Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI

DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT

(Kỳ thứ mười một)

Lời người dịch: Một tinh thần nhất quán của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan trong thơ của đức ngài thể hiện qua Ngôn chí thi tập; Huấn đồng thi tập; Đa thức tập; Mai Lĩnh sứ hoa thi tập; Vạn thọ thánh tiết khánh hạ thi tập; Dữ Triều Tiên quốc sứ thần sứ ngoại… đều là tinh thần ích dân lợi nước, đề cao trung quân ái quốc, xiển dương đạo học, thuận theo những lời răn dạy của thánh hiền. Chính bởi vậy, dịch thơ đức Trạng Bùng tuy là rất khó nhưng luôn có đường ra chính từ phong vận của thơ văn ngài vậy.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai

 

Tượng đài Phùng Khắc Khoan tại Thạch Thất- Hà NộiTượng đài Phùng Khắc Khoan tại Thạch Thất- Hà Nội.

 

過 藍 山 廟 有 感

煙 迷 草 樹 幾 荊 榛
元 氣 于 今 喜 復 春
獸 舞 鳳 儀 渾 似 舊
龍 蟠 虎 踞 宛 然 新
對 人 目 滿 無 雙 景
向 化 心 猶 不 貳 民
自 古 作 前 功 德 厚
愈 徵 天 祐 與 民 親

 

Phiên âm:

QUÁ LAM SƠN MIẾU HỮU CẢM

Yên mê thảo thụ kỷ kinh trăn,
Nguyên khí vu kim hỷ phục xuân.
Thú vũ phượng nghi hồn tự cựu,
Long bàn hổ cứ uyển nhiên tân.
Đối nhân mục mãn vô song cảnh,
Hướng hóa tâm do bất nhị dân.
Tự cổ tác tiền công đức hậu,
Dũ trưng thiên hựu dữ dân thân.

 

Dịch nghĩa:

CẢM TƯỞNG KHI QUA LAM SƠN MIẾU(1 )

Mây khói mờ mịt cỏ cây, bao lớp gai góc rậm rạp,
Nguyên khí tới nay, mừng lại xuân tươi.
Con thú múa, con phượng chầu, cảnh vật thấy y như cũ cả,
Rồng cuộn hổ ngồi, giang sơn dường như còn nguyên mới.
Đối với người, trong mắt nhìn phong cảnh thật độc nhất vô nhị,
Hướng theo giáo hóa, người dân vẫn không hai lòng.
Xưa nay người sáng nghiệp công đức đầy đặn,
Càng nghiệm rõ trời giúp người có đức và dân quy về người có nhân.

 

Dịch thơ:

QUA MIỀN LAM SƠN

Cỏ cây gai góc mịt mùng
Dường như xuân sắp hé mừng qua đây
Phượng chầu, lân múa cay cay
Rồng chầu, hổ phục càng say tâm tình
Càng trông như bóng in hình
Lòng dân nghĩa nước đinh ninh vẹn toàn
Vua hiền sáng nghiệp yên an
Lòng dân quy thuận đá vàng thiên thu.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

([1]) Lam Sơn: quê hương của Lê Lợi, người anh hùng dân tộc, ông vua sáng nghiệp triều Lê. Tại đây có miếu thờ vua Lê. Lam Sơn nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân – Thanh Hóa.

 

 

cuộc hội ngộ lịch sử giữa sứ thần Việt Nam và sứ thần Triều Tiên tại nhà Minh (Trung Quốc).

傷 亂 二 首
其 一

干 戈 落 落 苦 流 離
長 使 英 雄 漫 自 思
風 雨 晦 冥 經 歲 久
山 河 破 碎 幾 星 移
卷 舒 在 我 有 餘 裕
掎 逐 饒 他 了 不 知
洗 日 披 雲 誰 是 力
笑 談 坐 使 四 方 綏

 

Phiên âm:

THƯƠNG LOẠN
(NHỊ THỦ)

KỲ NHẤT

Can qua lạc lạc khổ lưu ly,
Trường sử anh hùng mạn tự ti (tư).
Phong vũ hối minh kinh tuế cửu,
Sơn hà phá toái kỷ tinh di.
Quyển thư tại ngã hữu dư dụ,
Ỷ trục nhiêu tha liễu bất tri.
Tẩy nhật phi vân thùy thị lực,
Tiếu đàm tọa sử tứ phương tuy.

 

Dịch nghĩa:

THƯƠNG ĐỜI LOẠN
(HAI BÀI)

BÀI MỘT

Gươm đao chống chọi nhau, dân khổ lưu lạc ly tán triền miên,
Làm cho đám anh hùng phải tự nghĩ lại chăng.
Mưa gió tối tăm, trải đã bao năm,
Non sông tan nát, mấy độ vật đổi sao dời.
Co duỗi quyền ở ta, tự có thừa thãi,
Tranh cướp mặc bọn họ, chẳng hay biết gì.
Ai là người có sức gạt mây tối, rửa sáng mặt trời,
Thì cứ ngồi cười nói mà làm cho bốn phương được yên ổn.

 

Dịch thơ:

THƯƠNG ĐỜI LOẠN

BÀI MỘT

Gươm đao khói lửa triền miên
Quần hùng ai kẻ dưới đèn nghĩ suy
Gió mưa tăm tối vần vi
Non sông vỡ nát người đi phương trời
Cứng mềm ở tự ta thôi
Hơn thua thây mặc bọn người võ phu
Gạt mây đen phủi trắng mờ
Ung dung yên định cõi bờ bốn phương.

Phùng Văn Khai dịch

其 二

世 有 乖 離 道 不 離
隨 時 消 長 亦 何 思
市 朝 遷 變 那 常 在
氣 運 循 環 豈 久 移
萬 死 姦 雄 無 地 葬
一 生 忠 孝 有 天 知
大 冬 之 後 春 應 復
聖 作 欣 觀 士 女 綏

 

Phiên âm:

KỲ NHỊ

Thế hữu quai ly đạo bất ly,
Tùy thời tiêu trưởng diệc hà ti (tư).
Thị triều thiên biến na thường tại,
Khí vận tuần hoàn khởi cửu di.
Vạn tử gian hùng vô địa táng,
Nhất sinh trung hiếu hữu thiên tri.
Đại đông chi hậu xuân ưng phục,
Thánh tác hân quan sĩ nữ tuy.

 

Dịch nghĩa:

BÀI HAI

Người đời có sự lìa bỏ không ưa nhau, đạo thì không thế,
Tiêu và trưởng(2 ) là theo thời, việc gì phải nghĩ ngợi.
Triều đình hay chốn chợ búa biến thiên, đâu còn được mãi,
Khí vận tuần hoàn chẳng lẽ mãi cứ thế này!
Kẻ gian hùng tội ngàn lần đáng chết, không miếng đất chôn,
Người suốt đời trung hiếu, đã có trời biết.
Sau cái đông giá rét, xuân tươi ấm ắt trở lại,
Thánh nhân xuất hiện, ta vui mừng được thấy dân chúng yên vui.

 

Dịch thơ:

BÀI HAI

Đạo không lìa bỏ như người
Diệt sinh, sinh diệt theo thời nghĩ chi
Chợ quê hay chốn triều nghi
Ắt đi ắt đến khen chê lẽ thường
Gian hùng không miếng đất chôn
Bia người trung hiếu hương thôn phụng thờ
Đường trường xuân biếc non tơ
Thánh nhân hiền tướng lời thơ thanh bình.

Phùng Văn Khai dịch

——————
([2]) Tiêu trưởng: tiêu diệt và sinh trưởng, giảm và tăng, mất đi và lớn lên. Ý nói vạn vật khô héo rồi lại xanh tươi, đời suy loạn rồi lại thịnh trị.

 

Hội đồng họ Phùng Việt Nam làm việc với lãnh đạo xã Tây Phương - Hà Nội về các hoạt động kỷ niệm 500 năm ngày sinh Trạng Bùng Phùng Khắc KhoanHội đồng họ Phùng Việt Nam làm việc với lãnh đạo xã Tây Phương – Hà Nội về các hoạt động kỷ niệm 500 năm ngày sinh Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.

 

勉 學 者

學 由 人 做 豈 天 慳
須 把 遺 編 仔 細 看
亂 世 讀 書 今 亦 少
前 賢 教 子 古 來 難
見 多 心 似 如 泉 達
欲 寡 身 饒 到 處 安
人 欲 靜 時 天 理 見
何 須 屑 屑 祿 之 干

 

Phiên âm:

MIỄN HỌC GIẢ

Học do nhân tố, khởi thiên kiên.
Tu bả di biên tử tế khan.
Loạn thế độc thư kim diệc thiểu,
Tiền hiền giáo tử cổ lai nan.
Kiến đa tâm tự như tuyền đạt,
Dục quả thân nhiêu đáo xứ an.
Nhân dục tĩnh thời thiên ký hiện,
Hà tu tiết tiết lộc chi can.

 

Dịch nghĩa:

KHUYÊN NGƯỜI ĐI HỌC

Sự học do người thực hiện, trời đâu có tiếc,
Nên đem sách cổ nhân truyền lại mà xem cho kỹ.
Đọc sách giữa lúc đời loạn, nay cũng ít có,
Thánh hiền dạy con, từ xưa nay vẫn khó.
Hiểu biết nhiều thì lòng ta thông đạt như nước suối tuôn chảy,
Ham muốn ít thì thân ta thư thái, đến đâu cũng yên vui.
Khi nào ham muốn của người trần tĩnh lặng đi, thì lý trời hiện ra,
Cần gì phải bo bo cầu bổng lộc.

 

Dịch thơ:

KHUYÊN NGƯỜI ĐI HỌC

Trời đâu tiếc kẻ siêng năng
Cổ nhân sách quý tháng năm truyền thừa
Loạn thời tài học mau thưa
Thánh hiền răn dạy từ xưa đến giờ
Khơi thông suối chảy xanh bờ
Tâm yên đạo ắt từng giờ hanh thông
Lẽ trời tất hiện thong dong
Cầu chi bổng lộc thêm lòng rối ren.

Phùng Văn Khai dịch


余 見 當 時 之 士 多 隨 世 就 功 名 而
忽 於 忠 孝 因 作 此 二 詩 以 堅 其 志 云

所 貴 乎 臣 識 克 欽
事 君 宜 篤 個 忠 心
十 分 大 義 神 明 對
一 副 精 誠 天 地 臨
伊 烈 格 天 光 往 古
旦 功 映 日 炳 來 今
當 然 職 分 須 如 許
大 丈 夫 何 富 貴 淫

 

Phiên âm:

TRUNG
(Dư kiến đương thời chi sĩ, đa tùy thế tựu công danh nhi hốt ư trung hiếu, nhân tác thử nhị thi dĩ kiên kỳ chí vân)

Sở quý hồ thần thức khắc khâm,
Sự quân nghi đốc cá trung tâm.
Thập phần đại nghĩa thần minh đối,
Nhất phó tinh thành thiên địa lâm.
Y liệt cách thiên quang vãng cổ,
Đán công ánh nhật bính lai câm (kim).
Đương nhiên chức phận tu như hử,
Đại trượng phu hà phú quý dâm?

 

Dịch nghĩa:

TRUNG
(Ta thấy những người có học thời nay phần nhiều xu thời để nên công danh mà bỏ quên trung hiếu, vì thế làm hai bài thơ này(3 ), khuyên nên bền chí mới được)

Cái đáng quý ở kẻ làm tôi là phải biết kính giữ chức phận làm tôi,
Thờ vua nên dốc hết lòng trung.
Mười phần nghĩa lớn, đối được với thần minh,
Một tấc lòng thành, trời đất xét cho được.
Sự nghiệp của Y Doãn(4 ) rực rỡ ngút trời, tỏa rạng đời xưa,
Công lao của Chu Công Đán(5 ) như ánh dương, nay còn rạng tỏ.
Chức phận đương nhiên là phải như thế,
Bậc đại trượng phu sao để cho giàu sang mê hoặc.

 

Dịch thơ:

TRUNG

Làm tôi giữ phận làm tôi
Thờ vua trung chính giữa trời phong quang
Mười phần nghĩa lớn mênh mong
Tự thân không thẹn, nước làng ghi sâu
Sánh cùng Y Doãn trước sau
Công lao Chu Đán nhiệm màu còn đây
Tấc lòng tùng bách xưa nay
Giàu sang há dễ thân này ngả nghiêng.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

([3]) Hai bài thơ ở đây chỉ bài Trung và bài Hiếu. Bài Hiếu xin xem ở dưới, tiếp liền với bài Trung này.

([4]) Y Doãn: hiền thần đời Thương, có công giúp Thành Thang dựng nghiệp.

([5]) Chu Công Đán: hiền thần nhà Chu, con Chu Văn Vương, em Chu Vũ Vương, người có công lớn với nhà Chu và văn hóa Trung Hoa.

 

Hội đồng họ Phùng Việt Nam làm việc với lãnh đạo xã Tây Phương - Hà Nội về các hoạt động kỷ niệm 500 năm ngày sinh Trạng Bùng Phùng Khắc KhoanHội đồng họ Phùng Việt Nam làm việc với lãnh đạo xã Tây Phương – Hà Nội về các hoạt động kỷ niệm 500 năm ngày sinh Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.

 

天 經 地 義 植 彝 倫
百 行 都 從 一 孝 純
誠 敬 不 忘 心 在 我
始 終 惟 篤 事 乎 親
大 稱 虞 舜 仁 而 聖
達 美 周 公 子 又 臣
亙 古 來 今 同 此 理
嗟 余 何 以 報 萱 椿

 

Phiên âm:

HIẾU

Thiên kinh địa nghĩa thực di luân,
Bách hạnh đô tòng nhất hiếu thuần.
Thành kính bất vong tâm tại ngã,
Thủy chung duy đốc sự hồ thân.
Đại xưng Ngu Thuấn nhân nhi thánh,
Đạt mỹ Chu Công tử hựu thần.
Cắng cổ lai kim đồng thử lý,
Ta dư hà dĩ báo huyên xuân.

 

Dịch nghĩa:

HIẾU

Hiếu là thiên kinh địa nghĩa, xây dựng nên luân thường,
Trăm đức hạnh đều do lòng hiếu mà ra.
Trong tâm ta không lúc nào được quên thành kính,
Trước sau dốc lòng phụng thờ cha mẹ.
Khen Ngu Thuấn là “đại hiếu”(6); vừa là bậc nhân vừa là bậc thánh,
Khen Chu Công là “đạt hiếu”(2), vừa là phận con vừa là bầy tôi.
Từ xưa đến nay đều chung một lẽ ấy,
Than ôi! Ta lấy gì để báo đáp cha mẹ?

 

Dịch thơ:

HIẾU

Nhân luân đạo hiếu đứng đầu
Trăm điều đức hạnh thuận chầu mà ra
Tâm thành hiếu kính mẹ cha
Trước sau thờ phụng sơn hà an yên
Gương xưa Ngu Thuấn chí thành
Chu Công “đạt hiếu” sử xanh mãi còn
Xưa nay hiếu đạo vuông tròn
Cũng là khép mở càn khôn trùng trùng…

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([6])-(2) Lời trong sách Trung dung khen vua Thuấn và khen Vũ Vương, Chu Công.

行 年 自 述

行 庚 四 七 妙 齡 男
德 行 文 章 兩 未 堪
世 為 變 多 流 薄 義
學 因 見 獨 局 常 談
乖 疏 幸 有 人 猶 識
造 次 無 忘 道 與 參
春 到 蟄 龍 潛 亦 奮
崢 嶸 頭 角 聳 天 南

 

Phiên âm:

HÀNH NIÊN TỰ THUẬT

Hành canh tứ thất diệu linh nam,
Đức hạnh văn chương lưỡng vị kham.
Thế vị biến đa lưu bạc nghĩa,
Học nhân kiến độc cục thường đàm.
Quai sơ hạnh hữu nhân do thức,
Tháo thứ vô vong đạo dữ tham.
Xuân đáo trập long tiềm diệc phấn,
Tranh vanh đầu giác tủng thiên Nam.

 

Dịch nghĩa:

TỰ THUẬT VIỆC TRONG NĂM

Năm nay ta hai mươi tám tuổi, một chàng trai trẻ,
Đức hạnh, văn chương hai điều đều chưa có.
Đời vì biến cố quá nhiều thành ra bạc nghĩa,
Vì kiến thức học được hạn hẹp nên vụng về ngay cả khi nói chuyện bình thường.
Ta tài hèn may mà còn có người biết đến,
Lúc vội vã khó khăn không quên khi cùng đạo.
Xuân về, rồng náu hình, trước ẩn tàng nay liền phấn khởi,
Đầu sừng đã nghênh ngang(7 ) đĩnh đạc ở góc trời Nam.

 

Dịch thơ:

TỰ THUẬT VIỆC HÀNG NĂM

Ta hai tám tuổi đương trai
Văn chương, đức hạnh cả hai mịt mùng
Việc đời biến đổi mông lung
Kiến văn hạn hẹp thẹn thùng lắm thay
Người còn biết đến là may
Siêng vun gốc đạo như cây trên rừng
Ao xuân khấp khởi rồng mừng
Góc trời Nam sẽ cao sừng vươn mây.

Phùng Văn Khai dịch

——————

([7]) Đầu sừng đã nghênh ngang: chỉ cảnh gặp thời đắc dụng.

 

Đoàn Hội đồng họ Phùng Việt Nam và các nhà nghiên cứu tại Tượng đài Phùng Khắc Khoan tại Thạch Thất- Hà NộiĐoàn Hội đồng họ Phùng Việt Nam và các nhà nghiên cứu tại Tượng đài Phùng Khắc Khoan tại Thạch Thất- Hà Nội.

 

賞 春 詞 并
時 同 道 兩 三 人 到 索 句 因 戲 作
兹 當 九 十 日 韶 華,好 箇 暄 和 之 候 再 一 番 快 事 聊 為 勝 賞 之 歡 會 適 逢 嘉 興 來 堪 玩 可 人 惟 有 酒 喜 兼 四 美 二 難 行 樂 須 及 春 何 惜 千 金 一 醉 欲 韡 真 率 會 載 唱 沁 園 春 詞 曰

天 上 陽 回
人 間 春 至
又 一 番 新
蓋 開 泰 乾 坤 韶 光 郁 郁
向 陽 花 草 生 意 欣 欣
紅 襯 桃 腮 青 窺 柳 眼
鶯 簧 蝶 拍 弄 繽 紛
二 三 子 遇 到 來 時 節
風 光 可 景 可 人
這 般 美 景 良 辰
欲 行 樂 須 及 此 青 春
聊 問 柳 問 花 香 攜 紅 袖
一 觴 一 詠 歌 遏 白 雲
進 士 打 毬 侍 臣 陪 宴
古 來 樂 事 尚 傳 聞
今 遭 逢 聖 天 子 幸 得 致 身

 

Phiên âm:

THƯỞNG XUÂN TỪ TÍNH DẪN
Thời đồng đạo lưỡng tam nhân đáo sách cú, nhân hý tác.

Tư đương cửu thập nhật thiều hoa, hảo cá huyên hòa chi hậu. Tái nhất phiên khoái sự, liêu vi thắng thưởng chi hoan. Hội thích phùng gia, hứng lai kham ngoạn. Khả nhân duy hữu tửu, hỷ kiêm tứ mĩ nhị nan. Hành lạc tu cập xuân, hà tích thiên kim nhất túy, dục vĩ chân suất, hội tái xướng Tấm viên xuân. Từ viết:

Thiên thượng dương hồi,
Nhân gian xuân chí,
Hựu nhất phiên tân.
Cái khai thái kiền khôn, thiều quang úc úc,
Hướng dương hoa thảo, sinh ý hân hân.
Hồng thấn đào tai, thanh khuy liễu nhãn,
Oanh hoàng điệp phách lộng tân phân.
Nhị tam tử, ngộ đáo lai thời tiết,
Phong quang khả cảnh khả nhân.
Giá ban mỹ cảnh lương thần,
Dục hành lạc, tu cập thử thanh xuân.
Liêu vấn liễu vấn hoa, hương huề hồng tụ,
Nhất trường nhất vịnh, ca át bạch vân.
Tiến sỹ đả cầu, thị thần bồi yến,
Cổ lai lạc sự thượng truyền văn.
Kim tao phùng Thánh Thiên tử, hạnh đắc trí thân.

 

Dịch nghĩa:

BÀI TỪ THƯỞNG XUÂN VÀ LỜI DẪN
Lúc bấy giờ có hai ba người cùng đạo đến đòi thơ, nên ta đùa làm bài từ này.

Nay đương lúc mùa xuân, khí hậu thật là đầm ấm; lại có một phen vui vẻ, thật đáng thưởng xuân đẹp. Gặp buổi tiết hay, gợi hứng, ta nên du ngoạn. Thích cho người ta chỉ có rượu thôi, mừng có đủ “tứ mỹ” và “nhị nan”(8 ). Hành lạc nên kịp xuân, tiếc gì ngàn vàng để mua cuộc say túy lúy. Muốn cho đẹp tấm lòng chân thành, bộc trực, phải hát điệu Tấm viên xuân(9 ). Có bài từ rằng:

Khí dương từ trời về,
Mùa xuân nhân gian tới,
Lại một phen đổi mới,
Quả là trời đất mở mang thái vận, ngày xuân tốt tươi,
Hoa cỏ hướng mặt trời, sinh ý hớn hở,
Da đào phô sắc đỏ, mắt liễu hé màu xanh.
Oanh hót véo von, bướm bay chập chờn tỏ vẻ vui mừng,
Vài ba bạn gặp thời tiết đến.
Phong quang đẹp cảnh vui cho người,
Cảnh đẹp này, thời tiết đẹp ấy.
Muốn hành lạc ta nên theo kịp tiết thanh xuân này.
Hãy hỏi liễu hỏi hoa để hương thơm đầy tay áo hồng.
Uống chén rượu, vịnh câu thơ, ca hát át đến tận làn mây trắng,
Tiến sỹ đánh cầu, cận thần hầu yến.
Việc vui xưa nay hãy còn truyện nghe,
Nay gặp bậc Thánh Thiên tử, thật may mắn được tiến thân.

 

Dịch thơ:

BÀI TỪ THƯỞNG XUÂN

Trời cao kéo khí dương về
Hơi xuân phấp phới bốn bề nắng xuân
Đòi phen mới mẻ xa gần
Mở mang thái vận tưng bừng yến anh
Hoa kia thắm thiết lá xanh
Thanh thanh liễu rủ đầu cành non tơ
Oanh vàng ríu rít câu thơ
Bướm bay chấp chới xa mờ ven sông
Con đò phơi bến nước trong
Mây trời lướt nhẹ tầng không cao vời
Tiết xuân bày cuộc vui chơi
Này hoa này liễu một đôi núm hồng
Rượu nồng câu vịnh ca ngâm
Xiêm y tha thiết xem chừng càng say
Cận thần dâng yến trên tay
Sân rồng Tiến sĩ cầu mây đôi đường
Tiệc vui truyền khắp muôn phương
Thánh quân hiếm gặp cột rường phúc ân.

Phùng Văn Khai dịch

——————-

([8]) Tứ mỹ: bốn việc tốt đẹp: tốt trời, cảnh đẹp, tâm thần sung sướng và việc vui mừng. Nhị nan: hai điều khó mà có được: chủ hiền và khách tốt gặp nhau.

([9]) Tấm viên xuân: tên một điệu từ khúc.

戲 題 劄 山 石 洞
用 六 言 律

海 外 蓬 壺 方 丈
人 間 岣 嶁 天 台
些 中 有 絕 奇 處
引 得 群 仙 到 來

 

Phiên âm:

HÝ ĐỀ TRÁP SƠN THẠCH ĐỘNG
(Dụng lục ngôn luật)

Hải ngoại Bồng Hồ, Phương Trượng,
Nhân gian Câu Lậu, Thiên Thai.
Tá trung hữu tuyệt kỳ xứ,
Dẫn đắc quần tiên đáo lai.

 

Dịch nghĩa:

ĐỀ CHƠI VÀO ĐỘNG ĐÁ TRÁP SƠN(10 )
(Dùng thơ lục ngôn luật)(11 )

Cảnh này giống như núi Bồng Hồ, Phương Trượng(12 )ngoài biển,
Cảnh này giống như núi Câu Lậu, Thiên Thai(13 ) ở nhân gian.
Trong núi này có những chỗ kỳ lạ tuyệt vời,
Thu hút được quần tiên thường đến chơi.

 

Dịch thơ:

THƠ ĐỀ ĐỘNG ĐÁ TRÁP SƠN

Bồng Hồ, Phương Trượng nước mây
Núi kia Câu Lậu, Thiên Thai cũng gần
Cảnh tiên nơi chốn hồng trần
Tráp Sơn thắng địa quây quần thanh thơi.

Phùng Văn Khai dịch

—————

([10]) Tráp Sơn: tên núi ở Thanh Hóa.

([11]) Đây là bài thơ chữ Hán làm theo thể lục ngôn luật hoàn chỉnh. Thể này mới chỉ thấy vài ba bài ở thời Trần.

([12]) Bồng Hồ, Phương Trượng: còn gọi Bồng Lai, Phương Hồ, đều là những tên núi ở ngoài biển, tương truyền là nơi thần tiên cư ngụ.

([13]) Câu Lậu, Thiên Thai: những ngọn núi nổi tiếng Trung Quốc, tương truyền là nơi thần tiên ở.

書 堂 八 景
其 一
勝 地 結 廬
時 在 真 沛 社

於 人 境 外 敻 凡 塵
地 勝 廬 清 別 有 春
些 水 些 山 雙 好 景
片 雲 片 月 四 佳 鄰
靜 安 慮 得 求 知 致
動 變 明 誠 契 道 真
未 到 經 綸 時 節 處
且 須 康 濟 自 家 身

 

Phiên âm:

THƯ ĐƯỜNG BÁT CẢNH
KỲ NHẤT

THẮNG ĐỊA KẾT LƯ
(Thời tại Chân Bái xã)

Ư nhân cảnh ngoại quýnh phàm trần,
Địa thắng lư thanh biệt hữu xuân.
Ta thủy ta sơn song hảo cảnh,
phiến vân phiến nguyệt tứ giai lân.
Tĩnh an lự đắc cầu tri trí,
Động biến minh thành khế đạo chân.
Vị đáo kinh luân thời tiết xứ,
Thả tu khang tế tự gia thân.

 

Dịch nghĩa:

TÁM CẢNH Ở NHÀ HỌC
BÀI MỘT

LÀM NHÀ HỌC Ở NƠI CẢNH ĐẸP
(Bấy giờ tôi ở xã Chân Bái(14 ))

Đây là nơi xa bụi bặm, như ở ngoài trần thế,
Đất đẹp, nhà thanh, có riêng cõi xuân.
Non ấy, nước ấy, cả hai cảnh đều hay,
Vầng trăng, làn mây, bốn bề đều đẹp.
Tĩnh, an, lự, đắc cầu cho được trí tri(15 ),
Động, biến, minh, thành hợp được với chân đạo(16 ).
Chưa đến được lúc ra tay sắp đặt thiên hạ,
Ta hãy làm lành mạnh trong sạch chính cái thân ta.

 

Dịch thơ:

TÁM CẢNH Ở NHÀ HỌC

BÀI MỘT
LÀM NHÀ HỌC NƠI CẢNH ĐẸP

Cõi riêng bụi bặm để ngoài
Nhà thanh, đất đẹp trần ai khó tìm
Non soi bóng nước nổi chìm
Mây tan trăng sớm cánh chim khuất ngàn
Tâm an, chí vững, thân nhàn
Minh, thành, động, biến như làn gió xuân
Mai kia thiên hạ định phần
Trước thân chính trực, chuyên cần hôm mai.

Phùng Văn Khai dịch

——————–

([14]) Chân Bái: tên xã, thuộc Thiệu Hóa, Thanh Hóa.

([15]) Sách Đại học có viết: “Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc”, nghĩa là: Biết được chỗ dừng (đích đến) thì sau (chí) mới định, (chí) định thì sau (tâm) mới tĩnh, (tâm) tĩnh thì sau (thân) mới an, (thân) an thì sau mới có thể suy xét xử sự tinh tường, suy xét xử sự tinh tường thì sau mới đạt được đến đích (dừng lại chỗ chí thiện). Sách Đại học lại viết: “Vật cách nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành…”, nghĩa là: Sự việc được suy xét thấu đáo thì sau cái biết mới đến tột cùng, cái biết đến tột cùng thì sau ý mới thành…).

([16]) Sách Trung dung có viết: “Tự thành minh vị chi tính, tự minh thành vị chi giáo”, nghĩa là: Từ thành mà đến minh (minh thiện) ấy gọi là tính (thiên tính), từ minh (minh thiện) mà đến thành ấy gọi là giáo (nhờ vào giáo hóa). Lại viết: “Thành tắc hình, hình tắc trứ, trứ tắc minh, minh tắc động, động tắc biến, biến tắc hóa, duy thiên hạ chí thành vi năng hóa” (Thành thì sẽ thể hiện ra, thể hiện ra thì sẽ tỏ rõ, tỏ rõ thì sẽ sáng rỡ, sáng rỡ thì có thể cảm động được vật, vật cảm động thì sẽ biến đổi, biến đổi thì sẽ hóa theo. Chỉ có bậc chí thành trong thiên hạ là có thể hóa được).

 

Đoàn Hội đồng họ Phùng Việt Nam và các nhà nghiên cứu tại Tượng đài Phùng Khắc Khoan tại Thạch Thất- Hà Nội -h2Đoàn Hội đồng họ Phùng Việt Nam và các nhà nghiên cứu tại Tượng đài Phùng Khắc Khoan tại Thạch Thất- Hà Nội.

 

其 二
樂 天 談 道

結 廬 人 境 寂 無 喧
談 道 囂 然 自 樂 天
理 上 中 庸 求 性 有
圖 間 太 極 究 心 傳
觀 詩 意 寓 已 删 後
讀 易 心 探 未 畫 前
先 聖 從 何 能 究 竟
至 誠 應 可 察 魚 鳶

 

Phiên âm:

KỲ NHỊ
LẠC THIÊN ĐÀM ĐẠO

Kết lư nhân cảnh tịch vô huyên,
Đàm đạo hiêu nhiên tự lạc thiên.
Lý thượng Trung dung cầu tính hữu,
Đồ gian Thái cực cứu tâm truyền.
Quan Thi ý ngụ dĩ san hậu,
Độc Dịch tâm tham vị hoạch tiền.
Tiên Thánh tòng hà năng cứu cánh,
Chí thành ưng khả sát ngư diên.

 

Dịch nghĩa:

BÀI HAI
VUI THEO MỆNH TRỜI, BÀN VỀ ĐẠO

Làm nhà giữa cõi trần vẫn tịch mịch không huyên náo(17 ),
Vui vẻ tự nhiên đàm luận đạo lý, tự vui theo mệnh trời.
Truy cầu bản tính sẵn có, lý chuộng Trung dung(18 ),
Suy cứu cái tâm truyền, tìm xem nơi Thái cực đồ.
Xem Kinh Thi (3) thì ý nên để ở những chỗ đã qua tay Khổng Tử san định,
Đọc Kinh Dịch (4) tâm nên suy đến Dịch trước khi Phục Hy chia vạch quẻ ra.
Tiên Thánh trước kia do đâu mà biết được đến cùng,
Cá nhảy diều bay, lòng chí thành có thể suy xét được(5).

 

Dịch thơ:

BÀI HAI
THEO MỆNH TRỜI BÀN VỀ ĐẠO

Nhà riêng huyên náo mà chi
Đạo hành tự đến, tự đi mệnh trời
Trung dung bản tính sẵn rồi
Tâm truyền thái cực thảnh thơi luận bàn
Kinh thi theo Khổng ắt nhàn
Phục Hy vạch quẻ mở càn khôn ra
Tiên hiền cũng tự lòng ta
Lòng thành suy xét Phật – ma rõ ràng.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

([17]) Thơ Đào Tiềm: “Kết lư tại nhân cảnh, nhi vô xa mã huyên” (Ẩm tửu – Bài 5): làm nhà giữa chốn đông người, thế mà không thấy tiếng ồn ào của ngựa xe.

([18])-(3)-(4) Trung Dung, Kinh Dịch đều là những tác phẩm kinh điển của Nho gia.

(5) Sách Trung Dung có câu: “Diên phi lệ thiên, ngư dược vu uyên, ngôn kỳ thượng hạ sát dã”. (hai câu in nghiêng dẫn trong Kinh Thi, nghĩa là: diều bay sát trời, cá nhảy dưới vực, ý nói đạo thể hiện rõ rệt khắp từ trên xuống dưới). Đây nói bậc chí thành qua “diều bay cá nhảy” có thể suy xét được Thể và Dụng của Đạo.

其 三
清 風 入 戶

談 道 軒 中 趣 味 長
清 風 入 戶 好 乘 涼
竹 陰 吹 動 庭 階 靜
花 氣 濃 薰 幾 案 香
周 子 胸 中 娛 孔 孟
程 公 座 上 揖 游 楊
時 來 好 把 仁 風 出
均 此 清 陰 及 四 方

 

Phiên âm:

KỲ TAM
THANH PHONG NHẬP HỘ

Đàm đạo hiên trung thú vị trường,
Thanh phong nhập hộ hảo thừa lương.
Trúc âm xuy động đình giai tĩnh,
Hoa khí nùng huân kỷ án hương.
Chu tử hung ngu Khổng, Mạnh,
Trình công tọa thượng ấp Du, Dương.
Thời lai hảo bả nhân phong xuất,
Quân thử thanh âm cập tứ phương.

 

Dịch nghĩa:

BÀI BA
GIÓ MÁT VÀO CỬA

Ở trong hiên đàm đạo, thú vị rất nhiều,
Gió trong lành vào cửa, hóng mát rất tốt.
Gió thổi lay bóng trúc, sân thềm yên tĩnh,
Hương hoa bay thổi làm thơm cả kỷ án.
Lòng Chu Đôn Di(19 ) luôn vui với đạo Khổng, Mạnh,
Nơi Trình Di(20 ) ngồi, có học trò là Du, Dương(21 ) đứng hầu.
Thời đến ta sẽ thổi gió nhân tốt lành này ra,
Để chia đều mát trong cho khắp bốn phương.

 

Dịch thơ:

BÀI BA
GIÓ MÁT VÀO CỬA

Bên hiên đàm đạo hôm mai
Gió lùa khung cửa một vài chuông ngân
Lay lay bóng trúc thềm sân
Hương thơm quấn quýt xa gần mãi khi
Lòng vai Khổng, Mạnh, Đôn Di
Du, Dương nâng sánh Trình Di luận bàn
Gió lành ắt sẽ thổi sang
Chia chung thiên hạ, thôn làng chung vui.

Phùng Văn Khai dịch

——————–

([19]) Chu Đôn Di: danh nho đời Tống, một trong những người được coi là kế tiếp đạo Khổng – Mạnh.

([20]) Trình Di: cũng là một danh nho đời Tống, em của Trình Hạo, tư tưởng của ông có nhiều điểm đặc sắc, đào tạo được nhiều học trò giỏi.

([21]) Du, Dương: tức Du Tạc và Dương Thời, danh nho đời Tống, học trò của Trình Tử.

 

Đoàn Hội đồng họ Phùng Việt Nam và các nhà nghiên cứu tại Tượng đài Phùng Khắc Khoan tại Thạch Thất- Hà Nội.

 

其 四
明 月 照 庭

入 門 細 細 引 風 輕
况 滿 軒 庭 月 又 明
光 射 梅 窗 微 有 影
斜 穿 竹 徑 寂 無 聲
到 天 心 透 中 和 妙
向 地 頭 推 道 理 精
料 得 少 人 知 意 味
芳 齋 無 異 玉 堂 清

 

Phiên âm:

KỲ TỨ
MINH NGUYỆT CHIẾU ĐÌNH

Nhập môn tế tế dẫn phong khinh,
Huống mãn hiên đình nguyệt hựu minh.
Quang xạ mai song vi hữu ảnh,
Tà xuyên trúc kính tịch vô thanh.
Đáo thiên tâm thấu trung hòa diệu,
Hướng địa đầu suy đạo lý tinh.
Liệu đắc thiểu nhân tri ý vị,
Phương trai vô dị ngọc đường thanh.

 

Dịch nghĩa:

BÀI BỐN
TRĂNG SÁNG CHIẾU XUỐNG SÂN

Êm dịu nhẹ nhàng, gió lùa vào cửa,
Huống chi lại được trăng sáng soi đầy sân, đầy hiên.
Ánh trăng sáng chiếu thẳng cửa sổ cây mai in bóng nhỏ,
Ánh trăng chiếu xuyên đường tắt khóm trúc lặng im không tiếng.
Mặt trăng lên giữa trời, tỏ rõ sự màu nhiệm của đạo trung, hòa(22 ),
Mặt trăng lên khỏi mặt đất, như diễn đạo lý tinh vi(23 ).
Chắc hẳn ít người biết được ý vị hay vô cùng ấy(24 ),
Nơi nhà tranh này chẳng khác gì chỗ nhà ngọc thanh cao.

 

Dịch thơ:

BÀI BỐN
TRĂNG SÁNG CHIẾU XUỐNG SÂN

Dịu êm cửa hé gió lùa
Tầng không trăng xuống cũng vừa đầy sân
Mai in bóng nhỏ phân vân
Trúc treo chênh chếch trăng ngân xạc xào
Trời càng cao đạo càng cao
Thoắt từ mặt đất vút vào tầng không
Ai hay cốt đạo vô cùng
Nhà thanh thanh ánh trăng mừng thanh thanh.

Phùng Văn Khai dịch

——————

([22]) Đạo trung, hòa: trung và hòa là hai phạm trù quan trọng của cái học tâm tính Nho gia. Trung là trạng thái nguyên sơ toàn vẹn của tính con người, hòa là trạng thái tình phát tiết đúng cách trúng đạo hợp lễ. Hai phạm trù này được luận giải kỹ trong sách Trung Dung của Nho gia.

([23]) Đạo lý tinh: nghĩa là sự tinh nhất thuần túy của đạo lý. Người ta cũng dùng cách nói này để gọi mặt trăng lúc tròn đầy trong sáng.

([24]) Câu 5 và câu 7 lấy ý từ bài thơ Thanh dạ ngâm của Thiệu Ung đời Tống: “Nguyệt đáo thiên tâm xứ, phong lai thủy diện thì, nhất ban thanh ý vị, liệu đắc thiểu nhân tri” (Khi trăng lên giữa trời, lúc gió thổi mặt nước, ý vị hay vô cùng ấy, chắc hẳn ít người biết).

其 五
碧 水 繞 欄

滿 庭 夜 夜 月 光 凝
碧 遶 欄 杆 水 又 澄
吞 岸 迴 環 縈 玉 帶
映 窗 皎 潔 淨 寒 冰
倒 流 泝 出 詞 源 闊
到 海 深 期 道 岸 登
性 水 未 波 塵 未 混
臨 淵 戒 謹 日 兢 兢

Phiên âm:

KỲ NGŨ
BÍCH THỦY NHIỄU LAN

Mãn đình dạ dạ nguyệt quang ngưng,
Bích nhiễu lan can thủy hựu trừng.
Thôn ngạn hồi hoàn oanh ngọc đái,
Ánh song hạo khiết tịnh hàn băng.
Đảo lưu tố xuất từ nguyên khoát,
Đáo hải thâm kỳ đạo ngạn đăng.
Tính thủy vị ba trần vị hỗn,
Lâm uyên giới cẩn nhật căng căng.

 

Dịch nghĩa:

BÀI NĂM
DÒNG NƯỚC BIẾC CHẢY QUANH BAO LAN NHÀ HỌC

Đêm đêm trăng sáng đầy sân nhà học,
Dòng nước trong xanh chảy quanh bao lan.
(Mùa hè) sông tựa đai ngọc, quấn quanh chảy như chực nuốt bờ,
(Mùa đông) sông có băng lạnh trong sạch, sáng ánh lên cửa sổ.
Đi ngược dòng sông, lên mãi thấy nguồn văn từ rộng rãi,
Xuôi ra đến biển, rất mong được bờ đạo lý để lên.
Thiên tính như nước lặng không sóng, bụi không lẫn vào được,
Cẩn thận giữ mình như lại gần vực sâu(25 ).

 

Dịch thơ:

BÀI NĂM
DÒNG NƯỚC BIẾC CHẢY QUA NHÀ HỌC

Sân nhà trăng sáng đêm đêm
Trong xanh dòng nước êm đềm cỏ hoa
Mùa hè sông rộng bờ xa
Mùa đông hắt bóng la đà mái hiên
Văn chương nguồn cội tổ tiên
Càng ra biển rộng càng bền nghĩa nhân
Thiên tư lẳng lặng như không
Mà qua băng mỏng, qua tầng vực sâu.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([25]) Thơ Nhã trong Kinh Thi có câu: “Như lâm thâm uyên, như lý bạc băng” (Như sát đến vực sâu, như bước trên băng mỏng). Ý nói phải luôn cẩn thận đề phòng giữ mình, theo đạo.

其 六
青 山 排 闥

近 水 軒 清 不 點 埃
遠 山 排 闥 送 青 來
蝦 鬚 捲 處 文 峰 現
螺 髻 橫 時 畫 障 開
舉 目 風 光 殊 華 嶽
回 頭 仙 境 近 蓬 萊
八 荒 洞 達 歸 吾 闥
真 廣 居 中 克 己 齋

 

Phiên âm:

KỲ LỤC
THANH SƠN BÀI THÁT

Cận thủy hiên thanh bất điểm ai,
Viễn sơn bài thát tống thanh lai.
Hà tu quyển xứ văn phong hiện,
Loa kế hoành thời họa chướng khai.
Cử mục phong quang thù Họa Nhạc,
Hồi đầu tiên cảnh cận Bồng Lai.
Bát hoang động đạt quy ngô thát,
Chân quảng cư trung khắc kỷ trai.

 

Dịch nghĩa:

BÀI SÁU
NON XANH SẮP HÀNG TRƯỚC CỬA

Gần sông, hiên nhà học trong sạch, chẳng chút bụi trần,
Núi non xa xa sắp hàng phía trước cửa, đưa màu xanh lại.
Chỗ mành mành cuốn cao lên, ngọn núi văn chương hiện,
Núi xoắn xuýt giăng ngang như bức bình họa mở ra.
Đưa mắt nhìn thấy phong cảnh khác hẳn núi Họa Nhạc(26 ),
Quay đầu lại, tưởng tiên cảnh cạnh Bồng Lai(27 ).
Tám phương xa sáng sủa rộng rãi, quay cả về cửa nhà học ta,
Thực là làm nhà “khắc kỷ”(28 ) ở trong chỗ “quảng cư” vậy(4).

 

Dịch thơ:

BÀI SÁU
NON XANH SẮP HÀNG TRƯỚC CỬA

Bên sông nhà học thanh bần
Lô xô núi đứng sắp hàng gần xa
Cuốn rèm thi tứ hiện ra
Họa hình riêng bức sơn hà biếc xanh
Bồng lai ngay sát bên mình
Xa trông Hoạ Nhạc thắm tình phong vân
Tám phương nhà học châu tuần
Chữ răn “khắc kỷ” nơi vùng “quảng cư”.

Phùng Văn Khai dịch

——————-

([26]) Họa Nhạc hay Họa Sơn, tức núi Thái Họa, ngọn núi nổi tiếng ở vùng Thiểm Tây, Trung Quốc, một trong Ngũ nhạc.

([27]) Bồng Lai: tên ngọn núi tiên ở, tương truyền ở biển Bột Hải.

([28])-(4) Quảng cư: chỗ ở rộng rãi. Ý nói lấy “nhân” làm chỗ cư ngụ thì luôn luôn rộng rãi. “Khắc kỷ” là chế ước bản thân, mà khắc kỷ là phương thức để thực hành nhân, vì thế nói làm nhà “khắc kỷ” trong chỗ “quảng cư”.

 

Đoàn Hội đồng họ Phùng Việt Nam và các nhà nghiên cứu tại Tượng đài Phùng Khắc Khoan tại Thạch Thất- Hà Nội -h4Đoàn Hội đồng họ Phùng Việt Nam và các nhà nghiên cứu tại Tượng đài Phùng Khắc Khoan tại Thạch Thất- Hà Nội.

 

其 七
紅 日 照 窗

屋 上 青 山 屋 下 江
曉 升 紅 日 近 臨 窗
銅 鉦 晻 曖 騰 書 壁
火 傘 輝 煌 透 紙 幢
隙 過 光 陰 常 惜 寸
影 來 幾 案 便 成 雙
回 頭 頓 喜 天 顏 接
自 覺 居 非 僻 陋 邦

 

Phiên âm:

KỲ THẤT
HỒNG NHẬT CHIẾU SONG

Ốc thượng thanh sơn ốc hạ giang,
Hiểu thăng hồng nhật cận lâm song.
Đồng chinh yểm ái đằng thư bích,
Hỏa tản huy hoàng thấu chỉ tràng.
Khích quá quang âm thường tích thốn,
Ảnh lai kỷ án tiện thành song.
Hồi đầu đốn hỷ thiên nhan tiếp,
Tự giác cư phi tịch lậu bang.

 

Dịch nghĩa:

BÀI BẢY
MẶT TRỜI CHIẾU CỬA SỔ

Phía trên nhà có núi xanh, phía dưới nhà có sông,
Mặt trời buổi sớm mới mọc gần ngay cửa sổ.
Có lúc như chiêng đồng lờ mờ ở bên tường vách xếp sách,
Có khi như tán lửa sáng rực ở chỗ màn giấy che.
Thời gian trôi qua thật mau, thường tiếc từng tấc một,
Chiếu đến kỷ án, một hình với bóng thành hai.
Ngoảnh đầu lại nhìn, thật mừng được tiếp xúc với thiên nhan,
Tự biết nơi mình ở không phải nơi hẹp hòi cô lậu.

 

Dịch thơ:

BÀI BẢY
MẶT TRỜI CHIẾU CỬA SỔ

Núi xanh ngay phía hiên nhà
Tinh sương cỏ mọc la đà mặt sông
Chuông ngân tường sách thư phòng
Lửa đèn soi rọi tấc lòng ưu dân
Thời gian thoi dệt xa gần
Một thân một bóng chuyên cần thâu đêm
Bỗng đâu thiên tử bên rèm
Trong lòng tự biết đầy miền cao xanh.

Phùng Văn Khai dịch

其 八
青 雲 得 路

陽 升 上 下 慶 相 交
得 路 青 雲 步 步 高
月 桂 手 攀 超 眾 望
天 衢 足 躡 冠 時 髦
顯 揚 喜 遂 生 平 志
寵 用 欣 承 聖 主 褒
將 展 作 霖 奇 手 段
男 兒 到 此 的 英 豪

 

Phiên âm:

KỲ BÁT
THANH VÂN ĐẮC LỘ

Dương thăng thượng hạ khánh tương giao,
Đắc lộ thanh vân bộ bộ cao.
Nguyệt quế thủ phan siêu chúng vọng,
Thiên cù túc nhiếp quán thời mao.
Hiển dương hỷ toại sinh bình chí,
Sủng dụng hân thừa thánh chủ bao.
Tương triển tác lâm kỳ thủ đoạn,
Nam nhi đáo thử đích anh hào.

 

Dịch nghĩa:

BÀI TÁM
ĐƯỜNG MÂY NHẸ BƯỚC(29 )

Thời thịnh trị, vua sáng tôi hiền mừng tao ngộ với nhau,
Đường mây được lối, mỗi bước lên cao.
Tay vin cành nguyệt quế, vượt cả điều chúng nhân ngưỡng vọng,
Chân dạo đường trời phẳng rộng, hơn hết bậc tài giỏi ngày nay.
Hiển thân dương danh, mừng thỏa chí bình sinh,
Mừng vì được thừa ân thánh chúa tin dùng.
Sẽ thi thố tài năng làm mưa khi trời đại hạn(30),
Trai tài được như thế mới thực là anh hào.

 

Dịch thơ:

BÀI TÁM
ĐƯỜNG MÂY NHẸ BƯỚC

Mừng thời vua sáng tôi hiền
Nước mây hội ngộ thiên nhiên thuận hoà
Vin cành nguyệt quế riêng ta
Phong quang đường lớn cửa nhà thung dung
Dương danh thoả chí anh hùng
Thêm mừng thánh chúa tin dùng tài hoa
Cầu mưa đại hạn vỡ oà
Ghi danh sách sử mới là trượng phu.

Phùng Văn Khai dịch

———————

([29]) Đường mây nhẹ bước: chỉ việc đỗ đạt làm quan, công danh hiển đạt.

([30]) Câu này nhắc điển Phó Duyệt được vua Cao Tông nhà Ân khen là có tài làm mưa lúc trời hạn, tức có tài lạ phù giúp thiên hạ, kinh bang tế thế (Theo Duyệt mệnh, sách Kinh Thư).

Phùng Văn Khai dịch

—————–

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]

 

 

 

 

     


     

Bài trướcNhạc lễ chức sắc Mưduen: Dấu ấn biển trong văn hóa người Chăm
Bài tiếp theoTư tưởng ‘Chi bằng học’ của Phan Châu Trinh vẫn vẹn nguyên giá trị

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây