Nhìn nhận về vị Khai Quốc triều Trần – Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Người bênh thì bênh quá lên, khoác vào cho ông nhiều công lao quá, nào dựng nước nào giữ nước, nào mưu kế như thần, an với dân trung với vua, nào cả đời lao tâm lao lực tự mình đầy ải mình… Lại người ghét ông thì cũng ghét quá, khép vào tội khi quân loạn đảng, bức vua, cướp nước rồi mưu mô giảo quyệt quỉ khốc thần sầu. Đời tư khi ấy cũng bị bới móc, chỉ trích ông dâm loạn, thất đức. Thực ra nên nhìn ông ở góc độ con người. Là người thì có đúng có sai. Càng các bậc vĩ nhân cái đúng cái sai biểu hiện càng ghê gớm. Bản thân ông là một nhân vật lớn của lịch sử. Lịch sử chọn ông để thi triển một khuất khúc, một chuyển biến của mình thì ông không làm thế nào khác được. Nó như mẹ thì phải đẻ ra con, có ông tất phải là có cháu. Chỉ có điều cái ông Trần Thủ Độ này bị lịch sử chọn ngay ở thời điểm nhạy cảm ấy, lại có tài, lại là tài thao lược kinh luân đến thế thì cái việc vật đổi sao rời lắm công nhiều tội cũng là một tất yếu lịch sử. Một tất yếu cần có cái nhìn độ lượng hơn nữa với bản thân ông.
Khu di tích lăng mộ Trần Thủ Độ, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Khi khắc họa những nhân vật lịch sử, các nhà tiểu viết sử căn cứ sử liệu nhiều khi chỉ xét nhân vật trong tư thế lịch sử vốn có, trong “vai trò đang đóng” của họ, mà nhân vật lịch sử, tức là nhân vật chính trị luôn có những biểu hiện, diễn đạt theo xu thế lịch sử có lợi cho cá nhân, thể chế và đại cục mà họ theo đuổi. Cho nên, nếu không bóc đi cái biểu hiện bên ngoài, bóc tách vai trò đang đóng của nhân vật sẽ dẫn đến cái nhìn phiếm diện, cắt xén, xa rời bản chất thật của nhân vật dẫn đến nguy cơ làm méo mó lịch sử.
Tìm hiểu về Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ, chúng ta không thể chỉ căn cứ vào chính sử vì chính sử phong kiến đã tỏ ra quá khe khắt với ông, nhiều chỗ là nghiệt ngã nên chúng tôi trong quá trình xây dựng chân dung về ông đã còn dựa vào các tư liệu khác như: Dã sử, dật sử, huyền tích dân gian, các chuyên luận khoa học, các tiểu thuyết lịch sử sát thực với chính sử mà trong ấy tiêu biểu phải kể đến tập tiểu thuyết lịch sử Bão táp cung đình của nhà văn Hoàng Quốc Hải. Dưới ngòi bút của nhà văn tài danh này cùng các nguồn tư liệu khác nhau đã cho thấy phẩm chất nổi trội là vị quốc, vị dân của vị thống tướng anh hùng vào bậc nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam.
Lăng mộ của ông nằm ở Thôn Ngừ, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Bão táp cung đình bên cạnh nhân vật Trần Thủ Độ, tác giả đã khéo léo đặt vào đấy một nhân vật của dân gian, nhân vật Hoàng tiên sinh. Nhân vật này chắc chắn là một sáng tạo có chuẩn bị kỹ lưỡng của nhà văn, tạo sự vững vàng, cân đối cho tác phẩm lịch sử nước ta, trải qua mấy nghìn năm dường như khi nào cũng luôn tồn tại những cặp nhân vật lịch sử như vậy. Như là cứng ở bên mềm, cương đối xứng nhu, âm ở cạnh dương cũng là lẽ huyền vi của tạo hóa. Nhân vật Hoàng tiên sinh thể hiện tinh thần tiếp thu tinh hoa nho học của vương triều Trần. Vương triều Trần là vương triều tiền Nho, Phật lão đồng nguyên, tôn trọng nhau, học tập nhau vì mục tiêu lớn lao là con người và dân tộc. Thông qua những ứng xử của vị khai quốc triều Trần Trần Thủ Độ với các đối thủ chính trị là Nguyện Nộn và Đoàn Thượng cũng như một số kẻ sĩ còn hương vong nhà Lý đã cho thấy một nhãn lực chính trị phi thường của Đần Thủ Độ. Điều này giải thích những linh động kiên quyết của ông trong đó không phải không có những sai lầm mang tính cục bộ song tuyệt nhiên và nhất quán theo một quĩ đạo thống nhất là phụng sự lợi ích lâu dài của Tổ quốc, của nhân dân. Tấm lòng trung trinh của ông biểu hiện cao độ nhất với câu nói nổi tiếng khi vó ngựa Mông Thát ầm ầm nơi biên ải: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo” và cả những ngẫm nghĩ, những khi dằn dỗi, cáu giận trước cảnh mấy anh em vua trẻ một mực bỏ ngôi vị gây khó xử cho ông, đẩy ông vào tình thế trớ trêu dễ để miệng lưỡi thế gian chế diễu. ở lúc ấy, nếu là một nhà chính trị non tay vương nghiệp ắt lung lay, giặc cướp nổi lên, dân lành điêu háo và nạn ngoại xâm là khó tránh khỏi, toàn cục lịch sử, giang sơn không biết sẽ đi đến đâu. Những phút giây ấy không chỉ là một lần đến với vị khai quốc triều Trần công góp phần khởi định con người thật của ông, một con người thấm đẫm nhân tình, hiểu đời và hành xử khác thường, tiên quyết và tiên lượng những việc lớn quốc gia mà không phải ai cũng nhìn nhận ra, nhìn nhận khách quan và công bằng, kể cả đến bây giờ.
Vào năm 1258, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất, Thái sư Trần Thủ Độ đã nói một câu nổi tiếng, được ghi tạc vào sử Việt: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”.
Họ Trần bắt đầu tham gia chính sự từ sau loạn Quách Bốc năm 1209 – 1210 thời Lý Cao Tông vì có công dẹp loạn và tôn phò thái tử Lý Sảm. Lý Sảm lên nối ngôi, tức là Lý Huệ Tông. Quyền hành họ Trần ban đầu trong tay Trần Tự Khánh.
Là em họ của Trần Thừa và Trần Tự Khánh, Trần Thủ Độ đồng thời là võ tướng dưới quyền Trần Tự Khánh đánh dẹp các lực lượng nổi dậy cát cứ cuối thời Lý. Năm 1213, Trần Thủ Độ theo Tự Khánh đánh kinh đô Thăng Long và thắng trận, sau đó lại đánh thắng hai tướng cát cứ ở vùng Hồng châu là Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi trong lúc trên đường đi trấn nhậm Lạng ải.
Sau khi Trần Tự Khánh chết (1223), Trần Thủ Độ thực sự là người thay thế nắm quyền trong triều. Đối với nhà Lý, ông tỏ ra còn cứng rắn hơn Trần Tự Khánh.
Sau một thời kỳ dài nằm trong tình trạng hoang phế, đến năm 1994 lăng mộ Thái sư Trần Thủ Độ được xây dựng lại. Những năm 2000, lăng mộ được trùng tu lớn và có diện mạo như ngày nay.
Năm 1224, ông được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ. Vua Huệ Tông và vợ, tức chị họ ông, là Trần Thị Dung có 2 con gái, người em tên là Phật Kim, được phong là công chúa Chiêu Thánh. Ông ép Huệ Tông bỏ ngôi lên làm thái thượng hoàng để nhường ngôi cho Phật Kim, tức là Lý Chiêu Hoàng, khi đó mới lên 7 tuổi.
Sau đó ông đưa con Trần Thừa là Trần Cảnh (sau này là Trần Thái Tông), mới 8 tuổi, vào hầu Lý Chiêu Hoàng, rồi dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và nhường ngôi để chuyển ngai vàng sang họ Trần vào cuối năm 1225. Nhà Trần thay nhà Lý bởi tay Trần Thủ Độ. Thượng hoàng Huệ Tông bị ép đi tu, truất làm sư Huệ Quang.
Nhà Trần thành lập, ông được phong là Thống quốc thái sư, lo toan mọi việc cho triều đình nhà Trần.
Trần Thủ Độ làm quan rất nghiêm minh, khi Thiên Cực công chúa có xin riêng cho một người làm Câu Đương, ông nhận lời. Đến lúc xét, ông gọi người ấy lên mà bảo: “Ngươi vì có Công chúa xin cho được làm Câu Đương nên không thể so với người khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt”. Người ấy sợ quá xin mãi mới được tha. Từ ấy không ai dám đến nhà riêng xin xỏ nữa.
Vợ Trần Thủ Độ là Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung khi đi ngang qua cung cấm thì bị một người lính chạy cờ ngăn lại. Bà trở về nhà thuật lại và khóc: “… Mụ này là vợ ông mà bị bọn quan khinh nhờn như vậy!” Trần Thủ Độ tức giận sai bắt người lính chạy cờ về trị tội. Nhưng sau khi nghe người này trình bày nguyên do thì ông cười và nói: “Ngươi ở dưới cấp thấp mà biết giữ phép nước, ta còn trách gì nữa”, sau đó ban thưởng cho người này.
Vua Thái tông và hoàng hậu Chiêu Thánh (tức Lý Chiêu Hoàng) lấy nhau đã lâu chưa có con. Năm 1236, Trần Thủ Độ liền ép Thái tông lấy chị dâu là công chúa Thuận Thiên – vợ Trần Liễu, chính là chị ruột của Chiêu Thánh vì Thuận Thiên đã có mang sẵn với Trần Liễu được 3 tháng. Việc đó khiến Trần Liễu thù hận cất quân nổi loạn và Trần Thái tông toan bỏ đi tu. Nhưng trước sức ép cứng rắn của Trần Thủ Độ, Thái tông quay trở lại ngôi vua, còn Trần Liễu sau khi thất bại cũng phải hàng phục và được phong làm An Sinh vương ở Kinh Môn (Hải Dương).
Tuy nhiên, người con của Trần Liễu mà Trần Thủ Độ sắp đặt để làm con Trần Cảnh là Trần Quốc Khang sinh ra năm 1236 cũng không được làm thái tử dù là con trưởng. Năm 1240, Thái tông sinh được Trần Hoảng, lập làm thái tử và sau trở thành vua Trần Thánh tông.
Có thể thấy rằng, Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ là nhân vật lịch sử đã, đang và sẽ còn gây nhiều tranh cãi của các bậc tiền nhân và hậu bối sau này. Đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học toàn quốc về vương triều Trần và vai trò cá nhân của ông. Các quan điểm luôn không đồng nhất, thậm chí trái ngược hẳn nhau. Điều này dường như là một tất yếu của lịch sử. Xét các bề công tội về ông cũng không có sự thống nhất. Ông là một người hùng tài đại lược, có thể nói là rất gian hùng. Ông soán đoạt cơ nghiệp nhà Lý bằng cơ mưu nhưng cuộc soán đoạt ấy đã diễn ra mà không rơi vào cảnh nồi da xáo thịt (một điều thường thấy ở các triều đại phong kiến bấy giờ) ngoại trừ việc ông chủ trương diệt tộc nhà Lý. Nhiều người cho đây là tội ác không thể dung thứ nhưng nhìn về một phía nào đó sẽ thấy rằng đây là một hành động tất yếu, nhất là lại ở một con người gian hùng như Trần Thủ Độ.
Trong các triều đại phong kiến, việc các hôn quân (đôi khi là cả minh quân) giết cả nhà, cả họ, tru di tam tộc, cửu tộc đối với những kẻ phản nghịch (thực chất là đối thủ chính trị) thường xuyên xảy ra nhưng các sử gia ít khi kết tội. Nhìn nhận hành vi của Trần Thủ Độ ở đây nếu nhìn nhận ở góc độ thanh trừng tiềm lực đối thủ chính trị chúng ta sẽ thấy khác đi nhiều. Đó cũng là những nghiệt ngã và mông muội của các thể chế chính trị cầm quyền cần được nghiên cứu và bóc tách một cách khoa học, cũng là làm rõ thêm diện mạo các nhân vật lịch sử trong đó có Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ.
Ở đây, xét về mọi mặt bối cảnh lịch sử thời điểm ấy, nếu ta nhìn Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ ở góc độ vị quốc, vị dân sẽ thấy mở ra rất nhiều điều cần bàn. Dù hành vi không trực tiếp lên ngôi (việc này ông thừa sức làm ở thời điểm ấy) được nhiều người cho rằng đây là một mưu kế quỷ quyệt của ông cũng như không ít người ngợi ca hành vi này. Kể cả khi vua Trần Thái tông dỗi lên núi ông vẫn nhất quyết phò trợ còn dùng mọi hành động ép vua trở lại triều chính. Điều này nếu là một người thường sẽ không thể hành động được như thế. Liệu lúc ấy đã có ai nhìn ra họa xâm lăng đã nhen mầm từ phương Bắc và việc an dân trị quốc, đặc biệt là có được một khoảng thời gian thích hợp để vực thế nước cường thịnh, một chủ trương xuyên suốt toàn bộ cuộc đời lắm công nhiều tội của ông. Đây là một trong những tồn nghi về cá nhân ông chỉ được giải mã khi ông nói: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Đó cũng là thời điểm gian khó nhất trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ do chiến tướng Ngột Lương Hợp Thai, một đại tướng lừng danh của Đại hãn Mông Kha được cử xuống đánh chiếm Đại Việt. Khi ấy, sau một số trận tác chiến với quân chủ lực nhà Trần tại Quy Hóa, Bình Lệ Nguyên, trước thế giặc dữ, Trần Thái tông cùng các tướng lui quân về Thăng Long, sau lui tiếp dữ Thiên Mạc. Khi thế nước lâm nguy, Thái tông ngự thuyền đến hỏi Thái úy Trần Nhật Hiệu (em ruột Trần Thái tông), vị Thái úy đã không đứng nổi dậy chỉ còn đưa tay chấm nước viết vào mạn thuyền hai chữ “Nhập Tống” chứng tỏ sự khiếp đảm đã lên tới tột độ và khi ấy không có tiếng nói đanh thép của Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ chưa biết tình hình sẽ ra sao.
Với biệt tài và cơ mưu quyền biến của mình, Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ đã hiến kế và cùng với vua Trần Thái tông tổ chức phản công và đánh bại quân địch. Sau chín ngày chiếm cứ Thăng Long, cuối cùng đám giặc Hồ đã phải tháo chạy về nước. Lần tác chiến này đã cho quân và dân triều Trần những kinh nghiệm quý báu để sau này làm nên những võ công lịch sử.
Trong lần chiến thắng này, vai trò của Trần Thủ Độ là rất lớn, đặc biệt việc chuẩn bị tinh thần và quốc lực cho một cuộc chiến tranh lâu dài, nhiều lần, cả tinh thần quyết chiến lẫn phương lược chống giữ (chính ông cũng đã dự báo sớm muộn gì quân Nguyên Mông sẽ sang xâm chiếm Đại Việt và cũng chính ông là người đã tìm cách bỏ qua cho tội lỗi của Trần Quốc Tuấn, vị Thánh tướng Hiền minh, người có công lao quyết định trong hai lần kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông sau này).
Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ trước hết là một soái tướng tài giỏi bậc nhất của vương triều Trần. Ở ông, hội tụ đầy đủ phẩm chất văn võ kiêm thông của một đại tướng và trí óc lão luyện, anh hùng của một chính trị gia. Ông chính là mẫu người chính trị lý tưởng trong thời khắc chuyển giao quyền lực của các vương triều phong kiến. Ông cũng là người hoàn toàn có thể đích thân ra trận đánh đông dẹp bắc nhưng cũng bằng tài trí phi thường ở trong màn trướng mà định đoạt được cục diện chiến trận nơi xa, xuyên suốt thời gian (việc ông thanh toán Đoàn Thượng và Nguyễn Nộn là một ví dụ điển hình). Ông là người vô cùng quả đoán với các đối thủ chính trị, thậm chí là tàn nhẫn hạ độc thủ (với các tôn thất nhà Lý). Ông cũng là người tâm can khó lường, kể cả với các tướng lĩnh, tôn thất nhà Trần. Ngay như việc ông sử dụng và trọng dụng Phùng Tá Chu, một đại thần triều Lý sau này là một trọng thần triều Trần cũng là bài toán không dễ gì giải đáp ở một con người luôn đặt dòng họ mình, vương triều mình lên trên cả nhân phẩm con người. Việc ông ứng xử với những người thân nhất (vua, đại thần họ Trần, vợ con, họ hàng…) một cách vừa nghiêm khắc, vừa công tâm đã cho thấy sự phức tạp nhưng rất nhất quán ở ông là vị quốc, vị dân, vị sự lớn mạnh của Đại Việt, vì tư thế của sơn hà xã tắc. Ông là con người tưởng chừng rất mâu thuẫn nhưng luôn nhất quán với niềm tin và lý tưởng của mình, một cách sắt đá, một cách không gì lay chuyển nổi, mặc kệ những chê cười, mặc kệ đám hủ nho hay kể cả những phán xét sau này của lịch sử.
Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ là một nhân vật lịch sử vô cùng hiếm gặp nếu không muốn nói là duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Phẩm cách và cá tính của ông, tài năng và các hành vi ứng xử trong toàn bộ cuộc đời ông là một cái gì đó mà chúng ta không dễ dàng giải mã. Chúng ta chỉ có thể tiệm cận ông khi đặt dưới nhiều góc độ mà không nên có những kết luận xơ cứng, xu phụ hoặc nghiêng theo một cái nhìn của thể chế chính trị nào. Hãy cho ông sống gần hơn với những hành động và suy nghĩ của một người bình thường trong một con người trí tuệ siêu phàm như ông. Hãy gạt đi những bi kịch cá nhân, những kịch bản sắp sẵn cho ông mà hãy đặt ông đúng vào vị trí của một nhân vật đặc biệt trong lịch sử. Tin rằng thời gian và sự tiến bộ của con người sẽ ngày càng có cái nhìn đúng đắn hơn về Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ.




















