Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI

DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT

(Kỳ thứ mười)

Lời người dịch: Một trong những đặc điểm làm nên thành tựu thơ của Danh nhân văn hóa lịch sử Phùng Khắc Khoan chính là sự hiểu biết sâu rộng từ những trải nghiệm cuộc sống chính bản thân vị danh sĩ họ Phùng. Những vùng đất ông đã từng qua. Những địa danh lịch sử đã ghi vào sử sách hiện ra trong thơ Phùng Khắc Khoan đều sâu đậm và đưa ra những thông điệp mới mẻ. Đó cũng là sự khâm phục và thách thức với người dịch hôm nay.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai

 

Bộ tài liệu phục vụ hồ sơ đề cử Phùng Khắc Khoan trở thành Danh nhân văn hoá thế giới.Bộ tài liệu phục vụ hồ sơ đề cử Phùng Khắc Khoan trở thành Danh nhân văn hoá thế giới.

 

過 鐵 樹 林

擎 天 枝 幹 鬱 森 森
傲 雪 凌 霜 鐵 石 心
廊 廟 今 求 梁 棟 用
大 材 夫 豈 久 山 林

 

Phiên âm:

QUÁ THIẾT THỤ LÂM

Kình thiên chi cán uất sâm sâm.
Ngạo tuyết lăng sương thiết thạch tâm.
Lang miếu kim cầu lương đống dụng,
Đại tài phù khởi cửu sơn lâm.

 

Dịch nghĩa:

QUA RỪNG LIM

Rừng lim um tùm, thân cành như cột chống trời,
Ngạo nghễ với tuyết sương, lòng thật sắt đá,
Nay triều đình đang tìm làm rường cột,
Thứ gỗ tốt như lim này sao lại ở lâu mãi nơi rừng sâu.

 

Dịch thơ:

QUA RỪNG LIM

Rừng lim trăm cột chống trời
Tấm lòng sắt đá sương phơi lạnh lùng
Thân làm rường cột cang – trung
Ta nào sá quản mịt mùng rừng sâu.

Phùng Văn Khai dịch

 

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) và con trai Phùng Minh SơnĐại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (bìa phải) và con trai Phùng Minh Sơn.

 

約 至 西 都 口 占

西 都 人 道 古 遺 踪
今 早 行 經 此 地 中
火 急 報 春 承 我 意
催 花 開 莫 待 東 風

 

Phiên âm:

ƯỚC CHÍ TÂY ĐÔ KHẨU CHIẾM

Tây đô nhân đạo cổ di tung,
Kim tảo hành kinh thử địa trung.
Hỏa cấp báo xuân thừa ngã ý,
Thôi hoa khai mạc đãi đông phong.

 

Dịch nghĩa:

HẸN ĐẾN TÂY ĐÔ, ỨNG KHẨU THÀNH THƠ

Người ở Tây Đô(1 ) bảo đây là di tích thời cổ,
Sớm nay ta mới đi qua chỗ đất này.
Khéo chiều ý ta, có tin gấp báo xuân đã về,
Giục giã hoa nở, chẳng đợi gió xuân nữa.

 

Dịch thơ:

TÂY ĐÔ ỨNG KHẨU

Tây Đô chỉ dấu thành xưa
Tinh sương đất mới ta vừa đến đây
Tin mừng báo gấp trên tay
Bốn bề hoa nở đong đầy gió xuân.

Phùng Văn Khai dịch

—————
(1 ) Tây Đô: kinh đô phía tây, cũng có tên là thành Tây Giai, hoặc thành An Tôn, dân gian thường gọi là thành Nhà Hồ. Tây Đô do Hồ Quí Ly xây dựng năm 1397 ở An Tôn, nay thuộc Tây Giai, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.

 

 

西 都 曉 過

西 望 都 城 曙 色 開
曉 來 過 此 興 頻 催
玉 溝 水 繞 澄 金 鏡
石 壁 苔 侵 覆 綠 街
草 木 經 秋 陳 古 跡
江 山 隨 筆 入 襟 懷
前 胡 父 子 今 何 在
惟 有 清 風 與 我 偕

 

Phiên âm:

TÂY ĐÔ HIỂU QUÁ

Tây vọng đô thành thự sắc khai,
Hiểu lai quá thử hứng tần thôi.
Ngọc câu thủy nhiễu trừng kim kính,
Thạch bích đài xâm phúc lục nhai.
Thảo mộc kinh thu trần cổ tích,
Giang sơn tùy bút nhập khâm hoài.
Tiền Hồ phụ tử kim hà tại?
Duy hữu thanh phong dữ ngã giai.

 

Dịch nghĩa:

SÁNG SỚM QUA TÂY ĐÔ

Trông đô thành phía tây vừa lúc rạng đông,
Sáng sớm qua đây hứng cảm nhiều lần.
Ngọc Câu nước vòng quanh, trong như gương đồng sáng,
Thạch Bích rêu bám, phủ lên cả con đường xanh.
Cỏ cây trải qua thu, phơi bầy dấu xưa,
Non sông theo ngòi bút, cảm thấu tận tâm hồn.
Cha con họ Hồ xưa(2 ) nay ở đâu?
Chỉ có gió mát cùng ta mà thôi.

 

Dịch thơ:

SÁNG SỚM QUA TÂY ĐÔ

Tây Đô vừa lúc rạng đông
Tinh tươm ngọn cỏ dưới đồng phơi sương
Ngọc Câu nước chảy soi gương
Rêu xanh Thạch Bích dặm đường thêm xanh
Hơi thu còn bám trên cành
Non sông ngấn bút bóng hình thiên thu
Hỏi đâu phụ tử họ Hồ?
Chỉ nghe gió thoảng bên bờ đá xanh.

Phùng Văn Khai dịch

——————
(2 ) Cha con họ Hồ: chỉ Hồ Quí Ly và Hồ Hán Thương.

 

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan -hình 5

 

蘭 陵 對 景

佳 興 頻 頻 為 客 忙
蘭 陵 人 對 景 成 雙
侯 人 道 擁 千 頭 橘
鋪 練 波 澄 一 帶 江
宇 宙 寬 閒 迷 望 眼
山 川 收 拾 滿 詩 腔
知 心 最 愛 黃 昏 月
有 意 時 來 照 我 窗

 

Phiên âm:

LAN LĂNG ĐỐI CẢNH

Giai hứng tần tần vị khách mang,
Lan Lăng nhân đối cảnh thành song.
Hậu nhân đạo ủng thiên đầu quất,
Phô luyện ba trừng nhất đới giang.
Vũ trụ khoan nhàn mê vọng nhãn,
Sơn xuyên thu nhập mãn thi xoang.
Tri tâm tối ái hoàng hôn nguyệt,
Hữu ý thời lai chiếu ngã song.

 

Dịch nghĩa:

ĐỨNG TRƯỚC CẢNH Ở LAN LĂNG

Hứng thú dạt dào làm cho khách bận rộn,
Ở đất Lan Lăng, người với cảnh đẹp thành một đôi.
Ngàn cây quất mọc bên đường như đón đợi khách đến,
Dải sông lặng sóng hình như tấm lụa.
Cảnh vũ trụ khoan nhàn, làm mê mắt ngắm,
Núi sông thu gom đầy cả vào hồn thơ.
Bạn tri âm đáng yêu nhất là mặt trăng buổi tối,
Có lúc dụng ý chiếu vào cửa sổ ta.

 

Dịch thơ:

TRƯỚC CẢNH LAN LĂNG

Rồng mây vận hội đất trời
Người xinh cảnh đẹp bồi hồi Lan Lăng
Ngàn cây đón khách dưới trăng
Sông tung sóng lụa chị Hằng soi gương
Bốn bề mê mẩn thân thương
Non sông thu trọn ta dường chiêm bao
Bạn hiền sóng sánh trăng sao
Lời thơ thánh thót nao nao tấc lòng.

Phùng Văn Khai dịch

 

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan -hình 6

 

遙 壽 父 親

六 十 年 強 七 十 交
巍 然 道 德 仰 彌 高
兼 三 天 下 達 尊 老
第 一 風 流 冠 世 豪
渭 水 釣 璜 期 尚 父
虞 庭 種 德 邁 皋 陶
古 來 作 善 天 其 福
何 必 瑤 池 醉 碧 桃

 

Phiên âm:

DAO THỌ PHỤ THÂN

Lục thập niên cường thất thập giao,
Nguy nhiên đạo đức ngưỡng di cao.
Kiêm tam thiên hạ đạt tôn lão,
Đệ nhất phong lưu quán thế hào.
Vị thủy điếu hoàng kỳ Thượng Phụ,
Ngu đình chủng đức mại Cao Dao.
Cổ lai tác thiện thiên kỳ phúc,
Hà tất Dao Trì túy bích đào.

 

Dịch nghĩa:

TỪ NƠI XA CHÚC THỌ PHỤ THÂN(4 )

Cha quá sáu mươi đã gần bảy mươi,
Càng trông lên càng thấy cha đạo cao đức cả.
Là bậc phụ lão kiêm cả ba điều tôn quý(5 )trong thiên hạ,
Là người hào kiệt đệ nhất phong lưu ở trên đời.
Giống Thượng Phụ ở bờ sông Vị, trước còn câu cá đợi thời(6 ),
Như Cao Dao ở triều nhà Ngu chăm ban bố đức trạch cho dân(7 ).
Xưa nay ai làm thiện, trời sẽ giáng phúc,
Hà tất phải đến Dao Trì(8 ) mới được chén quả đào tiên.

 

Dịch thơ:

TỪ NƠI XA CHÚC THỌ PHỤ THÂN

Mừng cha tuổi sắp bảy mươi
Đức trời cao cả đạo người hanh thông
Ba điều tôn quý châu tuần
Trượng phu càng ở tấm lòng ưu dân
Kém chi Thượng Phụ buông cần
Nêu gương đức sáng ngang phần Cao Dao
Tuổi càng cao phúc càng cao
Đào tiên tự đến cần đâu Dao Trì.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

([4]) Bài này ở sau bài Nguyên đán nói cha mất năm Phùng Khắc Khoan 27 tuổi. Xét tên đề và nội dung thì nó phải ở trước bài Nguyên đán, chúng tôi chủ động điều chỉnh thứ tự.

([5]) Ba điều tôn quý: Chỉ người trong thiên hạ có ba điều tôn quý, đó là người có chức tước, có tuổi thọ và người có đức.

([6]) Thượng Phụ: chỉ Lã Vọng, người đời Chu, khi chưa gặp Văn Vương, ẩn cư câu cá ở sông Vị.

([7]) Cao Dao: một bầy tôi giỏi đời Ngu Thuấn, người ra sức ban bố đức trạch cho dân chúng.

([8]) Dao Trì: nơi thần tiên cư ngụ.

 

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan -hình 7

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan -hình 8

 

元 旦

時 甲 寅 之 二 十 七 歲 也
是 歲 六 月 十 日 父 親 捐 館

大 冬 之 後 喜 陽 生
拭 目 重 觀 世 道 亨
景 物 便 從 今 日 好
江 山 偏 勝 昔 年 清
陽 升 尤 切 葵 心 向
節 到 聊 憑 柏 酒 迎
肇 始 欣 逢 天 地 泰
時 來 顯 我 大 功 名

 

Phiên âm:

NGUYÊN ĐÁN
(Thời Giáp Dần chi nhị thập thất tuế dã.
Thị tuế lục nguyệt thập nhật, phụ thân quyên quán)

Đại đông chi hậu hỷ dương sinh,
Thức mục trùng quan thế đạo hanh.
Cảnh vật tiện tòng kim nhật hảo,
Giang sơn thiên thắng tích niên thanh.
Dương thăng vưu thiết quỳ tâm hướng,
Tiết đáo liêu bằng bách tửu nghênh.
Triệu thủy hân phùng thiên đại thái,
Thời lai hiển ngã đại công danh.

 

Dịch nghĩa:

MỒNG MỘT TẾT
(Bấy giờ là năm Giáp Dần [1554], tôi 27 tuổi.
Mồng 10 tháng 6 năm ấy, phụ thân tôi mất)( 9)

Sau mùa đông giá rét, mừng mùa xuân ấm áp sinh sôi nảy nở,
Lau mắt nhìn lại xem thế đạo thịnh vượng.
Cảnh vật tự hôm nay tươi tốt thật,
Non sông so với năm ngoái trong trẻo hơn.
Mặt trời lên, lòng thiết tha tựa bông hoa quỳ hướng tới ánh dương(10 ).
Ngày tết đến, tạm mượn chén rượu bách đón chào.
Mở đầu năm mới, vui mừng gặp vận thái của trời đất,
Thời vận đã đến, chính là lúc tỏ rõ công danh to lớn của ta.

 

Dịch thơ:

NGUYÊN ĐÁN

Mùa đông lạnh giá vừa qua
Bình tâm xem kỹ đạo gia thuần hành
Cỏ cây thơm thảo tươi xanh
Non sông gấm vóc thanh bình xiết bao
Hoa quỳ theo ánh dương cao
Ta mừng nâng chén rượu đào với xuân
Xuân sang trời đất xoay vần
Vận thời tất đến phúc phần Phùng gia.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([9]) Nói phụ thân mất, song nội dung không thấy bày tỏ cái ý đau buồn. Đây là câu chú dẫn thêm vào khi biên tập nhớ lại.

([10]) Hoa quỳ: loài hoa nở chầu hướng về phía mặt trời. Ở đây ví với tâm ý của tác giả đang đau đáu hướng về vua Lê.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]

 

 

 

 

     


     

Bài trướcCả nước có gần 3000 trạm khí tượng theo dõi cảnh báo thời tiết, thiên tai
Bài tiếp theoNhiều loài sinh vật biển quý hiếm liên tiếp dạt vào bờ biển Lâm Đồng

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây