Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Trong bộ tiểu thuyết lịch sử Vương triều Tiền Lý, khi thực hiện nghi lễ lên ngôi Đế nước Vạn Xuân, Nam Việt Đế Lý Phật Tử đã cho soạn bài Chúc văn đọc trong đại điện. Đây cũng là bài thơ dài độc đáo thể hiện sự kính ngưỡng với tiền nhân.
Bộ Tiểu thuyết lịch sử “Vương triều Tiền Lý” của nhà văn Phùng Văn Khai.
Đất Long Biên rồng chầu hổ phục Sông Nhị Hà chín khúc chảy quanh Đầm Sương Mù bát ngát xanh Dòng Tô tỏa bóng cổ thành uy nghi.
Kìa ngày trước vua Bà[1] hãm giặc Dấu voi đi in vết Long thành Trải ngàn dâu bể phân tranh Lĩnh Nam[2] riêng một triều đình khắc ghi.
Từ Hán tới Đông Ngô, Tấn, Tống Tiếp Nam Tề thông nối triều Lương Năm trăm năm một đêm trường[3] Năm trăm năm bể máu xương chất đầy.
Đang giữa lúc mịt mờ tăm tối Trời cao thương thấu nỗi phương Nam? Bạch Long – Cổ Pháp[4] non ngàn Sinh dòng Lý thị kiên gan vá trời.
Rừng Hắc Lâm hổ vàng rơi lệ Chùa Cổ Pháp thiền sư dốc lòng Câu kinh kệ, tiếng chuông ngân Văn thao võ lược mười năm miệt mài.
Ôm chí lớn thù nhà nợ nước Lý Giám quân[5] tuyên thảo hịch văn Vũ Lâm hầu[6] lạnh sống lưng Những phường bất nghĩa quỷ thần không tha.
Cờ nghĩa giương quân reo tám mặt Đất Chu Diên, Triệu Túc theo về Long Đỗ lão tướng Phạm Tu Đem ngàn trai tráng tụ cờ nghĩa quân.
An Hoa trang họ Phùng hiến tướng Thiều sư huynh vạn dặm trở về[7] Thạch Đạt đó, Mã Phương kia[8] Kẻ sa thủy trận, người lìa trần gian.
Vũ Lâm hầu ngồi trên đống lửa Tính bài chuồn giả dạng lái buôn[9] Than ôi cũng tướng, cũng vương! Cũng dòng Tiêu thị thảm thương giống nòi?
Một số hoạt động của gia đình nhà văn Phùng Văn Khai:
1 của 7
Lương Vũ Đế[10] nổi cơn thịnh nộ Điểm ba châu bốn đạo hùng binh[11] Lại còn kích động Rudravaman[12] Đem quân vượt dãy Hoành Sơn đánh nhầu.
Trời xanh chẳng dung quân tham ác Người phương Nam há chịu thua binh? Triệu, Phùng[13] vượt biển hỏa công Quân doanh Hợp Phố[14] nước sông đục ngầu.
Phạm lão tướng phá kỳ tượng trận[15] Bố Đa Ngai[16] ôm hận lui binh Hoành Sơn[17] một dải trường thành Vững như bàn thạch rành rành phân chia.
Lý Bí lên ngôi Nam Việt Đế[18] Đặt Vạn Xuân khai quốc nguyên niên Điện Vạn Thọ dụ trăm quan Một thời Thiên Đức huy hoàng mở ra.
Đất có chủ muôn phần huân quý Người phương Nam xưng đế phương Nam Hồng Bàng kế đến Hùng Vương Thục Vương, Triệu Đế, Trưng Vương một nhà[19].
Lương Vũ Đế lần ba xuất chiến Dốc hết nguồn binh lực Trung Nguyên Mông Kỳ, Lữ Phạm, Bá Tiên Binh dư mười vạn, chiến thuyền vài trăm.
Vạn Xuân mới gây nền độc lập Đã thình lình gánh trận can qua Mưa giông, chớp giật sáng lòa Quân tan, thành vỡ, phong ba dập vùi.
Nơi cửa biển Quang Thành[20] thọ nạn Cửa sông Tô, Phạm tướng[21] về trời Sân điện Vạn Thọ than ôi! Thái phó Triệu Túc ngậm ngùi hy sinh.
Vua núng thế rút về Điển Triệt[22] Lão quân sư tử trận Ninh thành[23] May còn Tả, Hữu tướng quân Theo hầu giá tới động ngàn thung sâu.
Vâng mệnh Tả quân[24] về Dạ Trạch Bốn năm trời nếm mật nằm gai Thù càng sâu chí càng dài Vạn Xuân há dễ một hai đắm chìm?
Trời còn tựa kẻ ôm chí lớn Nhị Thánh[25] khuya ban tặng móng rồng Đuổi Bá Tiên, chém Dương Sằn Triệu Vương phục quốc tiếng tăm ngút trời.
Nơi Ái – Cửu[26] người đâu chịu kém Lý tướng quân lĩnh ấn Trung lang[27] Tìm vùng đất mới Dã Năng Trước là dưỡng sức, dụng binh lâu dài.
Quét một trận Ái Châu sạch bóng Quét hai trận Cửu Đức phong quang Mông Kỳ, Lữ Phạm nghênh ngang Kẻ thì vong mạng, kẻ sang cầu người.
Vua Lâm Ấp mấy đời trí trá Bố Đa Ngai bụng dạ hiểm sâu Xua binh hai mặt trước sau Tưởng rằng một trận cơ cầu trăm năm.
Biết đâu gặp anh hùng cái thế Hai gọng kìm núi đổ, trăng lu Vua tôi ôm hận thiên thu Cam tâm cắt đất chuộc tù hàng binh[28].
Cảm đức lớn Dã Năng bát tộc Chúng suy tôn nhất vị Đào Vương Bốn châu muôn dặm vuông tròn Sĩ lâm thị tộc bốn phương theo về.
Giữ gốc nước nhớ lời thề nước Triệu Việt Vương xuống tóc đi tu Non xanh biển thẳm vân du Thiền sư Hành Thiện[29] thiên thu luận bàn.
Vì nghĩa lớn Đào Vương nhận nước Vâng theo dân, Lý thị[30] lên ngôi Nam Việt Đế một phương trời Bền sâu Thiên Đức, sáng ngời Vạn Xuân[31].
[3] Nước ta tính từ năm Hai Bà Trưng đánh quân Hán dựng nền độc lập (40-43) đến khi Lý Bí đánh đuổi giặc Lương xưng Nam Việt Đế lập nước Vạn Xuân (544) là năm trăm năm.
[4]Hương Cổ Pháp, đầm Bạch Long: Nơi sinh ra hai vị vua Lý Bí và Lý Thiên Bảo.
[7] Tinh Thiều là sư huynh cùng tu tập với Lý Bí tại chùa Cổ Pháp. Tiếp đó, Tinh Thiều sang kinh đô Kiến Khang nhà Lương thi đỗ. Sau đó, ông từ quan trở về làm quân sư giúp Lý Bí đánh bại Vũ Lâm hầu Tiêu Tư. Khi triều đình Vạn Xuân thành lập, ông đứng đầu Ban Văn.
[8] Thạch Đạt, Mã Phương là hai tướng giỏi thống lĩnh thủy binh, kỵ binh của Vũ Lâm hầu Tiêu Tư.
[9] Khi bị binh tướng Lý Bí vây ngặt, Vũ Lâm hầu Tiêu Tư đã phải nửa đêm giả lái buôn trốn về phương Bắc.
[10] Vị hoàng đế nổi tiếng Trung Quốc sáng lập nhà Lương, trị vì từ năm 502 đến năm 549.
[11] Lý Bí xưng đế ở Giao Châu khiến Lương Vũ Đế nổi giận cử bốn đạo binh gồm Thứ sử Việt Châu Trần Hầu, Thứ sử An Châu Lý Trí, Thứ sử La Châu Ninh Cự, Thứ sử Ái Châu Nguyễn Hán bốn mặt vây đánh Vạn Xuân.
[17] Ranh giới phân chia châu Cửu Đức – Vạn Xuân với Lâm Ấp (nay thuộc Quảng Bình).
[18] Năm 544, Lý Bí lên ngôi Nam Việt Đế đặt tên nước Vạn Xuân, niên hiệu Thiên Đức, xây điện Vạn Thọ, dựng chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc, Hồ Tây).
[19] Tức Thục Phán An Dương Vương; Triệu Đà – Triệu Vũ Đế; Trưng Nữ Vương.
[20] Đô đốc Triệu Quang Thành tử trận nơi cửa biển Hoàng Châu (Vịnh Hạ Long ngày nay).
[27] Lý Thiên Bảo lĩnh ấn Trung lang tướng từ khi còn quốc chủ Lý Bí.
[28] Khi quân Lâm Ấp bị thua trận, chúng đã phải cắt đất bốn huyện thuộc châu Lâm Khang phía nam dãy Hoành Sơn để giảng hòa và chuộc tù binh với Đào Lang Vương.
[29] Khi Triệu Việt Vương xuống tóc ở chùa Bến sông Luy Lâu, ngài lấy pháp danh là thiền sư Hành Thiện.
[30] Tức Lý Phật Tử trước đó kế tục Lý Thiên Bảo chức Đào Lang Vương.
[31] Khi Lý Phật Tử được quân chúng suy tôn lên ngôi Nam Việt Đế, ông vẫn lấy tên nước Vạn Xuân, niên hiệu Thiên Đức theo Lý Bí ngày trước.