Giới thiệu khái quát huyện Đông Sơn

huyện Đông Sơn - Tỉnh Thanh Hóa

Giới thiệu khái quát huyện Đông Sơn

  Đông Sơn là một huyện đồng bằng châu thổ sông Mã, nằm ở trung tâm của tỉnh Thanh Hóa, cách Thành phố Thanh Hóa 5 km về phía tây. Được kiến tạo trên một địa hình tương đối ổn định, có cảnh quan rất đẹp và hài hòa, đất đai màu mỡ phì nhiêu, có hệ thống sông đào Nhà Lê, sông Hoàng, kênh Bắc và trên 200 ha ao hồ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, có hệ thống núi đá vôi xen kẽ với nhiều chủng loại trữ lượng tương đối lớn và nguồn đất sét tốt tạo điều kiện cho việc phát triển ngành vật liệu xây dựng, chế tác đá và sản xuất gốm sứ. Từ ngàn xưa đã xuất hiện nhiều ngành nghề thủ công truyền thống như nghề làm đồ đá, khắc chạm đá mỹ nghệ, đúc đồng, làm gốm…nổi tiếng gần xa. Sản phẩm từ đá của Đông Sơn không chỉ tham gia vào nhiều công trình thế kỷ Cố đô Huế, tượng đá ở núi Ngũ Hành Sơn (Quảng Nam), Lăng Bác,… mà còn vươn ra thị trường thế giới. Tiềm năng đất đai và con người, tạo cho Đông Sơn có vị trí quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Thanh.
Địa giới:
     Giáp thành phố Thanh Hoá ở phía đông, huyện Thiệu Hoá ở phía bắc, huyện Quảng Xương và Nông Cống ở phía Nam, huyện Triệu Sơn ở phía tây. Đông Sơncó Quốc lộ 45, Quốc lộ 47, và đường sắt xuyên Việt chạy qua thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế – văn hoá với các địa phương trong cả nước.
Tọa độ địa lý:
Vĩ độ Bắc: Từ 19o 43′ (xã Đông Nam) đến 19o 51′  (xã Đông Thanh)
Kinh độ Đông: Từ 105o 33′ (Thị trấn Rừng Thông) đến 105o 45′ (xã Đông Hoàng)
Diện tích tự nhiên: 8241ha, trong đó đất nông nghiệp là 5229, chiếm 63,45%.
Dân số hơn 75 vạn người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 38 vạn người, chiếm 50,65%. 
    Ðông Sơn có 15 đơn vị hành chính, bao gồm Thị trấn Rừng thông và 14 xã: Đông yên, Đông Anh, Đông Minh, Đông Ninh, Đông Khê, Đông Hoàng, Đông Hoà, Đông Thịnh, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Phú, Đông Văn, Đông Nam và Đông Quang
Lịch sử hình thành và phát triển

Qua các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, huyện Ðông Sơn có nhiều thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính.

Tên gọi “Ðông Sơn” được đặt từ đời nhà Trần, huyện Đông Sơn thuộc trấn Thanh Ðô.
Thời thuộc Minh thuộc phủ Thanh Hoá
Thời Lê Quang Thuận thuộc phủ Thiệu Thiên, sau đổi thành Thiệu Hoá. Huyện Ðông Sơn thuộc phủ Thiệu Hoá.
Ðầu thế kỷ thứ XIX, huyện Ðông Sơn gồm 6 tổng, 145 làng, kẻ, xá, thôn, trang, vạn, gia, giáp, sở, phường
Năm 1928, huyện Ðông Sơn đổi thành phủ, bao gồm có 7 tổng, 115 làng và 5.794 dân đinh.
Năm 1946, chính quyền cách mạng chia 7 tổng thành 22 xã.
Năm 1948, sát nhập lại thành 13 xã.
Năm 1953, chia thành 22 xã, cuối năm 1954, chia thành 25 xã.
Năm 1963, chuyển 4 xã Ðông Thọ, Ðông Hương, Ðông Vệ, Ðông Hải, năm 1972, chuyển tiếp xã Ðông Giang về thị xã Thanh Hoá, Ðông Sơn còn lại 20 xã.
Ngày 5/7/1977, thực hiện Nghị định 177/HÐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), sáp nhập 16 xã của huyện Thiệu Hoá và đổi tên thành huyện Ðông Thiệu có 36 xã. Ngày 30/8/1982, thực hiện Nghị định số 149/HÐBT của Hội đồng Bộ trưởng đổi tên huyện Ðông Thiệu thành huyện Ðông Sơn.
Ngày 28/4/1992, thành lập thị trấn Rừng Thông (trung tâm huyện lỵ) trên cơ sở cắt một phần của các xã: Ðông Xuân, Ðông Tân và Ðông Lĩnh, huyện Ðông Sơn có 36 xã và một thị trấn.
Ngày 18/1/1996, thực hiện Nghị định số 72/CP của Chính phủ, tách 16 xã của huyện Thiệu Hoá tái lập huyện Thiệu Hoá, chuyển xã Ðông Cương sáp nhập vào thành phố Thanh Hoá, Ðông Sơn còn 19 xã và 1 thị trấn.
Tháng 4/2006, thành lập thị trấn Nhồi (tách một phần từ 2 xã Đông Hưng và Đông Tân).
Tháng 7/2012, thực hiện Nghị quyết 05 – NQ/CP của Chính phủ sát tách 5 xã, thị trấn: Đông Lĩnh, Đông Tân, Đông Hưng, Đông Vinh và thị trấn Nhồi vào thành phố Thanh hoá, huyện Đông Sơn còn lại 15 xã và 1 Thị trấn.
Truyềnthốngchốnggiặcngoạixâm
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã ghi nhận sự đóng góp đáng kể của nhân dân Đông Sơn qua các thời kỳ lịch sử. Nhiều vị anh hùng dân tộc đã sinh ra trên mảnh đất “địa linh, nhân kiệt” này .
Thời Trần có Thiều Thốn, người xã Đông Tiến là một tướng giỏi có nhiều đóng góp trong việc bảo vệ biên cương Tổ Quốc.
Thời thuộc Minh (1407-1427), có Nguyễn Chích, người xã Đông Ninh theo Lê Lợi tụ nghĩa tại Lam Sơn, có nhiều đóng góp vào thắng lợi đánh đuổi giặc Minh giải phóng đất nước. Là một trong 19 vị công thần và được Lê Lợi phong tước Đình thượng hầu.
Thời Vua Lê, Nguyễn Khải, người xã Đông Thanh là người văn võ song toàn, có công phò Lê diệt Mạc, được cử giữ chức Thượng thư Bộ binh, sau được phong Thái phó.
Trong kháng chiến chống quân Thanh xâm lược, nhân dân Đông Sơn lại tụ họp cùng các tướng sĩ của các đạo quân Nguyễn Huệ cùng với đại binh tiến quân thần tốc ra Thăng Long đánh bại 20 vạn quân Thanh, quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi.
Cuối thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn bạc nhược, đầu hàng thực dân Pháp. Nhân dân Đông Sơn đã tham gia vào nghĩa quân của Lê Thế Tấu (xã Đông Lĩnh), Lê Văn Thức (xã Đông Tiến) cùng thành lập đội nghĩa quân tại Bôn (nay là xã Đông Thanh) tiếp ứng, phối hợp với nghĩa quân Lê Khắc Tháo, Tống Duy Tân, Phạm Bành, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng. Phụ trách phong trào Cần Vương ở Thanh Hoá là Trần Xuân Soạn, người huyện Đông Sơn. Tham gia phong trào Cần Vương còn có Nguyễn Hữu Hạnh (người xã Đông Thanh) là một viên tướng giỏi, có đóng góp trong phong trào Cần Vương chống Pháp. Phong trào Cần Vương đã ghi nhận sự đóng góp to lớn của nhân dân Đông Sơn.
Đầu thế kỷ XX, nhân dân Đông Sơn với truyền thống yêu nước và cách mạng đã nhanh chóng đón nhận tư tưởng của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Tháng 3/1927, tại làng Hàm Hạ, tổng Kim Khê (nay là làng Đại Đồng, xã Đông Tiến), chi hội Việt Nam cách mạng thanh niên được thành lập và đến ngày 25-6-1930 chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh Thanh Hoá cũng được thành lập tại đây. Đồng chí Lê Thế Long, người làng Hàm Hạ, tổng Kim Khê làm bí thư chi bộ Hàm Hạ và ngày 29/7/1930 là Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên. Cuối năm 1930, cùng với tỉnh uỷ Thanh Hoá, hoạt động của chi bộ Hàm Hạ bị địch phát hiện. Đầu năm 1931, hầu hết các đảng viên đều bị bắt, chi bộ Hàm Hạ bị khủng bố. Tuy nhiên, phong trào đấu tranh chống áp bức bóc lột trong Huyện vẫn tiếp tục diễn ra hoà chung với phong trào cả nước. Cuối năm 1942, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, các đoàn thể cứu quốc trong Huyện ra đời, phong trào cách mạng ở Đông Sơn được phục hồi và phát triển. Tháng 4/1945, Ban cán sự Việt Minh Đông Sơn được thành lập. Từ ngày 19 đến ngày 23 tháng Tám, khởi nghĩa lần lượt giành được thắng lợi ở các địa phương trong huyện.
Ngày 27/8/1945, UBND cách mạng lâm thời huyện, chính quyền dân chủ nhân dân Đông Sơn ra đời, ngày 22/11/1945, đổi thành uỷ ban hành chính lâm thời, ngày 06/01/1946, cuộc tổng tuyển cử trên địa bàn huyện đã bầu ra Hội đồng nhân dân cơ sở và trên cơ sở đó, Hội đồng nhân dân cơ sở bầu ra uỷ ban hành chính huyện, chính quyền do dân bầu cử lần đầu tiên được thành lập, vai trò của chính quyền cách mạng được xác lập.
Từ tháng 3/1946 đến tháng 9/1947, tổ chức Đảng ở Đông Sơn được tái lập, chi bộ cơ quan huyện ủy và các chi bộ khu vực lần lượt ra đời. Cuối năm 1947, Đảng bộ huyện tiến hành đại hội lần thứ nhất, quán triệt chủ trương kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện của Trung ương Đảng.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, huyện Đông Sơn đã có 2233 thanh niên tham gia bộ đội, 280 đồng chí đã hy sinh anh dũng. Hàng chục nghìn lượt người đi thanh niên xung phong, hàng nghìn cán bộ thoát ly hoạt động trong các ngành kinh tế – xã hội phục vụ kháng chiến trên khắp mọi nẻo đường, mọi chiến trường.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đông Sơn có 14.700 thanh niên tham gia bộ đội; 6500 người tham gia lực lượng thanh niên xung phong và trên 3.000 người đi dân công phục vụ chiến trường. Đóng góp trên 250.000 tấn lương thực, 30.000 tấn thực phẩm, đào đắp 1.276.000 mét giao thông hào, xây dựng công sự và trận địa pháo.
Với những công lao đóng góp to lớn trong 2 cuộc kháng chiến và thành tích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng bộ và nhân dân Đông Sơn vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng Danh hiệu anh hùng lực lương vũ trang vì “Đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”; 3 tập thể: Lực lương công an huyện, cán bộ nhân dân và lực lượng vũ trang các xã Đông Văn, Đông Nam và 3 cá nhân: Ông Lê Duy Cận (xã Đông Nam), Ông Lưu Huy Chao (xã Đông Anh) và ông Đỗ Viết Chuyền (xã Đông Minh) được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang; 64 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Lực lượng vũ trang Đông Sơn được tặng Huân chương quân công hạng Nhì, trên 5.000 cá nhân khác được tặng thưởng huân huy chương các loại.
Trong thời kỳ đổi mới, cán bộ và nhân dân huyện Đông Sơn được tăng Huân chương lao động hạng nhất, tập thể cán bộ và nhân dân xã Đông Văn và ông Trần Bang xã Đông Nam được phong tặng anh hùng lao động, hàng trăm tập thể, cá nhân được tặng thưởng các huân, huy chương và các danh hiệu thi đua cao quý khác.
Là địa phương vinh dự được đón Bác Hồ về thăm và nói chuyện với cán bộ chủ chốt tỉnh Thanh hoá lần đầu tiên sau cách mạng Tháng Tám tại Rừng Thông (ngày 20/12/1947).
Mảnh đất Đông Sơn đã sinh ra và nuôi dưỡng biết bao bà mẹ Việt nam anh hùng, các tướng lĩnh, các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng, của quân đội. Nhân dân Đông Sơn rất tự hào có Thượng tướng Lê Khả Phiêu, người xã Đông Khê đã trở thành Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt nam.
Tiềm năng Đông Sơn
Huyện Đông Sơn có nhiều lợi thế trong giao lưu hàng hoá, phát triển kinh tế, với vị trí khá thuận lợi, nằm cận kề Thành phố Thanh Hoá, ở vị trí giao thoa các hành lang kinh tế Đông Tây – Nam Bắc của tỉnh Thanh Hoá, của vùng Bắc Trung bộ, đầu mối giao thông quốc gia, có mạng lưới cơ sở hạ tằng nói chung và hệ thông giao thông nói riêng tương đối đầy đủ và phân bố đều khắp các địa phương trong huyện.
Khí hậu và thuỷ văn khá thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp.
Quỹ đất sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp tương đối lớn; nguồn nhân lực dồi dào, tỷ lệ lao động trẻ cao…
Những năm gần đây, thực hiện chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế của Ðảng, Nhà nước, huyện Đông Sơn đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, kinh tế tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ, đặc biệt là ngành khai thác vật liệu xây dựng và chế tác đá mỹ nghệ phát triển mạnh, tỷ trọng  ngày càng tăng, tạo bước chuyển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội địa phương.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Huyện chủ động thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi, phát triển kinh tế trang trại. Sản xuất lúa đạt năng suất bình quân 62,2tạ/ha, sản lượng đạt 59.170 tấn (năm 2012).
Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng phát triển tương đối đa dạng, phong phú. Hình thành cụm công nghiệp ở Đông Tiến, các cụm nghề ở Đông Hoàng, Đông Phú. Bên cạnh các nghề truyền thống, đã du nhập và phát triển nhiều nghề mới, như: Dán nilon, Khâu bóng, Sơn mài, Sản xuất cầu lông, Đúc đồng, sản xuất tăm tre, đá mỹ nghệ…. Năm 2012, giá trị công nghiệp – tiểu thủ công nghiêp đạt 445 tỉ đồng; có 998 cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, trong đó có 176 doanh nghiệp; tổng mức bán lẻ đạt 1. 315 tỉ đồng , giá trị xuất khẩu đạt 7,69 triệu USD.
Trong thời gian tới Đông Sơn chủ trương tranh thủ tối đa nguồn lực đê tập trung phát triển kinh tế xã hội với tốc độ cao và bền vững. Phấn đấu đến năm 2020, đứng vào nhóm các huyện có kinh tế phát triển của Tỉnh Thanh Hoá, với GDP bình quân đầu người bằng 1,2 – 1,4 lần GDP bình quân của tỉnh, dựa trên sự đổi mới đáng kể công nghệ ở những khâu và những lĩnh vực theo chốt. Phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, xây dựng vùng chuyên canh, áp dụng khoa học kỷ thuật, thủy lợi hóa, cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất. Trong lĩnh vực công nghiệp, chú trọng đầu tư xây dựng cụm công nghiệp và khu công nghiệp, du nhập và phát triển nghề mới để thu hút lực luợng lao động, hình thành các cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp mới, với nhiều ngành nghề đa dạng. Đầu tư vào lĩnh vực thưong mại và dịch vụ, để đáp ứng nhu cầu phát triển tại địa phương của mình.
Mục tiêu cụ thể (giai đoạn 2012 – 2020): Tăng trưởng kinh tế đạt 17,5%; tỷ suất hàng hoá 30 – 35%; giá trị xuất khẩu đạt 40 – 45 triệu USD; GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 45 – 55  triệu VNĐ; tổng giá trị hàng hoá và xuất khẩu đạt 40 triệu USD, giảm hộ nghèo xuống còn 3-4%.

       Những dự án kêu gọi đầu tư:

Giai đoạn 2013 – 2015:
1.  Xây dựng trung tâm thương mại thị trấn Rừng Thông.
2.   Khu du lịch sinh thái hồ Mau Rủn.
3.    Nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu.
4.    Khôi phục làng nghề đúc đồng.
5.    Xây dựng khu du lịch văn hoá thành Hoàng Ngưu – Đông Nam
6.    Nâng cấp đầu tư 10 chợ đã có trên địa bàn huyện.
7.    Kêu gọi đầu tư xây dựng khu hành chính mới.
Giai đoạn 2015 – 2020:                       
1.    Xây dựng khu du lịch và nhà nghỉ sinh thái Rừng Thông.
2.    Xây dựng siêu thị tại xã Đông Khê.
3.    Xây dựng siêu thị tại xã Đông Tiến
4.    Xây dựng siêu thị tại xã Đông Văn
5.    Đầu tư nâng cấp đầu tư 10 chợ mới trên địa bàn huyện.

6.  Xây dựng bệnh viên đa khoa tư nhân quy mô 100 – 120 giường

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây