Giới thiệu khái quát thành phố Tam Điệp

Giới thiệu khái quát thành phố Tam Điệp

Giới thiệu khái quát huyện Tam Điệp

Tam Điệp là thành phố miền núi của tỉnh Ninh Bình. Nằm ở phía Tây Nam của tỉnh, thành phố Tam Điệp là cửa ngõ nối đồng bằng Bắc Bộ với giải lãnh thổ ven biển miền Trung, là một trong ba vùng kinh tế trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Ninh Bình. Tam Điệp còn là một địa danh cổ, có nhiều di chỉ khảo cổ học và cũng là vùng đất có vị trí quan trọng về quân sự qua các thời kỳ lịch sử của đất nước.

Thành phố Tam Điệp có diện tích tự nhiên là 10.497,9ha, với dân số 104.175 người và 9 đơn vị hành chính cấp xã. Phía Đông giáp huyện Yên Mô; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa; phía Bắc giáp các huyện Hoa Lư và Nho Quan. Nằm ở cửa ngõ nối đồng bằng Bắc Bộ với giải lãnh thổ ven biển miền Trung, Tam Điệp có hệ thống giao thông thuận lợi: Quốc lộ 1A chạy qua trung tâm; Quốc lộ 12B đi Nho Quan – Hòa Bình; tuyến đường sắt Bắc – Nam; có 2 ga Gềnh và Đồng Giao để vận chuyển hành khách – hàng hóa. Thành phố Tam Điệp cách thủ đô Hà Nội 100 km, cách thành phố Ninh Bình 12 km.

Tam Điệp là vùng đất cổ. Những dấu tích của người tiền sử được tìm thấy ở dãy núi Tam Điệp cho thấy từ xa xưa nơi đây đã có con người sinh sống, dấu vết của con người từ thời đại đá cũ (cách đây 3 vạn năm) được tìm thấy ở hang Thung Lang, nhiều vật dụng được tìm thấy ở hang chợ Ghềnh (hang núi Một) của con người thời đại đá mới (cách đây 3 nghìn năm). Tam Điệp nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắcđồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, với vị trí địa lý đặc biệt của mình Tam Điệp thời tiền sử và sơ sử đã trở thành một nơi chuyển tải các ảnh hưởng văn hóa từ lưu vực sông Mã ra phía Bắc và từ lưu vực sông Hồng vào phía Nam, từ vùng núi xuống biển và từ ven biển lên núi. Chính vì vậy, hẳn là bộ mặt văn hóa tiền sử và sơ sử vùng Tam Điệp phong phú và đa dạng.

Lịch sử

Thành phố Tam Điệp được thành lập theo Quyết định số 200-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 27/12/1982, trên cơ sở thị trấn Tam Điệp và 2 xã Yên Bình, Yên Sơn tách từ huyện Tam Điệp. Khi đó thành phố gồm 3 phường: Bắc Sơn, Nam Sơn, Trung Sơn, và 4 xã: Quang Sơn, Yên Bình, Yên Sơn, Đông Sơn. Địa giới: bắc giáp huyện Hoa Lư, đông giáp huyện Tam Điệp, tây giáp huyện Hoàng Long, nam giáp thị xã Bỉm Sơn của tỉnh Thanh Hoá.

Trước đó, thị trấn Tam Điệp được thành lập ngày 23/2/1974 trên cơ sở thị trấn nông trường Đồng Giao thuộc huyện Yên Mô và nông trường Tam Điệp. Ngày 27/4/1977, thị trấn Tam Điệp trở thành huyện lị huyện Tam Điệp được thành lập do sáp nhập huyện Yên Mô và 10 xã của huyện Yên Khánh.

Kinh tế

Thành phố thuộc miền núi, nơi có trữ lượng đá vôi lớn rất tốt cho công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng. Thành phố có diện tích lớn đất Feralit đỏ, vàng thích hợp trồng cây công nghiệp và ăn quả. Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ nhất (tháng 01/1984) đã xác định cơ cấu kinh tế là công- nông- lâm nghiệp, đồng thời mở rộng thương mại – dịch vụ.

Thành phố có một số cơ sở công nghiệp như Nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu của Công ty thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao 10.000 tấn sản phẩm/năm, dây chuyền nước hoa quả cô đặc 5.000 tấn/năm; Nhà máy xi măng Tam Điệp công suất 1,4 triệu tấn/năm; Nhà máy cán thép Tam Điệp công xuất 36 vạn tấn/năm. Nhà Văn Hóa Thành phố Tam Điệp.

Tam Điệp là địa danh lịch sử gắn liền với chiến thắng lịch sử của nghĩa quân nhà Tây Sơn trong sự nghiệp giải phóng Thăng Long. Nơi đây còn lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử văn hóa.

Thành phố Tam Điệp được công nhận 2 khu di tích lịch sử thuộc phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn) gồm:

  • Khu A: có đèo Ba Dội, Kẽm Đó, luỹ Quang Trung, núi Cắm Gươm, núi Cắm Cờ, núi Chong Đèn, núi Hầu Vua, Vương Ngự, gắn với di tích Đền Dâu, Đền Quán Cháo, động Tam Giao, Đèo Tam Điệp.
  • Khu B: có luỹ Quèn Thờ, luỹ Quang Trung, đền Quèn Thờ gắn với danh thắng động Trà Tu, hồ Yên Thắng, hồ Mừng, hồ Đoòng Đèn.

Sân Golf Yên Thắng

Sân golf Yên Thắng được xây dựng ở xã Đông Sơn với quy mô 54 lỗ hứa hẹn trở thành khu du lịch giải trí chất lượng cao ở miền Bắc.
Hiện thị xã cũng đang xây dựng hạ tầng khu vui chơi giải trí trung tâm của khu du lịch hồ Đồng Thái nằm ở vùng giáp ranh giới với huyện Yên Mô.

Di tích khảo cổ

Tam Điệp cũng là vùng đất cổ với hàng loạt các di chỉ khảo cổ học được khai quật là:
Di tích khảo cổ học Núi Ba (Phường Bắc Sơn) là nơi xuất lộ những khối trầm tích cổ sinh cách đây khoảng 300.000 năm cùng một số hang động có dấu ấn của cư dân Văn hóa Hòa Bình cách ngày nay trên dới 10.000 năm.
Di tích khảo cổ học Thung Lang (Phường Nam Sơn) tại đây đã tìm thấy răng người Homo Erectus cách đây khoảng 30.000 năm cùng một số dấu ấn cho thấy có sự xuất hiện của cư dân cách đây trên dưới 10.000 năm.
Di tích khảo cổ học hang Đáo (xã Đông Sơn – Tam Điệp) nơi đây có tìm thấy những công cụ đồ đá của cư dân Văn hóa Hòa Bình.
Di tích khảo cổ học hang Yên Ngựa (phường Trung Sơn) xuất lộ dấu ấn cư đân văn hóa Hòa Bình.
Di tích khảo cổ học hang Dẹ (Phường Nam Sơn) có dấu ấn của cư dân Văn hóa Hòa Bình ở giai đoạn sớm trên 10.000 năm.
Di tích khảo cổ học núi Hang Sáo (xã Quang Sơn) với nhiều hang động và mái đá có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình và cư dân văn hóa Đa Bút sống cách ngày nay từ 5.000 đến 10.000 năm.
Cụm di tích khảo cổ học hang ốc; Núi ốp (xã Yên Sơn) xuất lộ dấu ấn cư dân văn hóa Đa Bút và Cư dân văn hóa Đông Sơn.
Di tích khảo cổ học hang Khỉ (xã Đông Sơn) xuất lộ một số mảnh gốm cùng vỏ nhuyễn thể trên bề mặt nơi đây có dấu ấn văn hóa Đa Bút.
Di tích khảo cổ học núi Hai (phường Bắc Sơn) xuất lộ rất nhiều gốm và xương động vật thuộc thời đại kim khí cách đây khoảng 3.000 năm.

Tổng Quan 

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc, vùng Tam Điệp giữ một vị trí chiến lược trọng yếu. Núi rừng Tam Điệp liền một mạch với giải núi rừng chạy dài từ Hòa Bình đến biển là bức trường thành tự nhiên án ngữ tất cả các đường giao thông thủy – bộ, bắc – nam qua vùng này. Nhân dân ta vừa khai phá các đường giao thông đó nhằm mở rộng mối giao lưu kinh tế – văn hóa trong nước, vừa triệt để lợi dụng thế thiên hiểm để bịt kín các đường giao thông đó khi cần ngăn chặn kẻ thù từ Bắc tiến vào. Lịch sử đã chứng minh vị trí chiến lược của vùng Tam Điệp trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và cả trong một số cuộc nội chiến do các thế lực phong kiến gây ra.

Về mặt quân sự, Tam Điệp giữ một vị trí quan trọng vì đèo Ba Dội nằm trong dãy Tam Điệp là một cửa giao thông hiểm yếu giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, dùng đường bộ từ Thăng Long vào Thanh Hóa hay từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, đều phải vượt đèo này. Hiện tại, nơi đây là đại bản doanh của Quân đoàn 1 – Binh đoàn Quyết Thắng, là một trong bốn binh đoàn chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra còn đơn vị quân đội khác đóng quân trên địa bàn là Lữ đoàn 279 – Quân khu 3 ở phường Nam Sơn.

Thời thuộc nhà Hán, đèo Tam Điệp được gọi là Cửu Chân Quan, là cửa ải giữa quận Cửu Chân và quận Giao Chỉ. Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, căn cứ Cấm Khê mất, một số nghĩa quân lui xuống vùng Tam Điệp – Thần Phù để tiếp tục cuộc chiến đấu. Đầu thế kỷ 10, Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đã dựa vào sự hiểm trở của Tam Điệp để xây dựng và bảo vệ lực lượng ở Thanh Hóa, rồi tiến ra đánh bại quân xâm lược Nam Hán ở thành Đại La và sông Bạch Đằng. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, triều đình nhà Trần đã sử dụng bức trường thành Tam Điệp để bảo vệ hậu phương Ái Châu – Diễn Châu và làm chỗ dựa cho căn cứ Thiên Trường – Trường Yên. Năm 1527, nhà Mạc thay nhà Hậu Lê. Nhà Mạc tách lấy hai phủ Trường Yên và Thiên Quan của thừa tuyên Sơn Nam làm Thanh Hoa ngoại trấn. Vì lúc ấy, nhà Mạc chiếm giữ từ dãy núi Tam Điệp trở ra Bắc để chống lại nhà Hậu Lê. Vua Lê Trang Tông đã đắp lũy ở Tam Điệp để chống quân Mạc.

Vùng đất Tam Điệp là phòng tuyến kháng chiến của triều đại Tây Sơn thế kỷ 17, mảnh đất gắn với tên tuổi của anh hùng Quang Trung trong sự nghiệp giải phóng Thăng Long. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các địa danh và di tích. Hệ thống các di tích lịch sử – văn hóa ở Tam Điệp gắn liền với tín ngưỡng thờ phụng vua Quang Trung.

Cũng như các vùng miền núi Ninh Bình, dãy núi đá vôi ở Tam Điệp tạo ra nhiều hang động kỳ thú như: động Trà Tu, động Tam Giao. Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hoá của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thuỷ tú này. Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hoá lớn về đây, xếp gương, đề bút, sông núi hoá thành thi ca như bài “Cửu Chân Quan” của Ngô Thì Sĩ và tấm bia khắc bài thơ “Quá Tam Điệp sơn” của vua Thiệu Trị làm năm 1842 khi đi tuần du qua núi Tam Điệp… Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thụ, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình.

Là một trong ba vùng kinh tế trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, Tam Điệp có nhiều tiềm năng, đặc biệt là lợi thế trong phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch, phát triển đô thị.

Cùng với quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh trên địa bàn thành phố, kinh tế -xã hội của thành phố những năm gần đây có sự chuyển biến tích cực: cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng ngành nghề TTCN và dịch vụ chiếm tỷ trọng gần 88% giá trị sản lượng. Hiện nay, lao động phi nông nghiệp chiếm gần 76% lực lượng lao động, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao. Hạ tầng kỹ thuật như: giao thông, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc, cấp thoát nước, trường học, trạm y tế được đầu tư đồng bộ.

Có thể khẳng định, với những tiềm năng, lợi thế, đặc biệt là địa phương xây dựng khu công nghiệp đầu tiên của tỉnh, đã tạo điều kiện thuận lợi để thành phố Tam Điệp phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây.  Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được đầu tư và đang phát huy hiệu quả như: chế biến rau quả xuất khẩu, sản xuất giấy, bao bì, thiết bị y tế, sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng, gang thép, gạch, đá…Trong phát triển nông nghiệp, thành phố tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại, kinh tế vườn đồi, chăn nuôi gia súc, gia cầm có giá trị kinh tế cao. Đến nay, cây Đào phai Tam Điệp gắn liền với sự tích chiến thắng của vua Quang Trung đã trở thành thương hiệu có tiếng được nhiều địa phương trong cả nước biết đến mỗi khi Tết đến, xuân về.  Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 300 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 25 triệu đồng/người/năm. Dân số thành phố những ngày đầu thành lập khoảng gần 17 nghìn người, đến nay là hơn 104 nghìn người, trong đó khu vực nội thị gần 53 nghìn người. Tỷ lệ tăng dân số hàng năm là gần 2%, mật độ dân số khu vực nội thị: 5.004 người/km2.

Cảnh quan đô thị được chỉnh trang, hệ thống hạ tầng khu vực nội thị dần đáp ứng được vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế – xã hội vùng Tây Nam của tỉnh. Tốc độ đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện về nhiều mặt. Diện tích nhà ở bình quân cho khu vực nội thị đạt 23,5msàn/người. Tỷ lệ nhà kiên cố đạt trên 93%. Hệ thống công trình dịch vụ công cộng cấp đô thị và đất xây dựng các công trình dịch vụ công cộng đô thị đạt gần 5m2/người; diện tích đất xây dựng công trình công cộng cấp khu ở đạt gần 3m2/người, tỷ lệ đất dân dụng đạt 63,5 m2/người.

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển toàn diện và đạt kết quả vững chắc. 100% các trường mầm non và THCS đạt chuẩn Quốc gia. 6/7 trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức 2; Trường THPT Nguyễn Huệ là trường đạt chuẩn Quốc gia đầu tiên của tỉnh. Các nhà trường đều đáp ứng tốt nhu cầu học tập của con em địa phương. Bên cạnh đó, có 6 cơ sở giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, đó là: Trường cao đẳng nghề cơ điện xây dựng Tam Điệp, trường cao đẳng nghề Cơ Giới Ninh Bình, 2 trường Trung học dạy nghề của Quân đội và trung tâm dạy nghề thành phố với quy mô diện tích, chất lượng đào tạo tốt, đáp ứng được nhu cầu đào tạo nhân lực có chất lượng cho địa phương và đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH. 

Công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân được quan tâm, đáp ứng tốt nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân, lực lượng vũ trang thành phố và nhân dân một số huyện lân cận. Toàn thành phố có 2 bệnh viện, trung tâm y tế chuyên khoa tuyến tỉnh đóng trên địa bàn, với 9 trạm y tế xã, phường; 30 phòng khám đa khoa tư nhân, 98 cơ sở dược và cơ sở đào tạo với 445 giường bệnh, đạt tỷ lệ trên 5,4 giường bệnh/1.000 dân. Trong những năm qua, thành phố luôn làm tốt các chính sách an sinh xã hội, quan tâm đến các gia đình chính sách, người có công và các đối tượng bảo trợ xã hội; phát huy ng