Mười ngày 57: Bản chất nước đôi của im lặng – Tập thơ của Halmosi Sándor (Hungary), Nguyễn Chí Hoan (dịch) – Kỳ 1

Mười ngày 57: Bản chất nước đôi của im lặng – Tập thơ của Halmosi Sándor (Hungary), Nguyễn Chí Hoan (dịch) - Kỳ 1

Mười ngày 57: Bản chất nước đôi của im lặng – Tập thơ của Halmosi Sándor (Hungary), Nguyễn Chí Hoan (dịch) – Kỳ 1

MƯỜI NGÀY 57: Bản chất nước đôi của im lặng(DECAMERON 57: The dual nature of silence), nguyên tác tiếng Hungary của tác giả Halmosi Sándor, do Elizabeth Csicsery-Ronay dịch sang tiếng Anh. Dịch giả Nguyễn Chí Hoan đã dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào năm 2020. Được sự đồng ý của Nhà thơ, Dịch giả Nguyễn Chí Hoan, chúng tôi trân trọng giới thiệu trọn tập thơ này kèm theo bài viết phân tích rất sâu sắc của Nhà thơ, Dịch giả Mai Văn Phấn.

vansudia.net

Dịch giả Nguyễn Chí Hoan, chúng tôi trân trọng giới thiệu trọn tập thơ này kèm theo bài viết phân tích rất sâu sắc của Nhà thơ, Dịch giả Mai Văn Phấn.

Mười ngày 57: Bản chất nước đôi của im lặng

Tác giả: Halmosi Sándor
Dịch giả: Nguyễn Chí Hoan

Ánh sáng song trùng trong thơ Halmosi Sándor

(Đọc tập thơ “Mười ngày 57Bản chất nước đôi của im lặng” của Halmosi Sándor, do Nguyễn Chí Hoan dịch)

Mai Văn Phấn

Ánh sáng ấy tỏa rạng liên tục, mạnh mẽ từ lưỡng cực và đa cực, tựa những lưỡi lửa trên đỉnh ngọn đuốc bốc cháy, hay nắng sớm tinh khôi ùa vào căn phòng tối tăm khi cánh cửa đột mở… Đó là trực cảm sơ khởi của tôi khi đọc tập thơ “Mười ngày 57 – Bản chất nước đôi của im lặng” của nhà thơ Hung-ga-ry Halmosi Sándor, do Nguyễn Chí Hoan dịch từ bản tiếng Anh sang tiếng Việt. Ánh sáng thơ Halmosi Sándor đã đưa tôi đến với thế giới thanh khiết, màu nhiệm và cả lạ lẫm, để tôi hiểu hơn chính tôi và cảm nhận đầy đủ hơn về thế giới xung quanh bằng hệ hình thẩm mỹ khác, từ nền văn hóa khác. Nó cũng cho tôi nhận diện mình là một thái cực luôn khao khát tìm đến những thái cực khác, và ngược lại. Tập thơ này, với tôi tựa những thước phim quay chậm về đường đi của ánh sáng. Chúng đan xen, hòa vào nhau, chuyển động lúc nhanh lúc chậm. Tôi gọi đó là những luồng ánh sáng song trùng làm nên một cõi thơ độc đáo và hiện đại.

Sự giao thoa, song trùng ấy thể hiện rất rõ ngay từ những bài mở đầu tập thơ: Nếu anh nghĩ về em/ Hồ kia thành dịu êm/ Nếu em nghĩ đến anh/ Hồ xáo động bất yên (Bản chất nước đôi của im lặng). Bài thơ gần với cách diễn ngôn của thơ thiền phương Đông, trong động có tĩnh, trong tĩnh có động. Người và cảnh vật ở đây, cụ thể hơn, nhà thơ và hồ nước “trợ duyên nhau”, là nơi an trú của nhau. Nó gợi cho bạn đọc liên tưởng đến học thuyết âm-dương, một định đề cơ bản của thái cực sinh lưỡng nghi. Bài thơ là sự sóng đôi tự nhiên của hai thanh âm từ hai tiêu điểm được cất lên trong thênh thang tĩnh lặng. Đó là hai bản thể riêng biệt được hòa vào nhau trong “dung môi” tình yêu để làm nên một không-thời-gian lạ kỳ với chuyển động chậm. Bài thơ tạo nên vẻ đẹp mới lạ, bừng tỉnh tâm thức người đọc. Nó gợi cho tôi nhớ lại câu thơ rất ấn tượng của nhà thơ Ba Lan đoạt giải Nobel Văn học năm 1996 Wisława Szymborska nói về cái riêng-chung trong tình yêu: Chúng ta ôm nhau, miệng cười/ Cố tìm điều thân thiện/ Dẫu rằng ta biết/ Mình khác nhau như hai giọt nước trong veo (“Không có gì hai lần” – Tạ Minh Châu dịch). Mỗi nhà thơ có cách biểu đạt riêng tính lưỡng phân của phạm trù “anh & em”, nhưng với bài thơ trên, Halmosi Sándor như cố ý kìm giữ những dịch chuyển hình ảnh trong không gian thơ của ông. Tốc độ chậm dần trong bài thơ có thể được quan sát từ hai phía “Em” và “Anh” mà hồ nước ở giữa làm “trọng tài”, một đối tượng bị động thứ ba. Ba tiêu điểm (anh, em, hồ nước) trong bài thơ đã tạo ra những vòng sóng giao thoa, phủ trùm lên một không gian rộng mở mang ánh sáng trinh bạch của người quán tưởng hành thiền.

Trong suốt tập thơ, nhân vật “Em” và “Anh” luôn song hành từ hai “thái cực”. Theo triết gia đạo Lão Trang Tử, thì “thái cực” ấy có thuộc tính, biểu hiện và được luân chuyển, nhưng không dễ thu nhận. Nhưng “thái cực” trong thơ Halmosi Sándor cho bạn đọc dễ dàng thâu nhận những hình ảnh trực giác được tác giả bầy đặt, làm hiển lộ sinh động “từng chân tơ kẽ tóc” bản thể trong câu chữ.

Trong bài thơ “Chín giờ ba mươi sáu phút” Halmosi Sándor viết: Anh nhớ em/ Mái nhà mất tích trên những phòng ngủ/ Rơm trên món bê hấp/ Một cú thót tim cho thế giới này. Sự kiện đặc biệt đáng nhớ này xảy ra vào lúc 9 giờ 36 phút, như tiêu đề bài thơ, trong một thời điểm nhất định, lúc “thái cực Anh” phát sóng làm đảo lộn trật tự thế giới quanh mình: chính anh là một thí dụ, nhìn kìa vẫn 9:36, dẫu rằng/ anh đã thử qua mọi thứ, đã trải qua hai/ cuộc đời, anh nhảy múa, anh tha thẩn quanh em

Khái niệm về chuyển động song trùng trong thơ Halmosi Sándor, đôi lúc không thuộc về tự nhiên mà như ràng buộc, tựa như căn duyên tiền định mở ra muôn lối đi cho đời sống. bởi mọi thứ đều nối vào mọi thứ/  Khác/ trên hết là em với anh/ và anh với em (Hân hoan bởi mình yên lặng).

Trong bài thơ “Anh sẽ chỉ ngồi bên cửa sổ”, nhà thơ đã biểu đạt tình yêu như những chuyển động lẻ loi, đơn phương. Ánh sáng trong bài thơ này ngỡ như không song trùng, mà chỉ duy nhất phát ra từ thái cực “Anh”. Nhưng đọc toàn bài thơ sẽ thấy, ánh sáng từ thái cực “Em” không tắt, mà đơn giản nó chỉ không hiển thị trên văn bản thơ. Nhưng nó tạo ra sức hút mạnh mẽ để làm nên mọi chuyển dịch trong đó. anh sẽ cắm một bông hoa/ ở mỗi chai/ anh sẽ đặt chúng khắp nơi/ sao cho hợp với bài trí căn phòng/ và thức của nó; Hay: và trong lúc em nấu nướng/ anh lúc nào cũng xăng xái quanh em/ mà dĩ nhiên chẳng để làm gì/ vì bếp thì nhỏ/ lúc ấy thành chật chội/ và không có mấy việc để làm/ nhưng anh bóc vỏ nếm náp…/ anh sẽ treo áo ngực của em lên cửa sổ nơi chốt,/ để cho mặt trời lên và Laci và Béla/ cũng sẽ vui mừng và thấy/ rằng thật đáng để trỗi dậy. Thủ pháp đặc tả vừa nêu giống như một chiếc đèn kéo quân của trẻ em Việt Nam trong ngày tết trung thu. Các hình ảnh từ thái cực “Anh” được tác giả cho sáng lên quay quanh một cái trục đỡ “Em”. Nhịp quay và tốc độ của chiếc đèn ấy tùy thuộc vào thời gian tiếp cận văn bản của người đọc. Và bài thơ cho bạn đọc hiểu rằng, chiếc đèn kéo quân kia quay được, cũng như các hình ảnh trên mặt giấy bóng màu sáng lên lung linh đều do năng lượng từ chính cái trục ngọn đèn “Em” được thắp sáng. Ngọn đèn ấy truyền nhiệt ra xung quanh, làm không khí nóng lên giãn nở và tăng thể tích, sinh ra công làm xoay chao đèn.

Lấy một thái cực làm trụ cho thái cực kia làm vệ tinh quay quanh, được Halmosi Sándor sử dụng trong một số trường hợp để diễn tả trạng thái dị/ đặc biệt của vận động song trùng. Trong bài thơ “Thoạt đầu em chạm vào tôi”, lưỡng cực “Anh” được tác giả lấy làm trụ cột để lưỡng cực “Em” chuyển động: Đầu tiên thì em chạm vào tôi. Rồi độ bóng/ bong mất, rồi bản ngã em chia tách/ Em bước vào đó, hú vang. Cách hoán chuyển tiêu điểm chuyển động, hoặc đảo lộn ngôi thứ các nhân vật trong tác phẩm thường được nhà thơ sử dụng như một thủ pháp. Cách dịch chuyển này đã làm sáng rõ các thi ảnh, cũng như gợi mở và khiêu khích người đọc. Và chim chóc nhìn anh/ Và các thiên thần dõi trông anh/ Đôi lúc họ đổi chỗ (Nhà thơ đoạt giải Ja viết một bài thơ khi quay lưng lại biển).

Những chuyển động trong thơ Halmosi Sándor thường diễn ra trong không gian, trạng thái tĩnh lặng hoặc có ý hướng vươn tới cảnh giới ấy. Đây thực sự là điều ít thấy trong tác phẩm của các nghệ sĩ, nhất là các nhà thơ phương Tây. Chúng ta đều biết từ giữa thế kỷ trước, các học giả phương Tây đã hành trình tìm về phương Đông mở ra chân trời mới. Đó là sự hội ngộ giữa hai nền văn minh Đông và Tây, cổ xưa và hiện đại. Thơ của Halmosi Sándor nằm trong từ trường tìm về cội nguồn văn hóa ấy.

Halmosi Sándor nhắc nhiều đến khái niệm tĩnh lặng hoặc cận tĩnh lặng. Trong tập thơ (bản tiếng Việt) có hơn 30 từ diễn tả trạng thái đó, như lặng yên, im lặng, lặng lẽ, tĩnh mịch, tĩnh lặng, điềm tĩnh, điềm nhiên… Những từ ngữ này diễn tả muôn sắc diện đời sống và tâm trạng người viết. vậy chúng mình nên cứ lặng im dần (Anh sẽ chỉ ngồi bên cửa sổ); thậm chí cho yên lặng. Và cho tràn ngập (Và bây giờ cũng chuyện này); Về sau dẫu gì rồi sẽ là yên lặng (Cho tôi thời-gian-người); Và nội tại lặng yên (Liên khúc Wamsler II)… Tĩnh lặng vốn là một trạng thái mà các thiền giả luôn hướng tới, là cảnh giới của bản lĩnh, trí tuệ và lòng cao thượng. Tĩnh lặng trong thơ Halmosi Sándor đã làm mọi chuyển động diễn ra liên tục trong văn bản thơ, cũng như trong tưởng tượng “hậu văn bản” của người đọc. Nó đồng thời làm cho các dòng ánh sáng hòa trộn làm một, tạo ra những năng lượng khác.

Ánh sáng song trùng đã làm nên sức mạnh, sự bền vững của từng cá thể. Bài thơ “Nếu họ rạch anh lúc này” cho thấy, tình yêu đôi lứa gắn bó được hiển lộ tựa một thân cây lớn, bến bờ rộng mở. Tình yêu ấy tuyệt đẹp và bất tử như sự sống, thiên nhiên trên trái đất này: Nếu họ rạch anh lúc này, em sẽ tuôn chảy/ từ anh ra thành những dòng như suối/ Anh chẳng dám ngay cả ngáp xuông. Hoặc trong bài thơ “Hồ không đáy”, khúc triết và tối giản tựa một bài haiku Nhật, đã gợi mở một không gian rộng lan đi bất tận: Tối đen sẫm dần, dẫu thế/ anh suốt cả ngày dài nghĩ em.

Halmosi Sándor viết nhiều về tình yêu, nhưng cũng bao trùm các đề tài khác như các mối tương giao con người, xã hội, thiên nhiên v.v. Nhưng dù viết về bất kỳ đề tài nào, nhà thơ luôn chủ ý tạo ra năng lượng mới, làm khởi sinh luồng ánh sáng chuyển động song đôi, tăng tính phức hợp trong cảm xúc cũng như mở rộng thêm trường liên tưởng. Tôi lấy chúng từ áo ngô và ăn tất cả/ Tôi nay màu lơ, giống như một chợp mắt trong mưa. Đó là trọn vẹn bài thơ gồm hai câu thơ, có tên “Hoa ngô”. Câu thơ “Tôi nay màu lơ” là sự hoán cải tài tình chủ thể với khách thể trong bài thơ này.

Thơ Halmosi Sándor được dịch và phát hành tại Việt Nam thông qua bản tiếng Anh là ngôn ngữ trung gian, do vậy tôi không dám lạm bàn về nghệ thuật ngôn từ trong tập thơ này. Nhưng bản dịch của nhà thơ Nguyễn Chí Hoan cho thấy, thơ Halmosi Sándor có nội lực mạnh, nhịp điệu chảy trôi tự nhiên, mang vẻ đẹp sinh động đời sống thi ca của một quốc gia nằm ở trung tâm châu Âu, có địa chính trị, địa văn hóa khác với nước ta.

Nhịp điệu chảy trôi tự nhiên của thơ Halmosi Sándor cho bạn đọc cảm giác gần gũi như chính đời sống hiện đại đang lôi cuốn con người. Nhiều đoạn trong trong tập thơ khá giống với nhịp đồng dao của Việt Nam. Xin dẫn một đoạn thơ trong bài “Mặt trời lên” để thấy sức hút của từng câu thơ trong tập: khi người ta phủ phục/ trước Cái Không Biết/ cái còn chưa Biết/ bí ẩn của tồn tại/ và phép lạ đó nắm giữ/ nó nắm lấy tinh thần/ và người ta những ai tin vào/ nó dựng nên trời và đất/ và giữ chính nó. Đọc những câu thơ trên tôi có cảm giác như có ai đang dồn đẩy sau lưng, thôi thúc người đọc phải chạy tiếp, chạy gấp…

Nhà thơ Halmosi Sándor sinh năm 1971, tại thành phố Szatmárnémeti của Ru-ma-ni. Ông định cư ở Đức 16 năm, hiện sống cùng gia đình tại Budapest, Hung-ga-ry. Halmosi đồng thời là dịch giả văn học uy tín, biên tập viên nhà xuất bản, nhà toán học. Ông đã xuất bản hơn mười cuốn sách bằng tiếng Hung-ga-ry và các ngôn ngữ khác.

Chuyển ngữ và xuất bản thơ Halmosi Sándor ở Việt Nam lúc này là cách chúng ta mở rộng đường biên hệ hình thẩm mỹ, biết thêm thông tin về những biến động thi pháp ở bên ngoài, nhất là ở các nước Âu – Mỹ. Qua tập thơ “Mười ngày 57 – Bản chất nước đôi của im lặng” cho thấy, cách tạo ra ánh sáng song trùng trong văn bản thơ của Halmosi Sándor không chỉ là thủ pháp, thi pháp, mà dù ở phương Đông hay phương Tây, thơ ca mãi là câu chuyện của vẻ đẹp tâm hồn, của thế giới tâm linh kỳ bí và quyến rũ.

Hải Phòng, 12/2019
M.V.P

 

THAT ONE
(Azt az egyet)

And some day this lovely green valley will dry up.
It will all become red and cold silver,
and brown and grey. And then everybody will
be called by their name.
You will say two sweet names.
And I that single word.

NGƯỜI ẤY

Rồi một ngày kia lũng xanh mến yêu này cạn khô.
Thảy sẽ thành ra đỏ và trắng lạnh,
và nâu và xám. Và rồi ai nấy sẽ đều
được gọi theo tên mình.
Em sẽ nói hai cái tên thân thương.
Và anh đó một từ đơn lẻ.

 

THE DUAL NATURE OF SILENCE
(A csend kettős természete)

If I think of you,
The lake becomes smooth.
If you think of me,
It becomes agitated.

BẢN CHẤT NƯỚC ĐÔI CỦA IM LẶNG
Nếu anh nghĩ về em,
Hồ kia thành dịu êm.
Nếu em nghĩ đến anh,
Hồ xáo động bất yên.

 

LAO-TSE’S PASSION
(Lao-ce szenvedélye)

You know. You are far away, and because
of that your proximity is all the more unbearable.
You must know that we have to know each other,
with long steps, among long silences.
If only once, only for one afternoon,
for one hour, for one day,
if you could only be my proud bride,
who has found her mate, me.
This is not a love poem.
You call my name, you call out a long list of my sins,
my many faults, and you are purified.
You finally say it, that you are who you are.
God, my woman.
We work a lot in that hour, on that weekday.
We’re hardly ever together.
I send you to work with a strong hand,
and if you come back, you knock me over,
like my little girl, when she sees me
and runs to me laughing.
Perhaps I recognize you,
and remember everything that you haven’t said.
If you want, I’ll take the jinx from you.
If you would like, always give the last sweet unction.

DỤC VỌNG CỦA LÃO TỬ

Em biết đấy. Em thì xa, và bởi
thế nên sự gần gụi của em thì đớn đau hơn bao giờ hết
Em hẳn biết rằng chúng mình phải biết nhau,
với những lối lên dài, trong những nín lặng dài vây bọc.
Nếu có một lần thôi, cho một buổi chiều thôi,
cho một giờ, cho một ngày,
em có thể chăng chỉ là cô dâu của anh lộng lẫy kiêu sa,
cái người đã tìm ra bạn đời của mình, ở anh.
Đây chẳng phải một bài thơ tình.
Em gọi tên anh, gọi một thôi dài những tội lỗi của anh,
bao nhiêu của anh khiếm khuyết, và em thành thanh khiết.
Sau hết chính em nói, rằng em chính là em.
Chúa ơi, người đàn bà của tôi.
Chúng mình làm việc suốt giờ ấy, ngày thường ấy.
Chúng mình hầu chẳng lúc bên nhau.
Anh đưa em đi làm với bàn tay mạnh mẽ,
và khi nào em về, em ngã vào anh,
giống như đứa gái nhỏ của anh, khi nó nhìn anh
và chạy ùa tới miệng cười.
Có lẽ anh nhận ra em,
và nhớ cả mọi điều em chưa hề nói.
Nếu em muốn, anh sẽ lấy khỏi em thứ mang điềm gở.
Nếu em thích, luôn luôn sẽ dành em lời trìu mến tột cùng.

 

IF THEY SCARIFIED ME NOW
(Ha most megkarcolnának)

If they scarified me now, you would flow
out of me in streams.
I don’t even dare bite the air.

NẾU HỌ RẠCH ANH LÚC NÀY

Nếu họ rạch anh lúc này, em sẽ tuôn chảy
từ anh ra thành những dòng như suối.
Anh chẳng dám ngay cả ngáp xuông.

 

GILEAD
(Gileád)

I love the way your boots knock,
the powdery snow on which you walk.
The storms you send me,
this agonizing shortness of breath,
for it comes from you,
I love them all.
I love that accursed evening in the courtyard,
the orchard you didn’t show me.
I love your defiance, your rage,
I love your impatience, which hangs from you
in thick tresses.
I know, in time and space my attraction to you is futile.
And it doesn’t help that I discovered love
some time on the eighth day.
But don’t shake your head – I dislike it.
I-words are skewed in existence,
and descend from the throat.
Believe me, I know whereof I speak, why and to whom.
Ever since I began loving you, I no longer know anything
for certain.
Whether you believe me or not, it’s all the same to me.

VÙNG GILEAD

Anh yêu con đường giày em gõ,
yêu tuyết như bột mịn em bước lên.
Những cơn bão em gửi đến anh,
thoáng nghẹn đau đớn này,
bởi chúng đến từ em,
anh yêu tất.
Anh yêu cái buổi tối bị nguyền trong sân ấy,
cái vườn hoa trái em đã chẳng cho anh xem.
Anh yêu bướng bỉnh em, giận dữ em,
yêu cái nóng vội của em, kìa treo
trong tóc em dài.
Anh biết, trong đời này sự quyến rủ của anh với em là vô ích.
Và khôn ngăn anh khám phá tình yêu
vào khoảng thời gian ngày thứ tám.
Nhưng đừng lắc cái đầu em – anh không thích.
Anh – những lời bị xoắn lại hiện tiền,
và tụt xuống trong cuống họng.
Tin anh đi, anh biết cái điều anh nói, vì sao và đến với người nào.
Ngay từ lúc bắt đầu yêu em, anh chẳng còn
biết có gì
là chắc nữa.
Dù em tin hay không tin anh, với anh không khác.

 

9 O’CLOCK 36
(9 óra 36)

Important meeting. Technical arguments are discussed,
our position must be defended. The sun is shining through the window, the laptops hum softly.
Ádám ponders, both Péters are good friends, in word and joke. Misi says something, I should react, but I see only your face, your paralysing silence fills the space.
You haven’t said a word to me for weeks.
Even though your laughter would open the skies,
the seas would split at your word.

Start-Up meeting. We are working on the project document, it has begun to rain, and down below,
on Hungarian Nobel Prize-Winners’ street,
new shoots of grass are sprouting.
But what about the beauty project,
the dignity project,
what about the life- and speech project?
What about the world? What will become of us, dear?
Who’s responsible, what are the deadlines,
the critical periods?

We will be a street sign, tree, flowers, lukewarm spray
on the lavender bushes. But this does not help us.
9:36. There’s no air. There are bombs.
Poisonous meadows in us, beneath us.
I miss you.
The roof is missing from the bedrooms
Straw from the steaming calves
A beating for the world.

We are working. The Quality Gate is next,
we are sure to bring quality, our work
will bear fruit. Light streams down the wall.
I should become a fisherman in Norway,
and await the Redeemer, while he’s still interested.
My hands would be as calloused as the earth
on which he steps.
I would ask my fate from him.
Who would ask love from me?

The needle doesn’t move. Though the documents
multiply, the excel-tables fill up, we’ve already
discussed the java-course, Péter signed
the expense accounts, we replied to the Germans,
we made decisions, made jokes, even Misi was satisfied, it was good, the project was underway, and will fulfill
the hopes it has aroused, but I would attach all my hopes to you woman, God, central pillar
you have many names, you one and indivisible
and your need is great
great is your power
but even you are powerless against
the obstinacy of time and wild scarcity
I myself am an example, look
it’s still 9:36, even though
I’ve tried everything, filed through two lives,
I danced, I mooned about with you,
I started a project, we made each other laugh,
and we all believe in the future, Ádám is hopeful,
Wolkens is cheerful, Misi too is satisfied,
A little girl was born to Péter Kőhalmi today,
They’ve named her Réka, she was born through Caeserean section, she’s healthy, his wife too,
who is Brazilian,she came here from the other,
sadder end of the world,
she followed a man,
whom she respects
and loves,

only I am alone
and you are an orphan
time has stopped
and we’ve run out of air too
I can’t do anything about it
and you can’t do anything about it, either, Lord
for what is written has come to pass
everything written comes to pass
you wanted it so
beauty cannot know otherwise
and love has its own patterns

9:36
bomb alarm

CHÍN GIỜ BA MƯƠI SÁU

Cuộc họp quan trọng. Những tranh luận về kỹ thuật
đưa ra bàn,
vị thế của chúng ta phải được bảo vệ. Mặt trời thì,
soi nắng qua cửa sổ, những chiếc laptop khe khẽ lầm bầm.
Ádám trầm ngâm, cả Péters đều là những bạn tốt, khi vui đùa và khi làm việc. Misi nói gì đó, anh sẽ đáp lại, nhưng anh chỉ thấy gương mặt em, niềm im lặng em tê dại choán hết không gian.
Suốt hàng tuần em đã không nói một lời.
Mà dẫu thế tiếng cười em vẫn sẽ mở những bầu trời,
những biển kia sẽ chia tách theo lời em.
Cuộc gặp Khởi-nghiệp. Bọn anh bàn thảo về tài liệu dự án đó, trời bắt đầu mưa,
và dưới kia,
trên phố Những Người Hung được Giải Nobel,
những mầm cỏ mới bật nhú.
Nhưng còn dự án đẹp,
dự án phẩm giá thì sao,
dự án cuộc đời-và tiếng nói thì sao?
Thế giới này thì sao? Chúng mình sẽ trở thành gì đây, em ơi?
Ai chịu trách nhiệm, những đường giới hạn,
những giai đoạn trưởng thành là gì?
How many words to make peace?
How many kisses a good death?
Bao nhiêu lời để làm lành?
Bao nhiêu nụ hôn một cái chết không đau?
Chúng mình sẽ là một màn hình to trên phố, cây, hoa, vòi phun nước ấm
trên những bụi oải hương. Nhưng điều đó thì không
giúp gì mình.
9:36. Không có không khí. Có những quả bom.
Những bãi cỏ nhiễm độc trong ta, bên dưới ta.
Anh nhớ em.
Mái nhà mất tích trên những phòng ngủ
Rơm trên món bê hấp
Một cú thót tim cho thế giới này.
Bọn anh đang làm việc. Tiếp đến là Quality Gate rồi,
bọn anh chắc chắn đem lại chất lượng, công trình bọn anh sẽ sinh lợi. Ánh đèn tuôn những vệt xuống tường.
Anh nên làm một người đánh cá ở Na-uy, và chờ Đấng Cứu thế, khi ngài còn quan tâm.
Bàn tay anh sẽ chai sần như đất
đất mà trên đó ngài bước.
Anh sẽ hỏi ngài về định mệnh của anh.
Ai sẽ muốn anh yêu?
Chiếc kim khâu không chuyển động. Dù các tài liệu
nhân bội, các bảng excel điền đầy, bọn anh đã
thảo luận trình-java này, Péter đã ký các tính toán chi phí, bọn anh hồi đáp cho người Đức,
bọn anh đã ra các quyết định, cười đùa, ngay cả Misi cũng hài lòng, thế là ổn, dự án đã chuyển động, và sẽ đền đáp những hy vọng nó khơi lên, nhưng anh sẽ gắn tất cả những hy vọng của anh vào em người đàn bà, Chúa, cây cột trụ
em có nhiều cái tên, em một và
không thể tách chia
và mong muốn của em thì lớn
lớn là quyền năng của em

nhưng ngay dù em không quyền năng trước bất trị của thời gian và thiếu thốn tứ bề thì chính anh là một thí dụ, nhìn kìa vẫn 9:36, dẫu rằng
anh đã thử qua mọi thứ, đã trải qua hai
cuộc đời,
anh nhảy múa, anh tha thẩn quanh em,
anh khởi sự một dự án, chúng mình khiến nhau cười,
và chúng mình thảy đều tin ở tương lai, Ádám thì đầy hy vọng,
Wolkens mừng rỡ, Misi thì cũng hài lòng,

Một bé gái vừa sinh ra hôm nay con của Péter Kőhalmi,
Bọn họ đặt tên bé Réka, bé chào đời qua phẫu thuật lấy thai, bé khỏe,
mẹ cũng ổn,
chị ấy người Brazil, chị ta đến từ đầu
bên kia,
nơi phía buồn hơn của thế giới này,
chị ta theo một đàn ông,
người mà chị ta trân trọng
và yêu,
chỉ anh là đơn độc
và em là một trẻ mồ côi
thời gian ngừng trôi
và ta cũng hết hơi

Anh chẳng thể làm gì chuyện ấy
và em, cũng thế, chẳng thể làm gì,
Chúa ơi
bởi điều được viết thì đã xảy ra
mọi điều được viết sẽ được vượt qua
em muốn thế nên
đẹp thì không thể khác
và tình yêu có những mẫu hình riêng
9:36
báo động có bom

 

HE WHO MEASURES WHAT IS MISSING
(Aki a hiányt méri)
He who measures the missing is the same
As the one who measures grain, nakedness.
He is the patron saint of the full baskets
And the granaries.
The seals sweat warm fat at his feet.
ÔNG TA NGƯỜI ĐO LƯỜNG CÁI MẤT TÍCH
Cái người đo lường sự mất tích thì làm một
Với kẻ đo hạt, trần trụi
Cái người đó là thánh bổn mạng của những cái túi đầy ắp
Và những kho hạt.
Những con hải cẩu mà chân toát mồ hôi ấm mỡ.

 

BUT THAT IS NOT IMPORTANT NOW

(De ez most mind nem fontos)
the enamel is
and the dance the kungfu
so that every morning
the children should go
with pure hearts
clean shirts
and ample lunches
this is more important than anything
the intimate ten minutes of the sauna
the orchard of Kőszeg
the almond trees
the Cassiopea
and oh, those old pieces of furniture
shoe shops
the delicious coffees
know more about life
than the Colliers on book shelves
and for guidebooks there are the spring bulbs
yesterday’s fragrant-crisp cinnamon bun
sorrel
strawberry
the hospitable pansy
and all the while to be a wife
and housewife
lover
cook
mother
to be a woman
desirable
clever
quick
understanding
patient
what can I say about myself
that I haven’t said yet
I can just repeat myself
there is a time for everything
and a place for everything
you cannot love well or badly
you can just love
you cannot measure joy
you can just bring it
or take it away
there are no two darlings
and so on
and we have to take care of ourselves
for we have not come here to destroy
but to build
faith through a good word
peace through a good silence
a table from wood
through dreams and manual labour
a house, a home, an atelier
this is what I believe
and that the desire for possession
and expectations ruin everything
if you want to keep something of life
you have to let it go
you have to share it
for everything is fleeting
but yet the eternal is somehow
made up of these fleeting things
from the glass on the table
from your smile
as I wait for you
as you went away
as the garlic baguette baked in the oven
and yet they say that all we see
hear experience
the whole material world is just an illusion
samsara
only what is invisible exists
only what lives desires not
and what is essential
lies in the other
and yet we can reach salvation
only through the transfiguration of this world
every object, movement, word
thought brought into unity
and we have no other path or possibility
we have no other choice
than to transfigure this world
and lift it up to the miraculous
I don’t know if this is speech
perhaps it isn’t important
miracle or survival tactic
it’s all the same
this can be like
the medicinal herbs
like the taming of the fox
there deep inside
NHƯNG CHUYỆN ĐÓ NAY KHÔNG QUAN TRỌNG
lớp men đó hiện hữu
và điệu nhảy đó điệu kungfu
để mỗi sớm mai
bọn trẻ sẽ đi
với những trái tim trong
những sơ mi sạch
và bữa trưa đầy đặn
cái này quan trọng hơn bất kỳ thứ gì
mười phút thân mật tắm hơI
vườn cây quả của Kőszeg
những cây hạnh đào
chòm Thiên Hậu
và ôi, những món đồ trần thiết xưa ấy
những hiệu giày
cà phê ngon
biết về đời nhiều hơn
từ điển Collier’s trên các giá sách
và cho những cuốn chỉ dẫn có những củ hoa xuân
bánh quế giòn của hôm qua
chua me đất
dâu tây
hoa păng-xê hiếu khách
và cứ thế làm một người vợ
và bà nội trợ
người tình
nấu nướng
người mẹ
đáng khát khao
sáng ý
nhanh
hiểu
kiên tâm
anh có thể nói gì về mình
mà anh còn chưa nói
anh chỉ có thể lặp lại bản thân
có một lần cho mọi thứ
có một chốn cho mọi thứ
không thể yêu giỏi hay kém
chỉ có thể yêu
không thể đo đếm niềm vui
chỉ có thể đem tới
hay lấy đi
không có hai người tình
và vân vân
và ta phải chăm lo bản thân
vì ta không đến trong đời để phá hủy
nhưng để làm nên
đức tin bằng một lời tử tế
bình an bằng một lặng yên tử tế
một cái bàn bằng gỗ
bằng những giấc mơ và lao động tay chân
một ngôi nhà, một tổ ấm, một thư phòng
đấy là điều anh tin
và rằng niềm ham muốn sở hữu
và những kỳ vọng sẽ phá hỏng mọi thứ
nếu ta muốn giữ lấy gì đấy ở đời
thì phải để cho nó đi
thì phải chia sẻ nó đi
bởi mọi thứ đều trôi
mà sự vĩnh hằng lạ thay
vẫn được tạo nên từ mọi thứ nổi trôi này
từ cái cốc trên cái bàn
từ nụ cười của em
khi anh đợi chờ em
khi em xa rời
như món bánh mì tỏi trong lò nướng
và tuy nhiên người ta bảo tất tật gì ta thấy
ta nghe
trọn cả thế giới vật chất này chỉ là một
ảo ảnh
luân hồi
chỉ thứ không thể thấy thì tồn tại
chỉ những thứ đời không thèm muốn
và thứ gì là thiết yếu
nằm trong cái còn lại
và nhưng ta có thể vươn đến cứu rỗi
duy chỉ qua sự chuyển hóa
thế giới này
mỗi vật, chuyển động, lời
suy nghĩ đem vào hợp nhất
và chúng ta chẳng có lối khác hay khả dĩ khác
ta chẳng có lựa chọn nào khác hơn
là chuyển hóa thế gian này
và nhấc nó lên đến tầng kỳ diệu
anh chẳng hay liệu những lời này
có lẽ là không quan trọng
phép lạ hay mẹo mực sống còn
thế cả thôi
đây có thể giống như
những thang thảo dược
giống như cái hiền lành của chàng láu cá
sâu đâu đó bên trong

 

IL TRENO A DOMANI
(Il treno a domani)
In December, I could write only about how
presence, clear situations and the kind of curtains
that are in the antechamber and the living room,
and what kind of drapery on the past. And about
how continuity, and what you can do today
don’t put off till tomorrow.
But everybody speaks for themselves, and must speak,
so that silence should not be guessing between bad
and worse. Hable con ella.
Today there is what was yesterday,
necessarily and mercilessly, and tomorrow
will be, what there is today.
Only in this way can we manage wisely,
and this is no small thing.
For white magic is better than black,
and the morning dew and arguing is better
than white magic. The afternoon work
and working on each other at night.
That scrubbing and scouring
and that tub-shaming kneading.
CHUYẾN TÀU ĐI NGÀY MAI
Vào tháng Mười Hai, tôi chỉ có thể viết về
các thứ rèm có ở đó ra sao, lớp lang rành rẽ của chúng ra sao
ở chỗ phòng chờ và trong phòng khách,
và rèm treo tường loại gì ngày trước. Và về chuyện
sự liên tục thì thế nào, và điều có thể làm
hôm nay
chớ để đến ngày mai.
Nhưng ai cũng nói về mình, và
phải nói,
để lặng im không nên bị đoán mò
giữa tồi
và tệ. Hãy nói chuyện với cô ấy.
Ngày hôm nay có thứ là hôm qua,
một cách tất yếu và bất nhẫn, và
ngày mai
sẽ là, thứ có hôm nay.
Chỉ theo cách ấy mà có thể ta xoay xở khôn ngoan,
và đây không phải chuyện nhỏ.
Vì ma thuật trắng thì tốt hơn đen,
và sương buổi sớm và tranh cãi thì tốt hơn
ma thuật trắng. Lúc nghỉ trưa
và lúc năn nỉ nhau đêm thâu.
Cái chuyện cọ rửa và lau quét
và chuyện thẹn thùng xoa bóp trong bồn.

 

SHE DIDN’T HAVE A NAME
(Nem volt neve)
No, she didn’t have a name
Women don’t have names in dreams
They just come
They just look mysteriously
From the backroom
They knock
They descend from the attic
And float away
Before the door that opens to the hallway
NÀNG KHÔNG CÓ TÊN
Không, cô ấy không có tên
Những đàn bà đều không tên trong những giấc mơ
Đơn giản họ tới
Đơn giản họ nhìn một cách bí hiểm
Từ cuối phòng
Họ gõ
Họ xuống từ tầng áp mái
Và trôi đi
Trước khi cái cửa kia mở ra lối sảnh

 

THE EUPHORIA OF GOING QUIET
(Az elcsitulás eufóriája)
How good it would be to type with eyes closed
to only touch the keys
and imagine the word
the speech, the silence
the ears, napes of necks, lips from close up
snatches of dresses fluttering in the wind
to imagine large halls cool in the summer
before us
and get stuck at a whisper
a smile
a turning back above the shoulder
they call it a fleeting look
even though a look doesn’t flee, even while travelling
it focuses on one point
even if it skates over, it sees the whole picture
for everything is connected to everything else
most of all you with me
and I with you
fear with concern
letting go with waiting for you to come home
infinite devotion
with immense selfishness.
the tiny details
and the great narratives.
the myths.
HÂN HOAN BỞI MÌNH YÊN LẶNG
Thật hay khi gõ mà mắt
nhắm
chỉ chạm vào các phím
và tưởng tượng từ ngữ đó
văn ngôn đó, im lặng đó
những đôi tai, những cái gáy, những đôi môi
cận kề
một thoáng những váy áo phơ phất trong gió
tưởng tượng những sảnh rộng mát ngày hè
trước chúng mình
và mắc lại ở một tiếng thì thầm
một mỉm cười
một ngoái lại qua vai
mà họ gọi một cái nhìn thoáng lướt
dẫu rằng một cái nhìn thì không lẩn đi, ngay dù
đang du ngoạn
nó chú mục vào một điểm
mà nếu như nó chỉ lướt qua, nó nhìn thấy cả
bức tranh
bởi mọi thứ đều nối vào mọi thứ
khác
trên hết là em với anh
và anh với em
sợ với quan tâm
cứ kệ đi với đợi chờ em đến
nhà
vô tận hiến mình
với ngập lòng ích kỷ
những chi tiết rất nhỏ
và những tự sự lớn lao
những huyền thoại.

 

JA-PRIZE-WINNING POET JA GOES TO SOUTH GERMANY, BUT HE DOESN’T FIND ARTHUR RIMBAUD
(JA JA-díjas költő Dél-Németországban jár, de nem találja Arthur Rimbaud-t)
Tranquillity comes with dusk.
The lovely compliant tranquillity of Germans.
Csontváry’s tranquillity at Schauffhausen
White Hawk’s tranquillity
The tranquillity of the Danube’s source
The Danube in Ulm
The Danube at Sigmarinn
The eternal tranquillity of Leonberg
The tranquillity of the Bay of Lindau
The tranquillity of the golden eagle, of the kitchy
fabled castle, which belongs to Ludwig.
The tranquillity of Ludwigsburg
The tranquillity of solitude – you wouldn’t believe it.
I wouldn’t say it.
Krasznahorkai said it. The War and the War.
Which, as is commonly known, is deaf, but it can hear music and the death rattle.
That is as dear to it.
As Arve Henrikson’s trumpet solo is to us.
There won’t be peace until we’ve buried all the dead
and forgiven ourselves.
But what will happen to those who don’t wish to die?
So the author is dead!
But the reader lives!
Melk. Dark green grasses creep from beneath the fresh warm asphalt onto the soft rolling hills of Gerecse. Shamrock – Klee. Above us floats a bedraggled Zeppelin before it bursts into flame.
Brother Anselm’s wooden crucifixes,
the spirit of Bartolomeu de Gusmao.
Where you wish to go, there is no way out.
Where you dare not enter, that are you,
at full moon,
at Attersee.
In the next two years Rimbaud studied English, German, Spanish, Arabic, Italian, Modern Greek and Dutch, then travelled to Germany. The now devoutly Catholic Verlaine
was released from prison in January of 1875, and he came
to see Rimbaud in Stuttgart. He tried to persuade him to follow his example, write about God, about repentance, and then
everything would turn out well. The discussion soon turned
into a fight, and the long and short of it was that Rimbaud thrashed Verlaine good and well.
The tranquillity of Bakonybél in the arboretum,
in the back. In the morning in the chapel too.
NHÀ THƠ ĐOẠT GIẢI JA ĐI NAM ĐỨC, NHƯNG ANH KHÔNG TÌM RA ARTHUR RIMBAUD
Yên tĩnh đến khi hoàng hôn.
Cái yên tĩnh quy củ đáng yêu của người Đức.
Cái yên tĩnh của hội họa Csontváry ở Schauffhausen
Yên tĩnh của Chim Ưng Trắng
Cái yên tĩnh của những nguồn đổ vào Danube
Dòng Danube trong Ulm
Dòng Danube ở Sigmarinn
Cái yên tĩnh vĩnh hằng của Leonberg
Cái yên tĩnh ở Vịnh Lindau
Cái yên tĩnh của đại bàng vàng, của lâu đài cổ kính tươi mát,
nơi thuộc về Ludwig.
Cái yên tĩnh của thành Ludwigburg
Cái yên tĩnh của cô độc – sẽ khó mà tin được.
Tôi sẽ không nói đâu.
Krasznahorkai đã nói điều ấy. Cuộc chiến tranh ấy và cuộc chiến tranh ấy.
Cái thứ, như thường vẫn biết, là điếc, nhưng nó có thể nghe thấy nhạc và tiếng
rít chết chóc.
Chuyện ấy thân thiết với nó.
Như điệu sô lô trumpet của Arve Henrikson thân thiết với chúng ta.
Sẽ không có hòa bình cho tới khi ta chôn hết cái chết
và tự tha thứ cho ta.
Nhưng chuyện gì sẽ xảy đến cho những ai không mong phải chết?
Vậy tác giả chết!
Và độc giả thì sống!
Thành Melk. Những bãi cỏ xanh rì len lỏi dưới nhựa đường ấm tươi
lên những triền đồi thoai thoải của dãy Gerecse. Cỏ Ba Lá – (danh họa) Klee. Trên đầu ta bập bềnh một chiếc Zeppelin tả tơi trước khi cháy tan trong lửa.
Những cây thập giá của Huynh đệ Alsem,
linh hồn của Bartolomeu người xứ Gusmao.
Nơi bạn mong được tới, thì không lối ra.
Nơi bạn không dám vào, là bạn đó chăng,
ở vầng nguyệt hôm rằm,
nơi hồ Attersee.
Trong hai năm kế tiếp Rimbaud học
tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha,
tiếng Ảrập, Italia,
tiếng Hy Lạp Hiện đại
tiếng Đức, rồi
du hành sang Đức. Bấy giờ
Verlain sùng đạo
vừa được ra tù tháng Một
năm 1875, và đã đến
gặp Rimbaud ở Stuttgart. Ông ấy cố thuyết phục Rimbaud
theo gương mình, viết
về Chúa, về lòng ăn năn,
và rồi
mọi sự sẽ nên tốt cả. Cuộc
thảo luận ấy mau chóng
thành
một cuộc tranh đấu, và
đại thể là
Rimbaud đã thắng
Verlain.
Cái tĩnh lặng của
trấn Bakonybél
trong vườn bách thảo,
phía sau. Cũng trong ban mai
nơi nguyện đường.

 

LET’S BRING IT WITH US
(Hozzuk magunkkal)
from the depth of time
the tenacious softness of plants
and among the plants they lived
every hurt
and every forgiveness.
The knowledge that anyone
who plays with feelings
is risking his life
and the knowledge
that life is deep living
and this is the only way
to survive.
Through the tenderness of the body.
As the texture of the spirit.
ĐEM TỚI VỚI CHÚNG TÔI NÀO
từ sâu thẳm của thời gian
sự dẻo dai của cây cối
và giữa muôn cây chúng sống
mọi thương tổn
và mọi tha thứ.
Cái hiểu biết mà bất cứ ai
đùa chơi cảm giác
đang liều mạng mình
và cái hiểu biết mà sinh mạng đắm mình vào mà sống
và đây là cách duy nhất để sống còn.
Thông qua sự mềm dịu của thân thể.
Như là tấm thân của tinh thần.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây