn Hầu Cảnh mấy tháng liền vây kinh thành Kiến Khang rất ngặt, hoàng thượng mấy hôm trước đã phải dời giá tới Đài Thành chưa biết sống chết ra sao? Hoàng thượng dã mấy lần hạ chỉ triệu ta về hộ giá song đều bị quân của Hầu Cảnh bắt được”.

Khi Trần Bá Tiên giao lại chức thứ sử cho Dương Sằn, đem hai trăm chiến thuyền về Trung Nguyên cho mưu đồ lớn thì bất kể việc có thêm viện binh, kết cục cuộc chiến đã xem như ngã ngũ. Họ Trần về đồng nghĩa đội quân xâm lược không còn mưu kế từ Trang Sâm, mà Dương Sằn thì mưu kế không so với cặp đôi Triệu Vương – Phùng Kim được.

Không chỉ ở phương Nam mà ngay tại đất Bắc, Trang Sâm đã hiến Trần Bá Tiên vô số kế mà tiểu thuyết gia họ Phùng đã thuật cho đọc giả trong mấy trang liền. Nào là “tá đao sát nhân”, nào là “sấn hỏa đả kiếp”, nào là “vô trung sinh hữu”, “Lý đại đào cương”…

Một đất nước mà mưu kế nhiều đến có thể lập thành từ điển như vậy, luôn khiến láng giềng phải cảnh giác cao và loay hoay trong việc tạo “niềm tin chiến lược” – khái niệm được đưa ra trong những ngày biển Đông sôi sục với sự kiện tàu thăm dò Hải Dương 981.

Họ trao truyền nhau cái hay cùng cái dở. Việt vương Câu Tiễn giết Văn Chủng ngay sau khi hoàn thành tiêu diệt Ngô Phù Sai. Trần Bá Tiên giết thông gia Vương Tăng Biện là kẻ đã giúp y trở lại triều chính tay nắm đại binh vì bênh vực Lương Kính Đế.

*

*     *

Khi còn là một thanh niên mới lớn, tháp tùng nhà văn Hòa Vang về trường phổ thông trung học chuyên Thái Bình chơi; trong buổi nói chuyện với các em học sinh chuyên văn nhà trường đề nghị ông nói về cảm thụ văn học. Đề tài lớn, nhưng tôi nhớ một đoạn đại ý là cảm thụ văn học có thể thay đổi theo thời gian trải nghiệm của đời người. Lúc còn bé có thể thích Quan Vân Trường hay Gia Cát Lượng… Nhưng đủ độ chín bỗng thấy mê Tào Tháo hơn cả.

Quả thực, nếu không có sự kiện hiểu ra chữ KHÔNG là gì dăm năm trước, từ đó hiểu pháp hơn; thì tôi đã khó mà cảm thụ tốt những tiểu thuyết của Phùng Văn Khai, nơi mà dấu ấn Phật pháp sâu đậm như vậy.

Nhà văn Phùng Văn Khai tặng sáchNhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải hàng thứ 2) tại cơ quan.

Với Triệu Vương phục quốc, có phần khác nhau cho những người khác nhau. Các em thiếu nhi có thể say mê theo dõi màn thi đấu cả về phép dùng quân lẫn trực tiếp dùng cung tên thương kiếm giữa Triệu Việt Vương và Cổ Đạo Phiên. Các chàng thanh niên hoặc hồi hộp theo dõi cách bày trận đấu thủy quân giữa hai bên hoặc thích thú thưởng thức mẹo bày trận phục binh hỏa công, lấy thân chuối giả làm người để lừa giặc từ xa chẳng hạn. Và những bậc trung niên lịch lãm sẽ vừa thưởng trà vừa nhấm nháp màn vờn vẽ võ mồm của quan tướng nhà Lương hay đế vương ta khi toan tính tương lai lâu dài cho đất nước.

Nghĩa là, nếu tiểu thuyết có chỗ đứng trên giá sách nhà bạn. Đọc xong, bạn có thể để đó rồi năm mười năm sau, trong một ngày thảnh thơi nào đó, lại mang ra đọc. Mỗi lần đọc sẽ thêm thắt cho bạn nhiều điều mới mẻ.

Từ tốn vân vi, bạn sẽ thấy trò bơm túi hơi lên cho nó giống cái xe tăng của quân Nga ở Ucraina na ná trò dùng thân chuối giả người ở trên. Bạn cũng hiểu vì sao mà nhiều nước sợ bị cướp mất xác các vũ khí mới tối tân bị rơi bởi sẽ lộ bí mật chế tạo chúng bởi từ mười lăm thế kỷ trước Triệu Quang Phục đã cho quân trục vớt đem xác những chiến thuyền giặc lững lững như tòa thành nổi về để nghiên cứu cách khắc chế chúng.

Bạn còn thấy ở chợ bày bán quạt Tàu giống hệt quạt Nhật với cái tên gần Nhật, kiểu Hitanchi thay vì Hitachi chẳng hạn; với giá bằng nửa nhưng độ bền bằng một phần tư.

Như thế, dù cách đặt tên chương hồi cùng đặc thù bám sát những sự kiện chính đã biết, tiểu thuyết lịch sử của nhà văn họ Phùng có thể không khiến chúng ta căng thẳng hồi hộp như truyện trinh thám; nhưng còn đó nhan nhản những giá trị khác để chúng ta khám phá và trải nghiệm.

Ai đó nói văn nhân tương khinh, nhưng tôi với Phùng Văn Khai là tương kính. Đọc xong tiểu thuyết này, xin gửi ông nửa lạy đã hẹn, cộng nửa lạy đến từ sự cảm động mà dư âm sau khi gấp sách đem lại.

Tỏ ra tính toán chi ly thế, để bạn đọc hiểu rằng tôi đã đọc và viết về tiểu thuyết này với đầy đủ cả tình, trí và lý; đáng tin.

Hà Nội, 21 tháng 5 năm 2024

——————–

Phải sống cạnh nhau [Kỳ 1] – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

 

 

 

 

     


     

Bài trướcChiếc bình không thả ra sông – Truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ
Bài tiếp theoTrở về cõi tịnh – Tác giả: Nhà văn Phùng Văn Khai

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây