Giới thiệu khái quát huyện Mang Thít

huyện Mang Thít - Tỉnh Vĩnh Long

Giới thiệu khái quát huyện Mang Thít

1.1. Điều kiện tự nhiên:

1.1.1. Vị trí địa lý:

Huyện Mang Thít có vị trí nằm phía Đông Bắc của tỉnh Vĩnh Long, ven sông Cổ Chiên với chiều dài qua huyện khoảng 30 km, trung tâm huyện cách TP Vĩnh Long 22 km theo đường tỉnh 903 và Quốc lộ 53 về hướng Tây Bắc, với tọa độ địa lý từ 10o 6′ 10″ đến 10o 14′  40” vĩ độ Bắc và từ 106o 01’02” đến 106o11’00” kinh độ Đông. Toàn huyện có 12 xã và 01 thị trấn. Vị trí giáp giới như sau:

– Phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre (sông Cổ Chiên).

– Phía Nam giáp huyện Tam Bình, Vũng Liêm.

– Tây giáp huyện Long Hồ.

– Phía Đông giáp tỉnh Bến Tre.

Toàn địa bàn huyện có mạng lưới giao thông bộ, giao thông thuỷ khá thuận lợi: giao thông bộ: có Quốc lộ 53 (dài 8,20 km), Đường tỉnh 902,903,907,909 (dài 50,58 km) cùng với các tuyến Đường huyện (dài 55,70 km) và trên 70 km đường giao thông nông thôn; giao thông thủy có 2 tuyến giao thông thủy chính là sông Cổ Chiên và sông Măng Thít, còn có trên 740 km sông vừa và nhỏ, đã tạo cho huyện mạng lưới giao thông thủy, bộ phân bố rộng khắp, thuận lợi cho việc lưu thông của người dân trong nội bộ huyện với các huyện khác và các vùng lân cận thuận lợi cho phát triển NN toàn diện. 

Về vị trí, huyện được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền), sông Măng Thít và Quốc lộ 53, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu hàng hóa với TP Vĩnh Long và các tỉnh ĐBSCL bằng đường thủy và đường bộ. Có tuyến CN Bắc Cổ Chiên là một trong các KCN trọng điểm của Tỉnh, với các trục giao thông trọng điểm như đường tỉnh 902, 903 nối với Quốc lộ 53. Mang Thít với KT NN là chính, chủ yếu là trồng lúa nước, cây ăn quả và chăn nuôi. Tuy nhiên ngành tiểu thủ CN của huyện phát triển mạnh là ngành nghề truyền thống với nguồn đất sét khá phong phú, đặc biệt, gốm mỹ nghệ Mang Thít có màu sắc đặc trưng, mẫu mã đa dạng từ đơn giản đến tinh xảo hấp dẫn người tiêu dùng trong và ngoài nước. Hiện nay gốm mỹ nghệ Mang Thít đã có mặt trên thị trường thế giới, đặc biệt là các nước Á-Âu.

1.1.2. Địa hình, địa mạo:

Theo bản đồ Cao độ biên tập năm 2010 được thành lập trên nên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:5000 của bộ TN&MT năm 2007, địa hình huyện Mang Thít tương đối bằng phẳng, cao trình biến thiên từ 0,6 m đến 2,0 m, tiểu địa hình có sự khác biệt khá rõ, khuynh hướng cao ở các xã ven sông Cổ Chiên và sông Măng Thít thấp và phía Tây Bắc của huyện (xã Long Mỹ, Hòa Tịnh, Nhơn Phú) và thấp dần về các xã trung tâm huyện, chia ra các cấp sau:

– Vùng có cao trình 0,4 – 0,6 m chiếm 0,21 % DT đang sử dụng phân bố ở các xã: Mỹ An, Mỹ Phước.

– Vùng có cao trình từ  0,8 – 1,0 m chiếm 17,83 % DT đang sử dụng, phân bố ở các xã: Long Mỹ, Hòa Tịnh, Mỹ Phước, Nhơn Phú, Tân Long, Tân Long Hội, Tân An Hội, Chánh Hội.

– Vùng có cao trình từ 1,0 – 1,2 m chiếm 49,04 % DT đang sử dụng, phân bố đều ở các xã.

– Vùng có cao trình từ 1,2 – 1,4 m chiếm 24,0 % DT đang sử dụng, phân bố các xã ven sông Măng Thít và sông Cổ Chiên như: Mỹ An, Mỹ Phước, An Phước, Chánh An, Tân An Hội, Tân Long Hội .

– Vùng có cao trình từ 1,4 – 1,6 m chiếm 6,25 % DT đang sử dụng, phân bố các xã, Thị trấn: Cái Nhum, Chánh An, An Phước, Mỹ Phước, Mỹ An.

– Vùng có cao trình trên 1,6 – 1,8 m chiếm 2,47 % DT đang sử dụng, phân bố các xã: An Phước, Thị trấn Cái Nhum.

– Vùng có cao trình trên 1,8 – 2,0 m chiếm 0,20 % DT đang sử dụng, phân bố các xã: An Phước.

Nhìn chung địa hình của huyện thấp dần từ phía sông Cổ Chiên và sông Măng Thít vào trung tâm huyện, kết hợp với hệ thống kênh rạch dày. Vùng có cao trình trung bình đến hơi thấp thuận lợi cho việc phát triển NN đa dạng, nhất là cây lúa ở KV nội đồng và cây ăn trái ven các sông rạch. Vùng có cao trình trên 1 m có khả năng khai thác sét nguyên liệu và sản xuất gốm, gạch ngói. Tuy nhiên việc tác động của con người trong quá trình khai thác đất làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói trong thời gian qua làm hình thành những tiểu địa hình thấp khác nhau.

Bảng 1: Phân cấp chi tiết các cấp địa hình của huyện Mang Thít

TT Vùng cao trình (m) Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 0,6 – 0,8 28,21 0,21
2 0,8 – 1,0 2.406,92 17,83
3 1,0 – 1,2 6.620,79 49,04
4 1,2 – 1,4 3.239,56 24,00
5 1,4 – 1,6 843,43 6,25
6 1,6 – 1,8 334,08 2,47
7 1,8 – 2,0 26,52 0,20
Sông rạch 2.485,13  
Diện tích tự nhiên năm 2010 15.984,64  

1.1.3. Khí hậu:

 Mang Thít có đặt điểm cũng như toàn tỉnh Vĩnh Long, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng, ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào. Kết quả thống kê về khí tượng thuỷ văn qua các năm, cho thấy: Nhiệt độ trung bình qua các năm biến động từ 27,3 – 27,8 0C, tuy nhiên qua các tháng trong năm 2010 vào mùa khô đặc biệt tháng 4,5 cho thấy nền nhiệt của toàn tỉnh lên cao 35,5 – 380C. Tổng lượng bốc hơi trong các tháng đầu năm 2010 cao hơn trung bình nhiều năm 100 mm so với cùng kỳ nhiều năm.

– Nhiệt độ cao nhất từ  năm 2006 – 2010 là 37,2oC, thấp nhất là 17,7oC và biên độ nhiệt giữa ngày và đêm BQ là 7,30oC.

– Bức xạ trên địa bàn huyện tương đối cao, BQ số giờ nắng trong một ngày là 7,5 giờ. Bức xạ quang hợp hàng năm đạt 79.600 cal/m2. Thời gian chiếu sáng BQ năm đạt 2.550 – 2.700 giờ/năm. Nhiệt độ và bức xạ dồi dào là điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt.

– Độ ẩm: không khí BQ 81-85%, trong tháng 9, độ ẩm đạt cao nhất là 88% và tháng thấp nhất là 77% (vào tháng 3). Độ ẩm trung bình tháng qua các tháng trong năm 2009 ở mức khá cao, được ghi nhận là 84%, xấp xỉ và cao hơn 7% so với cùng kỳ nhiều năm.

– Lượng mưa: Số ngày mưa BQ trong năm là 100 – 115 ngày với lượng mưa trung bình đạt 1.550 – 1.650 mm/năm, riêng lượng mưa năm 2009 chỉ đạt 1.353 mm/năm.  

1.1.4. Thuỷ văn

Mang Thít có đặc điểm cũng như toàn tỉnh Vĩnh Long chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông thông qua các sông lớn là sông Cổ Chiên và sông Măng Thít, có đặc tính địa hình rất nhạy cảm với chế độ nước trên sông, rạch, trong ngày có 2 con nước lớn, ròng, trong tháng thì có 2 con nước rong vào những ngày đầu và giữa của tháng âm lịch, ngoài ra còn có hệ thống kênh – rạch với mật độ 30 m/ha. Nước ngọt hầu như quanh năm, tạo thuận lợi cho tưới tiêu trong NN, giao thông thuỷ, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.

Với đặc điểm thuỷ văn nêu trên, về tiềm năng tưới tự chảy cho cây trồng khá lớn, khả năng tiêu rút nước tốt, tạo lợi thế khá lớn cho sản xuất NN, khả năng trao đổi nước mặt tốt, làm tăng quá trình tự làm sạch của dòng sông, làm giảm thiểu nguồn gây ô nhiễm nước mặt về dư lượng phân bón, thuốc BVTV, chất thải trong sinh hoạt, sản xuất CN, TTCN,…

 Tóm lại, yếu tố khí hậu, thuỷ văn các năm khá thuận lợi cho NN theo hướng đa canh, thâm canh tăng vụ và thích hợp cho ĐDSH tự nhiên phát triển. Tuy nhiên, do lượng mưa chỉ tập trung vào 6 tháng mùa mưa cùng với nguồn nước lũ từ thượng nguồn tạo nên một số KV bị ngập úng cục bộ, ảnh hưởng đối với sản xuất NN, đời sống sinh hoạt của người dân và môi trường sinh thái. Đồng thời dưới tác động của BĐKH trong thời gian gần đây, kết hợp với việc khai thác nguồn nước của các nước thượng nguồn sông Mêkông làm tăng cường tính cực đoan cuả khí hậu, diễn biến bất thường của mực nước trên sông Mêkông, khả năng xâm nhập mặn ngày càng sâu vào đất liền sẽ gây nên hậu quả là giảm dần các yếu tố thuận lợi về mặt khí hậu – thời tiết, điều kiện thuỷ văn – nguồn nước và tăng các nguy cơ tiềm ẩn do tác động của BĐKH trong những thập kỷ tới.

Lịch sử văn hóa huyện Mang Thít

Mang Thít xưa có tên gọi là Măng Thít hay Mân Thít. Nguyễn Ánh sau khi khôi phục đất Gia Định, đặt phủ Mân Thít, giao cho Thổ quan là Nguyễn Văn Tồn quản lý. Vào năm 1827, đổi là huyện Tuân Ngãi, thuộc phủ Lạc Hoá, trấn Vĩnh Thanh. Năm Minh Mạng thứ 13, huyện Tuân Ngãi thuộc tỉnh Vĩnh Long, gồm 5 tổng là Ngãi Hoà, Ngãi Long, Thành Trị, Tuân Giáo, Tuân Lễ. Đầu thời Pháp thuộc, huyện bị giải thể, nhập địa bàn vào hạt thanh tra Lạc Hoá.

Ngày 25 tháng 01 năm 1908, Pháp lập quận Cái Nhum, gồm có 2 tổng là Bình Thạnh với 3 làng và Bình Chánh với 5 làng. Ngày 18 tháng 12 năm 1916, quận Cái Nhum bị giải thể, nhập tổng Bình Thạnh vào quận Chợ Lách và tổng Bình Chánh vào quận Tam Bình cùng tỉnh.

Ngày 18 tháng 05 năm 1955, chính quyền Sài Gòn lập quận Cái Nhum, thuộc tỉnh Vĩnh Long, trên cơ sở tách ra từ quận Châu Thành, gồm tổng Bình Long với 9 xã, quận lỵ đặt tại Cái Nhum. Ngày 08 tháng 10năm 1957, giải thể quận Cái Nhum, nhập địa bàn vào quận Châu Thành và quận Chợ Lách cùng tỉnh. Ngày 10 tháng 03 năm 1961, quận Cái Nhum được tái lập, gồm 2 tổng là Thanh Thiềng với 4 xã và Bình Thiềng với 4 xã. Ngày 31 tháng 05 năm 1961, đổi tên quận Cái Nhum thành quận Minh Đức.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1974, Cái Nhum là huyện của tỉnh Cửu Long. Ngày 11 tháng 03 năm 1977, huyện Cái Nhum hợp với huyện Châu Thành Tây (trừ các xã Tân Ngãi, Tân Hoà) và các xã Hoà Hiệp, Hậu Lộc của huyện Tam Bình thành huyện Long Hồ.

Ngày 29 tháng 09 năm 1981, huyện Mang Thít được thành lập theo Quyết định số 89/1981/QĐ-HĐBT, trên cơ sở tách ra từ huyện Long Hồ, gồm có 8 xã: An Phước, Chánh Hội, Tân Long Hội, Nhơn Phú, Mỹ An, Hoà Tịnh, Bình Phước, Long Mỹ; huyện lại đặt tại xã Chánh Hội.

Ngày 17 tháng 04 năm 1986, giải thể huyện Mang Thít, nhập địa bàn vào huyện Long Hồ. Ngày 26 tháng 12 năm 1991, tỉnh Cửu Long tách thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh, huyện Long Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ngày 13 tháng 02 năm 1992, tái lập huyện Mang Thít trên cơ sở tách ra từ huyện Long Hồ, gồm 8 xã như cũ.

Ngày 18 tháng 03 năm 1994, thành lập thị trấn Cái Nhum trên cơ sở tách ra từ xã Chánh Hội. Ngày 09 tháng 08 năm 1994, lập thêm 4 xã mới: Tân An Hội, Tân Long, Mỹ Phước, Chánh An.

Cuối năm 2003, huyện Mang Thít có thị trấn Cái Nhum và 12 xã: Mỹ An, Long Mỹ, Hoà Tịnh, Bình Phước, Nhơn Phú, Mỹ Phước, Chánh Hội, An Phước, Chánh An, Tân Long, Tân An Hội và Tân Long Hội.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây