Cây từ hạt [Kỳ 1]: Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

 

Khi bàn giao bài tùy bút phê bình cuốn Lý Đào Lang Vương cho Phùng Văn Khai, tôi bảo thế là ông chạy bộ 42 km xong rồi nhỉ, mà tôi chạy theo bằng xe đạp cũng xong rồi. Ông bảo ấy chưa, mới xong đoạn tăng tốc thôi, còn về đích nữa.

Thấy tôi ngồi ngẩn khó hiểu, văn gia họ Phùng bảo thì ngay trong bài trước ông cũng chỉ ra là triều đình gì mà chưa có hai ban văn võ như thời Lý Nam Đế; phải có người làm nốt việc đó chứ?

À phải rồi, về sự mà nói đúng là Lý Đào Lang Vương thâu thần thị tịch khi đất nước giải phóng nhưng chưa thống nhất; thì đâu đã đủ tầm để đối chọi với Bắc phương một khi lâm sự. Bèn hoan hỉ đón nhận cuốn thứ tư này với kỳ vọng không hay hơn thì chí ít cũng không hụt hơi so với những quyển trước. Mà làm được thế cũng là quá giỏi rồi!

Sau khi đọc tập Tùy bút phê bình 15 gương mặt thơ đầu tay của tôi, nữ sĩ Nguyễn Thị Thúy Hạnh có nói “Là anh trò chuyện với độc giả”. Tôi cảm ơn chị đã gọi ra đúng tên thao tác viết, và với các tiểu thuyết của Phùng Văn Khai, tôi cũng áp dụng thao tác ấy; đường hướng là khách quan đúng mực.

Sau khi đọc các bài phê bình trước, Khai nhận xét rằng tôi “chính là sự mở mang phép đọc tiểu thuyết” của ông. Tiện đây tôi nói thêm về cái phép đọc sách. Tôi khá chăm đọc. Những bộ tiểu thuyết vài nghìn trang như Chiến tranh và hòa bình đọc lần đầu thích ngay, vào ngay. Lại cũng có những bộ mà phải lần thứ hai hoặc thứ ba mới thấy mê, chẳng hạn của Dostoievski.

Lại có những tác phẩm bỏ công đọc vài chục trang vẫn không vào, chẳng hạn Kinh Thánh, đành xếp trang trọng trên giá. Tuy nhiên xếp thế mà không hoàn toàn an ổn, lâu lâu ngó thấy lại nghĩ vì sao mà nó trường tồn qua mấy nghìn năm thế, thành trụ cột của nền văn minh phương Tây rực rỡ thế, lại đem ra đọc. Nhưng cứ vấp phải những phép lạ ngay cả từ sáng thế ký, những thắc mắc kiểu Chúa Trời đứng ở đâu khi Ngài tạo ra trái đất, bởi vũ trụ làm gì có chỗ để đứng?

Rồi một ngày bỗng nghĩ, hãy thử chấp nhận tất cả những cái tưởng như phi lý ấy là tiên đề không cần chứng minh đi, xem điều gì xảy ra nào? Liền sau đó đúng là một phép lạ, xảy ra ở chính tôi: Khi tiên đề được chấp nhận rồi, hàng loạt định lý, công thức… trở nên sáng tỏ và sách trở nên hấp dẫn vô cùng.

Chẳng hạn ở chi tiết sau đây:

Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Phàm kẻ nào dùng lưỡi liếm nước như chó, và kẻ nào quì gối cúi xuống mà uống, thì ngươi phải để riêng ra. Số người bụm nước trong tay rồi kê miệng liếm là ba trăm, còn lại bao nhiêu đều quì gối cúi xuống mà uống.

Bấy giờ, Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Ta sẽ dùng ba trăm người đã liếm nước đó mà giải cứu các ngươi, và ta sẽ phó dân Ma-đi-an vào tay ngươi. Còn những người khác, ai nấy đều phải trở về nhà mình!

Đó chính là bài học về chữ lễ, cũng tương tự chữ oai nghi của hành giả bên đạo Phật. Không thành giáo dân, nhưng tôi đã thưởng thức được nhiều trang văn thú vị của Kinh Thánh theo cách như vậy.

Với sách của Phùng Văn Khai cũng tương tự. Tôi đọc kỹ, với tâm thế khá xét nét, và khá dị ứng với những cách diễn đạt kiểu như “cay đắng trong lòng” thì tôi cho rằng thừa phần “trong lòng”. Hoặc trong một câu văn dù dài, tôi cũng không ưa một từ nào đó bị lặp tới hai lần. Nhưng sau đó thấy rằng hãy nên cũng coi đó như một dạng lùa thùa (chữ của nhà văn Lê Lựu nói về chính văn ông) mà nhà văn vì mải chạy theo mạch tư duy và cảm xúc đã không kịp cắt gọt đi, để có cơ hội thưởng thức cái khác. Và tôi đã làm thế, rồi đã lấy được phần hấp dẫn thú vị cho mình.

*

*     *

Sau khi tiếp nhận vương vị theo di chiếu của tiên vương, Lý trung lang tướng nay là tân Lý Đào Lang Vương đã thiết triều và như trả lời cho băn khoăn của tôi, ông đã phong Triệu Quốc Chính làm thái sư đứng đầu ban văn, Trịnh Tông Hàn làm thái úy đứng đầu ban võ.

Ông cũng văn bản hóa các tổ chế, quốc sách định rõ quyền hạn phân cấp của châu, huyện, hương, ấp và đưa về tận từng bộ tộc, vùng miền. Nó hiệu quả đến mức “Các trọng thần, lương tướng khi nắm binh quyền, trị nhậm nơi xa đều tùy theo tình hình mới phải nhập triều”. Thậm chí “rất ít khi hoàng thượng phải mệnh lệnh bởi tất cả đều đã chế định trong quốc sách”.

Tập thơ “Quyền tỏa sáng”, NXB Thanh Niên của nhà thơ Hoàng Liên SơnTập thơ “Quyền tỏa sáng”, NXB Thanh Niên của nhà thơ Hoàng Liên Sơn.

Còn băn khoăn thứ hai là thống nhất Vạn Xuân, thì “Chuyện này đã nhiều lần được bàn bạc trong triều đình song hoàng thượng đều gạt đi, lấy cớ còn phải để tang tiên vương”.

Tuy nhiên trong ngày giỗ tiên vương thì các quan đầu triều cùng quốc sư cùng nhắc lại. Nào là thái úy Trịnh Tông Hàn: “Việc này cũng đã được biên soạn thành sách, đưa vào tổ chế của Lý thị.”“Ngày trước, hẳn hoàng thượng còn nhớ, khi tiên vương nắm tay tiễn sứ của Triệu Việt Vương đã hẹn sớm có ngày hội ngộ, cùng nhau bàn định tìm người tài đức lên ngôi Nam Đế”.

Tới đây tôi chợt hiểu, dường như tiên vương cũng na ná Tào Tháo khi xưa, quyết để việc đoạt ngôi nhà Hán cho thế hệ con cháu ông khi thế thời đã khác chứ không tự làm việc đó. Sau đó tới Tư Mã Ý lại một lần nữa tránh thoán đoạt ngôi nhà Ngụy mà để Tư Mã Chiêu ra tay.

Đoán biết hoàng thượng khi không thấy ai có ý kiến sẽ lại viện cớ thoái thác, Quốc sư Phùng Hiền Anh liền nói: “Tính đến nay, Triệu Việt Vương đã gần hai mươi năm không tiếm xưng đế hiệu chính là thông điệp của họ Triệu muốn mời Lý gia lên giữ ngôi cao”.

Và thái sư Triệu Quốc Chính bổ sung: “Nay bốn biển yên bình, chúng dân sung túc chính là điềm trời muốn để hoàng thượng lên ngôi Nam Đế”.

Tôi cũng tò mò có ẩn tình gì chăng mà tân Đào Lang Vương dẫu đã rõ việc phải làm nhưng nhiều ngần ngại thế. Bèn thử ngó sang sử của phương Bắc lúc bấy giờ. Hóa ra nhà Lương đã trải qua quá nhiều đời vua sau khi Lương Vũ Đế mất. Và Trung Hoa cũng chưa thể thống nhất như thời nhà Hán, Tấn mà tiếp tục chia làm nhiều nước xung đột liên miên.

Hẳn quan sát tình trạng ấy, ông không hề muốn kịch bản tương tự xảy ra với đất nước mình; dẫu hai lãnh thổ rộng hẹp khác xa nhau và nội bộ cái thiện chí thống nhất không giống nhau.

Lại gặp chuyện nhà sư hành hạnh đầu đà dọc đất nước mấy ngày nay, được dịp ồn lên chuyện phân bì giữa Phật giáo nguyên thủy và phát triển. Quá nhiều cái tôi đúng anh sai, mà không ai chịu nhìn thoáng ra để thấy là tôi đúng mà anh cũng đúng. Nguyên thủy thì chân chất và trực tiếp hơn, phát triển có chút bay bổng văn hoa cho người căn cơ phù hợp. Không như thế cũng sẽ chẳng tranh chấp nổi ảnh hưởng ở cái vùng Trung Hoa vốn đã đầy rẫy các đạo Nho, Lão đã chắc chân từ lâu. Thế nên ngay cả tôn giáo thì cũng chung cái giáo hội thôi chứ cách tu tập hành trì làm sao mà giống hết được.

Càng hiểu vì sao mà tân vương đắn đo trước việc đại sự liên quan vận mệnh trăm họ cả dưới sự cai quản của ông và của Triệu Vương.

*

*     *

Trong quá trình đọc, những đoạn phía ta mắc sai lầm hoặc không sai nhưng vẫn thua trận rồi rút chạy vì yếu thế; dù hay nhưng bảo là thưởng thức thì không đúng lắm.

Nay hóng trên mạng thấy có du tăng tâm sự rằng một trong những việc ông làm là người ta khen phải rèn để không khởi tâm tham mà dính mắc lời khen, người ta chê cũng rèn để không khởi tâm sân rồi dính mắc tiếng chê.

Chợt thấy hóa ra nhà văn cũng tu ra trò; bởi đối mặt với hiện thực quân ta thua, hay chính nghĩa tạm thua phi nghĩa thì cái tâm sân nó cũng nổi lên. Nếu không tu tốt thì viết được nửa trang có khi đã phải giải lao hoặc dừng lại. Nhà phê bình cũng thế. Khi có anh bạn đọc bài Miếng rê vai ngược núi (tùy bút phê bình tiểu thuyết Nam Đế Vạn Xuân) khen rằng ông cũng ngọa hổ tàng long đấy nhỉ; thì tôi êm tai mát ruột nhưng cũng tự nhủ rằng đừng có vì lời khen ấy mà thấy cứ thế viết không cần dụng công đổi mới lối viết mỗi ngày.

Nhưng có những đoạn còn khó hơn cả đoạn phe ta bại trận, là chuyện đối nội.

Ngay từ những năm 1966 Bác Hồ đã nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Lưu thông phân phối hàng đã nhiều nỗi sợ phải xét, huống hồ đây là phân phối tước vị ở cái ngôi cao nhất của đất nước.

Thế nên Đào Lang Vương trù trừ là phải, còn Triệu Việt Vương thì sao?

Sau khi hạ thành Long Biên, ông đã tới đất Cổ Pháp nơi phát tích vua Lý Nam Đế để “tu sửa, tôn tạo, tìm dân chúng thị tộc lưu tán trở lại trang ấp để trông nom, hương khói cho các vị tiền nhân”.

Và trong mười năm kể từ khi cho sứ giả mang thư tới Đào Lang Vương mời ông lên nối ngôi đế, rồi nhận thư từ chối; không năm nào ông không ngược dòng Bạch Hạc tới Câu Giang, lên đầm Bạch Long tìm về dâng hương chùa Cổ Pháp.

Nặng tình như vậy, nên khi các vị tướng Trương Hống, Trương Hát và quân sư Phùng Kim: “Liên danh tấu trình kính thỉnh Triệu Vương lên ngôi Nam Đế Vạn Xuân đã bị người nổi trận lôi đình trách phạt trước triều thần văn võ.”

Thậm chí sau đó ông làm thinh khi Đô đốc xin từ chức, cáo lão hồi hương; điều hai tướng họ Trương đi trấn thủ vùng Lục Đầu Giang kiêm quản các ải Lão Thử, Quỷ Môn Quan.

Xưa nay quyền và lợi mấy ai từ chối; bản thân ông chinh chiến bao năm cũng vì giành lấy quyền và lợi cho đất nước trong đó có bản thân và dòng họ mình. Tuy nhiên có lẽ thiệt hại sinh mệnh quá lớn lao, bao gồm những người ruột thịt của ông chẳng hạn người cha là thái phó Triệu Túc đã khiến ông không còn ham hố quyền lực mà trở nên “suốt ngày chuyên chú đình đền chùa miếu ít nhắc việc quân cơ đại sự đã bàn nhau lựa lời khuyên can đều bị ngài gạt đi”.

Thêm nữa, ông và cố cũng như tân Đào Lang Vương như cành cùng một cội; từ ngọn cờ nghĩa của tiên đế Lý Bí mà trưởng thành nên có lẽ chẳng sẵn sàng tranh cạnh nhau. Chẳng cần nói đến quốc gia dân tộc, trong một gia đình nhỏ có chút đất hẹp mẹ cha để lại mà có khi còn trầy trật chia bôi.

Dẫu sao, hành xử ấy thật tương phản với cảnh Lương Vũ Đế giết vua (cũng là người cùng họ) cướp ngôi, hay Câu Tiễn giết đại phu Văn Chủng ngay sau khi thắng Phù Sai và chiếm được nước Ngô.

Triệu Vương nói với sư trụ trì: “Nay đã hơn mười năm giữ vương vị, sao ngày nào cũng phấp phỏng không yên như ngồi trên băng mỏng? Đại sư bảo ta phải làm như thế nào?”.

Sư trả lời: “Ngài hay cả nghĩ đó thôi. Cứ như đạo hạnh của ngài cùng với công lao, gia thế của họ Triệu, việc làm chủ ngôi nước có gì phải bàn nữa?”

Triệu Vương không hài lòng, nhưng câu chuyện do ông chủ động đặt ra nên điềm tĩnh nói: “Ta nay vâng mệnh quốc chủ, đuổi giặc phục quốc đã xong, liệu đã đến lúc buông bỏ vương quyền, quy y Tam bảo, làm một sư tăng chuyên tâm kinh kệ hay chưa?”.

Lão sư tăng giật mình đáp: “Ngàn lần không được! Ngài nay là vua một nước, bách tính thị tộc đều trông cả vào hoàng thượng”.

Triệu Vương mỉm cười cho rằng: “Vua mà yếu kém ươn hèn, chỉ chạy theo hào nhoáng bên ngoài, lo tô vẽ bản thân, tìm mọi cách để hậu thế ca tụng mà cố che đi cái bên trong thối nát mục ruỗng thì có khác gì bọn thất phu?”.

Và lão tăng càng thêm chấn động khi Triệu Vương nói: “Nếu làm trụ trì mà được như lão sư Phùng Hiến một mực bỏ mình hộ pháp, hộ quốc, khinh mắng bọn quan quân phương Bắc là lũ vô đạo, ta thiết nghĩ làm sư tăng được như ngài ấy mới khiến Phật tổ ở nơi cao mỉm cười”.

Sư bèn lựa lời: “Ngày đô đốc Phùng Kim còn tại thế có lần nói với bần tăng, nếu hoàng thượng mãi dùng dằng không chịu ở ngôi cao, không chỉ các tướng nản lòng thoái thác xin về đất cũ mà các vị công tử cũng dần nản chí. Khi ấy, nếu bọn người phương Bắc lại nối dã tâm xua binh tướng xuống phương Nam ắt chẳng còn mấy người cầm gươm lên ngựa nữa”.

Những điều đó Triệu Vương đều đã từng nghĩ tới, nhưng nhìn lại toàn bộ quá trình Lý Nam Đế dựng cờ khởi nghĩa tới khi thập phần nguy ngập ở động Khuất Lão, ông luôn: “Đặt quốc gia lên trên tư gia. Sự độc lập tự chủ của một nước cao gấp ngàn lần sự mất còn của một thị tộc”.

Vì vậy, ông đã có chủ kiến khi mà: “Vừa nhận được tin báo từ phương Nam, Đào Lang Vương đã cử đoàn sứ giả tới kinh thành yết kiến”.

Tuy nhiên, dù chủ kiến của ông chúng ta đã mường tượng được; vẫn thấy trước một cuộc thống nhất không dễ dàng gì bởi thế hệ sau không trực tiếp trải qua giai đoạn cơ hàn cùng tiên đế như ông, và mang một tâm thế khác.

*

*     *

Khi ông triệu bá quan văn võ để bàn việc tiếp sứ giả, tâm thế ấy là gì?

Phiêu kỵ tướng quân Trịnh Phong, sau khi ghi nhận thiện chí từ phía Nam là tuyệt nhiên không xâm phạm mảy may tới vùng ải lũy thì: “Nay nếu phải động binh ở phía Nam, mạt tướng đảm bao một con chim cũng đừng hòng vượt thoát được ải lũy đèo Cổ Họng”.

Đô đốc thủy quân Đinh Công Bính: “Chỉ cần hoàng thượng mệnh lệnh một tiếng, nhất loạt binh tướng thủy quân sẽ huyết chiến tới cùng”.

Lão tướng Điền Công vốn là tướng hộ vệ của vua Lý Nam Đế cho rằng: “Nay sứ thần tới đây, ắt Đào Lang Vương đã có sẵn thiện chí của mình. Ta lẽ nào lại giơ nanh múa vuốt với người trong một nước?”.

Lão tướng Trương Hống lập tức đứng ra lớn tiếng tâu: “Ta nên chém sứ, đóng chặt quan ải, sửa soạn thủy bộ binh mã, chọn ngày hỏi tội đám tướng lĩnh Ái Châu, Cửu Đức mới là kế lâu dài. Nhược bằng hoàng thượng không nghe lời lão thần, họ Trương chúng thần cũng chỉ đành cáo lão hồi hương mà thôi”.

Thấy tình hình quả như dự kiến, nhưng lại không phải mong muốn của ông, Triệu Vương ôn tồn nói: “Việc hôm nay không thể một buổi mà quyết xong được. Nay các vị lão tướng, các vị ái khanh hãy tạm về công quán nghỉ ngơi. Việc tiếp đón hội đàm với sứ giả của Đào Lang Vương, trẫm giao cho Ngô Tổng trấn”.

Trở lại lịch sử đương đại, những chuyện chia cắt rồi thống nhất hầu như không dễ dàng gì. Có những nước thống nhất nhẹ nhàng yên ả như Đức dù thời gian chia cắt gần nửa thế kỷ.

Có những nước như đế quốc Đại Hàn, bị chia cắt năm 1945 rồi thống nhất không thành công sau ba năm chiến tranh huynh đệ tương tàn vô cùng khốc liệt từ năm 1950 đến 1953; để rồi bây giờ thành hai nước thường xuyên gằm ghè trong bế tắc vưới tương lai bất định.

Phải chăng bài học đó đã giúp chúng ta tỉnh táo hơn và chấp nhận vào cuộc kháng chiến trường kỳ chứ không tìm cách thống nhất nhanh chóng bằng mọi giá sau năm 1954?

Triệu Vương mong muốn điều gì? Ông cứ tưởng: “Thời gian gần trôi, các tướng thêm tuổi tác buông bỏ binh quyền để lớp sau kế tục sẽ thuận tiện hơn trong thực hiện lời ước hẹn mời Đào Lang Vương – dòng đích Lý thị lên giữ ngôi cao”.

Trong trường đoạn này, nhà văn đã xây dựng được bức tranh nội tâm thú vị của nhân vật Triệu Vương, một phương pháp phổ biến trong văn xuôi hiện đại nhưng trong tiểu thuyết lịch sử dạng như Tam quốc diễn nghĩa chẳng hạn hầu như không có.

Ông nghĩ tới: “Nếu chiến loạn xảy ra, dẫu thắng thua chưa định, song sau này xuống suối vàng, ta biết ăn nói thế nào với phụ thân, với Lý quốc chủ, với các anh hùng dũng sĩ đã bỏ mình đánh Lương tặc?”

Rồi nghĩ lui: “Còn như nếu sắp xếp chuyển giao vương vị, ắt bọn kiêu binh hãn tướng sẽ ôm hận trong lòng, khi ấy chúng cất binh làm loạn sẽ là kiếp nạn của Vạn Xuân”.

Phải chăng chính dòng máu độc mà ông đề cập đã chảy tới tận những người anh hùng như Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh? Họ dẫu có công lớn với nước nhưng hành xử với nhau ăn miếng trả miếng cực kỳ ác nghiệt, xúc phạm đến cả hài cốt của nhau và của tổ tiên nhau?

Và chúng ta cũng cần thẳng thắn thừa nhận cái máu độc ấy để mà thanh lọc nó, chuyển hóa nó để cùng trở nên từ hòa, an lạc hơn?

Chúng ta đọc văn mà còn thấy ngột ngạt bế tắc như vậy, bảo sao Triệu Vương chả cảm thấy: “Thà như đánh trận ngày trước kề cận sống chết mà dễ biết bao nhiêu”.

*

*     *

Nếu người đứng đầu hai phía không thiện chí với nhau, khó khăn trong việc thống nhất đã đành. Khi họ có thiện chí nhưng bộ hạ không đồng tình thì hành trình có thể cũng vô bờ bến. Thế nên khi Triệu Vương cử tổng trấn Ngô Bân đi gặp sứ giả, chúng ta cũng chỉ biết theo từng dòng văn của tác giả xem đã tới đâu chứ khó mà đoán định kết cục.

Ngô tổng trấn tỏ ra nhã nhặn khiêm nhường.

Thái sư Triệu Quốc Chính đáp lễ bằng vẻ khâm phục tôn trọng.

Ngô tổng trấn nhấn mạnh mạch nguồn từ Lý quốc chủ chảy tới, ca ngợi sự phát triển phía Dã Năng.

Triệu thái sư phấn chấn ghi nhận tài năng của tổng trấn rồi nghiêm trang: “Quả là phía nam, phía bắc, khắp các vùng miền, bách tính thị tộc đều thực sự được yên ổn thái bình. Đây quả là việc ngàn năm hiếm có. Phận làm thần tử chúng ta hãy cùng nhau dốc hết tâm trí giúp vua giúp nước, cũng là thỏa chí bình sinh”.

Nghe, họ Ngô hiểu họ Triệu đã phần nào biết được khó khăn nơi triều chính Long Biên nên mới đề đạt “cùng nhau dốc hết tâm trí” thế này.

Ông thăm dò: “Cổ nhân có câu, việc khó phải hỏi bậc trưởng lão. Nay quả thực hạ quan đang ở bước đường khó ấy, mong Thái sư thẳng thắn chỉ cho. Cũng phải nói thực với Thái sư, các tướng của Triệu Vương nhiều người không tán thành hội minh chọn quốc chủ, càng không cam tâm để Triệu Vương buông bỏ vương vị như lời ước cũ trong thư”.

Triệu thái sư nghiêm trang: “Không chỉ Triệu Vương khó xử đâu, mà Đào Lang Vương chúng tôi cũng đêm ngày lao lung lo nghĩ lắm”.

Rồi: “Không riêng gì các tướng của Triệu Vương, mà các tướng của Đào Lang Vương đang ôm giữ bình quyền cũng đều manh động. Đó chính là nỗi khổ của hai vương”.

May ông đã he hé chút gì như để cởi nút: “Nay lão phu có chuyện này, nếu Tổng trấn nghe không thuận tai, hãy cho là chuyện mạn đàm bên ngoài vậy”.

Thì ra trong lúc chờ tiếp xúc thương nghị, Triệu thái sư đã tìm hiểu và biết được Triệu Vương có công chúa út Cảo Nương tuổi vừa mười tám, mà công tử nhà Đào Lang Vương lại tròn đôi mươi, nên ông đề xuất: “Vậy ta với ngài hãy cùng liên danh đứng ra làm ông tơ bà nguyệt cho đôi trẻ. Trước là để hai vương gắn kết một nhà, sau cũng là phép tắc để các văn thần võ tướng không còn cớ dẫn ra mỗi khi nghị chính. Hai nhà là một. Nhất thể âm dương hòa hợp, chẳng phải là ý trời hay sao?”

Ngô tổng trấn vui vẻ đồng ý ngay.

Chánh sứ Triệu Quốc Chính xúc động nói: “Nếu chẳng may là một võ tướng khác, cuộc hội đàm hôm nay chưa biết sẽ dẫn về đâu”.

Tuy nhiên ông chưa yên tâm và tôi, với tư cách bạn đọc cũng chưa thể yên tâm, bởi vì: “Ta và ngài cũng phải hết sức chặt chẽ mới được. Cây cầu mới bắc còn như tấm lụa mỏng manh chấp chới đều phải hết sức đề phòng bão tố phong ba”.

*

*     *

Khi Ngô Bân bẩm báo hỉ sự thì Triệu Vương vui mừng. Và cả triều đình cùng dân chúng hướng tới buổi tiệc chiêu đãi đoàn sứ giả cầu hôn. Còn chúng ta được thay đổi không khí.

Khi các vị khách quý còn chưa kịp hành đại lễ, Triệu Vương đã tươi cười đứng lên nói: “Trẫm nghe tin các vị đường xa trăm dặm tới đây, quả thực trong lòng rất vui. Xin hãy cùng nâng cốc chúc mừng”.

Tập sách “Danh nhân văn hoá lịch sử Phùng Tá Chu” – Tác giả: Đồng chủ biên Nhà văn Hoàng Quốc Hải – Tiến sĩ Đinh Công Vỹ.

Sứ đoàn đồng thanh hô lớn rồi uống cạn: “Chúng thần xin kính chúc Triệu Vương vạn thọ vô cương”.

Rồi tới Triệu Vương tươi cười nói lớn: “Chén rượu này, trẫm cùng văn võ bá quan chúc mừng sức khỏe tới Đào Lang Vương”.

Sứ đoàn: “Tạ ơn Triệu Vương! Chúng thần kính chúc Đào Lang Vương vạn tuế!”

Quả thực những sự tiệc tùng giao đãi kiểu này, bề ngoài từng câu chúc tụng là hoan hỉ nói cười; ai đâu biết bên trong căn ke từng từ và nói hớ từ nào rủi ro từ ấy, xưa thế mà nay cũng vậy.

Duyên lành lại được gia cố bởi mối quen biết từ thời xa xưa, khi Triệu Quốc Chính còn tháp tùng Lý giám quân (xem Nam Đế Vạn Xuân) thì Điền Công Điền Thái là tùy tướng của Giám quân Lý Bí.

Lão tướng Điền Công nói với họ Triệu: “Ta vốn là bộ tướng của Lý thị, có gì cần sai khiến xin ngài cứ nói thẳng đừng ngại. Chúng ta từ trước đều là người một nhà”.

Lời ấy chưa dứt đã bị chen ngang: “Ngài đã sớm đón gió chuyển thuyền nhanh thế hay sao? Việc của các tướng quân có lẽ nào lại bám theo ống tay áo đám quan văn tìm bổng lộc? Vạn Xuân nay là của họ Triệu! Việc thống thuộc phương Nam chính là trọng trách của các tướng như bọn ta đây!”.

Nhưng Triệu Chánh sứ đã tươi cười thi lễ và chủ động: “Vị thần tướng đây hẳn là Trương Hống tướng quân rồi! Lão phu đã từ lâu nghe nói Triệu Vương có hai vị thần tướng họ Trương không chỉ dũng mãnh trên chiến trường mà việc triều chính đều hết lòng trung nghĩa.”

Kẻ cao giọng, người đấu dịu rồi chuyển sang màn tỉ thí về sức uống, thì tiệc tùng cũng kết thúc tốt đẹp thôi, nhưng cái đường hướng chống trái ấy chắc gì bằng một bữa tiệc mà đổi thay về chất?

Cho hay, ngay cả trong đời sống thường nhật của chúng ta, nhiều khi chén rượu chỉ là để khỏa lấp đi cái khác biệt trong nhất thời chứ chắc gì đã hứa hẹn sự tâm giao sâu bền và tỉnh táo như bên ấm trà chẳng hạn.

*

*     *

Nhắc tới rượu, tôi nhớ hơn năm trước trong một lần đối ẩm, Phùng Văn Khai bảo tôi rằng dù đã viết mấy tập truyện ngắn và năm sáu quyển tiểu thuyết nhưng tự thấy mình bất tài. Tôi phản hồi cũng nhanh lắm, bảo không phải là ông bất tài mà vì ông làm được nhiều việc quá; nào là viết văn làm thơ, lại còn tổng thư ký họ Phùng, làm quản lý ở cơ quan rồi lo kiếm tiền mở rộng quĩ đất nữa, thì có thể từng việc nó chưa thể đạt đỉnh cao chăng?

Nói xong thầm hỏi tay này bẫy mình chăng? Mình mà gật gù đồng tình thì khéo mất cả bạn. Nhưng thực tình là tôi nể phục thật, bởi tôi không thể học nổi họ Phùng. Tôi nó như con sâu đo ấy, đo được khúc này là bỏ khúc kia hoặc phải để nó tầm tầm. Đợt nào viết tốt thì khả năng cao là viêm màng túi. Mà túi dày dày một tí là không viết được gì.

Giờ thì, tự thấy tôi mới đúng là kẻ cần thổ lộ với ông rằng mình bất tài. Đã hơn chục năm tôi không sao viết nổi được truyện ngắn nào chứ đừng nói tiểu thuyết. Tuy nhiên cùng với việc viết những bài tùy bút phê bình này tôi nhận ra chả nhất thiết trở thành người sáng tác nữa; cứ làm tốt việc phê bình này cũng là một cách đóng góp cho nền văn học.

Cũng lại có phần nhờ Phật pháp mà ý thức được rằng bể giác tánh của nhân loại vô bờ, cứ thong dong hoan hỉ đóng góp theo sức của mình là đủ.

Có bữa, biết tôi cũng bận lại không có thư ký vợ như mình, ông cảm thông và bảo muốn gửi file bản thảo để khi tôi trích dẫn thì copy cho nhanh đỡ mất công gõ. Tôi bảo chớ vì từ khi nghe một vị thiền sư hỏi có bận đến không thở không, tôi bắt đầu sống thiền rồi, đọc và gõ từng từ cũng là để thiền. Vả lại, chủ công vẫn là nói gì, trích gì thôi.

Trở lại chuyện duyên lành hai nhà. Xưa nay việc hoàng tử nước này kết công chúa nước kia không có gì mới. Từ thời Xuân thu chiến quốc hay Tam quốc đã phổ biến rồi. Đôi khi các bá vương còn gửi con sang nước nhau để làm tin. Và bi kịch kiểu Romeo Juliet tất nhiên cũng không ít. Ở hàng thứ dân, khi hai nước như răng với môi thì dân này ở nước kia như sứ giả hòa bình quí hóa lắm, còn lúc hai nước hục hặc khéo lại thành đối tượng bài xích tẩy chay.

Nhưng trước khi lo bi kịch còn phải xem hoàng tử Nhã Lang có cưới được công chúa Cảo Nương không đã. Chả rõ lịch sử là thế hay văn sĩ họ Phùng chủ đích hư cấu để làm chúng ta mệt mỏi vì hồi hộp đây?

Một buổi, khi trò chuyện với Chánh sứ Triệu Quốc Chính trong thư phòng, lão tướng Điền Công mới trầm ngâm nói: “Triệu lão huynh! Bài học Cao Lỗ tướng quân từ thời thượng cổ mà sao như vừa xảy ra vẫn còn mới lắm! Mỗi khi quần thần chia rẽ, vua tôi không còn tin tưởng lẫn nhau cũng là lúc bọn người phương Bắc đắc kế của mình. Lão phu buổi trước ở trên triều đã lờ mờ nhận thấy việc kết thông gia Lý – Triệu trong bụng các tướng không phục tất dễ sinh ra nội loạn. Mong Triệu huynh về bẩm báo với Đào Lang Vương sớm có kế sách chu toàn việc này cho”.

Và quan Chánh sứ đọc tình thế cũng nhanh nên chủ kiến đầy thiện chí: “Ta sẽ bẩm trình Đào Lang Vương cái lẽ khó khăn ấy, để hoàng thượng thuận tình cho hoàng tử tới Long Biên gần gũi nhạc phụ”.

Nói xong, nhưng bản thân ông cũng đâu đã yên trí bề nào, dù ý tưởng hôn ước xuất phát từ chính ông: “Đây liệu rằng có phải thời cơ để Đào Lang Vương nhất thống thiên hạ, một bước lên ngôi Nam Đế Vạn Xuân? Hay ông trời đang thử lòng người, đặt miếng mồi lớn đế quyền để con người mờ mắt quên đi đạo nghĩa? Có lẽ nào Đào Lang Vương lấy chỗ khó xử của người khác làm điều thuận lợi cho mình? Như thế sau này việc trị vì, bố cáo thiên hạ sẽ ra sao?”

*

*     *

———————-

Cây từ hạt [Kỳ 2]: Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Cây từ hạt [Kỳ cuối]: Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

 

 

 

     


     

Bài trướcLời hứa của thời gian – Truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Quang Thiều
Bài tiếp theoCây từ hạt [Kỳ 2]: Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây