Sau gần một tháng sứ đoàn của Triệu chánh sứ đi thăm miền Bắc, tới nơi nào cũng được đón tiếp trọng thị, tới mức mà: “Nhiều vị tộc trưởng đồng tộc với đại diện sứ đoàn còn nhận kết nghĩa cùng nhau và đoan chắc rằng từ thời thượng cổ chắc chắn các cụ ngày trước đã là anh em ruột thịt”.
Tôi đọc thành tiếng đoạn này, và thấy hơi văn khá giống Dế mèn phiêu lưu ký. Có thể đó là sự ảnh hưởng trong vô thức, và nếu có cũng là điều đáng quí bởi sự phát triển nào chẳng trên cơ sở thừa kế một cái gì đó. Cũng giống như không có kinh Vệ Đà sẽ chẳng lấy đâu ra kinh Phật.
Xin giới thiệu vắn tắt nhân vật số một của tiểu thuyết này: “Vốn xuất thân võ tướng, Đào Lang Vương vẫn giữ nếp xưa, luôn khẩn trương, nghiêm túc điều hành mọi việc không chút nề hà, càng không rườm rà nghi lễ”.
Chả biết tôi đã mắc tật suy diễn và qui chụp chưa, nhưng thấy gờn gợn ở cái “vẫn giữ nếp xưa” này. Hòa bình đã trên chục năm rồi, sao ông còn giữ nếp ấy? Phải chăng tác giả men mén cho thấy ông nhìn thấy những cuộc chiến chưa thể kết thúc và luôn sẵn sàng?
Cũng ở đây, tôi muốn nhấn mạnh cái cách tổ chức mạch truyện cực kỳ tinh vi của họ Phùng qua những câu từ tưởng như rất trung tính, vô hại ấy.
Từ trái sang: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn, nhà thơ Trương Đăng Dung và nhà thơ Trần Hưng.
Vương nói: “Việc trước mắt đã có cánh cửa mở ra, song con đường sẽ không ít chông gai cản trở. Trẫm cũng có chỗ khó không dễ gì diễn giải”.
Chỗ khó ấy là gì? Phải chăng một điều tế nhị nào đó mà vì phép vua tôi quần thần tự biết không nên hỏi rõ? Chúng ta là bạn đọc thì hỏi ai? Đành chờ câu trả lời ở các phần sau của sách.
Và đoạn tả vương thì: “Vừa mới vui cười nghe hai cận thần nhắc tới màn đấu rượu khi lão tướng Trương Hống khiêu chiến sứ đoàn trên đất Bắc thì đã nghiêm nghị nhắc việc kết nối thông gia Lý – Triệu”.
Là chủ ý hay trong vô thức, nhưng Phùng văn sĩ đã khắc họa đậm nét cái phong cách của bậc đế vương, chuyển đổi trạng thái rất nhanh. Văn sĩ đã không thuyết minh mà để ngôn ngữ và hành động của nhân vật tự nói người đó là ai, vì sao lại vậy.
Đây cũng là điều tôi muốn chia sẻ về phương pháp viết của tôi, không tách bạch trao đổi về nội dung riêng, hình thức riêng mà có thể song song hoặc nối tiếp tùy duyên tùy hứng.
Chỗ khó của Đào Lang Vương đây rồi, ngay trong trình bày của Triệu Thái sư: “Trước hết hoàng thượng hãy ban tội cho thần trong lúc cấp bách chưa có ý chỉ của hoàng thượng đã bàn chuyện hôn sự”.
Đào Vương đã không đàn hặc mà để Thái sư tự nói ra bởi vốn coi ông như cha chú, nhưng cũng ngầm nhắc con ta mà sao làm như cháu ông vậy?
Thái sư, sau khi giải trình chi tiết, viện cả đến giấc mộng tiên ông thì nói đến nguyên cớ cuối cùng: “Đúng lúc buổi sáng hôm ấy, khi hội đàm với Ngô tổng trấn, thấy ngài ấy thẳng thắn tỏ rõ sự bất bình của các tướng, lão thần mới đột nhiên nghĩ ra việc cầu hôn. Mong hoàng thượng minh xét!”
Vương chăm chú lắng nghe, nhưng rồi: “nhìn sang Quốc sư Phùng Hiền Anh như có ý khuyến khích vị sư phụ nói trước”.
Từ “khuyến khích” Khai dùng chính xác và thâm trầm lắm, vừa là cái khôn muốn thăm dò thực chất ruột gan kẻ dưới, vừa đúng vị thế của kẻ bề trên.
Như thế, không phải là Khai luôn ào ào trong việc dụng chữ, mà y nhất mực dồn sự kỹ lưỡng về chữ vào nhân vật ở những thời điểm quan trọng.
Phùng sư phụ nghiêm trang: “Việc kết thông gia Lý – Triệu bên ngoài tuy là việc riêng của nhà hoàng thượng nhưng kỳ thực bên trong là đại sự quốc gia. Với Lý triệu hiện nay, việc kết thông gia càng phải tính toán thật chặt chẽ. Đối với Triệu Vương, ngài ấy buộc phải nén chặt việc nước xiển dương việc nhà để các võ tướng còn có chỗ thoái lui”.
Tầm vóc của sư phụ chính là ở chỗ đọc vị “nén chặt việc nước xiển dương việc nhà” này đây.
Đào Vương kết luận, cũng rất trung tính trung đạo không buồn không vui, không chút cảm xúc mà như là nói tới một thứ việc: “Chuyện tới cũng đã tới rồi! Cổ nhân có dạy, là phúc không phải họa, là họa không tránh được”.
Nhưng tầm vóc làm đế của ông là ở chỗ này: “Ngay cả đối với các tướng muốn chủ chiến của Triệu Vương, ta càng phải hết sức nhún nhường, dùng lễ nghĩa chân thành làm họ cảm động. Các khanh nên nhớ, nam – bắc Vạn Xuân đều là một nước, nhân tài văn võ đều phải được trọng dụng như nhau”.
Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa trái) và các bạn văn.
Nguyên lý ấy của vương, ngàn năm sau hậu thế còn học chưa nên, chăm chăm soi lý lịch xem ông cha theo họ Lý hay họ Triệu không chừng.
Lại mở ra về không gian văn xuôi khác của Phùng Văn Khai, ngoài những tiểu thuyết này. Có lần tôi đọc và thành thật với Khai, nhân vật của ông vẫn toàn ở trọ gầm cầu thế này chỉ gây xót thương cảm động tí chút thôi chứ khó khiến người đọc kính nể.
Nay thì Khai đã đãi tôi một chiếu ê hề những nhân vật để mà kính nể rồi.
*
* *
Sau buổi tiếp đãi sứ, phiêu kỵ tướng quân Trịnh Phong nói thác có dấu hiệu dịch bệnh của trại ngựa nên về quân doanh cạnh đèo Cổ Họng sớm rồi triệu tập các đô tướng. Sau đó nhận được thư của Trương Hống và đô đốc Đinh Công Bính hẹn nhau cấm ngặt sứ bộ và không nhận rể Lý gia. Diễn biến này không lạ nếu chiếu theo thái độ và ngôn ngữ của họ thể hiện ở buổi thiết triều của Triệu Vương mà tôi đã giới thiệu ở phần trước.
Rồi thì hai bên thư qua thư lại, dền dứ nhau ở đèo. Cũng có mai phục có đánh vờ để tránh đổ máu và leo thang căng thẳng, tất nhiên so với những trận chiến đã qua của nhà Tiền Lý chả thấm tháp gì. Rút cục sứ đoàn đưa hoàng tử đi ở rể đành tạm rút.
Cũng may tin ấy chỉ về đến tai Ngô Bân chứ Triệu Vương đang lên hương Cổ Pháp nhằm ngày giỗ Lý quốc chủ.
Ngô Bân không dám cho người bẩm báo hoàng thượng, vừa sợ Trịnh Phong bị xử trảm vừa sợ hỷ sự của công chúa sẽ sớm hằn vết đen thù hận.
Đang bối rối chưa biết xử trí ra sao thì được báo có một thương nhân đến gặp. Hóa ra ông ta là Đô đốc Lý Thiệu Long thành viên sứ đoàn, đến để báo rằng đoàn đưa rể hiền do Thái sư dẫn dắt đã đi theo đường biển tới Long Biên.
Đào Lang Vương, khẩu khí và hành trạng như đã nói ở trên, thì tính toán cao cường vậy là dễ hiểu. Phùng văn sĩ đã chuẩn bị chu đáo hình dung về nhân vật số một này, để còn làm những việc lớn nào nữa trong tiểu thuyết đây?
*
* *
Tên hồi: Lý phò mã nửa đêm thả thích khách.
Mấy nay trên mạng đang ồn lên chuyện một du tăng theo hạnh đầu đà đi bộ dọc đất nước. Liếc trên youtube thấy họ rút tít nào là “biến căng, sư áo vàng đi theo đoàn mưu đồ gì đây?”, rồi thì “mang theo điện thoại, sư mắt kiếng đã chụp những gì lúc riêng tư của thầy?”, “nguy rồi, đã có người tìm ra gốc gác sư Kim Cang”…
Đọc tới đây, tôi thầm nói với tác giả rằng cái tên hồi và vị trí nó trên đầu mỗi hồi (tất nhiên rồi) đã làm mất đi già nửa sự hấp dẫn của nó. Sẽ không còn câu hỏi liệu phò mã có bị rình rập sát hại hay không?
Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa trái) và nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải hàng thứ 3) tặng sách cho các độc giả.
Nhưng lại nghĩ, cũng như những khán thính giả theo dõi hành trình của vị sư. Người hiếu kỳ mang tâm lý bầy đàn sẽ chúi mũi vào các clip tiêu đề giật gân đó để xem có chuyện gì. Người điềm đạm và thực tâm tìm cầu tri kiến giải thoát sẽ quan sát xem sư có vì hàng nghìn người đảnh lễ cúng dường thế mà sinh vẻ khinh mạn, hàng trăm người tranh nhau nhét đồ vào lõi nồi cơm điện mà cáu kỉnh hay không; để rồi học lấy hạnh khiêm cung kham nhẫn của ông.
Thế nên, đừng vì bí mật đã bị bật mí mà giở luôn tới trang cuối của hồi này. Bởi nội dung của hồi sẽ giống giải bài toán ngược, từ kết quả tìm kiếm nguyên nhân. Mà điều ngoạn mục chính là ở chỗ kinh Phật cũng được cấu trúc tương tự như vậy: Ngài bắt đầu từ quả trước rồi nói nhân ở đâu, thay đổi bằng cách nào; Ngài nói về khổ trước rồi mới nói nguyên nhân gây khổ, cách diệt khổ…
Hoàng tử Nhã Lang – Lý Trung Chính là con của vương phi Lã thị. Bà là con của huyện lệnh Phong Khê tên Lã Khâm, người có mối thâm giao cùng quốc chủ Lý Bí từ thuở hàn vi. Bà đã mất trong đám loạn quân khi Nhã Lang mới năm tuổi.
Dự kiến sự ngăn trở thì Đào Lang Vương có rồi.
Nhưng kế “ve sầu thoát xác” đưa hai sứ đoàn đi cùng lúc, đoàn giả theo đường bộ thật theo đường thủy thì do đô đốc Lý Thiệu Long trình vương.
Nhưng kế sách có hay mà trình lên hôn quân thì cũng chẳng có chỗ dùng. Phúc cho đô đốc và cho cả Vạn Xuân ở chỗ Đào Lang Vương là một minh quân.
Sau đó là đại cảnh đoàn: “Hai mươi bảy chiếc thuyền mới hôm trước giả dạng thương thuyền sáng sớm hôm sau đã lột xác hoàn toàn. Hàng ngàn tấm lụa xanh, hồng, đỏ, vàng rực rỡ được trưng ra. Nổi trội nhất là màu đỏ. Từng dãy đèn lồng cỡ đại hoa văn bay bướm đỏ rực treo chi chít thành từng dãy hai bên mạn thuyền đung đưa trong gió sớm”.
Tác giả đã có những trang tả cảnh tả người rất rực rỡ hoành tráng như vậy. Âu cũng là thay đổi không khí đang toàn âm mưu thoán đoạt tranh giành, chứ tôi vốn thanh đạm ít bị bắt mắt bởi những cái rực rỡ ấy.
Tuy nhiên, đọc văn lại nhớ người, tôi thấy nhiều phen Khai là chủ công làm các cuộc ra mắt các cuốn sách về danh nhân thần tướng ở các địa phương cũng vừa trọng thể vừa tỉ mỉ từng tí như thế. Hàng trăm con người ai sẽ ngồi đâu, ai nói trước nói sau và trong bao nhiêu phút; xách cái túi ngoài sách ra còn thêm những gì, phong bì cơm trưa loại cứng hay mềm… Những lúc ấy tôi chỉ biết nức nở bái phục bởi giữ cho tỉnh táo qua dư âm cơn say đêm trước (dù uống ít hơn Khai) đã là cố gắng.
Sau khi ca ngợi hoàng tử tên đẹp như người, Ngô tổng trấn tươi cười: “Nay hoàng tử đã đến đây, ta xin tặng riêng một món quà!”.
Chánh sứ Triệu Quốc Chính cùng sứ đoàn thoáng chút sững sờ vì: “Không thể nào có chuyện lạ đời nhà gái lại tặng lễ vật trước cho nhà trai như thế?”.
Tổng trấn dắt tới một vị lão trượng râu tóc bạc trắng nhưng rất uy nghi cân quắc bảo với hoàng tử: “Lý hoàng tử! Ngài xem ai đã đến đây?”.
Hoàng tử chăm chú quan sát nhưng không nhận ra.
Tổng trấn Ngô Bân thong thả: “Chính là ngoại công của hoàng tử đó”.
Trường đoạn sẽ có kịch tính và độ hấp dẫn hoàn hảo nếu ngay trên đầu tác giả không đưa ra quá sớm rằng: “Tổng trấn Ngô Bân đã sớm cho đón huyện lệnh Lã Khâm tới Long Biên”.
Nếu cất nó đi, sẽ không chỉ sứ đoàn sững sờ mà bạn đọc chúng ta cũng sững sờ theo. Mà những cái này nhà văn hoàn toàn có thể điều chỉnh trước khi in hoặc tái bản. Tất nhiên trừ phi chưa kịp in đã lại có quyển tiểu thuyết mới đang nằm chật cứng trong đầu ông đòi ra.
Đêm tới, là cảnh thích khách đột nhập vào phòng của hoàng tử cùng một số hảo công phu mà tôi đoán na ná trong các chuyện chưởng Khai ưa thích. Nói đoán bởi vì cả đời tôi chả bao giờ đọc chưởng.
Độc giả biết trước sẽ không bị hồi hộp gì nên xin đi thẳng tới phần dạy dỗ của hoàng tử với chúng: “Ta hiểu các ngươi đều là do chủ nhân sai đến. Bất luận là các tướng quân thủy bộ hay đại thần trong triều thì các người hãy về bảo với chủ của mình, việc kết hôn hai nhà Lý – Triệu đều là ý trời không cưỡng được đâu. Nếu có lần sau, ta quyết không tha”.
*
* *
Trong suốt ba tập tiểu thuyết trước mà Phùng Văn Khai đã viết về nhà Tiền Lý, hình thức của các chiến trận hay chiến dịch hầu như là đối trận; nghĩa là ranh giới địch ta khá rõ ràng.
Tuy nhiên khúc mắc giữa hai bên Lý – Triệu bây giờ lại hình thành một tình thế mà tôi không biết phải gọi là gì.
Phía nhà Lý là đoàn sứ đi gửi rể, cùng với thành Chu Diên là quà hồi môn của Triệu Vương cho cặp tân hôn. Trên đất khách họ được cặp tùy tướng cũ của Lý Nam Đế cùng tổng trấn Ngô Bân ủng hộ.
Phía nhà Triệu là các võ tướng chủ chiến cùng một vị vương đã không còn tha thiết với việc triều chính mà kiếm đường đi tu tương tự Lý Bí, Lý Thiên Bảo năm xưa.
Không khí của tác phẩm đã được làm nguội bởi chuyện hôn nhân và tình yêu (theo thứ tự như vậy bởi bấy giờ hầu như là tình yêu chỉ có sau khi đã kết hôn!). Nhưng những câu chuyện tâm đầu ý hợp giữa Triệu Vương và chàng rể mới, cũng như chuyện công chúa rất yêu chồng vẫn bị phủ bởi bóng đen của chuyện phần lớn các tướng quân thủy bộ bên họ Triệu đều kiếm cớ thoái thác không đến dự tiệc cưới. Phò mã càng được Triệu Vương và công chúa yêu mến càng khiến đám kiêu bĩnh hãn tướng căm giận.
Giữa lúc ấy công chúa ra sao?
Nàng “mỉm cười tinh nghịch khẽ giơ ngón tay cốc nhẹ lên trán tân lang”.
Ngôn ngữ của nàng thì: “Mặc kệ phụ vương đã căn dặn chàng những gì, nhất định thiếp phải tiễn sứ đoàn thật trọng thị mới được”.
Nàng “giả bộ õng ẹo”: “Những thứ muội bắt đền huynh e rằng suốt đời này kiếp này không trả hết được đâu.”
Và trong tiệc tiễn sứ đoàn về nước thì “Công chúa mặc một bộ đồ lụa màu hồng tuyệt đẹp, lưng thắt dải lụa bạch phất phơ, hai cánh tay để trần trắng muốt mỗi khi múa lên dẫn nhịp như sóng dâng cao chạm tới mây trời miên man không dứt”.
Trong bộ tiểu thuyết lịch sử này, chả mấy khi họ Phùng đãi bạn đọc những dòng văn về tình yêu, nhưng quả là “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, bởi “Khi công chúa cùng phò mã lưu luyến cầm tay trò chuyện không muốn dứt với ngài chánh sứ cũng là lúc nhị vị tướng quân Điền Công, Điền Thái cùng với đô đốc Lý Thiệu Long đang bàn bạc điều gì đó rất nghiêm nghị nơi bến thuyền sống Ô Diên”.
Tôi vỗ trán tự hỏi đời sống hôn nhân đương đại có nhiều nhà ngổn ngang thế này chăng? Nếu không phải vậy thì cái nền của sự tư duy tưởng tượng ra cảnh ngổn ngang ấy là gì?
*
* *
Tên hồi: Trịnh Phong, Công Bính vây ngặt thành Ô Diên
Nghĩ tới, thấy lối viết “mở bài” trước thế này có thể sẽ khiến bạn đọc không còn nhiều hứng thú quan tâm đến những dòng kể thịnh tình của dân thành Ô Diên dành cho sứ đoàn.
Nghĩ lui, có khi đó mới chính là nét hiện đại của tiểu thuyết này. Và tôi đồ rằng họ Phùng thâm trầm sâu xa, không chỉ để chúng ta “ôn cố tri tân” mà còn là mượn cái vỏ chuyện xưa nói chuyện nay. Biết đâu đằng sau cái tên Trịnh Phong chẳng hạn là một nguyên mẫu “hãn tướng” nào đó mà ông được biết trong đời thực.
Thêm nữa, nôm na là kể cả khi chúng ta có thể kết luận vợ chồng nhà ấy hạnh phúc chẳng hạn, thì việc vợ cằn nhằn chồng chả vẫn cứ song song tồn tại sao?
Thế nên chúng ta sẽ không tư duy đây là “kiển tố vừa đố vừa giảng” mà thực sự trong cái đã giảng ấy vẫn còn cái đang đố.
Tôi thích chi tiết này: “Đến ngay như ba cặp lợn giống, năm cặp trâu bò giống vùng Ô Diên mà vị huyện lệnh đã toan từ chối sợ ảnh hưởng tới sứ đoàn khi biết chuyện đô đốc Lý Thiệu Long cũng tươi cười đón nhận sai đám đô tướng đưa lên riêng một khoang góc thuyền thoáng gió, còn làm riêng sàn cách ly trên hải thuyền”.
Những chi tiết kiểu này tôi đoán mấy cụ thủ từ ở các đền thờ vương ngày xưa kể cho họ Phùng chứ tôi chắc y chưa từng thấy kiểu vận chuyển gia súc như vậy dù chỉ trong tranh vẽ.
Nó khiến tôi liên tưởng tới vị hành giả đang đi bộ xuyên Việt. Mặc dù hẳn là đã mệt lử vì đầu trần chân đất, nhưng ông luôn chắp tay và niệm danh hiệu A Di Đà đáp lại từng người dẫu đến hàng nghìn lượt Phật tử tới đảnh lễ đúng giờ nghỉ trưa.
Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa trái) và nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải hàng thứ 2) trong chuyến tham quan.
Và khách cũng rất xứng đáng với chủ: “Đang mùa đông lạnh, chánh sứ Triệu Quốc Chính hôm trước đã xin với phò mã cùng công chúa không cử người tiễn đoàn tránh xao động tới dân chúng nơi bến sông”.
Tôi cũng đồ rằng không phải họ Phùng vốn độc địa gì, mà đơn giản chỉ là ông thấy trong đời sống quay cuồng cả thuận và nghịch duyên này, sự thật là hơi ấm hạnh phúc luôn bị rình rập bởi những cơn gió lạnh luồn khe như vậy. Ông không thể vì yêu đời sống mà phết màu hồng giả tạo lên cho nó được: “Trong khu rừng thấp ngay sát bến Ô Diên, khi đoàn hải thuyền vừa rục rịch rời đi cũng là lúc bóng ba kỵ mã áo đen tuyền ra roi thúc ngựa vút thẳng theo triền sông sương khói chập chờn ẩn hiện”.
*
* *
Đời sống có một hiện tượng thú vị là người ta bị lừa đi rồi có khi lại bị lừa lại. Và mãi mãi không cắt được chuỗi ấy trừ phi đoạn được tham sân si. Các vị tướng hiếu chiến bên Triệu Vương bị lừa lúc sứ đoàn đi, lại bị lừa cả lúc sứ đoàn về, bất chấp việc có rút kinh nghiệm. Khi chặn bắt được cả hai bảy hải thuyền thì người chèo và đồ đạc còn đó cả, nhưng tướng và quân nhà Lý không thấy đâu.
Một bi kịch nữa là đâm lao phải theo lao bởi quá muộn để quay đầu, như lời đô tướng Phùng Thanh con út của lão tướng Phùng Kim: “Đánh! Ắt Triệu Vương qui chúng ta là loạn thần tặc tử tuyên tội chết. Buông bỏ! Ắt binh tướng chúng ta sẽ không được chủ mới trọng dụng cũng sẽ giết đi”.
Không rõ vì chủng tử gì từ hằng hà sa số kiếp, nhưng tôi thấy đẹp biết bao cái cách người miền Bắc nước Mỹ kết thúc nội chiến Nam – Bắc; ngay sau khi tướng miền Nam chấp nhận đầu hàng, tướng miền Bắc mở tiệc chiêu đãi và cho toàn bộ tù binh về quê làm ăn. Ông nghiêm cấm quân đội mình sỉ nhục người thua trận bởi cho rằng một người Mỹ dù Nam hay Bắc bị sỉ nhục là nước Mỹ bị sỉ nhục.
Có lẽ thái độ quân tử ấy nhiều dân tộc giờ vẫn đang mơ ước.
Tôi cũng mơ bởi tới nay vẫn thấy bóng cờ quá khứ được một số Việt Kiều ở Mỹ lôi ra diễu hành trong những ngày kỷ niệm nào đó của họ.
Thế nên, có thể sẽ không có cuộc bao vây thành Ô Diên nếu bằng một cách nào đó, đám tướng cứng đầu kia tin tưởng rằng họ sẽ có tương lai ở một nhà nước thống nhất.
Tuy nhiên, có chút ấm áp của hy vọng khi mà phò mã khá thông minh tinh ý “đọc vị” được diệu kế của sứ đoàn: “Ta đã có ý ngờ khi Triệu Chánh sứ kiên quyết không để ta và nàng tiễn sứ đoàn, còn Lý Đô đốc đã sớm mất dạng cả tuần trước đều là có chủ ý cả”.
Ông sẽ là một vị vua kế nghiệp tốt trong tương lai, tất nhiên là với điều kiện thoát khỏi cuộc bao vây này.
*
* *
Mấy nay thấy cảnh Phật tử tới cố tìm cách rờ chân vị sư bộ hành rồi quệt lên đầu lấy khước hay phước gì đó; nhiều người bỉ bôi rằng sao mà u mê dốt nát thế. Nhưng lại có người đến vì bảo cả đời toàn nghe các thầy tụng kinh nhưng chẳng bao giờ giảng nghĩa rồi trả lời thắc mắc của họ về pháp.
Trộm nghĩ, những tác phẩm hay của họ Phùng chưa đến được với bạn đọc rộng khắp; cũng có phần trách nhiệm của những người làm công việc phê bình như tôi chưa hoàn thành trách nhiệm chia sẻ dẫn dắt.
Không rõ là do căn cơ từ khi sinh ra, hay tính chất công việc quản lý ở cơ quan tạp chí Văn nghệ quân đội; mà chất đại tự sự trong sáng tác của Phùng Văn Khai, cả tiểu thuyết và thơ đều khá đậm.
Chất đại tự sự rất tích cực, chẳng hạn trong Chiến tranh và hòa bình của Leo Tolstoi, nhờ đó mà độc giả có thể hình dung tổng thể cả đất nước Nga lâm chiến từ người dân thường tới thượng tầng kiến trúc trong cung. Nhưng Tolstoi viết tiểu tự sự cũng xuất chúng, chẳng hạn Anna Karenina.
Từ khi nền kinh tế chuyển đổi sang thị trường, độc giả Việt quan tâm nhiều hơn tới công việc trực tiếp liên quan đến cơm áo gạo tiền của gia đình, bản thân và tiểu tự sự lên ngôi. Đó là trào lưu đọc theo từng giai đoạn; còn khi tác phẩm đã đủ lớn, trong nó sẽ sum xuê đủ đầy và hài hòa cả đại tự sự lẫn tiểu tự sự.
Trong tác phẩm của Khai, thấy hài hòa sự nhất hô bá ứng của vương quân cùng cử chỉ của người vợ yêu chồng: “Công chúa vẻ mặt xúc động cầm tay lang quân khẽ đặt áp vào bụng mình rơm rớm nước mắt nói”.
Sau khi đầu óc “luôn luôn lắng nghe lâu lâu mới hiểu” của tôi hiểu được rằng Khai mượn vỏ xưa để nói hồn nay, thì cũng kéo theo những nhận ra khác. Vẫn là không gian Tiền Lý, nhưng ông chủ động để truyện diễn ra với tốc độ cao, qua lời của Tả Thừa thị Phạm Lang và Hữu Thừa thị Khả Mật: “Vẫn biết cuộc hôn nhân giữa hai nhà Lý – Triệu sẽ có cam go nhưng không ngờ phong ba bão tố lại sầm sập kéo nhanh đến vậy”.
Nơi bấu víu cuối cùng để giới hạn và dập tắt cuộc khủng hoảng chỉ còn ở Triệu Vương.
Nhưng ông lại tới lúc dứt lòng trần: “Ý ta đã quyết. Ngày mai sẽ xuống tóc tu hành”.
Vị đại sư hỏi: “Nay ngài một tay phục quốc, lại đang buổi thái bình, sao cứ nhất nhất học theo Phật tổ?”
Ông đáp: “Ta nếu còn ở lại sẽ không tránh khỏi cuộc huynh đệ tương tàn, chẳng phải sẽ ôm hận thiên thu ư?”
Chủ trương chính của ông đành đã thế rồi, nhưng khi đối diện với diễn biến mới liệu có hy vọng gì ông sẽ đổi ý không?
Khi Ngô Bân cùng hai quan bẩm báo về việc hai tướng vây chặt thành Ô Diên, và ngày mai chắc chắn sẽ phá thành bắt giết phò mã cùng công chúa; ông thong thả tự tay rót ba chung trà nóng rồi nói: “Bất luận việc nước hay việc nhà, trẫm đều không có ý kiến. Các khanh hãy thuận theo pháp độ Vạn Xuân tạm điều hành mọi việc đến khi họ Lý có chỉ dụ mới. Xin đừng làm khó ta”.
Khi các vị tướng xin ông nghĩ lại. Ông bảo: “Nay ta xuống tóc chính là để bọn chúng hạ đao kiếm xuống. Bọn chúng nhẫn tâm ép ta lên ngôi đế, thực ra là để chúng thỏa mộng công danh. Nay ta đã là hòa thượng, chúng sẽ biết thân phận của mình chẳng phải tốt hơn ư?”
Sau rốt, ông động viên Ngô tổng trấn: “Đào Lang Vương cũng sẽ không nhìn lầm ngươi đâu”.
Mối tương giao đạo đời thật sâu rộng. Có lúc vì việc nước binh đao mà hành giả cởi áo cà sa khoác chiến bào; lại có lúc cũng vì tránh binh đao cho nước mà vương tôn cần cởi vương bào để khoác áo cà sa.
*
* *
Trong các buổi họp bia, tôi thường thấy Phùng Văn Khai hoạt bát chu toàn; khiến anh em ai cũng vui vẻ ấm áp vì được quan tâm đủ độ, từ cốc bia uống đỡ lúc bạn đã say đến miếng ngon gắp thêm cho mọi người. Giờ nghĩ lại tôi thấy lạ lùng, bởi nếu đang viết dở món gì mà bảo đi nhậu thì chắc mặt tôi đần ra và chỉ nói được dăm ba câu giả lả rồi về. Đằng này Khai đóng băng lại đó rồi tan tiệc về lại rã băng viết tiếp ngay được. Hay những lời thoại ở bàn ăn cũng là một kiểu viết nháp của y? Kiểu gì thì tôi cũng ngậm ngùi “ta không bằng được”.
Lại cũng chả mấy khi trong tiểu thuyết lịch sử của Khai xuất hiện nhân vật nữ, nên nhân thể tôi muốn bàn về việc xây dựng nhân vật.
Có thể mọi thứ với Khai đã trở thành kỹ xảo; tức rất tự nhiên chứ không như tôi gọi tên ra thủ pháp, gài chỗ này cho nó nổ chỗ kia… Tuy nhiên việc của tôi là gọi tên thì cứ gọi.
Khi ông tả Cảo Nương “Vị nữ thần tướng mình mặc giáp phục, lưng đeo hai thanh đoản kiếm, vai vác cung tên giơ tay trỏ về phía trước quát lớn:
– Bớ các ngươi là binh tướng ở đâu tới đây làm loạn! Vạn Xuân đã không còn phép tắc gì ư?”
Để nàng xuất hiện dưới tư thế đó, ông đã chuẩn bị trước đó vài chục trang: “Vốn con nhà võ, công chúa từ sáu bảy tuổi đã vừa học đàn vừa học kiếm, càm kỳ thi họa tinh tấn tới đâu thì cung kiếm quyền thuật cũng thuần thục tới đó”.
Chỉ có điều công chúa đã nói đúng một cách đau xót: Vạn Xuân đã “không còn phép tắc gì” thật. Chắc khi viết dòng này Khai đã nhếch mép cười mai mỉa và đau xót. Ông cũng liên tưởng cả cảnh ở một thời nào đó của nước lạ nào đó dăm năm ba lần thay nguyên thủ quốc gia chăng? Có ông hôm trước vừa đăng đàn thét ra lửa hôm sau đã ra về không kèn trống.
Dù quát tháo thế, thậm chí phi thẳng ra ngoài tìm tới quân doanh mắng mỏ đô đốc Đinh Công Bính, nhưng khi quay trở lại thành nàng vẫn nói với chồng bởi ý thức được tình hình thực tế: “Hay là chàng hãy tìm cách tạm lánh đi?”.
Trong lúc đó Triệu Vương ra chiếu chỉ cuối cùng, mệnh lệnh các tướng coi giữ binh quyền phải qui thuận Đào Lang Vương; tuy nhiên khi giao cho Tổng trấn Ngô Bân ông cũng thừa nhận: “Nếu các tướng vẫn còn manh động, trẫm đây chỉ còn biết trông chờ vào tài của tổng trấn mà thôi”.
Đám tướng ấy không còn dám manh động khi nghe chiếu chỉ; nhưng tiếc rằng lúc ấy phò mã và công chúa đã thiệt mạng trong đám loạn quân.
Khen cho họ Phùng để nhân vật của mình lên bờ xuống ruộng, người sống tình cảm như ông chắc lúc ấy tâm can cũng tan nát lắm nhưng không thể vì thế mà viết ra cái kết có hậu nhưng giả dối được. Cặp tân lang tân nương ấy mất mạng, phải chăng cũng là cái giá cần trả cho cuộc hàn gắn và thống nhất? Cũng như quân dân hai miền Nam Bắc Việt đã mất, bao gồm nhiều cặp anh em ruột mà số phận đưa đẩy đã chia ra hai đầu thù địch mỗi bên một người trong hơn hai mươi năm chiến tranh?
*
* *
Cái giá để thống nhất đất nước như vậy không rẻ, nhưng hẳn là so với việc sinh ra nội chiến rồi tự suy yếu và phải đối phó với phương Bắc hùng mạnh trở lại thì còn rẻ hơn nhiều.
Tôi tò mò tra google xem tình hình phương Bắc thời ấy ra sao. Kết quả là:
Trần Vũ Đế – Trần Bá Tiên (557 -559)
Trần Văn Đế – Trần Thiến (559 – 566)
Trần Phế Đế – Trần Bá Tông (566 – 568)
Trần Tuyên Đế – Trần Húc (569 – 582)
Tiện thể cũng tra luôn phía Vạn Xuân xem chính sử thế nào. Kết quả là:
Lý Đào Lang Vương – Lý Phật Tử (555 – 571)
Hoàng Đế – Lý Phật Tử (571 – 602)
Có điều kết quả tra cũng cho thấy năm 557 Lý Phật Tử đem quân xuống miền Đông để đánh nhau với Triệu Việt Vương. Dẫu chưa hoàn toàn phân thắng bại nhưng ông thấy thế yếu hơn nên chủ động giảng hòa. Sau đó kết thông gia (sự kiện giống trong tiểu thuyết).
Tới năm 571 Triệu Vương sau khi bị Lý Phật Tử đánh úp bất ngờ và ra quân trong thế bị động thì thua chạy, nhưng bị đuổi quá rát không còn chốn nương thân nên đã tự sát.
Như vậy theo lịch sử thì có một khoảng trống khá dài từ năm 557 tới 571 hẳn đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng trên đất nước, đặc biệt từ phía họ Lý mà sử không ghi lại. Phải chăng vùng trống ấy là không gian để nhà văn họ Phùng tha hồ vùng vẫy hư cấu trong tiểu thuyết này?
Còn sự kiện năm 571 nơi có độ vênh giữa chính sử và tiểu thuyết, tôi tin nhà văn đã suy nghĩ không ít về điều này. Tôi sẽ không lý giải về độ vênh ngay lập tức mà tiếp tục phần sau, bởi có thể câu trả lời sẽ nằm ở đó.
Trong tiểu thuyết: “Để giữ thể diện (sau cuộc tẩn kích Giang Lăng không thành công phải triệt thoái) cũng là muốn mở rộng cương vực về phía Nam, khi nghe tin Vạn Xuân họ Lý tiếm xưng ngôi Nam Việt Đế, Trần Tuyên Đế đã không chịu được nhục, lập tức cho gọi đại thần tới bàn kế nam chinh”.
Đó là khoảng thời gian năm 570 – 571. Như vậy theo chính sử có thể hiểu rằng chí ít Lý Phật Tử đã thấy nếu không sớm thống nhất Vạn Xuân thành một thế lực đáng kể, nhà Trần ở phương Bắc đã mạnh lên sẽ dễ dàng tiêu diệt Vạn Xuân theo kiểu bẻ đũa từng chiếc.
Trong lực lượng chuẩn bị nam chinh, có “Dương Tiến vốn dòng dõi Đô đốc thủy quân Dương Sằn, người từng bị Triệu Việt Vương bắt sống ở bến Giang Biên. Thù mới nợ cũ, phó tướng Dương Tiến đã thề rằng sẽ rửa nhục cho nhị thúc vốn từng là phó tướng của Trần Vũ Đế hơn hai mươi năm về trước”.
Trong thâm tâm Tuyên Đế có ý chờ Bắc Tề và Bắc Chu huyết chiến, và trong lúc chờ thì đánh chiếm phương Nam để nâng cao vật lực.
——————–
![Cây từ hạt [Kỳ 2] Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai - Tác giả Nhà thơ Hoàng Liên Sơn Cây từ hạt [Kỳ 2] Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai - Tác giả Nhà thơ Hoàng Liên Sơn](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2024/07/Cay-tu-hat-Ky-2-Tuy-but-phe-binh-tieu-thuyet-Ly-Phat-Tu-dinh-quoc-cua-Phung-Van-Khai-Tac-gia-Nha-tho-Hoang-Lien-Son.jpg)



















