![Phải sống cạnh nhau [Kỳ 1] - Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn Phải sống cạnh nhau [Kỳ 1] - Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2024/08/Nha-tho-Hoang-Lien-Son-tang-nha-tho-Thanh-Tung-tap-tho-moi-696x474.jpg)
Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa trái) tặng nhà thơ Thanh Tùng (bìa phải) tập thơ mới "Nguyện mở" (NXB Hội Nhà văn, 2024).
Sau khi viết xong bài tùy bút về Nam Đế Vạn Xuân, tiểu thuyết gia lại tặng tôi cuốn Triệu Vương phục quốc. Tôi thoáng ngỡ ngàng, vừa nghĩ hoàng đế Vạn Xuân lập nước mới được đầy năm thì để Ngài giải lao tí đã, vừa tự nhủ tác giả cũng không cần giải lao sao?
Nhưng rồi mở sách ra thì tôi hiểu, Lý Nam Đế không được nghỉ và tác giả cũng không dám nghỉ. Tôi chợt nghe văng vẳng câu hát “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên”. Bây giờ còn vậy, huống hồ mười lăm thế kỷ trước. Tự thấy bổn phận là lại phải tiếp tục hành trình này ngay, dẫu tiểu thuyết bắt đầu bằng một hồi có tiêu đề nặng đô gây áp lực lên kẻ đã tu tâm chút đỉnh nhưng còn khá hiếu thắng là tôi: “Thề rửa nhục, Lương Vũ Đế cất binh thuyền mười vạn”.
Lại cũng nhớ một câu văn của nhà văn Hòa Vang trong truyện ngắn Huyền thoại thìa: “Rồi sẽ thắng, nhưng lúc bấy giờ thì còn thua”, bật cười nghĩ nhà văn làm công tác tâm lý cho bạn đọc thật tài, và quyết tâm đọc từng trang tiểu thuyết này với tâm thế đủ cả cảm xúc và lý trí.
Tôi có nói vui với Phùng Văn Khai rằng, nếu đọc hết tác phẩm này tôi vẫn thấy hay thì sẽ kính ông nửa lạy. Thực lòng tôi mong có dịp dùng đến cái nửa lạy ấy!
Ngày xưa nhà nghèo, do quan hệ căng thẳng nhất thời nên văn học Trung Quốc được in ra cũng ít. Thế nên để thỏa cơn nghiện đọc Tam quốc diễn nghĩa, cứ mỗi tập trong bộ 13 tập là tôi phải lấy trộm một củ khoai lang của nhà nộp cho thằng cu nhà có sách. Chẳng biết nó nướng hay ăn sống chứ một củ thì bõ gì luộc?
Tôi còn nhớ chi tiết Tào Tháo cắt tóc thay đầu để tự phạt chính mình vì vi phạm quân kỷ. Trong một con người ấy, có đủ cả công năng của tư lệnh lẫn chính ủy bây giờ. Nên tới chi tiết Lương Vũ Đế cho thái giám cầm chiếu chỉ tiến ra đọc bài ông tự kể tội mình, thì tôi hồ nghi lắm. Nó là chính sử, hay do tác giả hư cấu? Và nếu hư cấu thì ông có chịu ảnh hưởng bởi chi tiết trên đây của họ Tào không? Mà nếu chi tiết ấy có từ tiềm thức sâu xa của ông bật ra lúc ngòi bút chạm tới đây, thì cũng là đóng góp rất lớn.
Trong bài tùy bút về tập Nam Đế Vạn Xuân, đã nhiều lần tôi đề cập đến nhân vật Lương Vũ Đế. Nhưng chỉ riêng trong chuyện Phật pháp thì tôi có thể chỉ là kẻ phàm phu không dễ hiểu kẻ đã tu đắc thánh quả.
Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa phải) tặng tập thơ mới “Nguyện mở” (NXB Hội Nhà văn, 2024) cho sư thầy chùa Phúc Lâm – Ân Thi – Hưng Yên.
Hãy xem một đoạn trích từ chiếu: “đã không sớm tự nghiêm minh, còn ham mê vào những điều viển vông phù phiếm”.
Tự định vị là Phật tử, thao tác sám hối là thường xuyên rồi. Nhưng sám kiểu phủ nhận chính việc tu tập của mình, thì khác thường lắm! Bọn phàm phu như tôi chỉ biết sám hối mỗi khi buông lơi, phạm giới uống rượu chẳng hạn; chứ không có chuyện sám hối vì đã chăm ngồi thiền, tụng kinh và hướng tới cõi Tây Phương cực lạc.
Tiếp nữa: “bỏ ngoài tai khuyên răn của hiền thần khanh tướng, chinh chiến liên miên không dứt”.
Con nhà Phật thì ghét chinh chiến là đúng. Nhưng sao sau đó lại: “Bọn giặc cỏ Lý Bí ở Giao Châu cũng khinh nhờn tự lập vương vị”. Đã coi là giặc thì tất phải tìm cách tiêu diệt. Nhưng sao nó chẳng logic gì với cái ghét chinh chiến ở liền ngay trước?
Rồi tôi chợt nhận ra, là do huệ nhãn còn khiêm tốn của mình thôi, bởi đến cạnh chân tăng còn có ma tăng mà dân mạng gọi đùa là thích car money; huống hồ kẻ chưa xuống tóc ôm bình bát như Lương Vũ Đế.
*
* *
Trong văn học đương đại, bên cạnh khái niệm hiện thực nghiêm nhặt còn có một khái niệm là tô hồng và bôi đen. Kẻ đã xấu (thường là phe địch) thì bôi xấu thêm cho trở nên thật thậm tệ. Tuy nhiên khi mô tả nhân vật Trần Bá Tiên, họ Phùng đã không vì y ở phe địch mà mô tả y chỉ toàn cái xấu.
Y là “vị tướng đa mưu túc kế, chỉ vài trận đã chiếm lại Giang Nam, Quảng Châu”. Thế nên Lương Vũ Đế “trong bụng yêu lắm”. Khi cấu trúc này lặp đi lặp lại nhiều lần, tôi hơi dị ứng bởi yêu lắm là đủ rồi, cần gì phải cụ thể là trong bụng nữa. Nhưng khi cái ký ức Tam quốc dần trở về, tôi nhận ra cấu trúc ấy khá phổ biến ở đó nữa.
Tôi hiểu rằng, có thể do nệ vào nhịp điệu câu văn, hoặc kiểu cảm xúc đi “hết ga hết số” nên cần mấy từ tưởng thừa mà hóa ra không thừa ấy. Nó cần thiết để tạo ra cái không khí mộc mạc, cổ điển của thời kỳ ấy.
Ông tả Tư mã họ Trần: “Vốn xuất thân con nhà nghèo khó, nhưng từ bé đã siêng năng chăm chỉ, đặc biệt rất hiếu kính với cha mẹ”. Rồi thì “sớm có chí hướng và có tài thu phục lòng người”, lại “rất ưa việc thao luyện binh pháp”.
Người như thế thì tôi cũng thấy “yêu lắm” chứ đừng nói là hoàng đế của y. Nhưng với tư cách là hậu duệ của phe ta, tôi lại thấy buồn lo lắm lắm. Tuy nhiên, biết làm sao khi sống trong cõi ta bà này là thế, cá lớn sẽ nuốt cá bé cho tới khi vì một nhân duyên lớn lao nào đó; cán cân đó thay đổi đáng kể. Chẳng hạn tới thời kỳ mà Bác Hồ viết: “Cờ to đã hẳn là phải có – Cờ nhỏ dù sao thiếu được đâu”.
Trở lại phía phương Bắc. Tất nhiên là họ có nhiều cái mạnh! Diện tích họ đang quản lý rộng có đến gấp chục lần Giao Châu, hẳn là khi cần dồn lực sẽ quân đông lương nhiều. Còn mặt trái thì sao? Một nội tình xem ra cũng khá bộn bề trong quá trình chuẩn bị tái thôn tính.
Nào là: “Thứ sử Tiêu Bột nhận lệnh còn dùng dằng chưa quyết” bởi lẽ chẳng hạn: “bọn phản loạn địa phương chỉ đợi binh tướng Tiêu Bột xuất hành sẽ gây động loạn phía sau”.
Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa phải) tặng tập thơ mới “Nguyện mở” (NXB Hội Nhà văn, 2024) của ông cho sư thầy chùa Phúc Lâm – Ân Thi – Hưng Yên.
Nào là Trần Bá Tiên: “không kể ngày đêm dốc sức chuẩn bị hai quân thủy bộ”.
Và chính đó là cái gốc để phía ta dự định khoan xoáy vào để có những lợi thế ban đầu: cầu hòa kẻ dùng dằng, khiêu chiến kẻ quyết tâm.
Cũng ở trường đoạn này, xuất hiện màn đánh cờ mồm thú vị giữa những kẻ có thế lực trong cuộc chuẩn bị chinh phạt này.
Tiêu Bột kể khó: “Định Châu của ta đất hẹp binh ít, lại mấy năm mất mùa liên miên, lương thảo hãy còn thiếu thôn, nay thực tình nói ra để Dương huynh định liệu”.
Dương Phiêu (đã được bổ làm Thứ sử trên giấy của Giao Châu) thấy họ Tiêu cáo già bèn: “Nghe nói mọi người đều sẵn sàng liều chết cho Tiêu thị, binh tướng đều một lòng, hễ đánh tất thắng, quả là nơi để hoàng thượng trông cậy”.
Họ Tiêu thấy họ Dương đem lệnh của hoàng đế ra nhắc nhở thì ăn miếng trả miếng tương tự: “Lão phu đây vâng mệnh hoàng thượng quản hạt Định Châu, binh mã lương tiền nhiều ít thế nào trong triều ngoài nội đều rõ cả bất tất phải để Dương huynh nhắc nhở”.
Tiện đó còn khiêu khích thêm: “Giao Châu tuy là đất man di song đất ấy không thiếu bậc anh hùng cái thế. Nay Lương triều ta, các kiêu binh mãnh tướng đã thảm bại không ít xin Thứ sử chớ quên”.
Nhưng Trần Bá Tiên đã tỏ ra là tay không vừa, nói với họ Tiêu: “Ngài lại có ý dùng dằng không chịu họp binh để chủ tướng ta (tức Dương Phiêu) quyết kế ra quân, thực là nuôi cho thế giặc thêm mạnh mà làm quân ta nản chí. Thử hỏi như vậy còn mặt mũi nào là thần tử của Lương triều?”
Và Dương Phiêu nghe vậy mừng thầm nhưng vẫn vội mắng át: “Người dẫu được hoàng thượng tạm phong cho chức Tư mã, quản lĩnh thái thú Vũ Bình, nhưng vẫn chịu sự tiết chế của ta. Nay Tiêu huynh đến đây để họp bàn việc thảo phạt là bậc bề trên của ngươi”.
Tiêu Bột thấy cục diện đã rõ ràng, bèn: “Lão phu cung kính không bằng vâng lệnh, cũng là thuận theo ý chỉ của hoàng thượng sẽ sớm xuất toàn bộ binh tướng Định Châu tới quân doanh để Dương huynh sai khiến”.
Sau khi Tiêu Bột về rồi, Dương Phiêu mới bảo Trần Bá Tiên: “Ta không thể đợi vào sức của bọn hủ lậu này đâu. Nay mai Tiêu Bột sẽ chỉ đem toàn binh già ngựa yếu cho tòng quân mà thôi”.
Cuộc đánh cờ mồm này cho thấy từng nhân vật đều buộc phải tuân thủ mục tiêu chung của quốc gia dù tự giác hăm hở hay miễn cưỡng, nhưng lại thủ thế để giữ lấy quyền lợi quyền lực cá nhân, đùn đẩy sự thiệt thòi cho những kẻ còn lại. Bên cạnh các cuộc thương thảo giữa hai bên đối địch luôn tồn tại cả các cuộc thương thảo nội bộ của từng bên. Nội dung ấy được trình bày một cách khéo léo với lớp ngôn ngữ giàu sắc thái biểu hiện, từ tâng bốc nịnh nọt đến đe noi vờn vẽ đủ cả; thừa khách khí và sát phạt nhưng thiếu chân thành.
Điểm mà tôi nể ở tác giả là chỉ trong một câu nói của nhân vật mà gồm chứa cả những ý tứ thái độ trái ngược nhau, nhưng đứng bên nhau một cách nhuần nhuyễn và thuyết phục.
*
* *
Một xã hội hay một cá nhân giống nhau ở chỗ đang từ khổ sang sướng thì dễ chịu chứ từ sướng mà về khổ sẽ luôn khó chịu. Có lẽ chỉ các nhà tu hành, đi tu có thể khổ hơn, chí ít là bọn phàm chúng ta tưởng thế. Thưởng thức một tác phẩm văn học cũng vậy, từ (ta) thua rồi chuyển sang thắng luôn khoái trá hơn vừa thắng giờ chuyển sang thua.
Ở bài về Nam Đế Vạn Xuân, tôi cũng ngân nga “qua bao nhiêu thăng trầm lửa thử vàng mới nên người”, lại cũng cho rằng nên cảm ơn các nghịch duyên rèn luyện cho chúng ta trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn.
Những rút cục đó vẫn là phân tích lý trí tỉnh táo, chứ còn khi lật từng trang sách của sai lầm, thất bại và mất mát tôi vẫn không tránh được cái cảm giác buồn đau thương cảm. Còn nghịch duyên đôi khi lớn tới mức quật ngã tàn khốc con người, chẳng hạn hàng vạn tăng ni ở Ấn Độ đã bị người Hồi giáo giết sạch mặc dù cả đời họ luôn nghĩ thiện, nói thiện và làm thiện.
Những lúc ấy tác giả có viết hay đến mấy chắc trạng thái của tôi vẫn không thể gọi là thưởng thức được! Nhưng trang viết nó có số phận riêng của nó, và rất thường khi cần tôn trọng sự chân thật và thuyết phục, nên ngay cả tác giả cũng không có quyền viết khác đi.
Nên những dòng tiếp theo mà u ám quá, cũng mong bạn đọc thứ lỗi cho tôi lẫn tiểu thuyết gia họ Phùng.
Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (ngoài cùng bìa phải) tặng tập thơ mới “Nguyện mở” (NXB Hội Nhà văn, 2024) của ông cho sư thầy chùa Phúc Lâm – Ân Thi – Hưng Yên.
Như đã nói ở trên, phía ta đã dùng mưu cầu hòa với một phe và khiêu chiến phe còn lại. Việc cầu hòa không thành nếu có mất chỉ mất của thôi. Còn bức chiến thư mang tính nhục mạ dọa nạt đã khiêu khích Trần Bá Tiên thành công, nhưng tai hại thay lại gây ra một tác dụng phụ hết sức bất ngờ: “Không riêng gì bên thủy quân mà binh tướng kỵ binh, tượng binh, bộ binh đều dâng huyết thư quyết chiến. Có lẽ nào bức chiến thư của ta gửi Trần Bá Tiên đã khiến bọn chúng bị kích động đến thế hay sao?”
Có một giải an ủi là lão tướng Phạm Tu đã chân thành: “Đạo làm tướng phải giữ cho cái đầu thật lạnh lùng trầm tĩnh mới được. Hôm trước lão phu hạ chiến thư cũng có sự nông nổi nhất thời”.
Trong tôi bỗng nhói lên cái ao ước rất trẻ thơ, giá như thiền tính ở bên trong lão tướng đủ quán được lục nhập nào đã duyên ra xúc và loại xúc gì trong tâm mình khởi lên, hẳn sẽ không viết chiến thư nữa; hoặc nếu có nó cũng ở mức tránh kích động cả quân nhà.
Nhưng rồi lại nghĩ dẫu cái giá như ấy đã xảy ra thì cũng chỉ đủ kéo dài sự giằng co chứ không đảo ngược được chiến cục! Nghĩ thêm nữa càng chả thấy giá như nổi bởi riêng gì Phạm tướng quân “non trẻ” trong tâm lý chiến đâu; quốc chủ thì đồng ý về mặt chủ trương gửi chiến thư, quân sư nhất trí với nội dung. Mà họ cũng chẳng thất thố thiếu sót gì bởi đến nhà nước cũng là hết sức non trẻ.
Các nhà nước Âu Lạc, Văn Lang từng có trước đó đã lâu; nhưng gián đoạn quá dài nên đâu dễ trao truyền được cho nhau phép chấn hưng đất nước và ngay lập tức chuẩn bị chống xâm lăng. Dẫu quốc chủ và mọi tướng lĩnh cao cấp đều sống giản dị khiêm nhường và được lòng dân, nó là điều cần nhưng chưa đủ.
Đất nước vừa trải qua chiến tranh giải phóng, nhưng kinh nghiệm mọi bề của tướng sĩ chắc đâu đã so được với phía phương Bắc, là nơi trong vài thập niên trước đó đều có tranh giành đánh đấm giữa nhà Lương với ba nước Đông Ngụy, Tây Ngụy, Thổ Dục Hồn. Quân sư Tinh Thiều bỏ ra hai mươi năm kỳ công học hỏi trên đất kẻ thù, nhưng sức mấy mà nắm được cả đến trò “thần chông” trên chiến thuyền xứ Giang Nam mới được huy động bổ sung vào đội quân Nam chinh.
Mới hay, đông hay tây cũng vậy, bởi Lênin nói: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn”.
Dù sao đi nữa, thất bại đẫm máu của thủy quân ở cửa biển Hoàng Châu đã để lại một số bài học kinh nghiệm cho quân đội Vạn Xuân trong thời gian sau này của cuộc chiến. Họ đã thiết kế được mẫu thuyền mới cơ động nhỏ gọn và tránh được các cú đâm kinh hoàng của “thần chông”, đồng thời có thể dùng tay chặt đứt các mái chèo phía đối phương. Họ quyết định bỏ mẫu chiến thuyền cũ vốn có thể kiêm cả việc chở quân nhu, nhưng tham chiến lại rất bất lợi khi đối đầu với các chiến thuyền “tòa thành” của phương Bắc.
Họ cũng không còn ngây thơ ngờ nghệch trong trinh sát, thấy hàng ngũ đối phương trễ nải lỏng lẻo thì nghĩ có thể cảm tử đâm thẳng vào khu vực soái thuyền (thuyền của tướng soái) để chặt đầu rắn. Đôi khi cái ta thấy là cái kẻ thù cố tình để ta thấy!
Và những kinh nghiệm ấy tôi đồ rằng còn lưu lại mãi về sau, khi nhà Trần đánh tan quân Nguyên Mông với chiến lược ban đầu là vườn không nhà trống và liên tục di chuyển tránh giao tranh lớn; rồi đội quân đối phương khốn đốn vì thủy thổ và vấn đề hậu cần khó khăn. Những cái nhân đắng ngắt có thể tạo quả ngọt lành sau nhiều thế hệ.
Phía phương Bắc, tướng lĩnh giàu kinh nghiệm trận mạc, kỹ thuật quân sự và vũ khí vượt trội đã đành, lại còn có Lương Vũ Đế biến ảo khôn lường khiến ngay bộ hạ của y còn chóng mặt. Y rời xa kinh đô Kiến Khang xuống tận Hợp Phố trên đoàn có đến ba long xa và không ai biết y đang trong cái nào để trao kiếm lệnh cho Trần Bá Tiên; vừa tỏ sự ưu ái, lại gồm cả hàm ý rằng thất bại thì sẽ mất đầu.
Và y đi bất thình lình đến nỗi: “Đợi mãi không thấy hoàng thượng cho khẩu dụ bình thân, đám binh tướng mới ngẩng mặt lên nhìn trước ngó sau đã thấy long xa đi mất từ lúc nào rồi”.
Có một cái giải an ủi nữa, là dẫu có thua ta cũng thua một kẻ thù quá mạnh và chắc cũng chỉ nhất thời thôi.
Nói thế, lại nhớ ra cái phép chiến thắng tinh thần của AQ, sản phẩm của Lỗ Tấn. Mấy nghìn năm hết đánh lại hòa, nhưng cái giao lưu tương hỗ lẫn nhau tất yếu của những quốc gia láng giềng chả cách gì thay đổi được. Tôi đồ rằng có khi ngày đó cũng đã nhiều người bàn việc “thoát Lương”, nhưng chính quyền và con người có thể thoát theo cách nào đó, còn sông núi thì biết thoát đi đâu?
Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa trái hàng thứ 5) cùng các bạn văn.
*
* *
Trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí, mặc dù quân ta giành hết thắng lợi này tới thắng lợi khác; phía giặc vẫn không thôi chủ quan khinh địch. Và thái độ ấy chỉ thay đổi hoàn toàn sau khi kế hoạch nam chinh bị phá sản vì trận tập kích của quân ta vào Hợp Phố.
Tuy nhiên ở vòng đấu mới, mọi thứ dường như lại đảo ngược. Quân giặc sau trận đầu thắng đậm ở cửa biển Hoàng Châu, vẫn tiếp tục giữ thái độ cẩn trọng. Còn quân ta dù đã mất một nửa thủy quân và chiến thuyền, lại tiếp tục khinh suất để bị tập kích và mất quá nhiều ngay tại căn cứ Đầm Dạ Trạch.
Khi thần Kim Quy nổi lên và bảo An Dương Vương rằng “giặc ở sau lưng nhà vua đó”, rồi tới bi kịch Mỵ Châu bị chém đầu. Tuy nhiên giặc khinh mạn thì thậm chí khởi lên từ bên trong của mỗi cá thể “phàm chưng đại thắng tất đa kiêu”, không kể cá thể ấy ở phe ta hay phe địch, ở thời đó hay thời ta đang sống.
Và đôi khi, dù không hoàn toàn khinh mạn, nhưng cái tâm lý đè nặng cũng đủ để những cặp mắt vốn sáng suốt bỗng dưng rơi vào trạng thái như tài xế ô tô gặp điểm mù.
Triệu Quang Phục thừa nhận: “Đúng là mạt tướng đã hồ đồ không nghĩ tới việc thủy quân Lương triều đi vòng vào cửa biển Đại Ác tập hậu quân ta. Mấy hôm trước nhận lệnh thống lĩnh thủy quân cùng với Phùng tướng quân đây mạt tướng cứ thắc mắc mãi không hiểu sao thủy quân Trần Bá Tiên lại dềnh dang nơi cửa biển. Hóa ra chúng dụng kế điệu hổ ly sơn để quân ta đưa binh lực bố phòng mạn Đằng Giang mà để trống trải hoàn toàn cửa biển Đại Ác”.
Tất nhiên sẽ không chỉ ông, mà lão tướng Phạm Tu hay quân sư Tinh Thiều cũng đều có thiếu sót.
Như học sinh tìm cách giải một bài toán khó. Sau một lúc vò đầu bứt tai không ra, cô cậu mở phần đáp án xem rồi tự nhủ hóa ra chả khó mấy mà sao mình không làm được? Khi thí sinh nhìn ra cách giải thì giờ làm bài thi có thể đã hết. Khi tướng lĩnh nhìn ra điều gì sau điểm mù thì như lời lão tướng Phạm Tu: “Giặc đã ở trong quốc thổ, ba bề bốn bên đều có giặc”.
Vẫn ngần ấy kỹ thuật tác chiến quen thuộc; mưu mẹo cũng là chỉ là đặt phục binh không còn lạ lẫm gì, nhưng Trung lang tướng Lý Thiên Bảo lại thắng giòn giã Bố Đa Ngai bởi tận dụng được tâm lý chủ quan của y cho rằng Vạn Xuân đã suy yếu sau hai trận thua liên tiếp.
Tuy nhiên, với tương quan lực lượng quá chênh lệch cả về số lượng lẫn chất lượng; khi phe ta làm tốt việc đối phó với phía Nam thì lực lượng để tham chiến ở phía Bắc càng không còn bao nhiêu. Nhưng cũng hoàn cảnh ngặt nghèo ấy lại cho thấy phẩm chất của những người yêu nước, dù xác suất thành công không còn cao và khả năng hy sinh bản thân và sĩ tốt rất lớn họ vẫn chấp nhận tham chiến dũng mãnh, hoàn thành nhiệm vụ cầm chân để tuyến sau có thêm thời gian.
Nó cũng tương tự như khi Bác Hồ nói “chúng ta trở lại Tân Trào” thì các lực lượng ta đã tiến hành cuộc chiến 60 ngày đêm chống Pháp ở Hà Nội, không phải để giữ được thành phố ngay và luôn, mà để có thêm thời gian thiết lập và bảo vệ căn cứ phục vụ kháng chiến lâu dài. Và lối tử chiến của hai vị tướng cùng hai nghìn quân tại cửa ải đã được “sao lại” bởi những tấm gương cảm tử quân ôm bom ba càng diệt xe tăng địch.
Chỉ có hai nghìn quân phòng thủ nên Quỷ Môn Quan đã mất, Trịnh Đô, Nùng Trí đã tử trận. Tuy nhiên quá trình mô tả các trận đánh xung quanh đó cho thấy để có được chiến thắng oanh liệt trước những đội quân hùng mạnh Nguyên Mông, đông tựa kiến cỏ của nhà Minh, nhà Thanh thì ngoài chuyện nhân dân ta cần cù anh dũng chúng ta còn có một vị trí địa lý hoàn hảo với dãy núi sừng sững kéo ngang từ Lạng Sơn sang tận Móng Cái ngày nay.
Mỗi khi giặc phương Bắc vượt qua đây đều gặp bất lợi về hậu cần lương thảo cũng như khí hậu khác biệt cùng tính chất chiến địa khó quen, lắm đầm lầy và sông ngòi.
Dù chiến trận khốc liệt, tác giả cũng không quên đề cập tới việc lập và giữ phên giậu nhân sinh của đất nước: “Quân ta phải quyết tử tới cùng. Song chiến trận là việc lâu dài, cần gìn giữ lâu dài nòi giống các tộc người nơi biên cương phía Bắc là việc không chỉ quốc chủ Vạn Xuân hết sức chú trọng mà mỗi vị tướng lĩnh phải biết được ngọn nguồn sâu sa”.
*
* *
Gặp khó trong tìm kiếm cái mạnh của phe ta ở đoạn này, ra đa của tôi chuyển hướng sang quét ra các điểm yếu của giặc, không phải trong ngắn hạn thì cũng là dài hạn.
Nếu thấy có mùi AQ, kiểu “Con tớ ngày sau lại không làm nên, to bằng năm bằng mười lũ ấy à?”, mong được bạn đọc thể tất!
Trong một đoạn “bức tranh nội tâm”, thường xuất hiện trong văn học hiện đại nhưng không phổ biến ở tiểu thuyết lịch sử; tác giả đã cho thấy một Thứ sử (lâm thời, vì còn chưa có chỗ ngồi ở Long Biên) Giao Châu: “xưa nay nổi tiếng cẩn thận gian xảo”. Ở trên tôi đã có đề cập đến một cuộc đánh võ mồm giữa họ, còn ở đây là tự sự về những mưu toan của nhân vật này. Y: “thừa cơ dùng chiếu chỉ của Lương Vũ Đế sai Trần Bá Tiên hành quân trước theo đường biển cũng là kế thăm dò của họ Dương”. Nếu họ Trần thất bại thì y sẽ mách tội đồng thời có được lý do để khỏi phải tiến quân; còn nếu thắng thì y sẽ thừa thế tràn sang với ít tổn thất nhất bởi binh lực Vạn Xuân đã phải chia ra để chống họ Trần.
Còn các thủ hạ của Dương Phiêu: “Nhiều người chỉ biết đến Dương Phiêu mà không cần biết đến Lương Triều”. Thái độ của y (với điều đó) thì: “nhiều lần vờ quát mắng nhưng bên trong tỏ ra đắc ý”. Và cơ sở của tư duy đó là: “Nơi xa xôi vạn dặm hùng cứ một phương, đại tướng cầm quân nhiều khi không nhất thiết phải tuân mệnh hoàng đế, nếu tin tức rò rỉ về triều gặp phải gièm pha tất khó giữ được mạng sống nếu không tự làm quân phản loạn. Bởi vậy xưa nay các tướng tử Trung nguyên vâng mệnh hoàng đế chinh chiến nơi xa đều nhất loạt được đem theo thân tín bản bộ”.
Một nội bộ tiềm ẩn những kẻ sẵn sàng “hai lòng”, chỉ cần vào thế hiểm nguy là trở cờ chắc sẽ không mạnh. Mà cũng không cần dò đoán phấp phỏng mất công làm gì, bởi nếu chúng mà mạnh mãi thì Triệu tướng đã chả thành vương được như tên của tiểu thuyết đã bật mí. Nói bật mí cũng là nói vui thôi, bởi việc ngài là vương thì ai có kiến thức lịch sử trung học cơ sở cũng biết rồi.
Tiện đây cũng góp với tiểu thuyết gia một điều là bên cạnh việc bị bật mí bởi tên các hồi, đôi khi tác giả cũng tước đi mất quyền được hồi hộp bởi không chịu cất đi khá nhiều chi tiết đắt giá mà nếu để sau đó một hai trang mới tung ra thì sẽ rất nhiều ái ố hỉ nộ vỡ òa!
Nhưng thôi, cũng chả cần quá tiết kiệm đối với một đại gia về trí tưởng tượng và năng lực hư cấu như Khai bởi dù có phung phí một chút thì những cái vỡ òa ấy vẫn còn nhan nhản khắp tiểu thuyết của ông.
Rút ra bài học từ thất bại của Vũ Lâm hầu, Dương Phiêu cũng nói với chủ bạ Tào Tứ: “không chỉ chuyên chú vào đánh giết mà cần phải có kế sách an dân. Việc đánh giết là của bọn tướng quân. Còn việc thống thuộc lòng người, chế định quy củ, giáo hóa man di sau này đều nhờ vào Tào tiên sinh cả”.
Tất nhiên với tư cách là độc giả yêu nước, tôi mong họ Dương không có cơ hội thực hành chủ trương ấy, dù trong đó chút ít thiện chí đi nữa.
Là người yêu nước, tôi xốn mắt với từ “man di” rồi, nhưng công bằng mà nói bên cạnh việc gieo rắc quá nhiều mất mát đau thương thì cũng phải thừa nhận bọn xâm lược mang theo nhiều thứ: Chữ viết, thi cử, kiến thức về thiên văn địa lý, lịch âm… Ngay cả với người Pháp, Bác Hồ cũng nói “mời các nhà kỹ nghệ ở lại, các nhà cai trị ra đi”.
*
* *
——————–
Phải sống cạnh nhau [Kỳ cuối] – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

![Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 1] – Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn* Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 1] - Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn*](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Nha-tho-Nguyen-Thanh-Tuan-218x150.jpg)












![Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 1] – Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn* Thơ Phùng Văn Khai trong cảm hứng lịch sử, văn hóa qua tâm thức Á Đông [Kỳ 1] - Tác giả: Nhà thơ Nguyễn Thành Tuấn*](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Nha-tho-Nguyen-Thanh-Tuan-324x235.jpg)




