Cây từ hạt [Kỳ cuối]: Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Cây từ hạt [Kỳ cuối]: Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai - Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (bìa phải) và nhạc sĩ Lê Tâm (bìa trái).

 

Chữ, chỉ là chữ thôi, có cái kiểu khắc nghiệt riêng. Khi đọc thấy “dân chúng trong khắp nước Vạn Xuân nô nức mở hội mừng vua mới” thực ra tôi lại chẳng thấy nô nức gì! Phần vì để có Lý Đế thì mất phò mã lẫn công chúa, mất cả Triệu Vương đã xuống tóc đi tu; phần cứ tự dưng nghĩ tới một cái giả dụ là “cha mới”. Độc chỉ nghĩ tới khái niệm ấy thôi đã lộng óc rồi!

Thế nên, chắc nó cũng là giả tạm thôi chứ lấy đâu ra thực tướng.

Nhưng việc nó phải thế. Để rèn quân vẫn phải mở hội vật, hội bơi, hội đua thuyền.

Đọc những trang này, tôi lại chẳng đặng đừng nhớ tới bạn tôi, Phùng Văn Khai. Tôi nhận ra điều này, ngoài thái độ trọng thị hiển nhiên với các quân vương tướng soái, y cũng nhất mực chu đáo ân cần với những phận người bé mọn như vai phụ của vở kịch: “Các tráng đinh đội thuyền đàng trong lần đầu cảm nhận cái se se lạnh của tiết trời, những ánh mắt liếc sắc lẹm nơi tú nữ mớ bảy mớ ba, những miệng cười lúng liếng, búp tay trắng ngần vẫy gió xôn xao”.

Món tả cảnh huê tình khơi gợi của Khai tôi không thấy tăng nhiệt, nhưng cụm từ “lần đầu cảm nhận cái se se lạnh” lại khiến tôi nể vì vô cùng. Từ lần đầu ấy không phải nói khơi khơi, mà là dấu hiệu của một đất nước thống nhất, người từ miền chỉ biết nóng ra đến nơi có lúc lạnh; và cũng là chỉ dấu cho thấy Khai sống với tác phẩm của mình đắm đuối và kỹ lưỡng lắm, chí thú với nhân vật và cốt chuyện của mình lắm. Tác phẩm thành công rực rỡ đến đâu còn phụ thuộc nhiều chuyện, nhưng cái tâm tận hiến của tác giả không còn gì phải ngờ.

Có lần Khai thủ thỉ với tôi làm quản lý có lúc phải độc tài ông ạ. Tôi cười, nghĩ trong cái món điều tiết chúng sanh vô lượng này thì ông độc tài bằng thầy tôi, nhưng tôi cũng lại đọc tài bằng thầy ông trong khoản nhìn đám chúng sanh ấy như không thấy gì! Gần đây tôi cũng biết theo Phật pháp đấy là tâm mạn, chẳng tốt gì cho ai nhưng chưa biết tiêu trừ bằng cách nào.

Lại nói chuyện đại cảnh thi thố tiệc tùng, tôi cũng phục lăn. Mà giờ thì không hồ nghi gì nữa, Khai đã mang đời thực của mình vào những trang viết này. Tôi chỉ không chắc ông có can thiệp gì vào sắc áo dài của bạn thư ký hội nghị, hay lẵng hoa trên bàn đoàn chủ tịch ở các sự kiện. Cảnh pháo ống nổ vang cũng hay nhưng bạn đọc chịu khó hình dung vì món ấy tuyệt chủng đã hơn 30 năm rồi, mà tôi không biết tả lại ra làm sao.

Với tất cả tinh thần kiêu ngạo của kẻ gàn, tôi vẫn phải thừa nhận Khai chịu khó quan sát và nắm bắt cuộc sống thần tình. Không yêu sự sống, yêu con người, không thể tái tạo được những dòng này trên mặt giấy: “Thuyền thi vốn là loại thon dài bốn mái chèo muốn chạy nhanh càng phải phối hợp nhịp nhàng sau trước không được bên nào cường lực hơn bên nào. Đã thế, hai tráng đinh phía sau vừa phải gấp tay chèo vừa phải giữ chân lái cho thật chuẩn mới dễ dàng tăng tốc. Đua thuyền vốn không những dựa vào sức lực mà còn phải biết lựa gió, lựa nước, vận dụng kế sách bố trí sức lực sao cho hợp lý. Khi cần bứt tốc thì nhất tề khom lưng choãi chân cắm chèo lút cán xuống mặt nước. Gặp phải chỗ sóng đánh ngang phải bớt tay chèo thoải lái tránh luồn nước táp. Khi muốn chèn ép địch thủ phải mưu lựa giữ thế giằng co nhử cho đối phương mệt dần mới đột ngột gấp tay chèo vượt thoát”.

Tôi biết khi nhận văn bản với đoạn trích rất dài này Khai sẽ bảo sao không nói ông gửi file văn bản cho để cắt dán đoạn trích đỡ mất công gõ. Tôi cũng sẽ trả lời rằng ông hơn người ở chỗ được sống trọn vẹn trong cuộc đua thuyền ấy rồi, lại còn định ngăn tôi dự thính hay sao? Chả nên độc tài đến thế.

Đời sống của Khai sinh ra văn, chứ không phải để viết văn mà Khai sống.

Và tay tiểu thuyết gia chủ về đại tự sự chẳng quên kết luận phần đua này bằng một đoạn đậm màu nối vòng tay lớn: “Hàng trăm tráng đinh của ba đội Nhất Long, Nhị Long, Tam Long đã hòa lẫn vào nhau không còn phân biệt đâu là người Luy Lâu, Cổ Pháp, Hải Triều, Đông Lung…”

Vâng, lẫn vào nhau thành một khối kết đoàn để còn chuẩn bị đánh giặc, em hiểu ý chính trị viên họ Phùng rồi ạ.

*

*     *

Nhìn lại, tôi thấy phần viết về xử lý xung đột nội bộ để rồi thống nhất của Vạn Xuân đã tốn nhiều giấy mực của cả tiểu thuyết gia lẫn nhà phê bình nhiều đến thế nào.

Nhưng một đất nước thống nhất bằng nhiều công phu đến thế, chống lại kẻ thù xâm lược ra sao? Hẳn cũng rất cần xem xét kỹ lưỡng cẩn trọng.

Tôi sẽ thử kể lại câu chuyện đối chiến này một cách thật vắn tắt xem có đảm bảo được sự hấp dẫn và kịch tính hay không.

Ngay trong lễ trao giải đua thuyền, thám mã báo phương Bắc nhổ trại xuất binh, một sẽ qua Quỷ Môn Quan theo đường bộ; một theo đường biển vào cửa Diêm Vương.

Nam Việt Đế “mặt không biến sắc, ánh mắt sắc lạnh chỉ hơi đanh lại song khuôn miệng ngài ngự vẫn tươi cười”. Sau đó cho chuẩn bị nghị triều. Mời các vị bô lão tham dự có phần giống mô hình “Hội nghị Diên Hồng” sau này.

Phó tướng Ngô Minh Triệt nắm quân bộ chuẩn bị quân lương đầy đủ, triển khai tiến quân nhanh đến mức tới sát quan ải đã sáu bảy lần chém các tên quan vận lương.

Chủ soái Chiêu Chương Đạt dẫn quân thủy.

Các bô lão ủng hộ hăng hái, cho con cháu đi thậm chí ngỏ ý muốn trực tiếp cầm vũ khí sung quân.

Phương Bắc tỏ ý đồ đánh nhanh thắng nhanh, phía ta chủ trương đánh dài và chắc.

Phía ta các quan bên Dã Năng cũ thiện chí xin rời các chức vụ lớn để nhường cho người tài đức hơn bên mới sát nhập.

Phía ta chỉ ra bảy điều để thắng: Đạo, đức, dũng, khí chất, thung thổ, địa lợi, khí hậu.

Phía ta cũng chỉ ra bảy điều để thua của giặc: thiên thời, lòng nhân, binh pháp, tự phụ, tham lam, phong thổ, khinh suất.

Nam Việt Đế tình nguyện làm một vị tướng quân đi đánh trận theo sự phân phó của Ngô Bân (Giờ là Thái úy).

Ngô Thái úy vừa lo việc đánh giặc vừa lo nông tang. Nên vua cũng bảo từ nay mỗi ngày bỏ ra hai giờ để đọc sách. Hình mẫu có vẻ cũng “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc”, đa năng lắm.

Phiêu kỵ tướng quân Trần Bá Thường dẫn quân tiên phong lên Quỷ Môn Quan, gặp sông lạnh và trời tốt.

Nhưng ông không dừng lại dù người ngựa đã mệt mỏi, nên một phần quân vẫn qua sông.

Quân giặc có thể chiếm quan ải trước khi quân tiên phong đến.

Có dấu hiệu quân giặc đã đến trước.

Quân giặc đã đến và mai phục, rồi vây chặt nhóm quân tiên phong cùng Trần Bá Thường.

Giặc đến nhanh hơn dự tính bởi có thù trong là hai con của tù trưởng Đèo Bá Hổ đã bị Trương Hống, Trương Hác giết chết năm xưa.

Trần Bá Thường không bị thua trận đấu tướng nhờ nhấc tay khỏi thương, nhấc người khỏi ngựa trước khi đao của Thành Thang chém xuống.

Binh lính cũng đứng reo hò giống nhiều cảnh điển hình trong Tam Quốc diễn nghĩa.

Không thua trong đấu tướng nhưng quân ít nên Trần Bá Thường rơi vào thế thua.

Nhưng đang thua thì bỗng được cứu.

Quân cứu không phải hậu quân từ Lòng Biên lên mà là quân tướng Trương Hống, Trương Hác, những người mà Việt Nam Đế đang muốn vời về tiếp tục làm tướng.

Thế trận bất phân thắng bại nên giặc rút về Quỷ Môn Quan, ta cũng tạm lui binh chờ hậu quân. Nhưng sau đó Trần Bá Thường không thấy hai tướng họ Trương đâu nữa!

Phía đường thủy, để phục vụ cả việc cướp bóc khai thác sản vật và tài nguyên, Trần Tuyên Đế cho đi theo chiến thuyền cả ba trăm thương gia, thầy bói, thầy địa lý, thầy cúng… Chiêu Chương Đạt định để bọn đó đi sau nhưng lại sợ Tuyên Đế nghi ngờ nên không dám.

Có bọn đó nên lúc đầu tốc độ hành quân chậm vì phải chờ đợi chúng, nhưng lại nhanh khi từ cửa biển vào cùng tướng Dương Tiến vì chúng thông thuộc địa lý.

Phía đường bộ, Trần Bá Thường nhận được thư của Trương Hống – Trương Hác hẹn sẽ lừa bắt phản thần họ Đèo.

Thái sư Ngô Bân lấy quyền tiết chế ngăn vua ra trận nhưng không thành.

Thái sư đành hộ giá vua ra tận biên ải.

Thái sư đọc thư mà tin rằng Ngô Minh Triệt sẽ lui binh trả lại quan ải. Y sẽ làm thế bởi nhẩn nha đợi tin từ phía thủy quân, thấy bất lợi là chuồn.

Vua khen và bảo chắc thái úy cũng đã hiểu vì sao ta thân chinh tới đây.

Thái úy không dám trả lời cho tới khi vua cười lớn bảo “Khanh còn giữ ý làm gì? Hãy mau nói ra để Trần tướng được rõ”.

Thì ra vua tới để vời hai tướng họ Trương trở lại.

Phía đường thủy nhờ đám thầy địa lý nên Dương Tiến nhanh chóng vượt qua được rạn đá ngầm tiến vào sâu trong nội địa, mà không biết đã trúng kế.

Dương Tiến ở thế lưỡng lự bởi đánh lên bờ không được rút không xong bởi lực lượng của Vạn Xuân ở đó không yếu. Phía Vạn Xuân cũng đánh cầm chừng cốt để kéo dài tới khi giặc tự rút vì cạn lương và đau ốm đồng thời hậu quân không dám tiến vào.

Chi tiết ba trăm chiến thuyền Vạn Xuân giả mang cờ Lâm Ấp để bọn Chiêu Chương Đạt tưởng chúng đến sẵn sàng trợ giúp thì tôi thấy hơi khó hiểu bởi thiếu gì cách để kiểm tra bằng các nguồn tin khác?

Phía quân bộ của giặc nghe tin Dương Tiến thất thế và bị phong tỏa trên sông, lại thêm hai tướng họ Đèo bị bắt thì án binh bất động.

Phía quân thủy nghe vậy Chiêu Chương Đạt quyết định lui bình và dâng biểu xin từ quan rồi đi đâu biệt tích.

Và phía quân bộ thấy vậy thì chấp nhận tiếp sứ rồi rút nốt cũng là điều dễ hiểu.

Vậy là Vạn Xuân đã kháng chiến thành công. Dễ hiểu thôi bởi so với thời Lý Bí chống lại Trần Bá Tiên diện tích đất nước đã tăng, mọi nguồn lực đều mạnh hơn mà phía phương Bắc thì Trần Tuyên Đế chưa hề chắc chân bởi các đối thủ cạnh tranh từ phía Bắc. Tôi tóm tắt thế này cũng để bạn đọc hình dung được khả năng tạo kịch tính và độ hấp dẫn của Phùng Văn Khai trong mô tả đối trận, điều khá phổ biến trong ba cuốn đầu tiên của bộ tiểu thuyết thời Tiền Lý này.

*

*     *

Một trong các trào lưu của giai đoạn 1930 – 1945 là văn học lãng mạn, trọng tâm là thơ mới. Văn xuôi cũng có nhưng ranh giới giữa lãng mạn và hiện thực không rõ ràng.

Trong các tiểu thuyết của Phùng Văn Khai viết về nhà Tiền Lý tôi cũng thấy khá nhiều yếu tố lãng mạn, kể cả trong giai đoạn chiến tranh và ngay trong chiến trận.

Những cái lãng mạn kiểu mây gió trăng hoa hoặc múa may dù rất đẹp nhưng tôi nghĩ nhiều cây bút có thể viết hay. Nhưng viết về nét lãng mạn trong tư duy và hành động của các vị đức cao vọng trọng lại không dễ.

Có hai chi tiết điển hình: Triệu Vương dù đã là vương, vẫn đề nghị tự mình làm tướng thủy quân tiên phong đi đánh quân Lương và đặt dưới sự chỉ huy chung của Phùng Kim (xem cuốn Triệu Vương phục quốc). Nam Việt Đế làm một vị tướng quân đi đánh trận theo sự phân phó của Ngô Thái úy.

Chắc mức độ lãng mạn ngang với việc đại tướng Võ Nguyên Giáp đi làm chủ nhiệm ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch, và ông nháy mắt với vợ mình “tôi với bà thì ở đâu mà ra?”. Đó là khi tố chất tiềm ẩn của ông thầy giáo năm nào trỗi lên, và sẵn sàng làm bất cứ việc gì có ích cho đất nước.

Sau khi đội quân xâm lược của Trần Tuyên Đế bị đánh bại, bản thân nhà Trần ở phương Bắc cũng suy yếu dần; cũng là cơ hội để Vạn Xuân tập trung tăng cường xây dựng đất nước trong khi vẫn không buông lơi việc tổ chức và rèn luyện quân đội.

Không có kẻ thù lớn ở thời điểm hiện tại, nhưng các thách thức nhỏ rải rác khắp đất nước, đặc biệt là các vùng xa xôi còn tồn tại nhiều. Chẳng hạn xung đột tiềm tàng giữa tộc người Kadai và vương quốc Di Lạo ở phía Dã Năng, hoặc đám phương Bắc gần biên giới vẫn giở trò xâm lấn quấy rối vặt, đám cướp bóc bảo kê vốn là thủy quân nhà Trần bị đánh bại lang thang ở lại khu vực miền biển. Nam Việt Đế lại tiếp tục lãng mạn trực tiếp tới những vùng này đóng vai thương nhân, dẫn tới có bô lão địa phương còn thân mật gọi ngài là lão đệ. Mức độ “trực tiếp” này ngang ngửa với việc ông vào thẳng quân doanh của giặc tại Quỷ Môn Quan để thuyết hàng về tính chất, nhưng sâu sắc hơn nhiều bởi ông ba cùng với “Hắc Long đại vương” trong nhiều ngày liền để nghiên cứu kỹ địa hình và nhân vật lực của y. Tuy tiểu thuyết gia họ Phùng không tả rõ, nhưng tôi tin hẳn các tướng đã có kế sách để trong muôn một bất ngờ lộ ra chân tướng của vị “lão đệ” này nơi hang ổ của Hắc Long. Và phải chăng việc giải quyết cái ung nhọt nơi tiền duyên phía biển này cũng gợi ý cho các nhà làm chính sách đương đại, khiến đảo Cô Tô ngoài Quảng Ninh vốn đầy người gốc nước ngoài giờ là thuần gốc Việt và có bố trí cả trận địa pháo của ta?

Với bề dày bốn mươi năm vừa nắm binh quyền vừa nắm chính quyền trải qua đã nhiều chiến trận, không khó để Nam Đế cùng với bộ máy của mình giải quyết các chướng ngại đó. Cái khó nhất chính là giải quyết cùng lúc rất nhiều chướng ngại mà vẫn tiết kiệm được nguồn lực của đất nước hậu chiến để dồn vào xây dựng đất nước. Nên thay vì mở cuộc tấn công ra mặt vào hang ổ của Hắc Long, Việt Nam Đế đã phải công phu như vậy.

Hành động tuần du của Lý Nam Đế không chỉ để giải quyết vụ việc riêng lẻ tại đó mà còn gửi thông điệp tới toàn bộ tướng lĩnh quan lại về cách thức giải quyết các vụ việc khác trong phạm vi trách nhiệm của họ. Và hình như cách các tướng lĩnh chuyển từ chỉ huy quân đội đánh trận sang chỉ huy quân đội làm kinh tế ngày nay cũng được trao truyền và tiếp nối từ bấy giờ thông qua nhân vật điển hình là Triệu Thái sư và xa xưa hơn nữa. Đúng như tôi đã nói, như một cây cổ thụ lớn lên từ hạt gieo chứ không phải cành chiết.

Có điều, cũng việc qui tiên của Thái sư ngay trong chuyến đi Đô Lung cũng để lại những bài học cẩn trọng cho mai hậu trong việc tổ chức để các yếu nhân trực tiếp đi thực tế. Người tuổi cao không thể đầu trần ra nắng kẻo lại vắng mặt nơi triều chính vài tháng liền!

Thái sư mạng chung, đức vua đau lòng là đương nhiên, nhưng cái cách mô tả là “Ngay cả ngày trước, khi biết tin hoàng tử Nhã Lang cùng công chúa Cảo Nương lâm nạn nơi sân điện Chu Diên đức vua cũng không thương cảm đến vậy tôi thấy hơi cấn cái. Phải chăng nhà văn cần đọc lại chi tiết này để tu chỉnh hoàn thiện thế nào đó cho lần tái bản sau?

Sự lãng mạn của tiên đế Lý Bí ngày nào trong hình dung sẽ có một nước Vạn Xuân độc lập, giờ được tiếp nối bởi sự lãng mạn của Lý Phật Tử về một nước Vạn Xuân hùng cường, có láng giềng Lâm Ấp thay vì triếu cống Trung Hoa thì triều cống Vạn Xuân.

Sự lãng mạn của nhà văn họ Phùng còn ở chỗ ông cho rằng tôi có thể viết phê bình tiểu thuyết mặc dù ông chưa từng thấy tôi viết phê bình văn xuôi, kể cả ở mức đoản thiên như truyện ngắn chẳng hạn. Nhưng tới đây thì bạn đọc có thể thấy sự lãng mạn ấy của ông là có cơ sở.

*

*     *

Trong lúc theo dõi các nhân vật và sự kiện bộn bề trên trang viết của Phùng Văn Khai, đôi lúc tôi lại liên tưởng tới cái cách ông chuẩn bị và tổ chức các sự kiện; kể cả việc chung lẫn việc cá nhân.

Trong những lúc gặp gỡ đông đúc, nhiều phen tôi phải nhẩm đi nhẩm lại tên một người nào đó để tránh thất thố với người ta khi được chào hỏi. Và cả những gương mặt đã gặp hàng chục lần mà đôi khi tôi vẫn phải giả lả câu giờ, chờ xem ai đó gọi người ta bằng gì thì biết đường mà gọi.

Vậy mà mỗi tiểu thuyết của Khai đều hàng trăm nhân vật, hàng nghìn sự kiện chi tiết. Và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu ông gọi nhầm nhân vật phụ nào đó bằng hai cái tên khác nhau; nếu một câu nói hay hành động nào đó bị lặp lại ở hai chỗ. Tuy nhiên hầu như điều đó đã không xảy ra. Cũng như ông nhắc tôi đến dự một sự kiện gì, có khi sát ngày đã gọi điện rồi đến ngày lại gọi nhắc.

Công suất ấy chỉ có thể hiểu là trời phú, mà bảo trời đầy… có lẽ cũng không sai. Mọi việc ở Khai, cái này kéo và đẩy cái kia, duyên sinh không ngừng.

Khi ông đến thăm đền Cổ Loa tặng sách, bảo tàng ở đó tặng lại ông những thông tin, kiến thức về chế tạo nỏ; khu vườn quanh đền tặng ông mẫu hình cây mít có thể thọ đến mấy trăm năm. Những cái đó lại đi vào trang viết. Viết lại thành sách và sách lại lên đường… cứ thế. Và đền này lại mở mối liên hệ tới chùa kia, nhân vật này gọi nhân vật khác; nên họ Phùng cứ mải mốt đi khắp miền viết liên miên mà nguồn văn không cạn.

Cái nhận cũng là cái phải cho đi, như một câu Kinh Thánh: “Kẻ nào được cho nhiều cũng là kẻ bị lấy lại nhiều”. Nhưng ông là kẻ vui vẻ với việc bị “lấy lại” và cứ mỗi chương hồi lấy lại theo cách đó, tôi hình dung ông nhẹ nhõm kha khá trước khi lại trĩu nặng bởi những ý đồ muốn thể hiện tiếp.

Việc ông làm tổng thư ký dòng họ Phùng Việt Nam cũng vậy, cung cấp cho ông vô vàn thông tin về các vị anh hùng quân đội như Phùng Văn Khầu, Phùng Thế Tài; các vị tướng lĩnh như Phùng Khắc Đăng… để rồi qua đó ông tích lũy được rất nhiều kiến thức có chiều sâu bề rộng về tổ chức chiến dịch, thực hiện chiến thuật…

Lớp ngôn ngữ và lối ứng xử của các nhân vật có thực trong sinh hoạt đời thường đã gợi ý cho ông những đoạn đối thoại thú vị chẳng hạn cái cách mà Nam Việt Đế ngỏ ý dắt tay Ngô Bân lên điện khi ông còn chưa kịp thay bộ đồ đang chỉ huy thi công trùng tu công trình bằng triều phục.

Đất nước lúc còn nhỏ tất nhiên nhiều thua thiệt, thế yếu thì phải đi triều cống chẳng hạn. Tuy nhiên khi lớn lên không phải vấn đề ít đi, mà chỉ chuyển từ loại vấn đề này sang vấn đề khác. Cũng giống như ở thời đương đại, người ta hay ví von về qui mô các doanh nghiệp là “thuyền to thì sóng lớn”.

Lãnh thổ tăng lên, đường biên sẽ tăng lên, kẻ thù cũng nhiều hơn. Thay vì chỉ có Lâm Ấp ở phía Nam giờ thêm Miêu tộc ở Tây Bắc; trong khi chính Bắc kẻ thù truyền kiếp sẽ trở nên cực mạnh nếu thống nhất lại thành một từ ba bốn nước hiện tại. Thế nên bản thân Vạn Xuân cũng buộc phải trở nên mạnh hơn, trong khi đã là thù địch thì việc giao thương và học hỏi các kỹ thuật về công nông nghiệp từ họ hẳn là sẽ bị hạn chế.

Nhưng luật giời là thế, không lớn lên sẽ có thể mất tăm tích trên bản đồ thế giới.

Trong bối cảnh đó, họ Phùng có muốn nhàn cũng không được.

*

*     *

Một tác phẩm văn học cùng lúc cần sự mở biên về cả ba phía: rộng, cao và sâu. Nếu chỉ là sự mở rộng hết trận chiến này đến trận chiến khác, hết vị tướng này đến vị tướng khác thì chưa đủ sức thuyết phục và cũng không đủ thể hiện được đời sống sinh động và sâu sắc này.

Cũng như câu chuyện tái thiết và dựng xây đất nước hậu chiến; nếu chỉ thuần túy là hết chuyện khơi sông ở chỗ này, đến xây chùa sửa đền ở chỗ kia thì khó mà neo được độc giả dán mắt vào từng con chữ. Bằng tất cả tình thân cùng lẽ công bằng với tác giả tiểu thuyết, tôi sẽ đánh giá khả năng này của ông tới tận những dòng cuối cùng của Lý Phật Tử Định Quốc.

Đây là ví dụ về mở rộng theo bề ngang: “Các thức hàng nhộn nhịp chào mời từ mờ sáng tới tận đêm khuya khắp nơi trong băm sáu phố phường Kẻ Chợ”.

Còn đây chính là nâng tầm theo cao trong cảm hứng lãng mạn sâu xa, một kiểu “nhân hóa” thiên nhiên tinh tế: “Mấy năm nay, sen mùa nào cũng dàn dạt châu tuần ăn sát quanh cổ tự. Có nơi đầm sâu vài thước nước, sen vẫn vươn ra. Phàm giống sen chỉ ưa sống chỗ nước nông, duy chỉ san Đầm Sương Mù lại có thể sinh sôi dưới vài ba thước nước”.

Còn đây là sự tiến vào chiều sâu của trí tuệ siêu việt: “Cũng đều bởi tại trẫm tham công tiếc việc mà ra. Ai bảo các khanh sinh ra trong triều đại Vạn Xuân làm gì? Suốt ngày xuôi nam ngược bắc, mở biển, khai sông, lập chùa, dựng tháp. Có khi trẫm cũng sai rồi chăng?”.

Lạy giời, thân tình ấm áp và khiêm nhường biết bao, mà cũng cạm bẫy biết bao! Tôi đến lo cho ông Phùng đại sư đang hầu chuyện ngài! Nhưng nghĩ lại thì quân vương là phải thế, không đưa ra quì tím sao ngài biết lòng người mang tính axit hay bazơ.

Được cái Thái sư cũng xứng tầm là người gần gạnh giúp rập cho ngài: “Những việc người làm chính là khí phách của quân vương, phúc phận của triều thần. Vua siêng năng mới châu tuần được hiền thần lương tướng, gốc nước mới bền, trăm hoa đua nở. Kìa hoàng thượng xem! Đến như hoa sen quanh Khai Quốc tự mấy năm nay chúng cũng chăm chỉ hẳn lên”.

Thật xuất sắc! Sen biết châu tuần đã ghê, sen biết chăm chỉ còn gớm hơn nhiều! Cho hay nét lãng mạn trong văn của ông không chỉ ở hành xử của con người mà cả của thiên nhiên cỏ cây nữa. Có cảm tình đặc biệt với sen như thế, thảo nào trong tuyển thơ Mùa màng của Khai, có tới hàng chục bài thơ quanh sen.

Thái sư sâu sắc rồi, vua còn sâu sắc hơn ở chỗ chỉ ra vai trò của bách dân: “Đừng nói vua siêng năng ắt có hiền thần. Phải nói là bách dân thơm thảo, hiền thần chăm chỉ mới tạo nên đất nước thái bình. Còn như đã được thế rồi, ai ngồi trên ngai vàng chả được?”

Đọc câu kết của đoạn trích này, tôi chỉ biết nhủ rằng Khai là quái kiệt dù không định thế mà có thể cũng không ý thức thế!

Với thái sư là vậy, với các thương nhân ngài còn có phần phóng khoáng hơn: “Quả là kiếm được miếng ăn vất vả lắm thay! Vậy mà các khanh ai cũng một lòng vì nước. Như Lê gia đây vừa hiến hơn ngàn cây gỗ quý để làm quốc điện có khác gì cắt đi một phần da thịt của mình”.

Ca ngợi hết lời, nhưng vẫn hiểu rõ tâm lý của kẻ đem “hiến”. Sự hiến thuần khiết chắc không đến nỗi như “cắt đi một phần da thịt”.

Nhưng vua cũng biết người biết của lắm thay, bởi ngài rộng tay ban phát: “Nhất định công cuộc hưng quốc, triều đình đều giao cho các khanh. Các khanh hãy vì nước mà hiến kế”.

Giao nhiều thế, có lấy lại gì chăng?

Chí ít ông tỏ ra nhất quán, tiếp tục tư tưởng đó: “Ý của trẫm là các mối lợi vật chất hãy để thương đoàn, chúng dân hưởng trước. Có như vậy mới khơi dẫn được bọn họ, người giàu trong cả nước mới yên tâm bỏ tiền riêng của mình ra buôn bán, sản xuất, khai mở bách nghệ”.

Khi Hữu thừa thị Khả Mật cung kính tâu hoàng thượng thánh minh, ngài trả lời: “Các khanh đừng cái gì cũng cho là trẫm thánh minh”.

Tôi chợt nhớ tới láng máng ở đâu đó câu này: “Thơ của ta có bài hay bài dở, bài nào các chú cũng khen hay”.

Tôi chợt nghĩ, phải chăng có sự dẫn dắt vi diệu nào đó để nhà văn từ trong tiềm thức có câu này thì viết ra câu nọ?

Các thương nhân thọ nhận những ưu ái đó thế nào? Chủ tiêu cục Vạn Hành An nói với bạn: “Nay hoàng thượng cấp vô số vốn cho chúng ta từ bến bãi đất đai đến chế định khuôn thước từng loại hàng hóa đều tha hồ tự quyết”.

Nghe hao hao câu “được làm mọi việc pháp luật không cấm”?

Nhưng lão thương nhân Lê Khôi nghiêm trang: “Hoàng thượng quả là cổ kim hiếm có, song phải nói thực là ngài ấy khôn quá dóc đời đấy ạ! Hoàng thượng thực là biết cách moi ra hết vàng bạc châu báu trong hũ chìm hũ nổi của đám thương nhân bọn ta”.

Ông kết luận: “Nếu phải cạnh tranh buôn bán, e rằng ta và Vạn huynh không phải là đối thủ của ngài ấy đâu”.

Lớp ngôn ngữ này, dẫu rằng đầy đủ đưa đẩy tiến lui; quả cho thấy hòa bình đã trở lại với Vạn Xuân, tựa như trong câu hát của Văn Cao: “Mùa bình thường, mùa vui nay đã về”.

*

*     *

Đã đến lúc tôi viết những dòng không chỉ cho cuốn tiểu thuyết này nói riêng mà cho cả bốn tập tiểu thuyết lịch sử về nhà Tiền Lý nói chung. Nếu đem gộp bốn bài viết này làm một thì bản thân chúng đã trở thành một cuốn sách dày dặn vài trăm trang. Nhưng sự thiếu đủ không phải theo số trang mà quyết định được.

Tôi nhớ có lần Phùng Văn Khai kể khi thai nghén cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên, ông đã loay hoay vật vã khá lâu. Nhiều lần trên đường đi làm về qua cầu Long Biên (bấy giờ ông còn đi xe máy) ông thậm chí đã đứng trên đó ngắm vạt lau sông Hồng rất lâu rồi chợt bung ra được cái tên ưng ý cho tiểu thuyết ấy: Phùng Vương. Với những gì Phùng Hưng đã làm trong lịch sử, ông không thể đặt một cái tên kém tôn vinh; hoặc đề cao quá mức.

Tố chất “đúng mực” ấy có lẽ xuất phát từ việc ông cũng là một nhà phê bình; viết rất hay các bài chân dung văn nghệ sĩ và danh nhân.

Nhà văn họ Phùng đã có thâm niên viết đến nay là ba mươi năm, ngay từ khi bắt đầu nhập ngũ vào quân đoàn 2 năm 1994. Sau đó ông kinh qua rất nhiều môi trường học tập và làm việc khác nhau, từ trường viết văn đến Truyền hình quân đội và hiện thời là tạp chí Văn nghệ quân đội. Từ tập đầu tay in năm 1998 đến nay ông đã xuất bản bảy tập truyện ngắn và chín tiểu thuyết; trong đó có tiểu thuyết tới hai tập dày cả nghìn trang là Trưng Nữ Vương.  

Có những cây bút vừa trình làng đã lập tức gây ấn tượng đặc biệt, lại có những cây bút phải đi lên từ từ nhưng rút cục không có gì cản được như Khai. Nói như trong Phật pháp thì ông thuộc dạng tiệm ngộ chứ không phải đốn ngộ.

Việc không đạt được thành công sớm có thể quật đổ những cây bút mà tình yêu nghề viết có chừng, nhưng với Khai lại là những thử thách cần thiết để ông thấy cần tinh tấn hơn nữa; chẳng phải để giành cao thấp với ai mà đơn giản như con tằm không đành đoạn nếu chưa nhả hết tơ.

Tâm sự của ông, qua lời Diệt Hỷ đại sư: “Khiêm tốn quá tất sẽ bỏ sót công quả. Sớm định rõ công quả đạt thành lại lo dễ sinh kiêu mãn hư hỏng”.

Tôi nghe như ông đang mắng chính tôi! Năm 2000, tôi đã giành giải ba truyện ngắn cuộc thi Tầm nhìn thế kỷ của báo Tiền Phong, nhưng rồi rốt cục sau tập truyện ngắn đầu tay Ai chiếu đi in năm 2003 tôi đã không có thêm tập truyện nào nữa; và tiểu thuyết càng quá xa vời.

Phàm phu sẽ thấy lạ bởi Hỷ tức là vui, vậy sao mà phải Diệt? Xin thưa đó chính là nguyên tắc hướng tới trung đạo của cảm xúc để hành giả có thể tỉnh thức trong cảnh giới “không trụ chấp vào bất kỳ vật gì ở đời”, cảnh tỉnh một điều rằng cái gì quá cũng không hẳn là tốt, kể cả vui; bởi trong mê lộ đèn cù ai mà biết vui sẽ được đổi sang buồn lúc nào đâu?

Có lần tôi bảo sao mà ông tự đày ải bản thân dữ thế; vừa quần quật lo tổ chức sự kiện rồi thì tự cho mình nghỉ ngơi lấy một hôm rồi viết tiếp, đã ai viết tranh mất đâu? Ông trầm ngâm, những tiền bối như Lê Lựu chẳng hạn tầm tứ thập đã hoàn thành cơ bản văn nghiệp của mình rồi; trong khi tôi ngũ thập mà thấy chưa đâu vào đâu hỏi sao đã có thể lười biếng được? 

Chẳng biết là chủ đích tính toán hay do tiềm thức xui khiến, ông đã để nhân vật mình nói: “Lời Phật dạy rằng: Trước mắt đừng ngại vụng về, chỉ lo thân mình lười nhác; trước mắt đừng ngại chậm chạp, chỉ lo chí mình chùn nhụt”.

Vân vi thế, để thấy rằng cái chăm của Phùng Văn Khai không chỉ vì mưu sinh mà còn để toàn bộ tinh anh trong con người mình có cơ hội phát lộ rồi chuyển tải lên trang viết, tùy duyên.

Về độ dày dặn của văn xuôi, ông ngang với Sô-lô-khốp rồi, nhưng còn có cái hơn là ông có thơ. Tới nay ông đã xuất bản ba tập thơ mà nổi bật nhất là tập Mùa màng xuất bản năm 2023. Tôi đã có bài Hát và khóc, viết khá kỹ về tập thơ này.

Nhà văn Mikhail Prishvin gọi một cách chính xác Paustovsky là “nhà thơ bị đóng đinh trên thập tự giá của văn xuôi”. Phùng Văn Khai không phải tạng đó, nhưng văn xuôi của ông đã được “hưởng lợi” rất nhiều từ thơ ông.

Đó là khả năng sống nhuần nhuyễn cùng thiên nhiên khi có dịp, chẳng hạn cách đọc ra những thân sen “biết châu tuần” rồi “chăm chỉ”.

Hoặc cách có thể cô đọng một trường đoạn đáng kể trong chỉ một câu là tên của hồi. Hãy xem câu thơ này: “Hồng hạc bay định phận giữa trời” – biết bao điển tích điển cố cùng chiều dài lịch sử chỉ trong một câu thơ đó.

Hoặc chỉ cần một câu đủ ôm trùm giai đoạn ban đầu của nhà nước cộng hòa: “Tổ quốc u oa đánh vần”.  

Hay cách nắm bắt và mô tả được căn cốt hồn vía và thân phận của những nhân vật lớn cũng chỉ trong vài câu thơ: “Thiên tài sao mơ ngủ – Công danh tủi nhục cầm”. Phải có năng lực ấy thì mới viết về hàng nghìn nhân vật trải suốt hơn hai nghìn trang tiểu thuyết mà không thấy nhân vật này na ná nhân vật kia.

Những năng lực ấy cho thấy họ Phùng có thể nén chặt lẫn trải dài nhân vật và sự kiện tùy theo đòi hỏi của tác phẩm trong từng giai đoạn.

Và chất thơ ấy, thiên hướng lãng mạn ấy cũng giúp ông tự tin để Triệu Vương lẫn Nam Việt Đế sẵn sàng làm tướng dưới trướng của các vị quân sư trong điều kiện phù hợp. Có chi lạ đâu bởi các chính khách thường đeo khăn quàng đỏ ít nhất trong buổi khai giảng ở các trường phổ thông.

Với thái độ hướng tới sự nghiêm cẩn và đúng mực của người làm khoa học, cùng cả tấm lòng giàu cảm xúc của một nhà thơ; kẻ “lưỡng thê” tự tin kết luận rằng bộ bốn tiểu thuyết về nhà Tiền Lý của Phùng Văn Khai thực sự đáng đọc và sẽ ngày một tỏa sáng trong lịch sử văn học nước nhà.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2024

 

——————–

Cây từ hạt [Kỳ 1]: Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Cây từ hạt [Kỳ 2]: Tùy bút phê bình tiểu thuyết Lý Phật Tử định quốc của Phùng Văn Khai – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

 

 

 

 

     


     

Bài trướcThủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam-Ấn Độ
Bài tiếp theoThử thách sống trong môi trường trên Sao Hỏa một năm

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây