Lý Thường Kiệt: Danh tướng phạt Tống bình Chiêm – Tác giả: Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai

Lý Thường Kiệt: Danh tướng phạt Tống bình Chiêm - Tác giả: Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

 

Tượng đài Lý Thường Kiệt

Tượng đài Lý Thường Kiệt.

 

 Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
(Nam quốc sơn hà – Lý Thường Kiệt)

Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) dòng dõi Ngô Quyền – vị vua nổi tiếng với võ công đại thắng Bạch Đằng chống quân Nam Hán. Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, thống lĩnh quân đội thời Lý. Ông không những lập nhiều võ công hiển hách phạt Tống bình Chiêm mà còn là tác giả của những áng văn bất hủ tiêu biểu như Nam quốc sơn hà được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt.

Lý Thường Kiệt vốn họ Ngô, tên là Ngô Tuấn, con trai đầu lòng của ông Ngô An Ngữ và bà họ Hàn, một võ quan của triều Lý. Ngô An Ngữ người làng An Xá, huyện Quảng Đức, thuộc ngoại thành Thăng Long. Đất của huyện Quảng Đức nay thuộc Hà Nội, làng An Xá nằm ở phía Nam của Hồ Tây. Về sau, do việc mở rộng đê Cơ Xá (tức đê sông Hồng), làng An Xá dời đến bãi Cơ Xá. Bãi này về sau có dân đến lập nghiệp đông nên lập ra một xã mới, đó là xã Phúc Xá. Gia đình Ngô Tuấn ở trong thôn Bắc Biên của xã này, nay thuộc phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội, tuy nhiên, đó chỉ là nơi sinh ra và là đất sống thuở hàn vi của Ngô Tuấn. Sau này, khi đã có danh vọng lớn trong triều, ông chuyển cả gia đình về phường Thái Hòa (nay thuộc nội thành Hà Nội).

Về vấn đề này, hiện nay, khu di tích đình thờ Lý Thường Kiệt cùng một số vị thành hoàng làng Phúc Xá, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã và đang được nhà nước và nhân dân thờ cúng rất có qui củ. Tương truyền rằng, khi gia đình Ngô Tuấn cùng dân làng An Xá (nay là Phúc Xá) hiến đất để vua mở rộng kinh thành, vua đã cho phép dân An Xá tự chọn đất để ăn ở, lập nghiệp. Các bô lão An Xá vâng mệnh vua, dùng quả bưởi chín thơm thả từ cầu Chèm trôi xuôi sông Hồng đánh dấu nơi bưởi tấp vào bờ lấy làm đất ở của làng. Sự tích ấy đã nói lên tấm lòng thảo thơm của người dân An Xá với vua, với nước.

Phường Ngọc Thụy luôn quan tâm sâu sát vấn đề tôn tạo, thờ cúng tại khu di tích đình làng Phúc Xá để tỏ rõ lòng hiếu kính với bậc có công với nước. Hàng năm, các dịp kỉ niệm, các ngày lễ lớn, ngày giỗ đức Thái úy đều được chính quyền và nhân dân tổ chức đầm ấm, trọng thể.

bài viết Lý Thường Kiệt -h3

Trong dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (1010 – 2010), thành phố Hà Nội đã đầu tư tôn tạo và xây dựng mới khu công viên Lý Thường Kiệt rất khang trang, là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng bổ ích. Trong làng Phúc Xá, dòng dõi họ Ngô nối đời phát triển, đóng góp công sức, máu xương với đất nước trong các cuộc chiến tranh và xây dựng cuộc sống hòa bình hôm nay. Âu cũng là phúc ấm tổ tông của họ Ngô, của Đức Thái úy linh thiêng phù trợ vậy.

*

*    *

Năm Thiên Thành đời Lý Thái Tông, ông Ngô An Ngữ được cử đi tuần ở phía nam Thanh Hóa, ít lâu sau lâm bệnh qua đời. Chồng của cô ruột là Tạ Đức đem Ngô Tuấn về nuôi dạy.

Ngô Tuấn bình sinh là người khôi ngô, tuấn tú, thông minh, nhanh nhẹn, có chí khí và thích nghề võ. Hàng ngày, Ngô Tuấn thường luyện cung kiếm, bày trận đồ, đêm đêm chong đèn đọc binh pháp, sử sách, các thầy dạy đều cho là giỏi khác thường, sau này ắt lập nên công trạng hiếm thấy.

Quả đúng như vậy, Lý Thường Kiệt sau này là người văn võ đều đặc biệt xuất sắc, được vua Lý Thánh Tông coi như em ruột. Năm 1069 ông được cử làm tướng tiên phong cùng Lý Thánh Tông đánh bại Chiêm Thành, bắt vua Chiêm là Chế Củ. Năm 1074, Lý Thường Kiệt có công đưa nguyên lão đại thần Lý Đạo Thành về làm Thái phó, ổn định triều chính. Năm 1075, Lý Thường Kiệt cùng Tông Đản đánh sang Châu Khâm, Châu Ung, Châu Liêm, phá kế hoạch chuẩn bị xâm lược Đại Việt của nhà Tống. Cùng năm, Lý Thường Kiệt tổ chức cho vẽ bản đồ các châu: Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý, xác định chủ quyền chính thống của Đại Việt, được phong làm Thái úy. Năm 1077, ông cùng tướng sĩ đánh bại quân Tống xâm lược do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy ở phòng tuyến sông Như Nguyệt. Năm 1103, Lý Thường Kiệt được vua cử đi dẹp loạn Lý Giác ở Diễn Châu (Nghệ An). Năm 1104, ông chỉ huy quân đội Đại Việt đánh bại vua Chiêm Thành là Chế Ma Na ở Quảng Bình. Lý Thường Kiệt là nhà quân sự đầu tiên của nước ta thực hiện thắng lợi tư tưởng chủ động tiến công “ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của chúng”, ông cũng là nhà cải cách quân đội triều Lý.

Theo các nguồn sử liệu, gia đình Lý Thường Kiệt nối đời làm quan, nhiều công tích, mưu lược, có tài làm tướng. Khi còn ít tuổi, do có vẻ mặt tươi đẹp, Lý Thường Kiệt được sung làm Hoàng môn chi hậu, là thái giám theo hầu Lý Thái Tông (năm 1041). Trong 12 năm làm Nội thị trong triều, danh tiếng của Lý Thường Kiệt ngày càng vang dội do tài năng và đức độ của ông. Năm 1053, Lý Thường Kiệt được thăng dần đến chức Nội thị sảnh đô tri khi mới 35 tuổi.

bài viết Lý Thường Kiệt -h4

Khi Lý Thánh Tông lên ngôi (1054), biết Lý Thường Kiệt là một bậc hiền tài lương đống vừa có tài nội trị vừa có kiến thức triều chính và quân sự phong phú đã phong cho ông chức Bổng hành quân hiệu uý. Ông hàng ngày ở cạnh vua, thường can gián điều hơn lẽ thiệt và luôn đưa ra những chủ kiến có lợi cho vương triều. Vì có công lao, ông được thăng làm Kiểm hiệu Thái bảo.

Năm 1061, người Mường ở biên giới quấy rối. Lý Thánh Tông sai Lý Thường Kiệt làm Kinh phòng sứ vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An, vua cho phép ông được toàn quyền hành sự rồi tâu lại vua sau. Lý Thường Kiệt bằng tài năng xuất chúng và sự nhìn xa trông rộng, thanh liêm, cương trực của mình phủ dụ, vỗ về dân chúng, rất được lòng người. Tất cả năm châu, sáu huyện, ba nguồn, hai mươi tư sách động từ chỗ không hiểu biết mà làm phản đã đều quy phục triều đình.

Tháng 2 năm 1069, tình hình quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành căng thẳng, thực hiện mục tiêu chiến lược của nhà Lý, ông theo vua Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt lĩnh ấn làm tiên phong đi đầu, với sự quả đoán và tài năng quân sự hiếm thấy, ông đã giành nhiều thắng lợi và bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Cuối cùng Chế Củ phải chịu hàng, cắt dâng ba châu để được tha về nước.

*

*    *

Từ những sự kiện trên, đặc biệt Lý Thường Kiệt luôn được vua Lý Thánh Tông tin dùng trong các cuộc hành binh đánh Chiêm Thành đã cho thấy vua rất tin tưởng khả năng cầm quân của Lý Thường Kiệt. Trong mười tám năm trị vì của Lý Thánh Tông, Lý Thường Kiệt luôn được trọng dụng trong việc đánh dẹp nơi biên trấn. Đặc biệt với vùng đất Thanh Hóa, Nghệ An, Lý Thường Kiệt thường xuyên được vua cử đi kinh lược, thay vua xử lý các vấn đề thiết yếu nơi xa xôi. Sử chép rằng, Lý Thường Kiệt rất được lòng dân mến phục. Điều này là không dễ dàng với bất kỳ trọng thần nào. Bởi một lẽ, trong chế độ phong kiến, việc trọng thần của triều đình được dân tin yêu, cảm phục chưa chắc đã là tốt với chính người đó. Triều chính vốn là nơi hung hiểm khó lường, phe cánh vây phục nhau xưa nay thường bắt đầu lợi dụng sơ hở từ những điều tưởng là ích quốc lợi dân vậy.

bài viết Lý Thường Kiệt -h5

Song thật kỳ diệu, Lý Thường Kiệt luôn vượt trên những đố kỵ tầm thường. Điều đó chỉ ra rằng, ngoài sự sáng suốt của vua đương triều, linh khí của non sông nguồn cội, hòa khí của triều thần buổi thịnh trị thì bản thân Lý Thường Kiệt chắc chắn phải là người thanh liêm cương trực, tài đức gồm đủ, khí phách hiên ngang, mẫu mực sáng suốt mới có thể đường đường chính chính giúp vua, giúp nước trong suốt thời gian 18 năm Lê Thánh Tông trị vì và sau này như thế.

Điều này càng khẳng định tư tưởng và chí hướng của Lý Thường Kiệt luôn thống nhất rất cao. Ông luôn đặt lợi ích của đất nước, của quốc gia dân tộc lên trên mọi thị phi tầm thường. Với ông, sự hưng thịnh của đất nước mới là điều đáng bàn và suốt đời ông phụng sự. Còn như danh vị, tiền tài, bổng lộc chỉ là mây bay ngang trời mà thôi. Từ điểm nhìn ấy, hậu thế sau này đã được chứng kiến suốt toàn bộ cuộc đời phạt Tống bình Chiêm ổn định giang sơn đất nước của ông đều một tấc dạ vàng trung trinh vì Tổ quốc. Ngay khi hành binh vào đất Tống phải phá thành chém tướng chặt cờ, thậm chí đã có lúc phải hạ mệnh lệnh giết vô vàn binh lính Tống thì cái đích lớn lao bất biến của ông vẫn là vì Đại Việt thái bình bền vững. Ôi cái dạ son sắt ấy, tài năng phi thường ấy, người thường chắc gì đã hiểu được.

Ngay như việc bắt chúa Chiêm rồi lại thả, cho chuộc bằng đất đai cống nạp cho Đại Việt có phải riêng là chí hướng của quan Thái úy đâu. Đó là chí hướng của muôn đời con dân Đại Việt hùng cường ta trong công cuộc mở cõi về phương Nam vậy.

Trong các danh tướng Việt Nam mọi thời đại, mỗi người mỗi vẻ đẹp; nào người thì võ công hiển hách lưu danh vào sử sách; nào người thì trung quân ái quốc đền nợ nước báo ơn vua; nào người nếm mật nằm gai đòi lại nền độc lập; nào người đánh trận lớn bắt tướng tài phương Bắc, phương Nam thì thảy đều ở đó một vẻ đẹp thuần Việt, một vẻ đẹp của đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo, vẻ đẹp cao thượng của một dân tộc anh hùng.

Lý Thường Kiệt cũng như vậy. Thời gian nát đá tan vàng nhưng thời gian cũng là phù sa đắp bồi xanh miên man mạch đất. Trời xuân lấm tấm, cây cỏ giao hòa. Trong làn mưa bụi mờ bay nơi cửa đền quan Thái úy ở quê gốc Bắc Biên – Ngọc Thụy – Long Biên ta chợt thấy lòng dịu lại. Thanh thản và bình an đến lạ lùng. Cha ông tổ tiên ta là vậy, chỉ luôn ao ước thanh bình, dân an nước vững, nào ai đâu muốn gây chi nạn binh lửa chiến tranh.

Trước đền đức quan Thái úy, chợt một đôi chim sâu lích rích chuyền trên cành bưởi lấm tấm lộc xuân. Phía xa kia, dòng sông Hồng thiêm thiếp chảy chia nước cho dòng Đuống xuôi về biển. Trong mờ mờ mặt sông khói sóng, ta chợt thấy đức quan Thái úy thong thả dắt mấy trẻ mục đồng thơ thới trên triền đê mướt mát cỏ xuân.

bài viết Lý Thường Kiệt -h6

*

*    *

Năm 1072, Lý Thánh Tông qua đời. Thái tử Càn Đức mới bảy tuổi lên ngôi, tức vua Lý Nhân Tông. Trong triều Lý lúc này nảy sinh bè cánh, một mối nguy của chế độ chính trị khi ấy. Lúc này, quyền hành điều tiết triều chính nằm trong tay Thái sư Lý Đạo Thành và Thái hậu Thượng Dương. Mẹ đẻ của đức vua Lý Nhân Tông là Nguyên phi Ỷ Lan không được dự vào việc triều chính. Trong tình hình ấy, với một người sắc sảo như Nguyên phi Ỷ Lan đã không thể ngồi im, bà nhận thấy rằng chỉ có thể dựa vào Lý Thường Kiệt để từng bước nắm lấy quyền nhiếp chính.

Lý Thường Kiệt khi đó làm Thái uý, chức vụ ở dưới Lý Đạo Thành. Xét tương quan lực lượng cũng như tính toán kỹ lưỡng, Lý Thường Kiệt đã chọn phương án ngả theo vua Lý Nhân Tông và Nguyên phi Ỷ Lan. Chính sử không chép rõ về diễn biến việc tranh chấp quyền lực giữa hai bên, nhưng tới tháng 6 năm 1072, tức là bốn tháng sau khi Lý Nhân Tông lên ngôi, phe Ỷ Lan và Lý Thường Kiệt thắng thế, trong đó, ngoài tác động của Ỷ Lan ở bên trong với vua Lý Nhân Tông, chắc chắn có sự đóng góp rất quan trọng của võ tướng Lý Thường Kiệt.

Thời điểm này, do vua Lý Nhân Tông còn nhỏ tuổi nên mọi quyền hành từ triều chính đến sử dụng quân đội đều do Hoàng Thái hậu Ỷ Lan và Thái uý Lý Thường Kiệt nắm giữ. Ắt hẳn khi đó, các bậc lão thần mà đứng đầu là Lý Đạo Thành không khỏi bất bình. Lý Đạo Thành giữ chức Thái sư đứng đầu triều suốt đời vua Lý Thánh Tông nổi tiếng có tài kinh bang tế thế, luôn được vua đặc biệt tin dùng, mỗi khi Lý Thánh Tông đem quân đi đánh dẹp nơi biên cương thường giao cho Lý Đạo Thành thay vua trông coi chính sự. Sử sách từng biên chép: “Lý Đạo Thành là người thẳng thắn, mỗi khi dâng tấu sớ thì thể nào cũng nói đến sự lợi hay hại ở dân gian. Đối với người tài đức, ông đều tiến cử trọng dụng. Đời bấy giờ rất kính trọng ông”.

Sau khi Hoàng Thái hậu Ỷ Lan nhiếp chính đã tìm cách loại bỏ Lý Đạo Thành bằng cách giáng chức ông làm Tả Gián nghị Đại phu và điều ông đi làm tri châu Nghệ An. Điều này là một rạn nứt nghiêm trọng trong hệ thống quyền lực tối cao của triều Lý. Đó cũng là mối hiểm nguy đến từ nước Tống bởi Tống triều luôn rình rập đợi triều chính Đại Việt rối ren. Khi nhận ra sự nguy hiểm sống còn đó, trước những nguy cơ ngoại xâm đến từ Đại Tống và phản loạn đến từ Chiêm Thành, năm 1074, đã cho Lý Thường Kiệt vào tận Nghệ An phong chức Thái phó Bình chương quốc quân trọng sự cho Lý Đạo Thành. Chức vị này tương đương với tể tướng chuyên trách nội trị. Đây cũng là điểm sáng suốt rất đáng ghi nhận của Hoàng Thái hậu Ỷ Lan. Ở việc này, chắc chắn phải có sự thống nhất cao giữa Hoàng Thái hậu Ỷ Lan và Thái uý Lý Thường Kiệt. Riêng việc Lý Thường Kiệt được cử vào tận Nghệ An để phong chức cho bậc lão thần Lý Đạo Thành đã nói lên rất nhiều điều. Đây thể hiện một nước cờ rất thâm hậu của các chính trị gia hàng đầu trị vì đất nước khi phía Nam, phía Bắc đều ngấp nghé nạn ngoại xâm.

bài viết Lý Thường Kiệt -h7

Bàn về vấn đề này các sử gia còn nhiều điều chưa thống nhất nhưng chính bằng vào các võ công lừng lẫy mà Lý Thường Kiệt được xem là đã hành xử vô cùng đúng đắn để đưa Đại Việt ổn định, gây dựng thế và lực trong các cuộc chiến tranh phạt Tống, bình Chiêm.

Từ những sự kiện trên, thấy rõ một điểm rằng, thể chế chính trị triều Lý là khá dân chủ. Đây cũng là thời kỳ phát triển rực rỡ của Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo – Thời kỳ tam giáo đồng nguyên. Chính điều này đã khiến quyền lực của vua và các tôn giáo luôn cân bằng, có tác động qua lại tích cực để phát triển. Ngay các trọng thần triều Lý, phần lớn đều là người có học, là những bậc hiền tài lương đống vì nước vì dân chứ tuyệt nhiên không vị kỷ riêng tư. Chính từ nền tảng ấy, mới có cách hành xử nhún nhường giữ mình rất cao minh của Thái sư Lý Đạo Thành; sự thành tâm hạ mình vì quốc gia như Hoàng Thái hậu Ỷ Lan; sự tinh tế hòa hợp giải bài toán quyền lực với cử chỉ vào Nghệ An mời lão thần Lý Đạo Thành về kinh đô nhậm chức trông coi việc nước của Lý Thường Kiệt. Từ những điểm nhìn đó, ta càng thấy Lý Thường Kiệt là một chính trị gia xuất sắc, luôn một lòng vì nước vì dân. Cũng từ điểm nhìn đó, ta càng thấy thêm vẻ đẹp của Thái sư Lý Đạo Thành đã đạt tới cảnh giới của bậc hiền thần lương đống, coi nhẹ chức vị mà đặc biệt trọng sự ủy thác mất còn của mệnh vua, mệnh nước. Than ôi! Đại Việt ta thời nào cũng có những văn thần võ tướng đức cao vọng trọng khiến đất trời cảm động vậy.

*

*    *

Năm 1075, Vương An Thạch – một đại thần đang nắm quyền nhà Tống tâu với vua Tống là Đại Việt nhiều năm bị Chiêm Thành đánh phá, quân đội còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống vốn từ lâu có dã tâm xâm lược Đại Việt đã sai Thẩm Khởi và Lưu Di ở Quế Châu, cùng quan quân nơi giáp với biên giới Đại Việt ngầm dấy binh người Man Động, đóng thuyền bè, tập thủy chiến, cấm các châu huyện không được mua bán các mặt hàng nông cụ, thổ sản, thóc gạo… với Đại Việt nữa.

Một nguyên nhân chủ yếu của việc nhà Tống thời điểm này luôn luôn lăm le tiến đánh Đại Việt ít được sử gia nhắc đến là cuộc chiến tranh Liêu – Tống đã diễn ra dai dẳng từ trước đó. Quân Tống luôn bị bao vây, tiêu diệt ở biên giới phía bắc với nhà Liêu. Quân Liêu thiện chiến hơn đã khiến nhà Tống mất ăn mất ngủ nhiều năm liền. Tháng 2 năm 1075, nước Liêu đe dọa nghiêm trọng, dùng đại binh uy hiếp biên giới phía bắc nước Tống. Trước tình hình đó, Vương An Thạch – Tể tướng nắm đại quyền nhà Tống đã chủ trương hiến kế cho vua Tống cắt 700 dặm đất ở Hà Đông biếu nước Liêu để đổi lấy hòa bình nhằm có thể tập trung binh lực đánh chiếm Đại Việt với dã tâm lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Dã tâm này của Vương An Thạch không phải là không có cơ sở vì họ Vương cho rằng, khi chiếm xong Đại Việt, Chiêm Thành, cương thổ phía nam mở rộng sẽ rảnh tay quyết chiến với Liêu – Hạ phía bắc. Hơn nữa, thời điểm này, các trọng thần nhà Tống đang ráo riết công kích Vương An Thạch khiến vị Tể tướng túc kế đa mưu này phải đẩy mâu thuẫn ra bên ngoài. Bởi vậy, trên thực tế, nhà Tống tuy thừa dã tâm xâm lược Đại Việt nhưng lại thiếu sự sâu sắc kỹ lưỡng cần thiết, tiền đề của sự gãy đổ, đại bại sau này.

Từ điểm nhìn trên, còn cho thấy trên thực tế, ngay bản thân nhà Tống cũng luôn phải thọ địch tứ bề, gây chiến tranh phải rước họa chiến tranh là điều cấm kỵ nhưng đã ở thế cưỡi cọp không thể xuống. Điều này đã thể hiện rõ, báo hiệu trước sự diệt vong của nhà Tống khi đế chế Mông – Nguyên hình thành và bá chủ Trung Nguyên, quan quân nhà Tống chỉ biết cõng vua nhảy xuống biển Nhai Sơn tự tận. Lại cũng từ điểm nhìn ấy, càng tỏ rõ chí khí quật cường của Đại Việt khi sau này liên tiếp ba lần đại thắng Mông – Nguyên.

Từ những năm trước đó, tình hình biên cương phía Bắc diễn biến rất xấu, quan quân nhà Tống giở mọi thủ đoạn để dụ dỗ, chiêu hàng, bắt giết các tù trưởng và người dân nơi biên giới. Tiêu biểu là năm 1073, tù trưởng châu Ân Tình (thuộc Bắc Kạn ngày nay) là Nùng Thiện Mỹ nghe lời dụ dỗ của Thẩm Khởi nước Tống đã đem sáu nghìn người theo nhà Tống. Không ít tù trưởng nơi biên cương lung lay ngả theo nhà Tống khiến triều đình nhà Lý hết sức lo lắng.

Đứng trước thực tế đó, là người đứng đầu quân đội, hẳn nhiên Thái úy Lý Thường Kiệt không thể không hành động. Từng dày dạn chinh chiến thảo phạt vỗ về nơi biên cương nhiều năm từ thời Lý Thánh Tông, Thái úy Lý Thường Kiệt hiểu rằng chỉ bằng tấm lòng chân thành, nghĩa khí trung trinh với dân với nước mới là nền tảng vững chắc để các tù trưởng nơi biên viễn nhìn vào và san sẻ, gánh vác việc đánh giặc giữ nước với triều đình. Nước là nước chung, là dân tộc Đại Việt có từ nghìn năm chứ đâu phải của riêng họ này họ khác, của riêng triều này triều kia mà thôi đâu.

Từ điểm nhìn ấy, Lý Thường Kiệt cho tăng cường quan hệ mật thiết với các tù trưởng nơi biên giới, cấp phát cho binh khí, thóc gạo, gia tăng quyền hạn, lắng nghe và thực hiện những nguyện vọng đúng đắn của nhân dân nơi biên giới vốn luôn chịu nhiều nạn binh đao.

bài viết Lý Thường Kiệt -h8

Từ tấm lòng chân thành ấy, từ phương lược hành xử đúng đắn ấy, các tù trưởng, thủ lĩnh nơi biên giới phía Bắc đã càng thêm tin tưởng hơn với triều đình, đặc biệt là tin tưởng vào Thái úy Lý Thường Kiệt. Sau này, khi chiến tranh xảy ra, họ chính là một trong những lực lượng quan trọng nhất góp phần làm nên chiến thắng.

Các vị tù trưởng, thủ lĩnh tiêu biểu như Tông Đản, Lưu Kỷ, Thân Cảnh Phúc, Vi Thủ An đã sát cánh cùng quân triều đình chiến đấu vô cùng dũng cảm, khi thì tiến sang đất Tống hợp vây Ung Châu chém tướng chặt cờ khiến Tống triều kinh sợ; khi thì tập kích sau lưng quân Tống đốt lương thảo phá cầu đường khiến Quách Quỳ, Triệu Tiết phải bại binh. Khi tiến, khi lùi đều một lòng một dạ vì sự tồn vong của Đại Việt, được sử sách ghi nhận, đến nay còn lưu danh thơm, được hậu thế đặt tên phố tên đường.

Đại Việt ta, trong những bước ngoặt lịch sử, trước họa ngoại xâm bao giờ hiền tài cũng đều xuất hiện làm rạng danh cho nước vậy.

*

*    *

Nhận rõ dã tâm xâm lược của nhà Tống, một mặt, triều đình Đại Việt luôn sử dụng những phương cách ngoại giao mềm mại, một mặt củng cố thực lực, tăng cường sức mạnh quân đội. Thái uý Lý Thường Kiệt hơn ai hết hiểu rõ chỉ có thể đánh tan dã tâm xâm lược của Tống bằng thực lực quân sự. Ông đêm ngày tổ chức rèn quân, trữ lương, nâng cao sĩ khí binh tướng để chuẩn bị cho một cuộc đánh phủ đầu sang nước Tống.

Trong một buổi thiết triều, trước hoạ xâm lăng không tránh khỏi, Thái uý Lý Thường Kiệt đã tâu lên triều đình: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Lời tâu của ông đã nhận được sự đồng thuận của vua và các triều thần.

Triều đình nhà Lý chuẩn y lời tâu của Thái úy Lý Thường Kiệt cử binh ra ngoài biên giới phạt Tống là một nước cờ táo bạo, thể hiện sự cao cường từ trước tới nay chưa từng có với các nước lớn phương Bắc. Từ trước đó, Đại Việt luôn bị phương Bắc nhòm ngó xua binh tướng xuống cướp phá, đánh giết để cai trị hòng biến vùng đất phương Nam thành châu quận của mình. Nay, lần đầu tiên, binh tướng Đại Việt vâng mệnh vua Lý hành binh bất ngờ tập kích thẳng vào sào huyệt của chúng là việc chưa từng có vậy.

Tại sao vua Lý nhiếp chính, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan và các trọng thần nhất trí cử đại binh phạt Tống dường như vẫn còn là một ẩn số lịch sử. Câu trả lời chỉ có thể thỏa đáng khi binh tướng Đại Việt thắng trận trở về. Đây là vấn đề rất lớn, vô cùng khó khăn và khó đoán định. Thời phong kiến, nắm giữ quân đội trong tay thường phải là những trọng thần được đặc biệt tin cậy. Khi ấy, vua Lý Nhân Tông còn nhỏ (mới 10 tuổi) phải nhiếp chính Hoàng Thái hậu Ỷ Lan vừa trải qua cuộc biến động lớn, Lý Đạo Thành vừa mới trở lại triều đình (1074) hẳn nhiên sẽ là một quyết định đặc biệt khó khăn và nhạy cảm. Trong suy nghĩ sâu xa, hẳn không thể không có sự nghi ngại khi Lý Thường Kiệt nắm giữ binh quyền và đề xuất dùng đại binh phạt Tống. Cơ nghiệp nhà Lý sẽ ra sao nếu Lý Thường Kiệt thất bại. Hoặc như công cao chất ngất đại thắng trở về lấy gì để phân phong. Hàng loạt bài toán được đặt ra trong cuộc phạt Tống này. Ngay như Tống triều đâu dễ ngồi im, họ sẽ tung tin ly gián vua tôi Đại Việt, điều thường thấy từ trước đó.

Trả lời hàng loạt câu hỏi khó khăn này chỉ có thể là Lý Thường Kiệt cùng các tướng lĩnh, binh sĩ theo ông vào sinh ra tử. Chính họ chứ không phải ai khác đã trả lời xuất sắc câu hỏi trên bằng các chiến thắng lịch sử. Khi hành binh vào đất Tống, Lý Thường Kiệt hiểu rất rõ đây không phải là cuộc thảo phạt thông thường mà lẽ hưng vong, mất còn của Đại Việt hoàn toàn phụ thuộc vào sự thành bại của cuộc hành binh này. Không riêng gì Lý Thường Kiệt, các binh tướng theo ông đều thấu rõ ngọn nguồn đó. Các vị tù trưởng được giao trọng trách đánh toàn tuyến biên giới trên bộ hợp vây Ung Châu cũng hiểu rất rõ lẽ sống còn đó. Và thật xuất sắc, cũng là linh khí non sông nghìn năm hun đúc, công cuộc phạt Tống đã diễn ra đúng như dự định của vua tôi Đại Việt.

Năm 1075, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem hơn 10 vạn binh sang đất nhà Tống để đón đánh trước. Quân bộ gồm khoảng 60.000 người do các tướng Tông Đản, Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An chỉ huy, tổng chỉ huy là Tông Đản. Bộ binh tập trung ngay ở các châu Quảng Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô Mậu rồi tràn sang đánh các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn, châu Tây Bình, Lộc Châu (nhà Tống). Một cánh quân khác đóng gần biên giới Khâm Châu cũng kéo tới đánh các trại Như Hồng, Như Tích và Đề Trạo, “quân triều Lý tới đâu như đi vào nhà trống không người”.

Lý Thường Kiệt chỉ huy khoảng 40.000 quân thủy cùng voi chiến đi đường biển từ châu Vĩnh An (Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh châu Khâm, châu Liêm; Tông Đản cùng các tướng lĩnh người Việt vây đánh châu Ung. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, quân Đại Việt tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân mà không phải giao chiến một trận nào. Ba ngày sau, ngày 2 tháng 1 năm 1076, trước sức công phá như vũ bão của quân ta, thành Liêm Châu cũng thất thủ.

Khi được tin hai châu Khâm, Liêm đã mất, nhà Tống rất hoang mang, lo ngại, các tướng ở địa phương hết sức bối rối, hoảng sợ. Ty kinh lược Quảng Nam tây lộ vội vã xin viện binh: 20.000 quân, 3.000 ngựa chiến, xin thêm khí giới, đồ dùng và một tháng lương, và xin được điều động các dân khê động, tất cả lấy dọc đường từ Quảng Đông đến Quảng Tây. Để điều khiển quân được mau chóng, ty ấy cũng xin dời đến thành Tượng, gần phía bắc Ung Châu.

Trong lúc bối rối, triều đình Tống đối phó rất lúng túng. Vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế Châu đồng thời làm kinh lược sứ Quảng Tây.

Trên các mặt trận, quân nhà Lý hoàn toàn làm chủ. Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở châu Khâm và châu Liêm tiến lên phía Bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài chừng 120 cây số, nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn Đại Sơn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía đông bắc, chiếm lấy Bạch Châu, với chủ ý để chặn quân tiếp viện của Tống từ phía đông tới. Hẹn ngày 18 tháng 1 năm 1076, hai đạo quân sẽ cùng hội sư vây chặt Ung Châu.

Ung Châu là một thành lũy kiên cố, do tướng Tô Giám, một tướng giỏi của nhà Tống cùng với hàng chục nghìn quân cương quyết cố thủ.

bài viết Lý Thường Kiệt -h9

Đô giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết biết tin nguy cấp bèn đem quân đến cứu Ung Châu. Lý Thường Kiệt cho quân đón đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay thuộc thành phố Nam Ninh, khu tự trị Quảng Tây) phá tan được, chém Trương Thủ Tiết tại trận khiến Tống triều kinh động.

Thành Ung Châu, Tô Giám cố thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày. Sau cùng quân Việt dùng hỏa công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong thành thiếu nước, không thể chữa được cháy. Cuối cùng quân Đại Việt bắt dân Tống chồng bao đất cao đến hàng trượng để họ trèo lên thành. Ngày thứ 42, thành bị hạ, tướng chỉ huy Tô Giám tự thiêu để khỏi rơi vào tay quân nhà Lý.

Lý Thường Kiệt chiếm xong thành Ung Châu, lại lấy đá lấp sông ngăn cứu viện rồi đem quân lên phía Bắc lấy Tân Châu. Viên quan coi Tân Châu, nghe thấy quân Đại Việt kéo gần đến thành, liền bỏ thành chạy trốn. Mục tiêu hoàn thành, Lý Thường Kiệt cho rút quân về nước.

*

*    *

Cuộc hành binh thảo phạt các căn cứ quân sự, hậu cần, thành trì, nơi chuẩn bị chiến tranh xâm lược của nhà Tống và giành toàn thắng ngay trên đất giặc là một chiến công hiển hách của Thái uý Lý Thường Kiệt. Khi ấy, quân đội nhà Tống có tới trên trăm vạn quân thường trực nhưng đang phải căng sức nơi biên giới phía Bắc để phòng thủ với hai nước Liêu, Hạ nên vô cùng lúng túng đã để thua trận một cách nhục nhã. Một mặt, nhà Tống quá lúng túng trước chiến lược táo bạo, sự tinh nhuệ, thiện chiến của binh tướng Đại Việt được chỉ huy bởi vị thống soái đặc biệt xuất sắc – Thái úy Lý Thường Kiệt.

Khi tiến hành đưa đại quân đánh phá các thành trì trên đất Tống, Lý Thường Kiệt đã cho tuyên đọc “Phạt Tống lộ bố văn”: Bài văn Lý Thường Kiệt công bố cho dân Tống trên đường Bắc phạt vào năm 1075. Điều này thể hiện trí tuệ siêu việt của một vị tướng mưu lược nhưng cũng hết sức mềm dẻo, luôn tiếc xót máu xương của dân thường vô tội trong buổi binh đao.

Xin được trích nguyên văn: “Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép “thanh miêu”, “trợ dịch”, khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thỏa cái mưu nuôi mình béo mập.

Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!

Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!

Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi!”.

Hịch văn truyền đến đâu đều xôn xao đến đấy. Dân Tống nhiều nơi vui mừng đem thóc gạo, trâu rượu dâng tặng quân của Lý Thường Kiệt. Với sự cao cường trong sử dụng nghệ thuật quân sự nơi ngoài biên giới, Thái úy Lý Thường Kiệt – vị thống soái đại quân phạt Tống đã viết thêm những trang vàng về nghệ thuật quân sự Việt Nam. Ngay các tướng lĩnh được trông coi thành trì của nhà Tống cũng phải ngả mũ thán phục vị danh tướng Đại Việt và đại bại dưới tay ông một cách tâm phục khẩu phục.

Cũng không phải ngẫu nhiên binh tướng và dân chúng nhà Tống dễ dàng bị phân hóa và đè bẹp từ ý chí đến hành động như thế. Trước sự việc đó, Tể tướng Vương An Thạch nhà Tống đã ngông cuồng thảo chiếu lộ rõ việc chuẩn bị tiến đánh Đại Việt. Đó là “Thảo phạt Giao Chỉ chiếu” với những lời lẽ hống hách của nước lớn, không chỉ lừa mị dân chúng Đại Việt mà còn lừa cả dân chúng và binh lính nước Tống.

Nguyên văn bài chiếu: “Xét lại nước An Nam đời đời hưởng vương tước, các triều trước đối đãi khoan hậu, khi nào cũng bao dung tha thứ, mãi đến ngày nay. Nay lại xâm phạm thành ấp, sát hại quân dân, đã phạm pháp kỷ thì không thể tha thứ được. Vâng mệnh trời mà chinh phạt, tức là có danh nghĩa.

Vậy sai Triệu Tiết sung làm chức An Nam đạo hành dinh, Mã bộ quân Đô tổng quản Kinh lược Chiêu thảo sứ; Lý Hiến sung làm chức Phó sứ; Yên Đạt sung làm chức Mã bộ Phó sứ đô tổng quản, thuận theo thời lệnh mà dấy binh đường thủy và đường bộ tiến quân. Ý trời tỏ ra giúp thuận, hiện ra những điềm chỉ vẽ rõ ràng. Người nào biết hối hận, đều giữ khí khái đối địch quân thù, những nơi nào quân vua tới sẽ không tổn hại đến thường dân và tàn sát kẻ bại trận.

Hỡi nhân dân đã lâu ngày sống trong cảnh lầm than, nếu biết khuyên dụ chủ mình nội phụ, xuất chúng qui phục, bắt giặc hiến cống, đem mình hiếu thuận, thì sẽ được thưởng tứ tước lộc, vinh hiển bội phần, những tội lỗi trước đây đều được ân xá.

Càn Đức đương còn ấu trĩ, chính lệnh không do y mà ra, khi nào lai triều cũng sẽ được tiếp đãi trọng hậu như trước. Lời ta không sai, chớ có nghe lầm. Gần đây, ta nghe nhân dân bị bóc lột cực khổ, ta đã căn dặn sứ thần truyền đạt ân chiếu của ta, sự tàn bạo và thuế nặng đều được tẩy trừ. Mong rằng một nước chư hầu của ta luôn được yên vui.”

*

*    *

Là vị tướng lĩnh kiệt xuất dày dạn chinh chiến, Thái úy Lý Thường Kiệt luôn hiểu sâu sắc rằng, đánh thắng quân Tống trên đất Tống tức là chấp nhận một cuộc chiến tranh với nhà Tống và chỉ có thể đánh bại chúng trên đất Đại Việt mới có thể chấm dứt mộng bá quyền của giặc phương Bắc ngàn đời. Ngay sau khi mệnh lệnh cho toàn quân rút hết về nước, quân đội thiện chiến của Đại Việt đã ngay lập tức bắt tay vào chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu chống ngoại xâm đến từ phương Bắc.

Từ chiến thắng vang dội trên đất Tống, đã nâng cao sĩ khí của quân đội nhà Lý, các tù trưởng ở biên giới phía Bắc chứng kiến sức mạnh của đội quân thiện chiến nhà Lý đã một lòng một dạ theo sự chỉ huy của Thái úy Lý Thường Kiệt. Các tù trưởng và quân lính của họ vốn là những chiến binh can đảm, tinh thông võ nghệ, thành thạo địa hình hiểm trở chắc chắn sẽ là những dũng binh sống chết với giặc nơi biên ải. Đúng như dự đoán, khi giặc Tống tràn sang, không ít những tù trưởng đã chiến đấu ngoan cường, tiêu diệt nhiều quân Tống khiến cục diện chiến tranh dần dần bất lợi dẫn đến thất bại của nhà Tống.

*

*    *

Tháng 3 năm 1076, nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, cùng với chín tướng, lại hẹn với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt. Tuy nhiên, quân Chiêm Thành và Chân Lạp đã nhiều lần bại trận không dám tiến vào Đại Việt theo sự xúi bẩy của nhà Tống. Quân Tống viễn chinh lên đến trên mười vạn quân, một vạn ngựa và hai mươi vạn dân phu, khí thế rất mạnh mẽ, nhất là kỵ binh Tống. Một điều đặt ra là quân Tống muốn phát huy kỵ binh thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm trở, tới chỗ bằng, thì ngựa mới tung hoành được. Đây cũng là điểm yếu chí mạng của quân xâm lược phương Bắc mọi thời đại.

Tuyến phòng thủ của quân Đại Việt, Lý Thường Kiệt dựa vào sông núi, các đèo hiểm trở, các sông rộng nước sâu. Từ trại Vĩnh Bình vào châu Lạng Châu, phải qua nhiều dãy núi rậm, có đèo Quyết Lý, ở trên đường từ Lạng Sơn đến Đông Mô, vào khoảng làng Nhân Lý, ở phía bắc châu Ôn. Rồi lại phải qua dãy núi Lèn, đá đứng như tường, ở giữa có đường đi rất hiểm: đó là ải Giáp Khẩu, tức là ải Chi Lăng, ở phía bắc huyện Hữu Lũng (thuộc Lạng Sơn ngày nay). Về đường thủy, để chặn địch qua sông, quân Đại Việt đã cho đóng binh thuyền ở bến Lục Đầu thì đi đường nào chặn giặc cũng rất tiện lợi, nhanh chóng.

Các tướng lĩnh thuộc Man Động như: Nùng Quang Lãm, Nùng Thịnh Đức coi ải Hà Nội; Hoàng Kim Mãn, Sầm Khánh Tân giữ châu Môn; Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu; Lưu Kỷ được cắt cử trấn nhậm vùng đất Quảng Nguyên. Phò mã Thân Cảnh Phúc giữ châu Quang Lang (Lạng Sơn) đã sớm tổ chức cho quân rút vào rừng đánh du kích vòng sau lưng, giết rất nhiều quân Tống. Quân Tống tràn xuống, theo đường tắt qua dãy núi Đâu Đỉnh, tới phía tây bờ sông Phú Lương đã bị nhiều lần tập kích. Trong khi đó, một cánh quân tách ra, vòng sang phía đông đánh bọc hậu quân nhà Lý ở Giáp Khẩu (Chi Lăng) tiến thẳng tới sông Cầu.

bài viết Lý Thường Kiệt -h10

Vua Lý Nhân Tông trước sức mạnh và sự tàn bạo của quân Tống đã lập tức giao cho Lý Thường Kiệt thống lĩnh toàn quân, tức tốc lên đường lập chiến lũy sông Như Nguyệt chặn quân Tống. Rất am tường hình sông thế núi cộng với tài năng quân sự bẩm sinh, Lý Thường Kiệt đã chọn điểm quyết chiến chiến lược là phòng tuyến sông Như Nguyệt.

Theo đặc điểm địa lý khi ấy, sông Cầu từ địa phận Cao Bằng chảy đến Lục Đầu thì hợp với sông Bạch Đằng. Từ Lục Đầu ra đến biển như một cái hào tự nhiên sâu và rộng, che chở cho đồng bằng Đại Việt để chống lại tất cả các cuộc ngoại xâm đường bộ từ Lưỡng Quảng kéo vào. Đối với đường sá từ châu Ung tới Thăng Long thì sông Bạch Đằng không can hệ, vì đã có sông Lục Đầu như một hào nước lớn ngăn trước rồi. Trái lại, sông Cầu rất quan trọng. Thượng lưu sông Cầu chảy qua vùng rừng núi rất hiểm. Chỉ có khoảng từ Thái Nguyên trở xuống là có thể qua dễ dàng, qua rồi thì có đường xuôi. Nhưng sau sông, ở về phía tây có dãy núi Tam Đảo, như bức tường thành khổng lồ không thể vượt. Chỉ có khoảng từ huyện Đa Phúc đến Lục Đầu là phải phòng ngự bờ nam mà thôi. Trong khoảng ấy, lại chỉ khúc giữa, từ đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền là có bến, có đường qua sông để tiến xuống phía nam một cách dễ dàng.

Lý Thường Kiệt sau khi hạ quyết tâm quyết chiến thắng giặc ngoại xâm đã đem chủ lực chặn con đường từ trại Vĩnh Bình đến sông Cầu, bằng cách đặt những doanh đồn và phục binh ở hai ải tiếp nhau: ải Quyết Lý ở phía bắc châu Quang Lang và ải Giáp Khẩu (Chi Lăng) ở phía nam. Nếu hai phòng tuyến ấy bị vỡ thì phải cố thủ ở phòng tuyến thứ ba, tức là nam ngạn sông Cầu. Để cản quân Tống qua sông, Lý Thường Kiệt sai đắp đê nam ngạn cao như bức tường thành. Trên đê, đóng tre làm giậu, dày đến mấy tầng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế sông Cầu và bờ nam ngạn ra một dãy thành hào khổng lồ, che chở cả vùng đồng bằng rộng lớn phía sau. Thành hào ấy dài gần trăm cây số, khó vượt qua nhưng lại dễ phòng thủ hơn một thành lẻ như thành Thăng Long.

Đoạn sông Như Nguyệt mà Lý Thường Kiệt chọn xây dựng phòng tuyến có vị trí mang tính chiến lược. Có núi ở cả hai bên bờ, con sông chặn mọi đường trên bộ có thể dùng để tiến quân vào Thăng Long. Trên khúc này có 11 bến đò ngang: Như Nguyệt, Tiểu Lâm, Dũng Liệt, Phù Yên, Đẩu Hàn, Phù Cầm, Lượng Sài, Đáp Cầu, Yên Ngô, Bằng Lâm, Phả Lại. Hai bến có tuổi đời lâu và quan trọng nhất là Như Nguyệt và Thị Cầu (Đáp Cầu ngày nay) nằm trên đường giao thông quan trọng tiến vào Thăng Long và là con đường thuận lợi nhất để quân Tống vượt qua sông tiến về Thăng Long. Vì địa thế quan trọng này, Lý Thường Kiệt quyết định lập một phòng tuyến tại đây nhằm đánh một trận quyết chiến chiến lược.

Chiến lũy của phòng tuyến được xây dựng bằng đất có đóng cọc tre dày nhiều tầng làm giậu. Dưới bãi sông được bố trí các hố chông ngầm tạo thành phòng tuyến liên hoàn rất vững chắc. Quân nhà Lý đóng thành từng trại trên suốt chiến tuyến, tập trung đông nhất ở ba trại ở Như Nguyệt, Thị Cầu và Phấn Động. Mỗi trại binh có thể điều thêm thủy binh phối hợp. Quân chủ lực do Lý Thường Kiệt chỉ huy đóng ở phủ Thiên Đức, một vị trí có thể cơ động chi viện nhiều hướng và khống chế mọi ngả đường tiến về Thăng Long. Quân Tống cũng đóng dọc theo hai bờ sông, tập trung ở các vị trí quan trọng. Phó tướng Triệu Tiết đóng tại khu vực mà ngày nay là thôn Mai Thượng, xã Mai Đình, Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, khoảng đối diện bến Như Nguyệt. Quân chủ lực do Quách Quỳ chỉ huy đóng tại phía đông cách trại của Triệu Tiết chừng 30 km khoảng đối diện với Thị Cầu. Một bộ phận khác đóng tại các vị trí hiểm yếu, các ngọn núi quan trọng như  núi Phượng Hoàng, núi Tiên, phòng trường hợp bị quân nhà Lý tiến công hoặc có thể tổ chức vượt sông nếu điều kiện cho phép.

bài viết Lý Thường Kiệt -h11

Quân Tống dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ thẳng tiến tới bờ bắc sông Như Nguyệt không bị thiệt hại nhiều. Quách Quỳ thấy vậy muốn thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh mà vua Tống đã đề ra. Nhưng vì thủy binh chưa đến, Quách Quỳ quyết định cho toàn quân đóng trại tại bờ bắc sông Như Nguyệt đối diện với phòng tuyến của quân nhà Lý chờ thủy binh đến hỗ trợ cho việc vượt sông. Quách Quỳ không hề biết rằng, cánh thủy quân do Dương Tùng Tiên chỉ huy đã bị thủy quân Đại Việt do Lý Kế Nguyên chỉ huy chặn đánh quyết liệt, liên tục bị tập kích hơn 10 trận đã tổn thất nặng nề. Đặc biệt, bị phục kích thảm bại tại sông Đông Kênh, thủy quân Tống thua tan tác buộc phải rút lui đóng án binh bất động ở cửa sông.

Sau một khoảng thời gian chờ đợi không thấy thủy quân đến hội sư, khoảng đầu tháng 2 năm 1077, Quách Quỳ dự định tổ chức vượt sông mà không có sự hỗ trợ của thủy quân. Tuy nhiên, vì trước trại của Quách Quỳ tại Thị Cầu có một trại quân mạnh của nhà Lý án ngữ khiến họ Quách không dám cho quân vượt sông ở Thị Cầu. Cùng lúc, tướng Miêu Lý đóng tại Như Nguyệt báo với Quách Quỳ rằng quân Lý đã trốn đi và xin lệnh đem binh vượt sông. Quách Quỳ mệnh lệnh cho tướng Vương Tiến bắc cầu phao cho đội xung kích của Miêu Lý khoảng 2.000 binh tướng vượt sông.

Lợi dụng được yếu tố bất ngờ, cuộc vượt sông đã thành công. Đội xung kích của quân Tống đã chọc thủng được phòng tuyến của quân nhà Lý. Sẵn đà thắng, Miêu Lý cho quân tiến thẳng về Thăng Long nhưng đến vùng Yên Phụ, Thụy Lôi thì bị phục kích, bao vây, chặn đánh dữ dội tại cầu Gạo, núi Thất Diệu. Miêu Lý thảm bại cùng những binh sĩ còn sống chạy về phía sông Như Nguyệt nhưng đến nơi thì cầu phao đã bị phá hủy lại gặp quân nhà Lý đón đánh bị diệt gần hết dù quân Tống đóng ở bờ bên kia cố gắng cho bè sang hỗ trợ. Thất bại của Miêu Lý đã làm cho Quách Quỳ hết sức tức giận và định xử tử viên tướng này. Mô tả trận đánh này, một tác giả đời Tống viết: “Binh thế đứt đoạn, quân ít không địch nổi nhiều, bị giặc ngăn trở, rơi xuống bờ sông chết vô số”.

Sau thất bại này, Quách Quỳ nhận ra quân nhà Lý không bỏ bất cứ đoạn nào trên phòng tuyến, nên họ Quách không dám vượt sông mà không có thủy binh yểm trợ nên buộc phải chờ thủy binh tới.

Thủy binh quân Tống khi ấy đã bị chặn đứng ở cửa sông Tràng Kênh không tiến vào được, buộc Quách Quỳ phải tính kế tổ chức đợt tấn công lần hai mà không có sự hỗ trợ của đại đội quân thủy. Lần này, quân Tống dùng một lực lượng mạnh hơn nhiều so với lần trước, cho đóng bè lớn với sức chứa khoảng 500 quân một bè để vượt sông.

Quân Tống ồ ạt đổ bộ sang bờ nam nhưng đã vấp phải các đợt phản công mãnh liệt của quân đội nhà Lý. Số binh tiếp viện phía sau không qua sông kịp nên quân bị vỡ trận và thiệt hại nặng. Đợt tấn công lần hai kết thúc với thất bại thảm hại. Quách Quỳ buộc phải ra lệnh đưa quân về thế phòng thủ và tuyên bố rằng: “Ai bàn đánh sẽ chém!”.

Với tình thế bi đát, cộng với sự quấy rối liên tục của dân binh địa phương, việc thiếu lương thực trầm trọng do các cơ sở tiếp vận đã bị phá hủy trong cuộc tấn công năm 1075 của Lý Thường Kiệt, khâu tiếp vận lương thảo gặp khó khăn đã khiến đạo quân xâm lược rơi vào tình thế bị động và suy giảm sức chiến đấu nghiêm trọng.

bài viết Lý Thường Kiệt -h12

Hai tháng sau đợt tấn công thất bại, quân Tống lâm vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Quân Tống ngày càng mệt mỏi, hoang mang vì chờ mãi thủy binh không đến. Lại thêm sự không hợp khí hậu của Đại Việt, dù đã có thầy thuốc đi theo nhưng bệnh tật tràn lan đã làm cho nhiều binh sĩ ốm chết không ít. Quân Tống càng không dám tự tiện rút lui vì đó là một sự nhục nhã đồng thời là trọng tội với triều đình. Dù vậy, tiềm lực của quân Tống vẫn còn khá mạnh, vẫn cố thủ ở bờ bắc sông Như Nguyệt tìm cách dụ quân nhà Lý tấn công. Lý Thường Kiệt nhận ra đây là thời cơ tốt để tổ chức tiến công. Ông nghiên cứu kỹ lưỡng tâm lý và cách bố phòng của quân Tống và  quyết định tổ chức các đợt tấn công theo kiểu tập kích để chia cắt và tiêu diệt quân Tống.

Đầu tiên, Lý Thường Kiệt mở một đợt tấn công vào khối quân của Quách Quỳ đang đóng ở Thị Cầu nhằm kéo sự chú ý của toàn bộ quân Tống về hướng này dù biết rằng Quách Quỳ có một khối quân chủ lực khá lớn và bố phòng rất cẩn thận. Lý Thường Kiệt lệnh cho hai tướng Hoằng Chân và Chiêu Văn dùng bốn trăm chiếc thuyền chở hai vạn quân từ căn cứ thủy binh Vạn Xuân tiến lên Như Nguyệt. Đoàn thuyền vừa đi vừa phô trương thanh thế nhằm kéo sự chú ý của toàn bộ quân Tống về hướng đó. Quân Lý đổ quân lên bờ bắc tấn công thẳng vào doanh trại quân Tống. Thời gian đầu đã chiếm ưu thế, đẩy quân Tống vào sâu, buộc quân Tống phải huy động hết lực lượng phải đem cả đội thân quân dự bị ra đánh. Tất cả các thuộc tướng cao cấp của Quách Quỳ như Yên Đạt, Trương Thế Cự, Vương Mẫn, Lý Tường, Diên Chủng đều được tung vào chiến địa. Thời gian sau, quân Tống lấy lại hàng ngũ, tổ chức phản công, đẩy quân Lý lên thuyền. Khi ấy, quân Tống cho máy bắn đá bắn theo, đánh chìm một số chiến thuyền. Đúng lúc đó, khi mọi sự chú ý của quân Tống đều đổ dồn về phía trại quân Quách Quỳ thình lình Lý Thường Kiệt đích thân dẫn đại quân đánh thẳng vào doanh trại của Triệu Tiết.

Triệu Tiết đóng tại bờ bắc sông Như Nguyệt trên một khu vực tương đối rộng và quang đãng, chính giữa là trại quân chính gọi là Dinh, hai bên trái, phải là khu đất Miễu và Trại, bố trí theo kiểu dã chiến không có lũy tường chỉ tổ chức phòng ngự tạm thời. Triệu Tiết có khoảng ba đến bốn vạn quân chiến đấu, nhưng một số đã được điều đi tiếp ứng cho trại quân Quách Quỳ đang bị tấn công. Chính vì vậy, khi cánh quân của Lý Thường Kiệt tập kích ồ ạt, quân của Triệu Tiết nhanh chóng bị đánh bại, thương vong trên một nửa. Số quân Tống chết nằm la liệt cái gò nơi họ đóng quân, về sau cư dân địa phương gọi đó là gò Xác hay cánh đồng Xác.

Hai đợt tấn công này đã khiến quân Tống lâm vào cảnh ngặt nghèo, thế phòng ngự bị rung chuyển, chắc chắn sẽ bị đánh bại nếu vẫn tiếp tục cố thủ.

Lý Thường Kiệt còn dùng chiến tranh tâm lý để khích lệ tinh thần quân ta chiến đấu. Sử chép rằng: “Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ Thần, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống thảy đều run sợ, không đánh đã tan”.

bài viết Lý Thường Kiệt -h13

Quân Tống tiến không được, thoái không xong, hao mòn kiệt sức vì chiến sự và khí hậu lại không được thủy quân tiếp viện vô cùng hoang mang. Quân Đại Việt liên tục bất ngờ đêm ngày tập kích, doanh trại của chánh tướng Quách Quỳ, phó tướng Triệu Tiết nhiều lần bị đốt phá. Quân Tống mười phần chết đến bốn, năm phần.

Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà quân dân Đại Việt nhiều năm chiến tranh liên miên cũng gặp nhiều tổn thất, nên suy tính rồi quyết định sai sứ sang xin “nghị hoà” để quân Tống rút về nước. Quách Quỳ vội vàng chấp nhận giảng hòa và rút quân. Sách Việt sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh dẫn cổ sử nói về nội tình của nhà Tống về sự kiện này: Triều thần nhà Tống cho rằng: “Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không thì chưa biết làm thế nào”.

Các sử gia đời sau đánh giá đây là chiến thắng lớn nhất và là trận chiến ác liệt nhất kể từ sau trận Bạch Đằng năm 938 của Đại Việt trong việc chống giặc phương Bắc xâm lược. Chiến thắng này đã đánh dấu sự thành công của chiến lược chủ động phòng thủ và chủ động tấn công của danh tướng Lý Thường Kiệt trước một đội quân của một nước lớn hơn rất nhiều lần.

*

*    *

Dưới thời Lý Thánh Tông, Thái úy Lý Thường Kiệt giữ trọng trách trong cuộc tấn công Chiêm Thành năm 1069. Khi đó, việc tiến đánh Chiêm Thành thường được các vua Lý tiến hành khi Chiêm Thành bỏ việc tiến cống thường xuyên và có dấu hiệu thần phục nhà Tống để gây áp lực với Đại Việt từ hướng Nam. Nhà Tống cũng luôn sử dụng Chiêm Thành như một lá bài chiến lược hòng khoét sâu vào sau lưng Đại Việt để chúng rảnh tay chuẩn bị tiềm lực chinh phạt các nơi. Một mặt, tư tưởng mở rộng bờ cõi về phương Nam đã bắt đầu manh nha trong các đời vua Lý. Năm Giáp Thân (1044) vua Lý Thái Tông đích thân cầm quân đánh Chiêm Thành với lý do Chiêm Thành bỏ thông hiếu, không thực hiện những điều khoản đã cam kết. Lý Thái Tông tiến vào quốc đô Phật Thệ, bắt giết chúa Chiêm là Sạ Đẩu, giáo hóa người Chiêm rồi kéo quân về. Từ những điều tiên quyết ấy, Chiêm Thành về căn bản luôn thần phục Đại Việt nhưng không khỏi có những toan tính khác.

Khi nhận trọng trách cùng Lý Thái Tông dẫn đại binh đánh Chiêm Thành năm 1069, Lý Thường Kiệt đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và phương lược tiến thủ được vạch ra từ trước. Đại quân đi bằng đường biển với 200 chiến thuyền lớn cùng thuyền lương hậu cần tiến thẳng tới cửa Nhật Lệ là nơi tập trung thủy quân của Chiêm Thành không gặp sự kháng cự nào đáng kể. Quân Chiêm Thành vốn thường bị binh tướng nhà Lý đánh bại, đặc biệt uy danh của Thái úy Lý Thường Kiệt là rất lớn khiến giặc khi lâm trận chưa đánh đã vỡ. Lý Thường Kiệt cho một đội binh thuyền tiến thẳng tới cửa biển Tư Dung (cửa các sông thuộc Quy Nhơn ngày nay) với ý định đánh chiếm kinh đô Phật Thệ bắt vua Chiêm để nhanh chóng kết thúc cuộc chiến.

Thành Phật Thệ ba phía Tây – Nam – Bắc có núi che chở, phía Đông là cảng biển. Thủy quân nhà Lý đã ồ ạt đổ bộ lên đây. Tướng nước Chiêm là Bố Bì Đà La dàn trận bên bờ sông Tu Mao chặn đánh. Quân Lý thiện chiến hơn đã đánh tan quân Chiêm bắt sống binh tướng rất nhiều.

Lý Thường Kiệt vượt sông Tu Mao, liên tiếp vượt hai con sông nữa tới kinh đô Chiêm Thành. Vua Chiêm là Chế Củ nghe tin binh tướng bại trận ở Tu Mao bèn đem vợ con nửa đêm chạy trốn. Quân nhà Lý tràn vào thành Phật Thệ. Binh tướng và dân trong thành đều xin hàng.

Tuy nhiên, do vua Chiêm trốn vào nơi hiểm địa tổ chức binh tướng cầm cự quấy rối khiến binh tướng của Lê Thánh Tông mãi không bắt được. Thấy tình thế khó có thể bắt ngay được vua Chiêm, vua Lê Thánh Tông bèn hạ lệnh kéo quân về. Đi đến nửa đường, nghe nhân dân khen truyền Nguyên phi Ỷ Lan ở nhà trị nước rất nghiêm được triều thần và dân chúng ca ngợi, vua Thánh Tông bèn họp các tướng nói: “Người đàn bà trị nước còn được như thế lẽ nào ta đi đánh Chiêm không thành công, hóa ra đàn ông hèn lắm sao?”.

Vua lập tức ra mệnh lệnh cho Lý Thường Kiệt hành binh trở lại. Tháng 4 năm 1069, quân nhà Lý tiến thẳng tới biên giới Chân Lạp, Lý Thường Kiệt chia binh làm nhiều đạo vây đánh ráo riết vua Chiêm nơi biên giới. Cùng đường, Chế Củ phải ra hàng bị Lý Thường Kiệt bắt làm tù binh. Công cuộc bình Chiêm thắng lợi giòn giã trong đó Lý Thường Kiệt cơ mưu quả đoán đã xuất sắc lập nhiều công trạng.

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử quân sự đoán định rằng, mưu rút quân về để dụ địch chính là do Lý Thường Kiệt trình tấu vua cho thực hiện để binh tướng Chiêm bất ngờ tất binh bại, vua bị bắt sống. Điều này hoàn toàn là thực tiễn bởi khi hành binh vào đất địch các tướng soái thường dùng những mưu lạ, kế hiểm để thủ thắng giặc. Mưu xuất kỳ bất ý rút lui hoặc tấn công Lý Thường Kiệt thường sử dụng và lập đại công.

bài viết Lý Thường Kiệt -h14

Triều Lý, các vua thường ngự giá thân chinh đánh giặc vừa là rèn luyện nhãn quang quân sự nơi chiến trường vừa là tạo lập những huân công để ghi vào sử sách. Trong chế độ phong kiến, một vị vua với những chiến công đánh thắng giặc ngoại xâm thường rất được coi trọng, triều đình kính nể, sử sách lưu danh.

Sau khi xét công ban thưởng, ổn định quân đội, Lý Thường Kiệt xem xét tình hình và bàn bạc với vua Lý Thánh Tông, các đại thần về việc xử lý các vấn đề với Chiêm Thành trong đó có việc đồng ý cho vua Chiêm là Chế Củ dâng ba châu Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý (vùng đất từ dãy Hoành Sơn đến dãy Bạch Mã tương ứng với Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay) để chuộc thân. Đây là vấn đề lớn mang tính chiến lược lâu dài từng khiến triều thần tranh cãi. Các vua Chiêm thường hay bội tín dâng đất đấy rồi lại sai dân binh, tướng lĩnh đánh chiếm, quấy phá liên miên rất không đáng tin cậy. Tuy nhiên, việc dâng đất chuộc thân của Chế Củ đã được chấp nhận mặc dù triều đình Đại Việt biết rằng muốn mở mang bờ cõi phải dựa vào việc sửa đức, giáo hóa nhân tâm. Việc này, phải có kế lâu bền mới thành tựu được.

*

*     *

Dưới thời Lý Nhân Tông, ngoài việc nhiều lần cầm quân đánh Tống, ông còn tiến công Chiêm Thành gây nhiều tổn thất cho địch.

Những năm cuối đời, dù tuổi tác đã cao, Lý Thường Kiệt vẫn được vua tín nhiệm cho cầm quân đi đánh Lý Giác ở Diễn Châu (1103). Năm 1104, vua Chiêm Thành là Chế Ma Na đem quân đánh và lấy lại đất mà vua Chế Củ đã cắt cho Đại Việt. Trước sự kiện trên, nhà vua lại cử Lý Thường Kiệt một lần nữa kéo quân đi đánh, phá tan quân Chiêm, Chế Ma Na đại bại phải nộp lại đất ấy cho Đại Việt.

Vì có công, ông được phong làm Phụ quốc Thái uý dao thụ chư trấn tiết độ đồng trung thư môn hạ thượng trụ quốc thiên tử nghĩa đệ phụ quốc thượng tướng quân, tước Khai quốc công. Ông là vị thái giám đầu tiên của các triều đại phong kiến Việt Nam có công đức cao trọng và nhiều đóng góp về võ công cũng như nội trị cho đất nước.

Tháng 6 năm Ất Dậu (1105), Thái úy Lý Thường Kiệt mất, thọ 87 tuổi. Vua Lý Nhân Tông ban cho ông chức Nhập nội điện đô tri kiểm hiệu Thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, cho người em là Lý Thường Hiến được kế phong tước hầu.

Thái úy Lý Thường Kiệt được các sử gia mọi thời đại đánh giá là danh tướng phạt Tống bình Chiêm văn võ toàn tài trải ba đời vua Lý, đồng thời luôn nhận định ông là một trong những tướng soái kiệt xuất nhất của dân tộc Việt Nam.

P.V.K

 

 

     


     

Bài trướcTổng Bí thư, Chủ tịch nước dự Lễ Thượng cờ ‘Thống nhất non sông’
Bài tiếp theoThành phố Đồng Nai được thành lập từ ngày 30/4/2026

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây