Chúng ta đang tiến hành các hoạt động kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025) với tâm thế tri ân và hành trình tổng kết những dấu ấn đặc sắc, những biểu tượng cao đẹp Bộ đội cụ Hồ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là một trong những nền tảng để người chiến sĩ hôm nay tiếp bước cha anh, trưởng thành và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.
Một trong những thành tố góp phần tạo nên những biểu tượng cao đẹp ấy chính là những đóng góp quan trọng của đội ngũ nhà văn, nhà báo – một đội ngũ đặc biệt đã sớm có mặt trong chiến trường ác liệt, vừa cầm bút vừa cầm súng chiến đấu, đã viết ra những tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật trung thực, sinh động, góp phần kịp thời cổ vũ, động viên, ghi lại cuộc chiến đấu ngoan cường, dũng cảm của quân và dân ta trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trong đội ngũ nhà văn, nhà báo ấy, có nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý, chị đã sớm viết đơn tình nguyện vào chiến trường cầm súng và cầm bút, viết ra những trang văn nóng hổi từ chiến trường và anh dũng hy sinh ngày mùng 8 tháng 3 năm 1969 tại thôn Thị Thại, xã Xuyên Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Chị hy sinh đúng vào một ngày đặc biệt – ngày mùng 8 tháng 3. Dương Thị Xuân Quý không chỉ là một tấm gương cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà chị còn là một trong những nữ nhà văn, nhà báo tiêu biểu có những đóng góp xuất sắc và hy sinh anh dũng trên chiến trường chống Mỹ. Dương Thị Xuân Quý sinh tại thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
Nhà văn Nguyễn Thị Xuân Quý tại chiến trường.
Năm 1965, trước những tin tức từ chiến trường miền Nam sục sôi đánh Mỹ, trước tội ác của kẻ thù, với bản tính của một nhà văn, nhà báo nhạy cảm, giàu lòng yêu thương, Dương Thị Xuân Quý đã kiên quyết bỏ qua lời khuyên của bạn bè, đồng nghiệp, chị viết đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu.
Lá đơn sau này đã trở thành tư liệu quý về chị. Lá đơn như sau:
Lá thư tình nguyện xin vào Nam chiến đấu của Dương Thị Xuân Quý hôm nay chúng ta đọc lại vẫn gây sự xúc động lớn về trách nhiệm rất cao của nữ nhà văn, nhà báo luôn đặt việc nước lên trên việc riêng của mình.
Tháng 4 năm 1968, Dương Thị Xuân Quý gửi lại con nhỏ 16 tháng tuổi cho thân mẫu nuôi dưỡng, lên đường vượt Trường Sơn vào Khu Năm. Trước đó, ở Văn nghệ Quân đội chúng tôi, các nhà văn đều tình nguyện viết đơn vào thẳng các chiến trường ác liệt nhất. Đó là Nguyễn Thi, Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà, Văn Phác,… có người sau đó đã hi sinh. Đó là nhà văn Nguyễn Thi với tác phẩm nổi tiếng Người mẹ cầm súng viết về chị Út Tịch hy sinh tại chiến trường trong Tết Mậu Thân 1968.
Dương Thị Xuân Quý cùng đồng đội sau hơn hai tháng hành quân vượt rừng Trường Sơn, đến ngày 14 tháng 6 năm 1968 vào tới Trạm 1 tại Quảng Nam. Ngày mùng 10 tháng 7 năm 1968, Dương Thị Xuân Quý đến cơ quan Văn nghệ Trung Trung Bộ sau chặng đường 87 ngày đêm vượt qua bom đạn. Chị được phân làm phóng viên Tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ. Khi đó, các văn nghệ sĩ ở đây ai cũng vừa cầm súng chiến đấu vừa cầm bút sáng tác giữa đạn bom. Dương Thị Xuân Quý cũng vậy. Ngày 31 tháng 7 năm 1968, chị đã hoàn thành xong tác phẩm truyện ngắn Hoa rừng – một tác phẩm khá đặc sắc về cuộc chiến đấu tại chiến trường ác liệt Khu 5.
Trong lòng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nơi chiến trường Khu 5, Dương Thị Xuân Quý mau chóng hòa nhập với đồng chí đồng đội, với các nhà văn, nhà báo ở đây, chị đã để lại dấu ấn đặc biệt riêng. Dương Thị Xuân Quý luôn xung phong tới các vùng trọng điểm, vùng sâu, vùng bà con nhân dân và bộ đội đang chiến đấu ác liệt với quân thù. Một lá thư chị để lại ngày 15 tháng 12 năm 1968 đã viết: “Chiều 14-12 đến A7. Suốt đêm bom và đại bác rung đất, B57, B52 dội xối xả. Sống giữa không khí mặt trận đầy nguy hiểm nhưng cảm giác của mình là say mê và thú vị. Lạ thế. Biết là nguy hiểm lắm nhưng sẵn sàng lao vào, dù có hy sinh. Đời người ai chả chết. Dĩ nhiên mình có nghĩ đến đau khổ của anh và bé Ly. Nhưng cái gì rồi cũng sẽ qua thôi. Đó là ý nghĩ của mình khi được phân công đi công tác Quảng Đà từ nay đến cuối tháng 3 – 1969… Lo, mình lo chứ. Nhưng mình quyết tâm và mình nghĩ thế này: Dù có chết thì cũng như bao người đã chết thôi. Nghĩ vậy, không thấy sợ nữa”.
Những dòng chữ của nữ nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý đã trên nửa thế kỷ hôm nay chúng ta đọc lại vẫn thấy vô cùng xúc động. Chỉ có thể trực tiếp tham gia vào cuộc chiến đấu, trực tiếp cầm súng và cầm bút tại chiến trường, dùng vũ khí là trí tuệ và ngòi bút sắc bén đóng góp cho cuộc kháng chiến chính là vẻ đẹp nhất, trách nhiệm cao nhất của đội ngũ văn nghệ sĩ trong đó có nữ nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý. Đó cũng là lý tưởng và nhân cách cao đẹp của nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý.
Những dòng viết cuối cùng của Dương Thị Xuân Quý là hai bức thư đề ngày 2/3 và 3/3/1969 gửi Chu Cẩm Phong về chuyến đi Xuyên Hoà, Xuyên Phú. Chị dự định viết bút ký Về Xuyên Hòa, với ý định mô tả sâu sắc và trung thực cuộc chiến đấu của quân và dân Xuyên Hòa đã và đang gây nỗi kinh hoàng cho Mỹ ngụy. Những dự định luôn ấp ủ trong đầu chỉ mong ùa ra mặt giấy. Đó luôn là khát vọng sáng tạo của Dương Thị Xuân Quý.
Đêm ngày 8 tháng 3 năm 1969, Dương Thị Xuân Quý hy sinh, bị bọn giặc Nam Triều Tiên giết ở vùng sâu Duy Xuyên, tại thôn Thi Thại, xã Xuyên Tân. Chị để lại 14 bút ký, truyện ngắn viết ở miền Bắc; 2 truyện ngắn, 2 bút ký, 3 bài thơ viết từ khi vào chiến trường Khu 5; 1 tập Nhật ký chiến trường 127 trang khi tuổi đời vừa tròn 28.
Các tác phẩm tiêu biểu của Dương Thị Xuân Quý có: Chỗ đứng (truyện, 1968); Gương mặt thách thức (bút ký, 1969); Hoa rừng (tập truyện ký, 1970); Dương Thị Xuân Quý – Nhật ký, tác phẩm (NXB Hội nhà văn, 2007). Chị đã vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Tại Đà Nẵng hiện nay, đã có một con đường mang tên Dương Thị Xuân Quý ở Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn.
Đọc lại những trang văn, nhất là những dòng Nhật ký chiến trường của chị, chúng ta không chỉ khâm phục mà còn vô cùng thương tiếc một tài hoa văn chương đã cống hiến trí tuệ và cả sinh mạng của mình cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Chị như đóa hoa rừng thơm mát, cao thượng lạ lùng, luôn tận tâm, tận hiến cho Tổ quốc. Những dòng văn, thơ, nhật ký của Dương Thị Xuân Quý để lại đã góp phần ngân rung, tạo nên bản hùng ca của phụ nữ quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cho đến tận hôm nay.
Sau này, trong các lần trò chuyện với tôi, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, người bạn thân thiết của Dương Thị Xuân Quý đều nhắc đi nhắc lại trong nước mắt rằng, Dương Thị Xuân Quý là một người luôn đặt phẩm giá, nhân cách của nhà văn lên cao nhất, luôn muốn vào nơi gian khổ ác liệt nhất, để từ đó có những trang văn xanh thắm nhất. Chị Nhàn nhiều lúc đã im lặng rất lâu khi nhắc tới người bạn thân thiết của mình. Sau này, nhận được tin Dương Thị Xuân Quý hi sinh, Phan Thị Thanh Nhàn đã khóc nhiều đêm và tự nhủ mình phải vào chiến trường, phải sống và noi gương bạn.
Nhà văn Dương Thị Xuân Quý hy sinh đêm ngày mùng 8 tháng 3 năm 1969 mà mãi đến 9 giờ đêm ngày mùng 3 tháng 8 năm 2006, sau hơn 37 năm mới được đồng đội tìm thấy hài cốt của chị cùng với chiếc kẹp tóc đã han gỉ có hai chữ X. Quý và hai chiếc khuy áo màu xanh lá cây rừng.
Tất cả mọi người đã lặng đi. Nhiều người đã khóc không thành tiếng. Thì biết nói gì đây với người đã hy sinh.



![[Clip]: Bão Jangmi càn quét Nhật Bản khiến hàng chục nghìn gia đình mất điện Bão Jangmi càn quét Nhật Bản khiến hàng chục nghìn gia đình mất điện](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/06/Bao-Jangmi-can-quet-Nhat-Ban-218x150.jpg)















