Tiểu thuyết lịch sử “Ngô Vương” của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai (NXB Hội Nhà văn, 2019).
Tiến sĩ Hà Thanh Vân – Tác giả bài viết.
Trong nhiều tác phẩm tự sự về chiến tranh, thiên nhiên chỉ là bối cảnh. Nhưng trong tác phẩm Ngô Vương, thiên nhiên có tính tác nhân. Dòng nước, thủy triều, gió, bãi bồi, lau sậy, rừng gỗ và cửa biển trực tiếp tham gia quyết định trận đánh.
Kế bãi cọc chỉ thành công khi người chỉ huy hiểu chu kỳ nước lên xuống. Cọc phải được đóng ở vị trí phù hợp, che giấu khi nước lên và phát huy tác dụng khi nước rút. Thuyền nhỏ phải dụ được đoàn thuyền lớn vào sâu. Các đội quân trên bờ và mặt nước phải phối hợp đúng thời điểm. Điều này làm chiến thắng Bạch Đằng trở thành sự kết hợp giữa con người với môi trường cư trú. Cộng đồng phương Nam không chinh phục thiên nhiên theo nghĩa áp đặt. Họ đọc được nhịp điệu của thiên nhiên và hành động trong nhịp điệu ấy. Dòng sông không phục vụ bất kỳ bên nào một cách tự động mà nó chỉ trở thành đồng minh của những người hiểu nó.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai – Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Quân Nam Hán có ưu thế về số lượng, thuyền lớn và tổ chức triều đình. Nhưng chính những ưu thế ấy tạo sự kiêu ngạo. Họ xem sông Bạch Đằng như con đường thẳng để tiến vào nội địa. Trong khi đó, Ngô Quyền và cư dân địa phương nhận ra những tầng sâu không nhìn thấy trên mặt nước. Đây là một cấu trúc biểu tượng giàu ý nghĩa. Thiên triều nhìn bề mặt nhưng người bản địa hiểu chiều sâu. Quân Nam Hán dựa vào sức mạnh có thể đo đếm được; cộng đồng bản địa dựa vào tri thức tích lũy qua đời sống lâu dài. Bãi cọc nằm dưới nước là hình ảnh vật chất hóa của những tri thức ẩn tàng. Khi nước dâng, những cọc nhọn không nhìn thấy, giống như sức mạnh của cộng đồng từng bị kẻ xâm lược xem thường. Khi nước rút, cấu trúc ẩn hiện ra và đảo ngược tương quan lực lượng. Vì vậy, sông Bạch Đằng trong tác phẩm vừa là chiến thuật, vừa là ẩn dụ về lịch sử phương Nam, có lúc quốc thống bị che lấp, nhưng không biến mất.
Những trận đánh bằng voi, đốt cầu phao, tập kích thủy trại và trận Bạch Đằng đều được miêu tả với nhiều chi tiết cụ thể về quân số, đội hình, vũ khí, địa thế và tâm lý. Dù có chỗ cường điệu theo bút pháp chương hồi, các cảnh chiến trận vẫn có sức cuốn hút và giàu hình ảnh. Đặc biệt, nhà văn Phùng Văn Khai còn làm rõ vai trò của sông nước trong lịch sử quân sự Việt Nam. Tri thức thủy văn, kỹ năng chèo thuyền và khả năng sử dụng địa hình trở thành phần quan trọng trong bản sắc chiến đấu của cộng đồng phương Nam.
Một trong những nguy cơ khi kể về các chiến thắng lớn bằng văn chương là biến mọi công lao thành sản phẩm duy nhất của thiên tài chỉ huy. Tác phẩm Ngô Vương phần nào tránh được điều đó bằng cách kể quá trình chuẩn bị và sự tham gia của cộng đồng. Bãi cọc cần người tìm gỗ, chặt gỗ, vận chuyển, vạt nhọn, bọc sắt, xác định luồng nước và đóng xuống lòng sông. Cần dân chài, thợ rèn, binh lính, người chèo thuyền, người trinh sát. Nhiều người hy sinh mà lịch sử chính thống không ghi tên. Ngô Quyền có công nhìn ra phương án và tổ chức tổng thể, nhưng phương án chỉ tồn tại nhờ lao động tập thể. Chính nhận thức ấy khiến cho sau chiến thắng, nhân vật Ngô Quyền nói đến sức dân và nhân tài các châu. Ở bình diện ký ức, tiểu thuyết mở rộng danh sách chủ thể lịch sử. Không chỉ có vua và tướng lĩnh, mà những cộng đồng vô danh cũng hiện diện. Dù chưa phải nhân vật có đời sống cá nhân riêng thật sâu, họ vẫn được ghi nhận như nền móng của chiến thắng.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai – Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội (thứ 2 bìa trái).
Hình ảnh nước thủy triều dâng lên, dòng Bạch Đằng trở lại xanh thẫm “như không hề” có trận huyết chiến tạo một kết thúc giàu ám ảnh. Thiên nhiên phục hồi nhanh hơn ký ức con người. Xác thuyền và binh lính có thể bị nước cuốn đi, nhưng cộng đồng không được phép quên.
Diễn ngôn chủ quyền: Cuộc đấu tranh giành quyền gọi tên lịch sử
Ở bình diện diễn ngôn, tác phẩm Ngô Vương đồng thời dựng lên sự đối lập giữa ngôn ngữ của thiên triều phương Bắc và ngôn ngữ của cộng đồng bản địa người Việt. Edward W. Said (1935–2003) là nhà lý luận văn học, nhà phê bình văn hóa người Mỹ gốc Palestine, từng nhấn mạnh quan hệ giữa trung tâm và đối tượng bị trung tâm kiến tạo là “a relationship of power, of domination”, có thể dịch là một quan hệ quyền lực và một quan hệ thống trị. Dù không thể áp dụng nguyên xi mô hình chủ nghĩa thực dân châu Âu hiện đại vào quan hệ nhà nước Việt – Hán thời thế kỷ X, gợi ý của Edward Said vẫn giúp nhận ra quyền lực của việc gọi tên, định danh trong tác phẩm
Các nhân vật Nam Hán trong tiểu thuyết Ngô Vương thường gọi chính quyền của mình là “thiên triều”, gọi hoàng đế là người nắm “thiên uy” và xem Giao Châu như phiên trấn có nghĩa vụ thần phục. Những người chống lại họ bị gọi là “giặc cỏ”, “man di”, “phản loạn” hay “nghịch thần”. Đây là một hệ thống ngôn ngữ có cấu trúc rõ ràng với trung tâm là thiên hạ chính thống, ngoại vi là vùng đất cần được giáo hóa, người của trung tâm mang quyền phong chức và trừng phạt, người bản địa chỉ có hai vị trí là thần phục hoặc phản loạn. Nhân vật Lý Khắc Chính nói với Độc Toàn Chân rằng những người phương Bắc xuống phương Nam, dù là quan tướng hay thương nhân, đều “cùng hội cùng thuyền”, cùng phục vụ chủ nhân phương Bắc. Chi tiết này phơi bày mối liên kết giữa quân sự, hành chính và kinh tế. Xâm lược ở đây không chỉ nhằm chiếm thành trì; mà nó còn nhằm kiểm soát sản vật, thương mại và mạng lưới quyền lực.
Nhà văn Phùng Văn Khai nhiều lần mô tả việc quân Nam Hán cướp bóc, bắt dân phu, phá đình chùa, trưng dụng thuyền bè trong tác phẩm Ngô Vương. Những hành động ấy cho thấy phía sau ngôn ngữ “thiên uy” là lợi ích vật chất. Diễn ngôn văn minh và trật tự che phủ việc chiếm đoạt, xâm lược. Chúng tước bỏ tư cách chủ thể của cộng đồng dân tộc Việt ở phương Nam và hợp thức hóa hành động chinh phạt.
Đối lập với ngôn ngữ của thiên triều phương Bắc là hệ thống từ ngữ của các nhân vật phương Nam như “quốc thống”, “đất có chủ”, “người phương Nam”, “gốc nước”, “nguồn cội”, “tự chủ”, “giữ nước” và “rửa nhục”… Từ góc nhìn đó, chiến thắng Bạch Đằng vì thế không chỉ đảo ngược tương quan quân sự, mà còn đảo ngược trật tự biểu tượng khi những người từng bị diễn ngôn thiên triều phương Bắc gọi là phản loạn lại trở thành chủ thể chính nghĩa của lịch sử, còn quyền lực tự nhận là “thiên triều” lại bị nhận diện như một thế lực xâm lược. Khi đối mặt Lý Tri Thuận, Ngô Quyền tuyên bố: “Giao Châu là đất có chủ, Ái Châu là đất có anh hùng”. Câu nói ngắn nhưng có cấu trúc như một phản tuyên ngôn. Nó phủ nhận tiền đề rằng triều đình Nam Hán có quyền tự nhiên đối với Giao Châu. “Có chủ” không chỉ có nghĩa đang có một người cai quản. Nó có nghĩa là vùng đất thuộc về một cộng đồng có lịch sử, phong tục tập quán văn hóa và có khả năng tự quyết.
Ở phần đầu tác phẩm Ngô Vương, ngôn ngữ người kể chuyện còn trực tiếp chất vấn sử sách của phía xâm lược. Việc Nam Hán lấy cớ họ Khúc “ăn ở hai lòng” được xem là sự “chế tạo” theo ý hoàng đế để hợp thức hóa cuộc Nam chinh. Đây là một thao tác phản sử học khi nhà văn không tiếp nhận nguyên trạng cách gọi của triều đình phương Bắc, mà vạch ra cơ chế quyền lực phía sau văn bản chính thống. Cuộc đấu tranh trong tác phẩm vì vậy đồng thời là cuộc đấu tranh giữa hai cách kể: Theo Nam Hán, đây là việc thiên triều dẹp phản loạn ở phiên trấn; theo cộng đồng phương Nam, đây là cuộc xâm lược đất nước có chủ. Ai giành quyền kể sẽ giành quyền xác định chính nghĩa. Tác phẩm Ngô Vương đã chủ động đảo ngược điểm nhìn, đặt người từng bị gọi là “giặc cỏ” vào vị trí chủ thể của lịch sử.
Tuy vậy các vùng đất trong tiểu thuyết Ngô Vương vẫn có tính độc lập tương đối mạnh. Phong Châu thuộc quyền họ Kiều, Đằng Châu do họ Phạm kiểm soát, Đường Lâm gắn với họ Ngô, Đại Hoàng gắn với họ Đinh, Ái Châu là căn cứ họ Dương. Các thủ lĩnh có quân đội, đất đai, quan hệ và tham vọng riêng. Điều đó phản ánh một thời kỳ quyền lực phân tán, khi thiết chế trung ương chưa thật sự ổn định. Vì vậy để xây dựng câu chuyện quốc gia, tiểu thuyết phải vượt qua sự phân tán ấy. Một trong những công cụ sử dụng là khái niệm “người phương Nam”. Cụm từ này xuất hiện trong lời nhân vật và lời người kể, tạo ra một chủ thể bao trùm các địa phương. Những người chưa từng gặp nhau vẫn được hình dung như cùng nguồn cội, chung phong tục và chung mối họa ngoại xâm. Theo Benedict Anderson, cộng đồng chính trị rộng lớn được tạo ra khi con người hình dung sự gắn bó với những người mình không quen biết. Trong tác phẩm Ngô Vương, lời hịch, sứ giả, hội binh, lễ tế, ký ức các anh hùng và việc kể lại lịch sử thực hiện chức năng ấy. Một người dân cửa biển Hải Triều có thể hình dung mình cùng cộng đồng với binh sĩ Ái Châu vì cả hai được đặt vào câu chuyện bảo vệ đất phương Nam.
Tuy nhiên, tác phẩm Ngô Vương cũng không che giấu hoàn toàn những vết nứt vỡ. Nhân vật Kiều Công Tiễn đại diện cho tham vọng địa phương có thể phá vỡ cộng đồng. Sự chậm trễ, nghi kỵ giữa các hào trưởng cho thấy sự thống nhất không tự nhiên có sẵn. Nó phải được kiến tạo bằng liên minh, đạo lý và một trung tâm quyền lực đủ thuyết phục.
Thi pháp kiểu chương hồi và giọng điệu sử thi
Tiểu thuyết Ngô Vương được chia thành mười tám hồi, mỗi hồi có nhan đề hai vế, thường đối xứng về cấu trúc. Chẳng hạn: “Dương Đình Nghệ thân chinh Bắc phạt / Lý Khắc Chính binh bại Giao Châu”; “Thuận dòng gió nước, Phạm Bạch Hổ hiến kế đốt cầu phao / Vâng chiếu Hán triều, Lý Khắc Chính hành lễ đón Lý Tiến”; “Tiết xuân mới, chúng tướng suy tôn Ngô Vương ở La thành / Giữ quốc thống, trăm quan dâng biểu dời đô đến Cổ Loa”. Cách đặt tên hồi vừa tóm tắt sự kiện, vừa tạo thế cân xứng giữa hai tuyến hành động. Nó gợi nên truyền thống tiểu thuyết chương hồi Đông Á, nơi người kể chuyện đóng vai trò dẫn dắt mạnh và người đọc được báo trước những điểm nội dung chính.
Các cụm từ ngữ “đây nói tiếp chuyện”, “nay nói chuyện”, “lại nói” xuất hiện thường xuyên trong tác phẩm. Người kể chuyển điểm nhìn từ Đại La sang Ái Châu, từ triều đình Nam Hán sang doanh trại Ngô Quyền, từ chiến trường sang gia đình. Nhờ những công thức chuyển ấy, khối lượng nhân vật và sự kiện lớn được tổ chức tương đối rõ ràng.
Ưu thế của kết cấu chương hồi là khả năng mở rộng không gian, tạo cảm giác lịch sử đang vận động trên nhiều mặt trận, phương diện. Người đọc vừa theo dõi kế sách của Dương Đình Nghệ, vừa biết sự nghi kỵ trong thành Đại La; vừa thấy Ngô Quyền chuẩn bị bãi cọc, vừa thấy Lưu Hoằng Thao tự tin tiến quân. Những tuyến miêu tả song song tạo độ căng thẳng trước khi gặp nhau trong chiến trận. Tuy vậy, lối kết cấu chương hồi có mặt hạn chế là nhan đề đôi khi tiết lộ gần hết kết quả, làm giảm bất ngờ đối với người đọc. Nhưng với tiểu thuyết lịch sử, nhất là khi kết cục đã được người đọc biết trước, mục đích nhà văn hướng đến không chủ yếu nằm ở câu hỏi ai thắng. Nó nằm ở cách thắng, những lựa chọn đạo đức, mất mát và con đường dẫn đến kết quả thắng lợi.
Tác phẩm Ngô Vương sử dụng nhiều yếu tố huyền thoại như điềm lạ khi nhân vật ra đời, truyền thuyết về dòng họ, thần linh hiển ứng, giấc mộng, thiên tướng và sự trợ giúp của tiền nhân, mà ở đây cụ thể là sự hiện về của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Đặc biệt, mưu kế bãi cọc Bạch Đằng được bao phủ bởi một lớp kể thiêng liêng. Phạm Bạch Hổ từng thắc mắc về lời Ngô Quyền nói rằng một tiên ông đã mách kế này. Sau đó, nhân vật tự hiểu rằng không nhất thiết có một vị thần cụ thể từ trời xuống mà “vị thiên tướng” ấy có thể chính là kết quả của sự nung nấu, kinh nghiệm và ý chí tìm kế phá giặc của Ngô Quyền. Đây là cách xử lý khá thú vị. Tác phẩm không hoàn toàn giải thiêng, cũng không hoàn toàn yêu cầu người đọc tin vào phép lạ. Huyền thoại được giữ lại như ngôn ngữ của cộng đồng để nói về trí tuệ phi thường. Điều con người chưa thể giải thích đầy đủ được thì chuyển thành câu chuyện thần linh; nhưng phía sau lớp vỏ huyền thoại, nhà văn vẫn nhấn mạnh kinh nghiệm chiến trận, sự am hiểu địa thế và suy nghĩ của người chỉ huy.
Huyền thoại trong tác phẩm Ngô Vương vì vậy thực hiện ba chức năng. Thứ nhất, nó nâng người anh hùng lịch sử lên tầm biểu tượng văn hóa. Thứ hai, nó kết nối chiến thắng với sự che chở của tổ tiên và non sông. Thứ ba, nó làm cho ký ức dễ lưu truyền. Một phương án quân sự phức tạp có thể bị quên, nhưng câu chuyện thần linh báo mộng và bãi cọc giết giặc có khả năng sống lâu trong trí nhớ cộng đồng. Điểm cần lưu ý là phải phân biệt chức năng thẩm mỹ của huyền thoại với giá trị xác thực của sử liệu. Không nên dùng huyền thoại để thay thế chứng cứ lịch sử, nhưng cũng không nên loại bỏ huyền thoại như phần không có thật. Trong tiểu thuyết lịch sử, việc miêu tả huyền thoại cho thấy cách cộng đồng trao ý nghĩa cho quá khứ.
Người kể chuyện trong Ngô Vương có quyền năng rất lớn, đó là người kể chuyện toàn tri và có giọng phán xét. Người kể biết suy nghĩ của hầu hết nhân vật, giải thích động cơ, bình luận đúng sai, dự báo hậu quả và nhiều lần thay người đọc đưa ra phán xét. Chẳng hạn, khi nói về các biểu tấu của Nam Hán, người kể chuyện khẳng định đó là sự “chế tạo” phục vụ dã tâm hoàng đế. Khi nói về thương nhân phương Bắc, giọng kể thường gắn họ với sự tham lam và những mưu đồ. Khi miêu tả các nhân vật chính diện, người kể chuyện hay sử dụng những từ như “anh hùng”, “hào kiệt”, “ơn đức”, “sâu sắc”, “khí phách”… Giọng kể này phù hợp với mô hình sử thi và chương hồi, trong đó thế giới đạo lý tương đối ổn định. Người kể giống một sử quan dân tộc đang phục hồi công bằng cho các nhân vật từng bị diễn ngôn thiên triều phương Bắc xem là phản loạn. Nó tạo được sự nhất quán mạnh mẽ và giúp người đọc định hướng trong hệ thống sự kiện phức tạp.
Nhưng quyền lực quá lớn của người kể chuyện cũng làm giảm khoảng trống diễn giải. Nhiều khi nhân vật chưa kịp tự bộc lộ, người kể đã giải thích họ nghĩ gì và phẩm chất ra sao. Đối thoại đôi lúc trở thành phương tiện minh họa cho kết luận có sẵn. Người đọc ít có cơ hội tự nghi ngờ hoặc khám phá sự mâu thuẫn. Nếu so sánh với những tiểu thuyết lịch sử hiện đại thường chú trọng đa điểm nhìn, sự bất định của ký ức và những tiếng nói bên lề, tiểu thuyết Ngô Vương thiên về mô hình nhất thể. Tác phẩm không đặt câu hỏi mạnh về khả năng hiểu biết quá khứ mà nó tin rằng có thể tái dựng một sự thật đạo lý tương đối rõ ràng.
Một phần lớn dung lượng tác phẩm là các cuộc nghị bàn quân cơ. Các nhân vật đứng lên thủ lễ, trình bày kế sách, viện dẫn lịch sử, phân tích lòng người và kết luận về chính nghĩa. Những đoạn này giúp tác giả Phùng Văn Khai truyền tải lượng thông tin lớn, đồng thời tái hiện văn hóa chính trị dựa trên lễ nghi và lời nói. Nhiều lời thoại có cấu trúc rất hoàn chỉnh, gần như những bài diễn thuyết nhỏ. Nhân vật thường nói dài, dùng các cặp khái niệm Bắc – Nam, trung – phản, chủ – khách, ân – oán, trời – người. Điều này tạo không khí trang trọng và khắc họa được một thời đại mà lời hịch, biểu tấu, lời thề và nghị bàn có vai trò quan trọng.
Tuy nhiên, các nhân vật đôi khi nói quá giống nhau. Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền, Phạm Bạch Hổ, Đoàn Thành và các bô lão đều có thể sử dụng những khái niệm như quốc thống, lòng dân, nguồn cội, giặc Bắc với mức độ ý thức gần tương đương. Sự khác biệt cá nhân trong ngôn ngữ chưa luôn rõ. Nhưng nhà văn Phùng Văn Khai đã tạo một số sắc thái giọng điệu riêng. Phạm Bạch Hổ thường trực tính, mạnh mẽ; Đoàn Thành điềm đạm, thiên về viện dẫn sử sách; Ngô Quyền chắc chắn và có tầm nhìn; Dương Đình Nghệ khoan hòa. Dẫu vậy, tiếng nói tư tưởng của tác giả vẫn bao phủ lên các nhân vật khá đậm.
Các trận đánh là phần ấn tượng nhất của tác phẩm Ngô Vương. Nhà văn Phùng Văn Khai có khả năng tổ chức những khung cảnh rộng với đội voi chiến, kỵ binh, thuyền lớn, cầu phao, máy bắn đá, lửa cháy, tiếng trống, tiếng cồng và dòng người chuyển động. Trận Ngô Quyền dùng voi đánh kỵ binh Lý Tri Thuận có nhịp nhanh, nhiều động từ mạnh. Voi gầm, ngựa hoảng loạn, pháo tay nổ, cung tên bắn xuống. Trận đốt cầu phao kết hợp yếu tố bất ngờ, dòng nước và hỏa công. Trận Bạch Đằng mở rộng hơn về quy mô, đồng thời có sự tham gia của nhiều lực lượng.
Nhà văn Phùng Văn Khai cũng thường sử dụng âm thanh để tạo không khí với tiếng trống đồng, tiếng voi gầm, tiếng kèn, tiếng đao thương và tiếng hò reo. Các âm thanh dày đặc tạo cảm giác chiến trường không chỉ được nhìn mà còn được nghe. Cấu trúc câu thường dài, liên tiếp nhiều động tác, khiến nhịp văn cuộn về phía trước. Ưu thế của lối viết này là sức hấp dẫn thị giác và khả năng tái hiện khí thế. Tuy nhiên, khi được sử dụng liên tục, những từ ngữ như “ầm ầm”, “rừng rực”, “kinh thiên động địa”, “khí thế ngút trời” có thể tạo cảm giác trùng lặp. Việc tiết chế một số đoạn và chọn chi tiết độc đáo hơn có thể làm các trận đánh khác biệt rõ hơn.
Tác phẩm Ngô Vương dựng được một bức tranh lịch sử có quy mô lớn. Tác phẩm bao quát một giai đoạn rộng, nhiều vùng đất, nhân vật và biến cố. Nhà văn Phùng Văn Khai cho thấy khả năng tổ chức tư liệu lớn, dựng các tuyến hành động song song và liên kết chúng vào tiến trình nghệ thuật chung. Bức tranh đời sống trong tác phẩm Ngô Vương không chỉ có các cuộc đánh trận. Nó còn có đời sống kinh tế, thương thuyền, làng nghề, kho lương, lễ hội, tôn giáo, quan hệ dòng họ, hôn nhân, nghĩa phụ tử và hệ thống địa phương… Nhờ đó, thế kỷ X hiện ra như một xã hội đang chuyển động, chứ không phải là một mốc niên đại quá khứ.
Tác phẩm Ngô Vương không quy toàn bộ công lao giành độc lập cho một khoảnh khắc duy nhất. Chiến thắng Bạch Đằng được đặt sau sự nghiệp họ Khúc, công cuộc dựng và giữ nước của Dương Đình Nghệ và quá trình liên kết các lực lượng địa phương. Cách xây dựng tác phẩm như vậy có giá trị. Nó cho thấy lịch sử không được tạo ra bởi một cú nhảy thần kỳ. Ngô Quyền hoàn tất điều nhiều thế hệ đã chuẩn bị. Hình tượng người anh hùng vì thế càng lớn, bởi ông biết tiếp nhận di sản và đưa nó đến kết quả.
Tuy vậy, tác phẩm Ngô Vương vẫn có thể hoàn thiện hơn nữa ở một số phương diện. Các nhân vật phương Nam chủ chốt phần lớn đại diện cho chính nghĩa, lòng dân, trí tuệ và đạo đức. Nhân vật Nam Hán thường gắn với tham lam, kiêu ngạo, tàn bạo và mưu mô. Sự đối lập này phù hợp với giọng sử thi và mục đích khẳng định chủ quyền. Tuy nhiên, khi ranh giới được vạch quá thẳng, nhân vật đối phương dễ trở thành công cụ để làm nổi bật người anh hùng. Một số nhân vật như Lý Khắc Chính hoặc Lý Tiến đã có lúc biết sợ hãi, suy nghĩ về sự nguy hiểm của Giao Châu và nhận ra giới hạn của quyền lực. Đây là những điểm có khả năng mở rộng chiều sâu tâm lý, nhưng chưa luôn được khai thác đến cùng. Nếu như nhân vật đối phương có đời sống tư tưởng phức tạp hơn, chiến thắng của Ngô Quyền không vì thế giảm giá trị. Ngược lại, hình tượng người anh hùng sẽ hiện lên lớn hơn khi chiến thắng những đối thủ không chỉ ngu xuẩn và tham lam như thường được miêu tả.
Người kể chuyện trog tác phẩm Ngô Vương đôi lúc còn nói thay nhân vật và người đọc. Lời bình luận xuất hiện với tần suất cao, nhiều khi kết luận ngay động cơ và phẩm chất. Điều này giữ mạch đạo lý rõ, nhưng làm giảm tính khám phá. Có những đoạn nhân vật đã được miêu tả hành động và đối thoại đủ để người đọc nhận ra tính cách, song người kể tiếp tục giải thích. Việc cắt giảm một phần lời bình trong tác phẩm có thể làm văn bản tinh hơn, tăng độ tin cậy vào sức biểu đạt của chi tiết.
Các cuộc bàn việc quân thường chứa nhiều thông tin lịch sử và phân tích chính trị. Chúng có ích cho độc giả, nhưng đôi khi làm nhân vật phát ngôn như một nhà nghiên cứu hiện đại. Một số ý như bản sắc Bắc – Nam, độc lập dân tộc, quyền tự chủ được lặp lại nhiều lần. Sự lặp lại tạo ra motif tư tưởng, song cũng có thể khiến nhịp kể chuyện nặng nề hơn. Nhà văn có thể phân bố tư tưởng vào hành động, hình ảnh, xung đột và những chi tiết đời sống nhiều hơn, thay vì chủ yếu để nhân vật phát biểu.
Nhân vật Ngô Quyền được trao gần như đầy đủ phẩm chất người anh hùng với võ nghệ, trí tuệ, khiêm nhường, nhân nghĩa, thương dân, hiểu người, biết nhìn xa và có sự hỗ trợ của yếu tố thiêng liêng. Quá trình lý tưởng hóa phù hợp với mục tiêu xây dựng biểu tượng quốc gia. Tuy nhiên, nhân vật sẽ gần với nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại hơn nếu có thêm những mâu thuẫn nội tâm, chẳng hạn như do dự trước việc trừng trị Kiều Công Tiễn, xung đột giữa nghĩa nhà và việc nước, nỗi sợ thất bại trước quân Nam Hán, hoặc sự cô đơn khi từ tướng lĩnh trở thành người đứng đầu. Tác phẩm Ngô Vương đã có những khoảnh khắc nhân vật trào nước mắt và lo sức dân, nhưng những vùng tối tâm lý ấy còn có thể được đào sâu hơn nữa. Một người anh hùng biết sợ, biết nghi ngờ mà vẫn lựa chọn hành động, thường có sức thuyết phục mạnh hơn một người anh hùng gần như luôn nhìn đúng mọi việc.
Tác phẩm Ngô Vương nối các dòng họ về tận thời Hùng Vương và đưa nhiều điềm lạ, sự hiển linh, truyền thuyết vào lời kể với giọng xác quyết. Đây là lựa chọn thi pháp có tác dụng tạo chiều sâu huyền thoại. Dẫu vậy, độc giả có thể khó phân biệt đâu là sử liệu, đâu là truyền thuyết địa phương và đâu là sáng tạo của nhà văn. Với tiểu thuyết, tác giả có quyền hư cấu; nhưng việc hư cấu sẽ thuyết phục hơn nếu văn bản tạo dấu hiệu rõ về tính truyền thuyết, chẳng hạn qua các công thức “tương truyền”, “người trong vùng vẫn kể” hoặc sự khác biệt giữa nhiều cách nhớ.
Một cấu trúc ký ức đa dạng, trong đó cùng một sự kiện có nhiều dị bản, có thể làm tác phẩm phong phú hơn và phù hợp với bản chất luôn vận động của ký ức lịch sử, văn hóa.
Như ở trên đã nói, nhiều lời thoại trong tác phẩm Ngô Vương mang ngôn ngữ gần với diễn ngôn dân tộc hiện đại. Tiểu thuyết thường sử dụng những khái niệm có âm hưởng rất hiện đại như “độc lập dân tộc”, “khắp cả nước”, “người phương Nam”… như một cộng đồng thống nhất. Đây là ưu thế trong việc kết nối quá khứ với độc giả hôm nay, nhưng cũng có nguy cơ làm đồng nhất các thời đại. Một hướng xử lý tinh tế hơn là để nhân vật biểu đạt ý thức tự chủ qua ngôn ngữ của quan hệ dòng họ, phong tục, thần linh, đất đai và quyền cai quản cụ thể; còn người đọc tự nhận ra mầm mống của ý thức quốc gia. Khi tư tưởng được thể hiện qua thế giới sống thay vì thuật ngữ khái quát, tính lịch sử của nhân vật sẽ rõ hơn.
Nhìn chung tiểu thuyết Ngô Vương của Phùng Văn Khai là một nỗ lực đáng chú ý trong việc tiểu thuyết hóa một giai đoạn bản lề của lịch sử Việt Nam. Tác phẩm vượt khỏi khuôn khổ kể riêng chiến thắng Bạch Đằng để dựng lại một tiến trình dài, từ sự nghiệp tự chủ của họ Khúc, cuộc khởi binh và trị nước của Dương Đình Nghệ, bi kịch phản bội do Kiều Công Tiễn gây ra, đến sự trưởng thành của Ngô Quyền và việc tái lập một trung tâm quyền lực bản địa ở Cổ Loa.
Tiến sĩ Hà Thanh Vân – Tác giả bài viết.
Đóng góp đáng ghi nhận nhất của tiểu thuyết Ngô Vương nằm ở việc làm cho chiến thắng Bạch Đằng không còn là một mốc lịch sử đơn độc. Tác phẩm đặt chiến thắng ấy vào chiều sâu của ký ức văn hóa và chiều rộng của đời sống cộng đồng. Bãi cọc Bạch Đằng được chuẩn bị bởi không chỉ gỗ, sắt và mưu lược, mà còn bởi những tầng ký ức từ vua Hùng, An Dương Vương, Lý Nam Đế, Phùng Hưng, họ Khúc và Dương Đình Nghệ.
Khi Ngô Quyền lựa chọn Cổ Loa, người anh hùng không chỉ đổi nơi đóng đô. Ông đặt hiện tại vào cuộc đối thoại với quá khứ, biến chiến thắng quân sự thành hành vi nối lại quốc thống. Cổ Loa, Bạch Đằng và Đường Lâm hợp thành ba điểm tựa của hình tượng, đó là trung tâm chính trị, chiến trường chủ quyền và nguồn cội văn hóa.
Vì thế, có thể đọc Ngô Vương như một cuốn tiểu thuyết về sự ra đời của người anh hùng; nhưng nói đầy đủ hơn, đó là tiểu thuyết về sự hình thành của một cộng đồng dân tộc tự ý thức. Ngô Quyền trở thành Ngô Vương khi ông không còn chỉ thuộc về gia đình, dòng họ hay một vùng đất, mà trở thành nơi mà nhiều dòng ký ức gặp nhau. Và quốc thống, trong cách hình dung của nhà văn Phùng Văn Khai, không phải chiếc ngai vàng hay địa vị chính trị được truyền nguyên vẹn từ đời này sang đời khác. Nó là ngọn lửa phải được mỗi thế hệ nhận lại, gìn giữ và thắp sáng bằng chính hành động của mình.
——————
Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 1]
Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 2]




![Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 2] – Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 2] - Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Tien-si-Ha-Thanh-Van-anh-1-218x150.jpg)
![Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 1] – Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 1] - Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Tien-si-Ha-Thanh-Van-218x150.jpg)
![Truyện ngắn song ngữ: Một nơi sạch sẽ, sáng sủa [Tác giả: Ernest Hemingway] – Người dịch: Bùi Xuân Truyện ngắn song ngữ: Một nơi sạch sẽ, sáng sủa [Tác giả: Ernest Hemingway] - Người dịch: Bùi Xuân](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Nha-van-Ernest-Hemingway-218x150.jpg)










![Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 2] – Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 2] - Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Tien-si-Ha-Thanh-Van-anh-1-324x235.jpg)
![Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 1] – Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân Tiểu thuyết “Ngô vương” của Phùng Văn Khai: Kiến tạo quốc thống từ ký ức văn hóa và lịch sử [Kỳ 1] - Tác giả: Tiến sĩ Hà Thanh Vân](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/07/Tien-si-Ha-Thanh-Van-100x70.jpg)



