Nhà văn Chu Lai: Một tượng đài chiến sĩ – Tác giả: Nhà văn Phùng Văn Khai

Nhà văn Chu Lai: Một tượng đài chiến sĩ - Tác giả: Nhà văn Phùng Văn Khai

Nhà văn Chu Lai.

BÀI 1

Nhà văn Chu Lai – Thao thức với phần đời chiến trận

Trong hành trình vẻ vang của 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2024), có những người chiến sĩ với chức phận cụ thể của mình đã lặng lẽ góp trí tuệ, công sức, miệt mài để thực hiện một công việc vô cùng khó: Viết ra những trang văn về người lính, trong chiến tranh và hòa bình, trong đạn bom khốc liệt và thời cơ chế thị trường phức tạp.

Những người viết ra những trang văn ấy không chỉ giỏi chữ nghĩa, dày vốn sống mà cái chính yếu là phải có trái tim luôn cùng nhịp đập với người chiến sĩ, với nhân dân, với Tổ quốc trong toàn bộ cuộc đời mình. Chúng ta đã có những nhà văn như vậy, và Chu Lai là một trong số đó.

tác phẩm của Nhà văn Chu Lai

Cái tên Chu Lai đã quá quen thuộc với bạn đọc. Với ông, tôi càng thân thuộc. Cùng quê xứ nhãn Hưng Yên. Cùng cơ quan là Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cùng ở đất Long Biên, đi bộ mươi phút đã tới căn hộ lộng gió của ông nơi đầu cầu Long Biên cổ kính. Tinh sương đi làm, tôi đã thấy ông một mình đạp xe rèn luyện ở tuổi 80. Chu Lai sôi động là thế bỗng đột nhiên trầm mặc dù đang đi chiếc xe đua nam tính trên đường đê phơ phất cỏ bông lau. Tôi đi chậm phía sau ngắm ông một quãng dài càng thấy rõ rệt người lính chiến phía trước mình nổi hằn lên như một tượng đài chuyển động khi bình minh he hé mặt đê sông Hồng xôn xao gió sớm. Quả thực Chu Lai đã là một tượng đài văn chương, những tác phẩm của nhà văn Chu Lai viết về người lính đến với bạn đọc gần nửa thế kỷ kể từ dấu mốc ông viết Nắng đồng bằng (1978). Kể từ đó, Chu Lai một mạch từng dòng, từng trang, từng cuốn sách nhất loạt đều hướng về người lính và chiến tranh cách mạng.

Tôi luôn có cảm giác Chu Lai khi ngồi vào bàn viết là nhập vào một trận đánh khốc liệt mà ở đó không chỉ sinh tử trùng trùng, chín chết một sống mà còn có sự lãng mạn đến lạ kỳ. Tôi nhớ một chi tiết, một nhân vật của ông hoặc là chính ông, giữa đạn bom mịt mùng xối xả, người lính bỗng được một nữ giao liên kéo ào xuống hầm trú ẩn và do quá chật chội đã vít chặt anh vào bộ ngực nóng hổi của mình. Bom đạn ngớt đi, người lính lúng túng mãi mới rời được khoang hầm chật chội. Sức nóng của bộ ngực người con gái dường như hơn cả bom đạn chiến tranh, đến mức tóc tai xoăn tít khiến chàng trai ngơ ngẩn. Trên truyền hình khi kể lại câu chuyện đó, Chu Lai chỉ ngay vào tóc mình nói rất thật: “Và từ đó, tóc của tôi xoăn đến tận bây giờ”.

Chiến tranh trong các tác phẩm văn chương của Chu Lai rất hấp dẫn từ những chi tiết vô cùng lãng mạn như vậy.

Nhà văn Chu Lai, khi tôi nói ông là một tượng đài văn chương trước tiên và trước hết chính là sự lao động nghệ thuật đến tận cùng của ông. Cầm bút viết về chiến tranh là được đi đến tận cùng. Nói như Chu Lai: “Bước vào chiến tranh, con người ta bộc lộ tất cả tính cách. Chiến tranh giống như một loại dung dịch đặc biệt khiến cho tất cả những gì chạm tới đều phải lên hết màu, hết nét, từ sự giả dối thấp hèn đến sự cao thượng, thánh thiện. Chính vì thế, trong chiến tranh, các số phận nhân vật có quyền đẩy lên tận cùng của mọi buồn vui”.

Tôi từ lúc gặp nhà văn Chu Lai (1995) đến nay dường như vẫn thấy ông không có gì thay đổi. Ông không mấy già đi và dường như càng không viết ít đi. Tập sách này vừa ra đời, bản thảo khác đã thập thò nơi nhà xuất bản. Toàn tiểu thuyết “cục gạch” khiến văn giới trầm trồ. Ông viết lúc nào cũng như võ sĩ lên đài. Những dằn vặt đau đớn của người lính chiến thực thụ như ông đã lần lượt được gã thợ cày Chu Lai vật lên từng luống xếp hàng ngang dọc rất bắt mắt. Viết như Chu Lai đúng là hạng “thợ đấu” ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi vốn được gọi vui là “Thiếu lâm tự” của nền văn học với những Hồ Phương, Thanh Tịnh, Vũ Cao, Nguyễn Khải, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Nam Hà, Hữu Mai… mà số trang văn của các ông phải dùng thước mét ra đo. Âu cũng là để thế hệ lớp sau như Lê Lựu, Nguyễn Trí Huân, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Bảo, Khuất Quang Thụy và đương nhiên là Chu Lai nhìn vào đó để tự răn mình.

tác phẩm của Nhà văn Chu Lai 2

Để viết được dài, vốn sống của nhà văn phải rất dài, thăm thẳm và khác biệt. Nếu không có sự khác biệt, không thể làm nên một nhà văn. Cái làm người đọc luôn yên tâm ở Chu Lai chính là sự kiên cường, ngạo nghễ, trận đánh nào cũng như trận đánh cuối cùng. Ở đó, Chu Lai vừa là chỉ huy trưởng, vừa kiêm bộc phá cửa mở, đại liên yểm trợ, lưỡi lê cận chiến hết sức dũng mãnh trên cánh đồng chữ nghĩa phơi đầy xương máu mà kẻ yếu bóng vía nhìn vào chắc không nhấc nổi ngọn bút. Như trường hợp tiểu thuyết Mưa đỏ đoạt “giải kép” của Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Quốc phòng gần đây vẫn cho thấy Chu Lai công lực còn dồi dào lắm, nhất là những pha cận chiến trên chiến trường bao nhiêu nhà văn đã viết nhưng cứ phải đến Chu Lai mới thực sự ác chiến, thực sự ám ảnh người đọc.

Chu Lai có những đóng góp hết sức thiết thực cho mảng văn học chiến tranh và người lính. Đất nước Việt Nam ta từ xa xưa đã phải trầm luân trong các cuộc chiến tranh mà cuộc nào cũng mất mát, hy sinh không kể xiết. Đất nước hàng triệu người đã hy sinh cũng là hàng triệu bà mẹ, người vợ trở thành cô nhi quả phụ từ khi còn rất trẻ, có người còn chưa thuộc hơi chồng luôn là một đớn đau khủng khiếp dằng dặc đã khiến ngòi bút Chu Lai phải hướng tới. Văn mạch Chu Lai là viết về chiến tranh. Mỗi trang văn của ông đều là trả nợ nghĩa tình nước non, đồng đội, nhất là những người vợ, người mẹ trên đất nước. Lịch sử Việt Nam là lịch sử các cuộc chiến tranh nối tiếp nhau vô cùng khốc liệt. Với nhà văn, sống ở thời bình đã không dễ, đương nhiên bước qua chiến tranh như Chu Lai là phải đi hết nhưng thử thách thật không dễ gọi ra. Như sự mất mát, hy sinh của nhân dân làm sao có thể gọi hết ra? Nhân dân đã trải qua bao nhiêu cơ cực, mất mát, đau thương với hàng triệu tính mạng bị chiến tranh lấy đi, cả vật chất và tinh thần để đi từ người nô lệ đến ngày thống nhất đất nước, đến cuộc sống hôm nay bút giấy nào viết hết? Thế hệ tôi khác thế hệ ông, nhưng chắc chắn, người nào cũng có đích của riêng mình, để đến, để ngập ngừng hay mạnh dạn bước vào, đi hết hay nửa chừng chao đảo, gục ngã, thối lui, rẽ ngang rẽ dọc và sau rốt đánh bóng mạ kền cho mình bằng những mỹ từ có sẵn.

Chu Lai luôn cho chúng tôi những suy nghĩ như thế.

Đó cũng là cách Chu Lai cống hiến trí tuệ và niềm tin của mình để viết nên những tượng đài chiến sĩ.

Chu Lai luôn cho chúng tôi niềm tin và lẽ sống từ những tượng đài chiến sĩ trong văn học ở các tác phẩm của ông. Chính bản thân ông, cứ vẻ ngoài mạnh mẽ có phần bặm trợn, ăn nói oang oang từ chuyện yêu đương ở phố phường tới chuyện lớn quốc gia trên sóng truyền hình, trả lời báo chí rất hút độc giả nhưng bên trong Chu Lai là thẳm sâu những nỗi niềm còn nhiều điều mọi người chưa biết. Đó chẳng phải ông cố tình tạo ra sự bí ẩn. Càng không phải Chu Lai muốn sắp đặt cuộc đời hấp dẫn như trong phim, mặc dù ông vốn là một bậc thầy về kịch bản phim và từ trẻ đã được đào tạo là diễn viên kịch nói.

Nhà văn Chu Lai là người luôn hiểu chính mình. Ông rất hiểu đường văn thăm thẳm đường đời muôn nỗi truân chuyên, nhất là đối với người chiến sĩ luôn đặt trên vai mình là nhân dân và Tổ quốc thì trách nhiệm càng nặng nề và những bước thực hành càng phải hết sức căn cơ. Người chiến sĩ đối với Chu Lai giống như nguồn sống, nguồn năng lượng không bao giờ cạn để ông xây đắp hình tượng chính họ. Đó vừa là trách nhiệm, đồng thời cũng là lẽ sống của Chu Lai đã được thể hiện ăm ắp trong các trang văn về người lính và chiến tranh cách mạng của ông.

Ít ai biết ngày nhập ngũ, Chu Lai là một thư sinh gầy gò, có phần nhút nhát và ít nói. Vậy mà ông trở thành chiến sĩ đặc công tiến thẳng nơi chiến trường ác liệt miền Đông Nam bộ chiến đấu giữa bưng biền với vô vàn trận đánh ác liệt cho tới ngày toàn thắng. Chính từ nơi bom đạn đó đã hình thành và trưởng thành một Chu Lai dữ dội và dịu êm cũng rất khác người. Ông từng tâm sự về nghề viết: “Nếu viết về chiến tranh mà chỉ là những trận đánh kinh hoàng và chết chóc thì sẽ không ai đọc cả. Vì vậy, phải có nguyên lý sáng tạo như sau: Viết về đề tài nào cũng được, nhưng nếu không có một nền tình yêu chắc chắn thì cuốn sách ấy đổ. Dĩ nhiên tình yêu trong chiến tranh có đặc thù riêng. Trong chiến tranh, tình yêu mạnh hơn bình thường gấp nghìn lần, bởi đó là yêu một lần cho mãi mãi, yêu để chết, thậm chí chưa kịp yêu đã chết”.

Với nhà văn Chu Lai, thế hệ chúng tôi cũng còn có rất nhiều điều phải học tập từ ông, cũng có rất nhiều điều muốn trao đổi với ông là như thế.

BÀI 2

Nhà văn Chu Lai – Tài hoa khắc họa chân dung người lính

Ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, các nhà văn vào chiến trường rất sớm. Nhà văn Nguyễn Thi (bút danh Nguyễn Ngọc Tấn) năm 1962 nằng nặc xin vào chiến trường miền Nam. Ông đi bộ một mạch xuyên Trường Sơn đến Tây Nguyên dừng lại, chia tay với đồng nghiệp bằng một câu nói biểu tượng: “Chúng ta chỉ trở ra Bắc bằng con đường số 1 khi đã thống nhất đất nước. Nếu không nhất định sẽ không quay ra”.

Có nhà văn đi bằng Đường Hồ Chí Minh trên biển. Đó là nhà văn Văn Phác với bí danh Tám Trần vào làm Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân Giải phóng miền Nam. Ông căn dặn các nhà văn ở chiến trường: “Đang lúc chiến tranh, các nhà văn hãy viết ngắn. Mọi tư liệu đến hòa bình chúng ta sẽ viết. Viết ngắn! Nhưng vốn sống phải dài”.

Khi làm người lính đặc công hoạt động nơi vùng ven Sài Gòn những năm chiến tranh chống Mỹ, nhà văn Chu Lai rất thấm thía những câu nói của lớp nhà văn đàn anh như vậy.

Những trận đánh ác liệt mà Chu Lai trực tiếp tham gia đã cho ông không chỉ kinh nghiệm sống mà còn là sự trưởng thành vượt bậc, nhất là điểm tựa rộng lớn để ông khắc họa hình tượng người lính sau này. Đó cũng là khởi thủy của gắn bó máu thịt đến hết đời của Chu Lai với văn chương về đề tài người chiến sĩ và chiến tranh cách mạng. Nền tảng đó đã cho ông viết một mạch các tiểu thuyết lừng danh về chiến tranh, đó là: Nắng đồng bằng (1978); Đêm tháng hai (1979); Gió không thổi từ biển (1984); Sông xa (1986); Vòng tròn bội bạc (1987); Bãi bờ hoang lạnh (1990); Ăn mày dĩ vãng (1991); Phố (1993); Ba lần và một lần (1999); Cuộc đời dài lắm (2001); Khúc bi tráng cuối cùng (2004); Chỉ còn một lần (2006); Hùng Caro (2010); Mưa đỏ (2016)… đã cho thấy một Chu Lai – một tượng đài trong văn học về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng.

tác phẩm của Nhà văn Chu Lai 3

Hình tượng Bộ đội Cụ Hồ trong các tác phẩm của Chu Lai rất đa dạng, phong phú, sâu sắc và có phần gai góc. Văn chương là để phục vụ con người. Người chiến sĩ trong chiến tranh luôn phải bộc lộ tới tầng bản chất. Chiến tranh không dành cho những sự nửa vời. Các nhân vật trong tiểu thuyết của Chu Lai đều luôn bộc lộ tính cách đến tận cùng, kể cả sự tráo trở, hèn nhát cũng đều có căn nguyên sâu xa của nó. Chu Lai dường như không chỉ hiểu đến tận cùng mà ông còn dám viết ra đến tận cùng những tha hóa, biến chất của con người trong và sau chiến tranh. Các tiểu thuyết của ông đều là những tiểu thuyết kép. Chúng rất giàu tính kịch và nhiều tác phẩm đã được chuyển thể thành kịch sân khấu. Chúng rất giàu tính điện ảnh và chính ông đã chuyển thể chúng thành những bộ phim lớn về chiến tranh, như: Ăn mày dĩ vãng; Phố; Khúc bi tráng cuối cùng… và tiểu thuyết Mưa đỏ đang được Điện ảnh Quân đội nhân dân khởi quay với sự đóng góp tâm huyết của chính tác giả Chu Lai.

Từ những thế mạnh trong văn chương của ông, hình tượng người chiến sĩ – Bộ đội Cụ Hồ đã hiện hình trung thực và sâu đậm trên các loại hình nghệ thuật để từ đó ăn sâu bám rễ trong đời sống văn hóa tinh thần của người chiến sĩ và nhân dân. Chu Lai là nhà văn có công rất lớn khi thể hiện xuất sắc hình tượng người chiến sĩ trong chiến tranh và cả thời kỳ hậu chiến. Điều này có lẽ trong đội ngũ các nhà văn Quân đội thời kỳ chống Mỹ và sau dấu mốc Đổi mới 1986, Chu Lai là một trong những người xuất sắc nhất.

Cách thức xông vào vùng đất khó – đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng của Chu Lai hết sức tự nhiên. Ông có cái nhìn rất tinh về những điểm nhấn trong chiến tranh, nhất là gương mặt người phụ nữ trong chiến tranh và thời kỳ hậu chiến. Tôi còn nhớ như in, một hôm, sau khi tôi phỏng vấn Đại tá, nhà văn Vũ Thị Hồng – vợ Chu Lai, ông đã nói với tôi rành rọt: “Khai ơi! Chú có một đề tài mà truyền hình nên sớm vào cuộc. Đó là các nữ chiến sĩ lái xe tải quân sự Trường Sơn sau chiến tranh trở về đời thường đang gặp muôn vàn khó khăn. Chúng ta phải phản ánh họ lên truyền hình bằng một cuộc giao lưu để mọi người không chỉ thấy công tích mà phải thấy được rằng chiến tranh là khốc liệt đến mức những người phụ nữ đã nhập cuộc, đã hy sinh, đã trở về mà còn chưa hết tội tình. Có nhiều chị bị nhiễm chất độc da cam, không thể sinh con. Có cháu ra đời không lành lặn. Đó chính là tội ác chiến tranh. Chúng ta hãy làm một điều gì đó nhanh lên. Các chị đều đã già rồi”.

Tôi lặng người trước câu nói của ông. Trong thời bình hôm nay, nhiều khi chúng ta đã quá hồn nhiên đến vô tâm để dễ quên đi những vết thương từ chiến tranh. Nếu điều đó cứ diễn ra, chúng ta sẽ bị vỡ những khu vực về văn hóa, về đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Mà những khu vực đó bị vỡ hổng sẽ vô cùng nguy hại. Chúng ta đã hy sinh máu xương khủng khiếp trong chiến tranh để có được nền hòa bình mà chúng ta quên đi ơn nghĩa, không biết tri ân, không biết chia sẻ với những nỗi đau ở xung quanh mình cũng là có tội.

tác phẩm của Nhà văn Chu Lai 4

Tôi lập tức lên đường bằng xe máy đi các tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Dương để tìm các chị nhân chứng là những nữ lái xe tải quân sự Trường Sơn để thực hiện kịch bản văn học cho cuộc giao lưu “Nữ chiến sĩ lái xe tải quân sự Trường Sơn ngày ấy – bây giờ”. Tôi đi đến đâu cũng được các chị tiếp đón rất xúc động. Tôi còn nhớ như in cuộc gặp chị Nguyễn Thị Phàn ở Thái Bình. Người chị gầy sắt lại chỉ hơn 30kg. Chị ứa nước mắt bảo: “Ngày trước, các chị ở chiến trường đều gầy nhỏ như vậy. Vô-lăng các xe tải đều nặng như cùm. Các chị phải đệm chăn chiếu mới với được tới vô-lăng mà vẫn vượt qua bao bom đạn. Máy bay đuổi theo sát sạt trên đầu. Bom nổ trùm lên cả xe mà hàng vẫn đêm ngày chuyển ra tiền tuyến. Những vòng vô-lăng khói lửa ấy đêm nào cũng hiện hình trong giấc mơ của các chị”.

Trong cuộc giao lưu, tôi đã mời chính nhà văn Chu Lai dẫn chương trình. Ông đắn đo rất lâu rồi quyết định nhận lời. Và cũng chỉ có ông ngồi giữa các chị trong một chương trình truyền hình đặc biệt nói về chiến tranh, cả sự tàn khốc của nó, cả sự lãng mạn của nó mới đạt đến chiều sâu lay động trái tim người. Chương trình đó đầy ắp kỷ niệm máu thịt nhất của không chỉ các nữ lái xe tải quân sự Trường Sơn mà nhiều thế hệ cảm thông và chia sẻ, đồng hành, nhập cuộc, để chúng ta có sự tri ân đúng đắn với máu xương, công sức của những người đã bước vào và bước ra từ khói lửa chiến tranh.

Các tác phẩm đậm đặc nhất và ở đó hình tượng người chiến sĩ được hiện ra góc cạnh nhất, trung thực nhất và cũng con người nhất phải kể đến, như: Ăn mày dĩ vãng; Ba lần và một lần; Cuộc đời dài lắm; Khúc bi tráng cuối cùng; Út Teng… và nhất là Mưa đỏ. Ở các tác phẩm kể trên, người chiến sĩ không chỉ giáp mặt quân thù nơi chiến trận mà còn phải vượt qua chính số phận, có chỗ là những bước ngoặt sinh tử ở thời bình. Chu Lai dường như có một biệt tài về tả tâm lý lính tráng trước những bước ngoặt của cuộc đời, những éo le của số phận, những thử thách ghê gớm và nghiệt ngã nhất mà người lính phải vượt qua. Người lính trong tác phẩm của Chu Lai luôn nổi hằn lên từ vẻ bên ngoài tới nội tâm bên trong, luôn rất cá tính, rất “chịu chơi”.

Đó là nhân vật Vũ Hà Nguyên trong Cuộc đời dài lắm. Sau chiến tranh, Vũ Hà Nguyên nhận chức giám đốc một công ty cao su đang đà sa sút. Những khó khăn, phức tạp của kinh tế thị trường ập vào rất nhanh. Những cám dỗ và mưu mô ập đến rất nhanh. Một người lính chỉ biết sống đẹp, sống thẳng, yêu ghét rõ ràng như Vũ Hà Nguyên sẽ đối diện ra sao với những ganh ghét và hãm hại của nhiều người xấu? Nhất là mối tình của anh với Hà Thương vừa lung linh vừa gay cấn trong tiểu thuyết đã làm cho vẻ đẹp của người lính trên thương trận bộc lộ đầy đủ nhất.

Đó là nhân vật Sáu Nguyện – một người lính quân báo trong tác phẩm Ba lần và một lần đã thể hiện rõ chất lính chiến được bộc lộ đến tận cùng trong cuộc sống xô bồ thời mở cửa. Ở bước ngoặt mới, Sáu Nguyện đã thể hiện phẩm chất và bản lĩnh của mình, đơn thương độc mã tuyên chiến đến cùng với những người đại diện cho hình thế kinh tế biến tướng thời mở cửa. Đã có những đớn đau. Đã có những trả giá và ngòi bút già dặn của Chu Lai đã thể hiện rất xuất sắc. Sáu Nguyện là một trong những nhân vật nổi trội nhất trong hệ thống nhân vật của Chu Lai.

tác phẩm của Nhà văn Chu Lai 5

Viết về chiến tranh, tạo dựng tượng đài người chiến sĩ là biệt tài của nhà văn Chu Lai thì đến Mưa đỏ, ông dường như đã ở đỉnh cao của một ngòi bút thiện chiến. Cuộc chiến thành cổ Quảng Trị nổi tiếng qua Mưa đỏ đã thể hiện sự toàn diện nhất, khốc liệt nhất, trung thực nhất, đau thương nhất và cũng nhân văn đến tận cùng. Cái giá của chiến thắng, cái giá của hòa bình đã là như vậy đó. Chỉ có ngòi bút Chu Lai ở thời điểm đỉnh cao mới dẫn dắt bạn đọc đi đến tận cùng cảm xúc, nhất là những hy sinh máu xương vô bờ bến của chiến sĩ ta, nhân dân ta.

Nhà văn Chu Lai, trong tất cả các trang văn của ông, cái chất hào hoa của người ở Thủ đô từ tấm bé, luôn phảng phất như ngọn gió mùa thu thổi mãi. Những trang lẫm liệt nhất, bi tráng nhất thì cái chất hào hoa ấy càng tỏa ngát hương thơm. Chu Lai luôn nhất quán trong giọng văn, từ trang viết đầu tiên cách đây gần nửa thế kỷ đến hôm nay. Ông viết bút ký hay truyện ngắn cũng đều một chất hào hoa, ngang tàng mà trầm bổng loang thấm đến tim óc người đọc. Ông phát biểu cũng vậy. Ông trả lời phỏng vấn cũng vậy. Đều là một Chu Lai mạnh mẽ, phóng khoáng, trầm bổng, sâu sắc và thanh thoát.

 

BÀI 3

Nhà văn Chu Lai – Đồng hành với người viết trẻ

Càng vào sinh ra tử, cống hiến toàn bộ trí tuệ và sức lực cho cộng đồng, vì những trang văn dựng xây tượng đài người chiến sĩ của nhà văn Chu Lai càng có những cảm nhận đặc biệt, vừa cảm thấy mất mát đến tận cùng vừa bâng khuâng khó tả. Nhưng cuộc sống vẫn diễn ra, chúng ta càng phải tiến về phía trước một cách đường hoàng hơn, mạnh mẽ hơn.

Có khi không mấy người biết nhà văn Chu Lai vốn xuất thân khá danh gia vọng tộc. Chu Lai có tên khai sinh là Chu Văn Lai. Ông sinh ngày 5 tháng 2 năm 1946, tại xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông là thứ chín trong mười người con trong nhà. Mẹ ông là con gái quan Án sát tỉnh Hưng Yên. Bà rất giỏi tiếng Pháp, từng học ở trường thuốc và luôn là tâm điểm theo đuổi của các anh tài. Thân sinh nhà văn Chu Lai là nhà viết kịch Học Phi cũng là con một gia đình giàu có ở tỉnh Hưng Yên. Khi chàng thanh niên Học Phi hoạt động cách mạng, bị bắt năm 16 tuổi, cô tiểu thư con ngài Án sát theo cha xử án thấy người tù trẻ đẹp, lại đỗ tú tài nên cảm mến ngay từ cái nhìn đầu tiên. Quan Án sát đã tha cho đương sự vì khi đó Học Phi mới 16 tuổi, chỉ phải chịu sự quản thúc ở quê. Thấy chàng trai ăn mặc phong phanh trên đường đê đang trong mùa đông rét đậm, cô tiểu thư đã chạy theo dúi cho chiếc áo bông trước sự ngỡ ngàng của chàng trai. Rồi cô tiểu thư cũng tham gia hoạt động cách mạng và bị bắt vào nhà tù cùng với chàng trai trẻ Học Phi. Cùng chí hướng, hai trái tim ngày càng chung một nhịp đập. Khi ra tù, họ thành vợ thành chồng cũng là lẽ tự nhiên.

tác phẩm của Nhà văn Chu Lai 6

Nhà văn Chu Lai thường lặng đi mỗi khi chúng tôi nhắc về mẹ ông – Bà mẹ Việt Nam anh hùng có hai con là liệt sĩ. Đó là liệt sĩ Chu Viết Tử hy sinh trong đoàn quân Nam tiến thời chống Pháp mà trước khi mẹ nhắm mắt, nhà văn Chu Lai đã phải lặn lội vào tận nơi anh ruột hy sinh mang về nắm đất để cho mẹ yên lòng. Liệt sĩ thứ hai cũng là anh ruột – liệt sĩ Chu Minh An hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Mỗi người con hy sinh, người mẹ đều như đứt từng khúc ruột. Nhưng chiến tranh là như vậy. Và chính từ những đau đớn tột cùng ấy, đã góp phần hình thành nên tính cách và bản lĩnh của nhà văn Chu Lai.

Tôi từng làm phim về cụ thân sinh Chu Lai – lão nhà văn Học Phi và thấy rằng văn chương của cụ, nhất là mảng kịch rất bề thế. Những dãy nhãn xù xì, vòm lá xanh rêu nơi xứ Đông đã không chỉ hun đúc trí tuệ và khí phách của những người con cách mạng mà còn lần lượt gieo những mầm xanh vạm vỡ đi vào khắp các ngả chiến trường. Khi lão nhà văn Học Phi nhắc đến hai người con là liệt sĩ, tôi thấy mắt vị lão trượng tuổi ngót 100 khi ấy ri rỉ nước.

Tôi vẫn luôn cho rằng, để làm nên những trang văn đậm đặc về lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng, góp phần xây dựng nên tượng đài chiến sĩ trong văn học, mỗi nhà văn trong đội ngũ nhà văn Quân đội, trong đó có Chu Lai đã xác định từ những dòng chữ đầu tiên, trang văn đầu tiên là hướng tới người chiến sĩ, nhân dân và Tổ quốc. Để có được sự xúc động và lay động từ những trang văn, người cầm bút luôn biết trân trọng máu xương của người đã khuất. Gia đình tôi cũng có hai người chú liệt sĩ là Phùng Văn Hữu và Phùng Văn Huy trong chiến tranh chống Mỹ nên tôi rất hiểu nỗi đau mất mát không thể nói hết bằng lời. Khi thực hiện Chương trình “Nhắn tìm đồng đội”, nước mắt tôi đã nhòa mặt giấy khi biên tập và phát sóng tìm người thân của mình trong trùng trùng bia mộ khuyết danh.

Là nhà văn cả đời viết về chiến tranh và người chiến sĩ, Chu Lai rất hiểu đó là cung đường rất dài không dễ dàng đến đích. Chu Lai từng có cách định nghĩa về chiến tranh khiến người đọc phải giật mình: “Chiến tranh là ngày nào cũng chôn nhau nhưng chưa đến lượt chôn mình”. Nhưng Chu Lai cũng bảo, nếu chiến tranh chỉ là sự trần trụi đơn thuần thì người lính sẽ chết vì trầm cảm trước khi trúng đạn bom. Chiến tranh càng không phải là một ngày hội nên nhà văn phải viết về chiến tranh như chính nó. Ông lý giải: “Chiến tranh là một đề tài càng đào sâu càng màu mỡ, càng khai thác càng phì nhiêu, càng lùi ra xa thì trầm tích của chiến tranh càng dội về mãnh liệt. Có một điều hết sức diệu kỳ là chiến tranh không là cái gì nếu không có một nền tình yêu đằng sau được nổi lên ở những trang viết về tình yêu trận mạc, luận về anh hùng”.

Còn đây là Chu Lai luận về anh hùng: “Anh hùng là người sợ chết nhất nhưng vượt qua được cái sợ chết sẽ là anh hùng. Cũng bởi lẽ, những người lính gan dạ nhất cũng có những lúc yếu đuối mượn một trận pháo để tự thương, tự sát, để được về Hà Nội nhìn thấy mẹ, thấy cha một lần. Nhưng sau đó, hơi ấm của đồng đội, hơi ấm của vùng đất, hơi ấm của những người bà con trong ấp chiến lược tạo nên trong họ một khí phách. Khí phách ấy do ngọn gió nghìn năm lịch sử thổi thốc tháo sau lưng và tạo nên lòng tự trọng vô cùng trong mỗi người lính”.

Chu Lai luôn là như vậy.

Bàn về chiến tranh cách mạng và cả thời thế hôm nay, nhà văn Chu Lai còn rất “hot” trên truyền hình trong các kỳ cuộc kỷ niệm, nhất là những dịp Tết Nguyên đán nếu có ông góp mặt. Mâm cỗ truyền hình có Chu Lai bỗng sinh động và sang trọng hẳn lên. Chất giọng Chu Lai vốn sang sảng như chuông mà gương mặt biểu cảm mọi sắc độ cũng chẳng thua gì cánh diễn viên gạo cội. Có những điều người khác nói dễ bị suy diễn là chệch hướng, thậm chí là phản động, song nếu là Chu Lai nói những điều đó, câu chuyện lại hoàn toàn khác. Chu Lai luôn biết cách “đi dây” hết sức tài tình bằng trái tim nóng ấm chân thành và trí tuệ sâu sắc vì cái chung, vì nghĩa lớn. Đó cũng là bản lĩnh Chu Lai.

Thế hệ lứa nhà văn chống Mỹ, trong đó có nhà văn Chu Lai dường như đã hoàn thành trọng trách của mình. Những tên tuổi như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Trí Huân, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Bảo và Chu Lai với Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007 đã và đang đi trọn cuộc đời mình với văn chương và người chiến sĩ. Văn chương và người chiến sĩ đã tượng hình lên các nhà văn cũng chính là vẻ đẹp nhất của cuộc sống trong thời đại Hồ Chí Minh.

Nhà văn Chu Lai trong sáng tác luôn sầm sập như mưa giông chớp giật, song cuộc sống đời thường ông hết sức thong dong. Tôi chưa thấy ông bận bịu điều gì ngoài văn chương chữ nghĩa. Cũng thuộc hạng tay chơi cái gì cũng biết, tháng ngày rong ruổi khắp các cung đường, tự tay ôm vô-lăng ở độ tuổi U80 khiến đám nhà văn trẻ chúng tôi nhiều lúc thấy ngượng ngùng. Chu Lai lái xe cũng sành điệu và bát ngát lắm. Cao hứng lên, ngài còn giảng giải cách ôm cua lên dốc, đổ đèo, nhất là khi có mấy cô gái xinh xinh ngồi cạnh, Chu Lai càng bốc tợn. Những giai thoại về nhà văn râu ria bặm trợn e rằng phải kể ra ở một cuộc khác.

Chu Lai sớm thành danh nhưng ông cũng rất biết văn chương là vô cùng tận mà tuyệt nhiên không sa vào những tranh cãi, xếp hạng viển vông. Đó cũng là đặc tính của lính trận đánh nhau chí chết xong, tạm nghỉ chơi đẹp rồi lại vào trận đánh tới cùng, tan trận lại nghỉ rong chơi. Đó cũng là đặc tính của những nhà văn đã tự biết mình, đạt đạo trong trường văn trận bút.

Đối với cánh nhà văn trẻ, Chu Lai luôn có cách thức rất đàn anh của mình. Chân thành. Trọng thị tài năng. Luôn biết khích lệ những người phía sau vượt qua những giới hạn của mình và tuyệt nhiên không dạy nghề, càng không lên tiếng nhiều về nghề nghiệp. Thành ra, chúng tôi sống với những đỉnh núi như Lê Lựu, Chu Lai mà cứ cảm thấy mình trong ngôi chùa quen thuộc lắm lúc coi ông bụt cũng thường thôi. Cơ mà chúng tôi cũng lập tức hiểu ra rằng thế hệ các ông không chỉ đóng góp máu xương mà còn vắt óc mình ra, nói như Chu Lai là múc óc mình ra để góp phần tạo nên những giá trị tinh thần, những hình tượng cao đẹp về con người, trong đó có người lính với nhân dân, Tổ quốc.

Thế hệ chúng tôi, lứa nhà văn trưởng thành sau dấu mốc Đổi mới 1986 luôn hết sức tự hào và cảm thấy sức ép không hề nhỏ từ thế hệ nhà văn đi trước. Viết về bộ đội hôm nay ra sao để không hổ thẹn với các lứa nhà văn đi trước và nhất là phải viết như thế nào về người chiến sĩ hôm nay? Trong thời bình, sức lực, trí tuệ và cả máu của người chiến sĩ vẫn đổ xuống vì cuộc sống bình yên, vì sự phát triển vững vàng của đất nước trong những diễn biến, những chuyển động không ngừng của thời cuộc toàn cầu. Từ những nền tảng lớn ấy, từ vị thế của đất nước và trọng trách của người chiến sĩ với nhân dân, với Tổ quốc, những nhà văn mặc áo lính chúng tôi hôm nay phải sống và viết ra sao? Những câu hỏi lớn ấy luôn dội vào chúng tôi, đặt lên vai nhiệm vụ và phải bước những bước vững vàng tiếp bước lứa cha anh, vững ngòi bút, vững niềm tin xây dựng và tô thắm tượng đài chiến sĩ. Trọng trách và niềm tin được đặt ra. Những người như nhà văn Chu Lai – một tượng đài nhà văn – chiến sĩ luôn như ngọn đèn hải đăng dẫn đường và đồng hành với thế hệ chúng tôi trong đời sống và nghiệp bút.

P.V.K

 

 

     


     

Bài trướcTuổi đời vành đai Sao Thổ có thể lên tới 4,5 tỷ năm
Bài tiếp theoChùm thơ “Chân dung 18” của Phùng Văn Khai

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây