Tác giả Đinh Thị Toan

Đinh Thị Toan

 

ĐINH THỊ TOAN

Họ tên: Đinh Thị Toan

Trình độ: Thạc sĩ Ngữ văn

Cơ quan công tác: Nhà trưng bày Hoàng Sa

Địa chỉ liên hệ: Đinh Thị Toan, Nhà trưng bày Hoàng Sa, (Nút giao thông đường Phan Bá Phiến và Hoàng Sa, quận Sơn Trà, tp.Đà Nẵng)

 

VĂN BIA VĂN CHỈ HÒA KHƯƠNG – TƯ LIỆU VÀ LỊCH SỬ

ThS. Đinh Thị Toan

                                                                              Nhà Trưng bày Hoàng Sa

Đỗ Thúc Tĩnh (Đỗ Thúc Tịnh) tiên sinh (1818-1862) là một trong những người con đất Quảng không chỉ đỗ đạt cao, làm rạng danh nghiệp học quê nhà, mà còn có nhiều đóng góp đối với quê hương. Đền thờ thánh, hay còn gọi dưới cái tên phổ biến Văn chỉ/thánh Hòa Khương (nay thuộc xã Hòa Khương, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng) – nơi thờ Khổng Tử và các bậc hiền triết, được phục tạo vào thời vua Tự Đức là nhờ công lao của ông. Việc tái tạo đền thờ này, như được khẳng định trong các văn bia hiện còn, nhằm khẳng định sự tôn sùng Nho học, khuyến khích lòng hiếu nghĩa. Điều này đặc biệt có ý nghĩa lúc đương thời, khi mà Nho giáo vẫn đang trong cuộc hưng tồn. Hơn thế, đối với đạo học ngày nay, Nho giáo không còn được trọng thị, nhưng tinh thần tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn luôn được đề cao. Sự tồn tại của Văn chỉ Hòa Khương là sự lưu truyền chân lý coi trọng người có học, hiếu kính người có công đóng góp cho sự phát triển của quê nhà, đồng thời lưu dấu công lao của tiến sĩ họ Đỗ đối với quê hương Hòa Vang nói riêng.

Cũng trên tinh thần trọng học ấy, chúng tôi trong bài viết này xin được công bố toàn văn 4 văn bia hiện còn lưu giữ tại Văn chỉ Hòa Khương, với mong muốn để người đọc hiểu được những gì từ cách đây hơn 150 năm, thế hệ trước đã ghi khắc trên bia đá. Đồng thời, thông qua đó, biểu thị thái độ kính ngưỡng với công lao đóng góp của các bậc tiền nhân, từ những vị quan chức đến những người dân bình dị, chân lấm tay bùn ở nhiều xã, thôn, tổng, huyện khác nhau.

Bốn bia đá nêu trên được gắn trên các tảng đá hình chữ nhật, có kiểu thức trang trí và kích thước hoàn toàn khác nhau: Bia thứ 1 hình chữ nhật đứng, vát góc hai bên, dựng năm Tự Đức thứ 5 (1852), cao khoảng 114, 5 cm, rộng 85,5 cm; diềm rộng 9 cm, trán cao 10,5 cm. Mặt trước bia trang trí hình rồng đều khắp ở hai bên diềm bia, hai bên trán bia là đôi phụng chầu về phía mặt nhật, mặt sau bia để trống.

Bia thứ 2 được dựng năm Ất Tị, niên hiệu Thành Thái thứ 17 (1905), hình chữ nhật đứng, vát góc hai bên, cao khoảng 110 cm, rộng 83 cm; trán cao 7 cm, rộng 9 cm, mặt trước và mặt sau bia hoàn toàn không được trang trí.

Bia thứ 3 cũng có dạng hình chữ nhật đứng, vát góc hai bên, dựng năm Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định 4 (1919), cao khoảng 109 cm, rộng 71 cm; trán cao 7 cm, diềm bia rộng 6 cm. Mặt trước của bia được trang trí hình dây lá cách điệu chạy khắp các diềm bia, riêng trán bia đắp hình lưỡng long triều nhật cách điệu, mặt sau của bia không được trang trí.

Bia thứ 4 dựng năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Bảo Đại thứ 17 (1942), cao 118 cm, rộng khoảng 59,5 cm, trán cao khoảng 23,5 cm, rộng 81,5 cm, diềm rộng khoảng 6,5 cm. Mặt trước của bia: Trán đắp nổi hình “lưỡng long triều nhật“ cách điệu; diềm và tai bia trang trí hình kỉ hà gấp khúc. Mặt sau của bia này ít họa tiết trang trí hơn mặt trước, trán bia cũng đắp nổi hình “lưỡng long triều nhật“ cách điệu, nhưng có phần thô cứng và ít họa tiết hơn, diềm và tai bia để trống không trang trí.

Bốn bia được khắc đều trên 8 mặt (mỗi bia 2 mặt). Do trải qua nhiều cuộc thăng trầm, các bia đã không còn được nguyên vẹn. Có bia bị vỡ từng mảng không được phục chế, có bia bị đứt gãy đã được gắn kết lại nhưng phần vôi vữa đã làm mất đi nhiều dòng chữ. Tuy vậy, nội dung các văn bia nhìn chung còn được bảo lưu. Bốn trong số 8 mặt bia này đã được Nhà giáo ưu tú Nguyễn Đình Thảng phiên âm, dịch nghĩa, lưu tại Bảo tàng Đà Nẵng (sau này chuyển lưu tại Trung tâm Quản lý di sản văn hóa). Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan, bản dịch này có nhiều sai sót, thừa nhiều chỗ và cũng thiếu rất nhiều dòng chữ. Trên cơ sở kế thừa bản dịch này, chỉnh sửa những chỗ thiếu sót và bổ sung thêm 4 mặt bia còn lại, chúng tôi đã dịch hoàn chỉnh cả 8 mặt bia trên. Với quan điểm tôn trọng nguyên bản, những đoạn hoặc chữ bị mất, mờ, chúng tôi đều có chú thích rõ. Nếu mất nhiều chữ thì để dấu […], nếu mất/mờ 1 đến 2 chữ thì dùng số 0, mỗi số 0 tương ứng với một chữ Hán. Để quý độc giả tiện tra cứu khi cần, chúng tôi dẫn nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa. Sau đây là nội dung các văn bia.

Văn bia số 1

Mặt 1:

Chữ Hán:

和 榮 縣 文 會 建 造 祠 宇 所 有 某 員 人 致 供 銀 錢 田 土 列 后 計 本 縣 縣 尹 阮 輝 炳 乂 省 雙 東 錢 一 百 貫 新 縣 尹 黎 輝 達 清 省 雷 芮 錢 三 十 貫 攝 辨 縣 尹 黎 文 鸾 慶 省 錢 二 十 貫 以 下 本 縣 訓 導 陳 嘉 會 乂 省 清 南 新 訓 導 黄 杜 鍊 義 省 錢 十 貫 燕 户 副 管 奇 胡 文 和 清 洲 東 甲 白 金 二 十 三 两 藩 司 正 九 品 杜 興 奎 泰 來 社 白 銀 十 两 本 衙 吏 目 丁 文 善 隷 目 阮 文 真 通 吏 黄 立 楊 順 吳 琦 阮 卿 錢 五 十 貫 各 該 副 總 該 總 黎 文 生 阮 德 議 黎 文 利 潘 文 質 阮 金 統 黎 清 諼 陳 號 副 總 武 文 尉 潘 文 諒 鄧 公 柳 枚 進 璘 馮 廷 諠 丁 公 清 武 祿 羅 洲 本 社 福 祥 總 公 田 一 畝 公 土 一 篙 丁 玉 玔 丁 玉 銘 羅 洲 社 私 土 五 篙 三 尺 五 寸 阮 文 強 羅 帶 社 錢 五 十 貫 米 十 斛 阮 文 富 姜 美 社 錢 五 十 貫 米 三 斛 阮 進 訓 安 盛 社 錢 六 十 貫 以 下 張 文 鳳 沉 愛 社 阮 文 記 富 山 社 錢 五 十 貫 胡 玉 槿 清 溪 村 錢 三 十 貫 以 下 阮 文 …[1] 黎 進 錠 安 洲 社 鄧 文 孝 香 蓝 社 黎 文 事 南 安 社 梁 進 義 河 滇 社 阮 文 評 富 香 社 杜 文 意 愛 義 社 黎 文 應 南 安 社 阮 文 壬 安 山 坊 陳 文 會 清 洲 西 甲 枚 文 光 南 安 社 陳 維 安 清 洲 東 甲 武 文 烜 大 江 坊 枚 文 情 會 域 社 黎 文 鄧 雲 陽 社 阮 德 欽 安 義 東 社 范 進 和 春 韶 社 潘 文 苓 東 富 社 藩 司 九 品 阮 有 誠 延 福 富 沾 錢 十 貫 以 下 富 山 社 福 祥 總 清 洲 三 甲 清 洲 總 楊 進 齡 延 福 明 鄉 丁 玉 詹 丁 玉 福 羅 洲 社 陳 文 學 富 山 社 阮 文 道 安 新 社 黎 忠 春 范 文 日 黎 文 盛 錦 遂 社 范 文 信 春 祿 社 杜 文 運 泰 來 社 吳 文 夀 關 南 社 阮 德 講 愛 義 社 阮 曰 通 忠 道 社 胡 文 得 扶 南 上 下 潘 文 詩 沉 愛 社 黎 文 寳 清 洲 東 甲 阮 文 瑶 富 香 社 阮 文 桼 河 溪 社 陳 福 財 俱 堤 社 黎 文 行 南 安 坊 黎 文 寶 寶 山 社 胡 公 安 延 福 朱 轡 張 德 懿 張 貞 元 潘 克 纉 沉 愛 社 底 網 社 清 洲 總 錢 五 貫 以 下 黄 世 寳 河 東 青 林 陳 廷 直 延 福 燕 泥 阮 公 正 延 福 銀 溝 …[2] 陳 有 边 延 山 社 阮 文 素 黎 文 喜 潘 文 合 錦 遂 社 阮 文 合 鄧 文 禮 香 蓝 社 黎 進 誠 安 洲 社 杜 文 …[3] 陳 得 賄 仙 山 社 武 文 多 茂 林 社 陶 公 誠 大 江 坊 阮 進 美 安 義 上 社 阮 文 閑 竹 泡 社 阮 進 謙 安 盛 社 范 文 金 新 寧 社 陳 清 春 蓮 池 社 阮 惟 敬 底 網 社 管 文 慶 清 洲 西 甲 張 文 廣 張 文 格 滂 澤 社 陳 文 典 阮 文 著 富 香 社 段 惟 正 沉 愛 社

嗣 德 五 年 春 仲 月 既 望 恭 鐫

Phiên âm:

Hòa Vang huyện văn hội kiến tạo từ vũ. Sở hữu mỗ viên nhân trí cúng ngân tiền, điền thổ liệt hậu kê: Bổn huyện huyện doãn Nguyễn Huy Bính, Nghệ tỉnh, Song Đông tiền nhất bách quán. Tân huyện doãn Lê Huy Đạt, Thanh tỉnh, Lôi Nhuế, tiền tam thập quán. Nhiếp biện huyện doãn Lê Văn Loan, Khánh tỉnh, tiền nhị thập quán dĩ hạ. Bổn huyện Huấn đạo Trần Gia Hội, Nghệ tỉnh, Thanh Nam. Tân Huấn đạo Hoàng Đỗ Luyện, Nghĩa tỉnh, tiền thập quán. Yến hộ Phó quản cơ Hồ Văn Hòa, Thanh Châu, Đông giáp, bạch kim nhị thập tam lượng. Phiên ti chánh cửu phẩm Đỗ Hưng Khuê, Thái Lai xã, bạch ngân thập lượng. Bổn nha Lại mục Đinh Văn Thiện, Lệ mục Nguyễn Văn Chân, Thông lại Hoàng Lập, Dương Thuận, Ngô Cơ, Nguyễn Khanh tiền ngũ thập quán. Các cai, phó tổng: Cai tổng Lê Văn Sinh, Nguyễn Đức Nghị, Lê Văn Lợi, Phan Văn Chất, Nguyễn Kim Thống, Lê Thanh Huyên, Trần Hiệu; phó tổng Vũ Văn Úy, Phan Văn Lượng, Đặng Công Liễu, Mai Tiến Lân, Phùng Đình Huyên, Đinh Công Thanh, Vũ Lộc. La Châu bổn xã, Phước Tường tổng công điền nhất mẫu, công thổ nhất cao. Đinh Ngọc Xuyên, Đinh Ngọc Minh, La Châu xã, tư thổ ngũ cao tam xích ngũ thốn. Nguyễn Văn Cường, La Đái xã, tiền ngũ thập quán, mễ thập hộc. Nguyễn Văn Phú, Khương Mỹ xã, tiền ngũ thập quán, mễ tam hộc. Nguyễn Tiến Huấn, An Thịnh xã, tiền lục thập quán dĩ hạ. Trương Văn Phụng, Trầm Ái xã. Nguyễn Văn Kí, Phú Sơn xã, tiền ngũ thập quán. Hồ Ngọc Cận, Thanh Khê thôn, tiền tam thập quán dĩ hạ. Nguyễn Văn […] Lê Tiến Định, An Châu xã. Đặng Văn Hiếu, Hương Lam xã. Lê Văn Sự, Nam An xã, Lương Tiến Nghĩa, Hà Chan xã, Nguyễn Văn Bình, Phú Hương xã, Đỗ Văn Ý, Ái Nghĩa xã, Lê Văn Ứng, Nam An xã, Nguyễn Văn Nhâm, An Sơn phường, Trần Văn Hội, Thanh Châu Tây giáp, Mai Văn Quang, Nam An xã, Trần Duy An, Thanh Châu Đông giáp, Vũ Văn Huyên, Đại Giang phường, Mai Văn Tình, Hội Vực xã, Lê Văn Đặng, Vân Dương xã, Nguyễn Đức Khâm, An Ngãi Đông xã, Phạm Tiến Hòa, Xuân Thiều xã, Phan Văn Lành, Đông Phú xã, Phiên ti cửu phẩm Nguyễn Hữu Thành, Diên Phước, Phú Triêm, tiền thập quán dĩ hạ. Phú Sơn xã, Phước Tường tổng. Thanh Châu tam giáp, Thanh Châu tổng, Dương Tiến Linh, Diên Phước, Minh Hương, Đinh Ngọc Chiêm, Đinh Ngọc Phước, La Châu xã, Trần Văn Học, Phú Sơn xã, Nguyễn Văn Đạo, An Tân xã, Lê Trung Xuân, Phạm Văn Nhật, Lê Văn Thịnh, Cẩm Toại xã, Phạm Văn Tín, Xuân Lộc xã, Đỗ Văn Vận, Thái Lai xã, Ngô Văn Thọ, Quan Nam xã, Nguyễn Đức Giảng, Ái Nghĩa xã, Nguyễn Viết Thông, Trung Đạo xã, Hồ Văn Đắc, Phò Nam Thượng, Hạ, Phan Văn Thi, Trầm Ái xã, Lê Văn Bảo, Thanh Châu Đông giáp, Nguyễn Văn Dao, Phú Hương xã, Nguyễn Văn Tất, Hà Khê xã, Trần Phước Tài, Câu Đê xã, Lê Văn Hành, Nam An phường, Lê Văn Bảo, Bảo Sơn xã, Hồ Công An, Diên Phước, Châu Bí, Trương Đức Ý, Trương Trinh Nguyên, Phan Khắc Thế, Trầm Ái xã. Để Võng xã, Thanh Châu tổng, tiền ngũ quán dĩ hạ. Hoàng Thế Bảo, Hà Đông, Thanh Lâm, Trần Đình Trực, Diên Phước, Yến Nê, Nguyễn Công Chánh, Diên Phước, Ngân Câu, […] Trần Hữu Biên, Diên Sơn xã, Nguyễn Văn Tố, Lê Văn Hỷ, Phan Văn Hợp, Cẩm Toại xã, Nguyễn Văn Hợp, Đặng Văn Lễ, Hương Lam xã, Lê Tiến Thành, An Châu xã, Đỗ Văn […], Trần Đắc Hối, Tiên Sơn xã, Vũ Văn Đa, Mậu Lâm xã, Đào Công Thành, Đại Giang phường, Nguyễn Tiến Mỹ, An Nghĩa Thượng xã, Nguyễn Văn Nhàn, Trúc Bàu xã, Nguyễn Tiến Khiêm, An Thịnh xã, Phạm Văn Kim, Tân Ninh xã, Trần Thanh Xuân, Liên Trì xã, Nguyễn Duy Kính, Để Võng xã, Quản Văn Khánh, Thanh Châu Tây giáp, Trương Văn Quảng, Trương Văn Cách, Bàng Trạch xã, Trần Văn Điển, Nguyễn Văn Trứ, Phú Hương xã, Đoàn Duy Chính, Trầm Ái xã.

Tự Đức ngũ niên xuân trọng nguyệt kí vọng cung tuyên.

Dịch nghĩa:

Văn hội huyện Hòa Vang xây dựng đền thờ, những người trí cúng tiền bạc, ruộng đất liệt kê như sau: Bổn huyện huyện doãn Nguyễn Huy Bính, người Song Đông, tỉnh Nghệ An 100 quan tiền. Tân huyện doãn Lê Huy Đạt, người Lôi Nhuế, tỉnh Thanh Hóa 30 quan tiền. Nhiếp biện huyện doãn Lê Văn Loan, người tỉnh Khánh Hòa 20 quan tiền. Bổn huyện Huấn đạo Trần Gia Hội, người Thanh Nam, tỉnh Nghệ An 20 quan tiền. Tân Huấn đạo Hoàng Đỗ Luyện, người tỉnh Quảng Nghĩa 10 quan tiền. Yến hộ Phó quản cơ Hồ Văn Hòa, người giáp Đông, xã Thanh Châu 23 lượng bạc trắng. Phiên ti chánh cửu phẩm Đỗ Hưng Khuê, người xã Thái Lai, 10 lượng bạc trắng. Bổn nha Lại mục Đinh Văn Thiện, Lệ mục Nguyễn Văn Chân, Thông lại Hoàng Lập, Dương Thuận, Ngô Cơ, Nguyễn Khanh 50 quan tiền. Các cai, phó tổng: Cai tổng Lê Văn Sinh, Nguyễn Đức Nghị, Lê Văn Lợi, Phan Văn Chất, Nguyễn Kim Thống, Lê Thanh Huyên, Trần Hiệu; phó tổng Vũ Văn Úy, Phan Văn Lượng, Đặng Công Liễu, Mai Tiến Lân, Phùng Đình Huyên, Đinh Công Thanh, Vũ Lộc. Tổng Phước Tường, thuộc bổn xã La Châu trí cúng 01 mẫu ruộng công, 01 sào đất công. Đinh Ngọc Xuyên, Đinh Ngọc Minh, ở xã La Châu trí cúng 5 sào 3 thước 5 tấc đất tư. Nguyễn Văn Cường, xã La Đái cúng tiền 50 quan, 10 hộc gạo. Nguyễn Văn Phú, xã Khương Mỹ, trí cúng 50 quan tiền, 3 hộc gạo. Nguyễn Tiến Huấn, xã An Thịnh, cúng 60 quan tiền. Trương Văn Phụng, xã Trầm Ái cúng 60 quan tiền. Nguyễn Văn Kí, xã Phú Sơn, cúng 50 quan tiền. Hồ Ngọc Cận, thôn Thanh Khê, cúng 30 quan tiền. Những người sau cúng 30 quan tiền: Nguyễn Văn […], Lê Tiến Định, xã An Châu; Đặng Văn Hiếu, xã Hương Lam; Lê Văn Sự, xã Nam An; Lương Tiến Nghĩa, xã Hà Chan; Nguyễn Văn Bình, xã Phú Hương; Đỗ Văn Ý, xã Ái Nghĩa; Lê Văn Ứng, xã Nam An; Nguyễn Văn Nhâm, phường An Sơn; Trần Văn Hội, giáp Tây, xã Thanh Châu;  Mai Văn Quang, xã Nam An; Trần Duy An, giáp Đông, xã Thanh Châu; Vũ Văn Huyên, phường Đại Giang; Mai Văn Tình, xã Hội Vực; Lê Văn Đặng, xã Vân Dương; Nguyễn Đức Khâm, xã An Ngãi Đông; Phạm Tiến Hòa, xã Xuân Thiều; Phan Văn Lành, xã Đông Phú. Phiên ti cửu phẩm Nguyễn Hữu Thành, người xã Phú Triêm, huyện Diên Phước 10 quan tiền, như những người sau: Xã Phú Sơn thuộc tổng Phước Tường; Thanh Châu tam giáp thuộc tổng Thanh Châu; Dương Tiến Linh, người xã Minh Hương, huyện Diên Phước; Đinh Ngọc Chiêm, Đinh Ngọc Phước, người xã La Châu; Trần Văn Học, người xã Phú Sơn; Nguyễn Văn Đạo, người xã An Tân; Lê Trung Xuân, Phạm Văn Nhật, Lê Văn Thịnh, người xã Cẩm Toại; Phạm Văn Tín, người xã Xuân Lộc; Đỗ Văn Vận, người xã Thái Lai; Ngô Văn Thọ, người xã Quan Nam; Nguyễn Đức Giảng, người xã Ái Nghĩa; Nguyễn Viết Thông, người xã Trung Đạo; Hồ Văn Đắc, người xã Phò Nam Thượng Hạ; Phan Văn Thi, người xã Trầm Ái; Lê Văn Bảo, người giáp Đông, xã Thanh Châu; Nguyễn Văn Dao, người xã Phú Hương; Nguyễn Văn Tất, người xã Hà Khê; Trần Phước Tài, người xã Câu Đê; Lê Văn Hành, người phường Nam An; Lê Văn Bảo, người xã Bảo Sơn; Hồ Công An, người Châu Bí, huyện Diên Phước; Trương Đức Ý, Trương Trinh Nguyên, Phan Khắc Thế, người xã Trầm Ái. Xã Để Cương, thuộc tổng Thanh Châu cúng 5 quan tiền, như những người sau: Hoàng Thế Bảo, người Thanh Lâm, tỉnh Hà Đông; Trần Đình Trực, người xã Yến Nê, huyện Diên Phước; Nguyễn Công Chánh, người xã Ngân Câu, huyện Diên Phước; […] Trần Hữu Biên, người xã Diên Sơn; Nguyễn Văn Tố, Lê Văn Hỷ, Phan Văn Hợp, người xã Cẩm Toại; Nguyễn Văn Hợp, Đặng Văn Lễ, người xã Hương Lam; Lê Tiến Thành, người xã An Châu; Đỗ Văn […], Trần Đắc Hối, người xã Tiên Sơn; Vũ Văn Đa, người xã Mậu Lâm; Đào Công Thành, người phường Đại Giang; Nguyễn Tiến Mỹ, người xã An Ngãi Thượng; Nguyễn Văn Nhàn, người xã Trúc Bàu; Nguyễn Tiến Khiêm, người xã An Thịnh; Phạm Văn Kim, người xã Tân Ninh; Trần Thanh Xuân, người xã Liên Trì; Nguyễn Duy Kính, người xã Để Võng; Quản Văn Khánh, người giáp Tây, xã Thanh Châu; Trương Văn Quảng, Trương Văn Cách, người xã Bàng Trạch; Trần Văn Điển, Nguyễn Văn Trứ, người xã Phú Hương; Đoàn Duy Chính, người xã Trầm Ái.

Ngày 16 tháng 2 năm Tự Đức thứ 5 kính khắc.

Mặt 2:

Chữ Hán:

一 座 基 私 土 五 篙 三 尺 五 寸 在 拏 故 處 丁 玉 玔 私 田 土 四 篙 三 尺 一 寸 丁 玉 銘 私 田 一 篙 四 寸 仝 供 東 近 本 社 仝 耕 又 近 丁 玉 瑃 私 田 西 近 丁 玉 瑃 丁 玉 珠 私 土 南 近 丁 玉 珠 丁 玉 瑃 私 田 土 北 近 丁 玉 珠 丁 玉 瑃 私 田 土 租 稅 羅 洲 社 受 納

一 祀 田 三 畝 七 篙 十 四 尺 五 寸 供 詞 文 契 領 耕 詞 交 监 守

羅 洲 社 挐 故 處 公 田 一 畝 東 近 公 土 西 近 公 田 南 近 公 田 北 近 公 田 又 伊 處 土 一 篙 本 社 仝 供 這 田 交 监 守 耕 徴 仝 年 出 錢 十 貫

錦 遂 社 泡 瀾 𡑱 亭 二 處 私 田 二 畝 六 篙 十 四 尺 五 寸 一 等 三 篙 二 等 五 篙 七 尺 五 寸 原 秀 才 林 有 政 私 田 断 賣 這 田 交 伊 社 里 長 耕 徴 遞 年 春 秋 二 祭 每 期 納 粟 一 百 柍

泡 瀾 處 一 所 田 二 畝 一 篙 七 尺 東 近 林 賞 張 廷 仕 又 近 𡑱 亭 處 林 賞 私 田 西 近 沱 呂 處 林 賞 又 近 𡑱 𦆹 處 墓 地 南 近 林 賞 又 近 𡑱 𦆹 處 阮 有 誠 私 田 北 近 𡑱 亭 處 墓 地 又 近 核 生 處 公 田

𡑱 亭 處 一 所 田 四 篙 七 尺 五 寸 東 近 林 賞 私 田 西 近 泡 瀾 處 林 賞 私 田 南 近 泡 瀾 處 張 廷 仕 私 田 北 近 林 賞 私 田 又 伊 處 私 土 一 篙

一 買 祀 田 錢 八 百 貫 一 雇 木 匠 錢 三 百 五 十 貫 一 雇 蓋 葺 匠 一 百 七 十 五 貫 一 買 材 木 錢 三 百 貫 一 雇 煮 瓦 磚 匠 錢 三 百 貫 一 買 石 碑 礎 石 二 百 七 十 貫 一 准 損 物 料 各 項 錢

Phiên âm:

Nhất tòa cơ tư thổ ngũ cao tam xích ngũ thốn tại Nỗ Cố xứ, Đinh Ngọc Xuyên tư điền thổ tứ cao tam xích nhất thốn, Đinh Ngọc Minh tư điền nhất cao tứ thốn đồng cúng, đông cận bổn xã đồng canh, hựu cận Đinh Ngọc Xuân tư điền, tây cận Đinh Ngọc Xuân, Đinh Ngọc Châu tư thổ, nam cận Đinh Ngọc Châu, Đinh Ngọc Xuân tư điền thổ, bắc cận Đinh Ngọc Châu, Đinh Ngọc Xuân tư điền thổ. Tô thuế La Châu xã thụ nạp.

Nhất tự điền tam mẫu thất cao thập tứ xích ngũ thốn cúng từ văn khế, lĩnh canh từ giao giám thủ.

La Châu xã Nỗ Cố xứ công điền nhất mẫu. Đông cận công thổ, tây cận công điền, nam cận công điền, bắc cận công điền, hựu y xứ thổ nhất cao bổn xã đồng cúng, giá điền giao giám thủ canh trưng đồng niên xuất tiền thập quán.

Cẩm Toại xã Bàu Lau, Cồn Đình nhị xứ tư điền nhị mẫu lục cao thập tứ xích ngũ thốn, nhất đẳng tam cao, nhị đẳng ngũ cao thất xích ngũ thốn. Nguyên Tú tài Lâm Hữu Chánh tư điền đoạn mại giá điền giao y xã lý trưởng canh trưng, đệ niên xuân thu nhị tế mỗi kì nạp túc nhất bách ang.

Bàu Lau xứ nhất sở điền nhị mẫu nhất cao thất xích, đông cận Lâm Thưởng, Trương Đình Sĩ, hựu cận Cồn Đình xứ Lâm Thưởng tư điền, tây cận Đà Lở xứ Lâm Thưởng, hựu cận Cồn Rối xứ mộ địa, nam cận Lâm Thưởng, hựu cận Cồn Rối xứ Nguyễn Hữu Thành tư điền, bắc cận Cồn Đình xứ mộ địa, hựu cận Cây Sanh xứ công điền.

Cồn Đình xứ nhất sở điền tứ cao thất xích ngũ thốn, đông cận Lâm Thưởng tư điền, tây cận Bàu Lau xứ Lâm Thưởng tư điền, nam cận Bàu Lau xứ Trương Đình Sĩ tư điền, bắc cận Lâm Thưởng tư điền. Hựu y xứ tư thổ nhất cao.

Nhất mãi tự điền tiền bát bách quán. Nhất cố mộc tượng tiền tam bách ngũ thập quán. Nhất cố cái tập tượng nhất bách thất thập ngũ quán. Nhất mãi tài mộc tiền tam bách quán. Nhất cố chử ngõa chuyên tượng tiền tam bách quán. Nhất mãi thạch bi sở thạch nhị bách thất thập quán. Nhất chuẩn tổn vật liệu các hạng tiền.

Dịch nghĩa:

Một nền đất tư 5 sào 3 thước 5 tấc tại xứ Nỗ Cố, do Đinh Ngọc Xuyên trí cúng 4 sào 3 thước 1 tấc và Đinh Ngọc Minh trí cúng 1 sào 4 tấc, phía đông gần ruộng đất đồng canh của bổn xã, lại gần ruộng tư của Đinh Ngọc Xuân, phía tây gần đất tư của Đinh Ngọc Xuân và Đinh Ngọc Châu, phía nam gần ruộng đất tư của Đinh Ngọc Châu và Đinh Ngọc Xuân, phía bắc gần ruộng đất tư của Đinh Ngọc Châu và Đinh Ngọc Xuân. Tiền thuế do xã La Châu thụ nạp.

Một sở tự điền 3 mẫu 7 sào 14 thước 5 tấc, văn khế trí cúng và giấy tờ cho lĩnh canh giao cho giám thủ.

Ruộng công 01 mẫu ở xứ Nỗ Cố, xã La Châu, bốn phía đông, tây, nam và bắc đều gần đất công; Lại 01 sào đất cũng ở xứ ấy, tất thảy đều do bổn xã đồng cúng. Ruộng này giao giám thủ canh trưng, mỗi năm trả 10 quan tiền.

Ruộng tư gồm 2 mẫu 6 sào 14 thước 5 tấc tại hai xứ Bàu Lau, Cồn Đình, thuộc xã Cẩm Toại, trong đó ruộng loại 1 là 3 sào, ruộng loại 2 là 5 sào 7 thước 5 tấc. Nguyên trước là ruộng tư của Tú tài Lâm Hữu Chánh cắt bán, giao cho lý trưởng xã này canh trưng, hằng năm đến hai kì xuân thu tế lễ mỗi kì nạp 100 ang thóc.

Một sở ruộng gồm 2 mẫu 1 sào 7 thước ở xứ Bàu Lau, phía đông gần ruộng tư của Lâm Thưởng và Trương Đình Sĩ, lại gần ruộng tư của Lâm Thưởng ở xứ Cồn Đình, phía tây gần [ruộng tư của] Lâm Thưởng ở xứ Đà Lở, lại gần đất mộ xứ Cồn Rối, phía nam gần [ruộng tư của] Lâm Thưởng, lại gần ruộng tư của Nguyễn Hữu Thành ở xứ Cồn Rối, phía bắc gần đất mộ xứ Cồn Đình, lại gần ruộng công xứ Cây Sanh.

Một sở ruộng gồm 4 sào 7 thước 5 tấc ở xứ Cồn Đình, phía đông gần ruộng tư của Lâm Thưởng, phía tây gần ruộng tư của Lâm Thưởng ở xứ Bàu Lau, phía nam gần ruộng tư của Trương Đình Sĩ ở xứ Bàu Lau, phía bắc gần ruộng tư của Lâm Thưởng. Lại thêm một sào đất tư cũng ở xứ ấy.

Tiền mua tự điền 800 quan. Tiền thuê thợ mộc 350 quan. Tiền thuê thợ lợp ngói 175 quan. Tiền mua gỗ, cột kèo 300 quan. Tiền thuê thợ nề 300 quan. Tiền mua đá tảng và đá dựng bia 270 quan.

Văn bia số 2

VĂN BIA VĂN CHỈ HÒA KHƯƠNG

Mặt 1:

Chữ Hán:

榮 祿 [文 會] 再 碑 記

聖 祠 之 設 崇 道 …[4] 皇 朝 嗣 德 年 間 吾 縣 故 巡 撫 杜 公 金 城 縣 尹 林 公 禾 篮 秀 才 黄 公 同 縣 轄 …[5] 年 矣 嗣 因 兵 焚 继 以 分 轄 十 年 来 粗 糙 不 同 本 總 近 在 瞻 仰 豈 忍 坐 觀 廼 於 去 年 七 …[6] 有 縣 堂 胡 得 召[7] 之 皷 率 財 半 資 豪 右 之 樂 供 士 敦 事 工 献 圖 甫 五 月 間 宮 墙 屹 立 此 …[8] 他 其 名 則 敬 存 之 敢 云 私 有 奉 事 乃 其 素 分 向 義 多 出 同 人 應 表 出 之 為 崇 道 所 有 預 …[9] 併 壽 之 貞 珉 云 督 收 正 總 鄧 端 副 總 林 …[10] 陳 遂 潘 新 司 書 尹 超 承 事 杜 穅 阮 勲 阮 律 所 在 督 辨 丁 顯 督 工 丁 陵 司 書 丁 連[11] 専 辨 丁 律

成 泰 十 七 年 歲 次 乙 巳 四 月 吉 日

榮 祿 文 會 安 福 總 秀 才 陳 遹 林 敏 阮 質 陳 寜 黎 坦 廕 生 杜 瑗 鄧 光 杜 廉 奉 誌 別 轄 供 以 下 桂 山 知 縣 裴 端 十 二 貝 清 化 秀 才 武 玦 八 貝 泗 溝 本 縣 役 目 潘 情 三 十 貝 保 安 阮 美 七 貝 蒲 明[12] 以 下 耆 阮 惠 十 四 貝 黎 諒 七 貝 灌 溉 東 承 府 以 下 裴 張 七 貝 姚 祐 十 貝 阮 珍 三 貝 泡 儀 防 畱 下 土 磗 外 存 材 木 灰 瓦 磚 蜜 工 匠 民 功 物 力 各 項 共 五 千 貫 零

Phiên âm:

Vinh Lộc [văn hội] tái bi kí.

Thánh từ chi thiết sùng đạo […] Hoàng triều Tự Đức niên gian, ngô huyện cố Tuần phủ Đỗ công Kim Thành, Huyện doãn Lâm công Hòa Lam, Tú tài Hoàng công đồng huyện hạt […] niên hỹ. Tự nhân binh phần, kế dĩ phân hạt. Thập niên lai thô tháo bất đồng. Bổn tổng cận tại chiêm ngưỡng khởi nhẫn tọa quan, nãi ư khứ niên thất […] hữu huyện đường Hồ Đắc Triệu chi cổ suất, tài bán tư hào hựu chi lạc cúng, sĩ đôn sự, công hiến đồ, phủ ngũ nguyệt gian cung tường ngật lập. Thử […] tha kỳ danh tắc kính tồn chi cảm vân tư hữu phụng sự, nãi kỳ tố phân hướng nghĩa đa xuất đồng nhân ứng biểu xuất chi vi sùng đạo. Sở hữu dự […] tính thọ chi trinh mân vân: Đốc thu chánh tổng Đặng Đoan. Phó tổng Lâm […] Trần Toại, Phan Tân. Tư thư Doãn Siêu. Thừa sự Đỗ Khang, Nguyễn Huân, Nguyễn Luật. Sở tại Đốc biện Đinh Hiển, Đốc công Đinh Lăng, Tư thư Đinh Liên, chuyên biện Đinh Luật.

Thành Thái thập thất niên tuế thứ Ất Tị tứ nguyệt cát nhật.

Vinh Lộc văn hội An Phước tổng Tú tài Trần Duật, Lâm Mẫn, Nguyễn Chất, Trần Ninh, Lê Đất, Ấm sinh Đỗ Viện, Đặng Quang, Đỗ Liêm phụng chí.

Biệt hạt cúng dĩ hạ: Quế Sơn Tri huyện Bùi Đoan thập nhị bối. Thanh Hóa Tú tài Vũ Quyết bát bối. Tứ Câu bổn huyện dịch mục Phan Tình tam thập bối. Bảo An Nguyễn Mỹ thất bối. Bồ Mưng dĩ hạ: Kì Nguyễn Huệ thập tứ bối. Lê Lượng thất bối Quán Khái Đông. Thừa phủ dĩ hạ: Bùi Trương thất bối. Diêu Hựu thập bối. Nguyễn Trân tam bối Bàu Nghi. Phòng lưu hạ thổ chuyên, ngoại tồn tài mộc hôi ngõa chuyên mật, công tượng dân công vật lực các hạng cộng ngũ thiên quan linh.

Dịch nghĩa:

Văn hội Vinh Lộc viết thêm bài kí trên bia.

Việc xây dựng thánh từ là biểu hiện tinh thần sùng đạo […] Vào giữa đời triều Tự Đức, huyện ta có cố Tuần phủ Đỗ công Kim Thành, Huyện doãn Lâm công Hòa Lam, Tú tài Hoàng công cùng nhân dân huyện hạt […] Sau đó là nạn binh hỏa, rồi kế đến là phân chia huyện hạt. Mười năm nay ý kiến khác biệt, chẳng hòa đồng. Bổn tổng vốn ở gần, ngồi chiêm ngưỡng mà há chẳng khởi lòng nhẫn sao, bèn tháng bảy năm ngoái […] có huyện đường Hồ Đắc Triệu cổ suất, tiền bạc một nửa do những nhà hào phú lạc cúng, có các thân sĩ đôn đốc công việc, thợ thầy lại hiến sức, thế nên mới trong vòng 5 tháng mà đã hoàn thành. […] Tên tuổi các vị ắt được tôn kính. Lại nói: việc phụng sự riêng là để tỏ tường tinh thần hướng nghĩa, mọi người đồng tình hưởng ứng với lòng thành sùng tôn đạo nghĩa. Vậy nên khắc ghi vào bia đá danh tính các vị như sau: Đốc thu chánh tổng Đặng Đoan. Phó tổng Lâm …, Trần Toại, Phan Tân. Tư thư Doãn Siêu. Thừa sự Đỗ Khang, Nguyễn Huân, Nguyễn Luật. Sở tại Đốc biện Đinh Hiển, Đốc công Đinh Lăng, Tư thư Đinh Liên, chuyên biện Đinh Luật.

Ngày tốt tháng 4 năm Ất Tị niên hiệu Thành Thái thứ 17.

Vinh Lộc văn hội: Tú tài Trần Duật, Lâm Mẫn, Nguyễn Chất, Trần Ninh, Lê Đất, ấm sinh Đỗ Viện, Đặng Quang, Đỗ Liêm ở tổng An Phước phụng ghi.

Các hạt khác phụng cúng như sau: Tri huyện huyện Quế Sơn Bùi Đoan 12 quan. Tú tài Vũ Quyết người Thanh Hóa 8 quan. Phan Tình ở Tứ Câu bổn huyện 30 quan. Nguyễn Mỹ ở Bảo An 7 quan. Kì lão Nguyễn Huệ ở Bồ Mưng 14 quan. Lê Lượng 7 quan ở Quán Khái Đông. Những người sau ở Thừa phủ: Bùi Trương 7 quan. Diêu Hựu 10 quan. Nguyễn Trân ở Bàu Nghi 3 quan. Đề phòng lưu lại một ít gạch, ngoài ra các hạng dân công vật lực như cột kèo, gạch ngói, công thợ tổng cộng là 5.000 quan có lẻ.

Mặt 2:

Chữ Hán:

總 供 歛

海 洲 率 隊 丁 璧 耆 丁 伵 里 丁 仕 各 十 四 貝 …[13] 丁 理 丁 剛 丁 整 丁 斌 丁 炤 丁 忠 丁 瑜 丁 馨 試 杜 漸 杜 善 杜 潔 丁 偉 各 二 十 貝 課 丁 …[14] 各 十 貝 錦 遂 七 品 潘 光[15] 三 貝 八 品 黎 卷 阮 灼 各 七 品 書 吏 林 閏 承 派 林 炳 各 三 十 五 貝 原 正 總 范 財 副 用 潘 佐 各 七 貝 制 …[16] 陳 偉 林 選 各 十 四 貝 試 制 樹 林 光 嗣 阮 宣 各 二 十 貝 課 林 典 制 勝 黎 爰 黎 立 各 十 貝 黎 …[17]率 隊 阮 焜 原 副 總 陳 璧 副 陶 公 0 各 十 四 貝 陳 惠 豪 陳 …[18] 阮 徴 陳 顯 陳 權 試 潘 敬 二 十 貝 課 陳 聲 潘 琨 陳 琦 各 十 貝 鄧 雅 廕 子 鄧 秋 原 …[19] 维 鄧 進[20] 三 十 貝 鄧 茂 鄧 弼 各 一 貝 課 鄧 康 十 四 貝 鄧 痒 十 貝 武 功 七 貝 吏 阮 枚 里 阮 景 豪 鄧 …[21] 各 十 四 貝 黄 勝 陶 載 阮 烜 各 二 十 貝 課 鄧 貞 陶 趣 鄧 啟 吳 經 黎 逵 各 十 貝 原 正 總 陳 琪 書 吏 陳 立 各 十 四 貝 豪 陳 還 蒲 板 八 品 阮 諫 什 長 陳 炳 員 子 共 春 共 秋 各 七 貝 副 陳 豆 里 陳 充 豪 陳 謂 林 绥 各 二 十 貝 楊 恭 胡 绍 陶 心 賛 偉 范 禮 阮 抵 阮 茂 武 枚 試 阮 琳 黄 廸 二 十 貝 課 黄 雄 賛 廸 各 十 貝 里 陳 義 七 貝 阮 輝 陳 經 各 七 貝 福 洲 豪 老 士 人 七 十 貝 里 黎 恭 士 黎 敘 各 七 貝 東 富 里 阮 恬 豪 張 廕 阮 炯 阮 連 各 七 貝 試 張 璜 七 貝 課 阮 完[22] 七 貝 姜 美 八 品 朱 憑 七 貝 豪 朱 沙 七 貝 阮 讚 里 韶 貞 黎 绎 各 七 貝 試 朱 廷 朱 灼 各 二 十 貝 課 阮 紹 十 貝 安 新 里 阮 扇 景 阮 綸 各 七 貝 課 阮 啟 十 貝 安 洲 里 黎 裴 七 貝 課 黎 屈 二 十 貝 海 洲 里 黎 芳 七 貝 福 荣 里 黎 敬 十 四 貝 福 仁 里 張 講 張 卯 安 洲 村 里 潘 丑 七 貝 居 仁 里 杜 誼 七 貝 蓝 薗 里 枚 運 七 貝 楊 山 里 施 林 十 四 貝 試 黎 貞 三 貝 課 武 勉 七 貝 羅 洲 本 社 增 供 公 田 貳 畆 東 西 處 所 具 詞 内 福 洲 司 書 尹 超 並 妻 雷 氏 鄧 奉 供 鉛 錢 壹 千 貫 錢 功 每 名 五 日 羅 洲 二 十 九 錦 遂 七 十 一 富 山 翠 峦 禾 蓝 蒲 板 三 十 東 富 二 十 八 楊 山 二 十 八 姜 美 十 九 安 仁 十 延 山 八 安 新 十 福 洲 七 安 洲 七 安 洲 七 安 洲 村 三 海 洲 五 福 荣 福 仁 各 三 蓝 薗 居 仁 各 二

Phiên âm:

Tổng cúng liễm.

Hải Châu Suất đội Đinh Bích, kì Đinh Tứ, lý Đinh Sĩ các thập tứ bối […] Đinh Lý, Đinh Cương, Đinh Chỉnh, Đinh Bân, Đinh Chiếu, Đinh Trung, Đinh Du, Đinh Hinh. Thí Đỗ Tiệm, Đỗ Thiện, Đỗ Khiết, Đinh Vĩ các nhị thập bối. Khóa Đinh […] các thập bối. Cẩm Toại thất phẩm Phan Quang tam bối, bát phẩm Lê Quyển, Nguyễn Chước các thất bối, Thư lại Lâm Nhuận, Thừa phái Lâm Bính các tam thập ngũ bối. Nguyên chánh tổng Phạm Tài, Phó dụng Phan Tá các thất bối. Chế […] , Trần Vĩ, Lâm Tuyển các thập tứ bối. Thí: Chế Thụ, Lâm Quang Tự, Nguyễn Tuyên các nhị thập bối. Khóa Lâm Điển, Chế Thắng, Lê Viên, Lê Lập các thập bối Lê […] Suất đội Nguyễn Côn, Nguyên phó tổng Trần Bích Phó, Đào Công 0 các thập tứ bối. Trần Huệ, hào Trần […] Nguyễn Trưng, Trần Hiển, Trần Quyền. Thí Phan Kính nhị thập bối. Khóa Trần Thanh, Phan Côn, Trần Kỳ các thập bối. Đặng Nhã, Ấm tử Đặng Thu, Nguyên […] Duy. Đặng Tiến tam thập bối. Đặng Mậu, Đặng Bật các nhất bối. Khóa Đặng Khang thập tứ bối. Đặng Dương thập bối. Vũ Công thất bối. Lại Nguyễn Mai, lý Nguyễn Cảnh, hào Đặng […] các thập tứ bối. Hoàng Thắng, Đào Tái, Nguyễn Huyên các nhị thập bối. Khóa Đặng Trinh, Đào Thú, Đặng Khải, Ngô Kinh, Lê Quỳ các thập bối. Nguyên chánh tổng Trần Kì, Thư lại Trần Lập các thập tứ bối. Hào Trần Hoàn. Bồ Bản bát phẩm Nguyễn Luyện, thập trưởng Trần Bính, viên tử Cộng Xuân, Cộng Thu các thất bối. Phó Trần Đậu, lý Trần Sung, hào Trần Vị, Lâm Tuy các nhị thập bối. Dương Cung, Hồ Thiệu, Đào Tâm, Tán Vĩ, Phạm Lễ, Nguyễn Đê, Nguyễn Mậu, Vũ Mai. Thí Nguyễn Lâm, Hoàng Địch nhị thập bối. Khóa Hoàng Hùng, Tán Địch các thập bối. Lý Trần Nghĩa thất bối, Nguyễn Huy, Trần Kinh các thất bối. Phước Châu hào lão sĩ nhân thất thập bối, lý Lê Cung, sĩ Lê Tự các thất bối. Đông Phú lý Nguyễn Điềm, hào Trương Ấm, Nguyễn Quýnh, Nguyễn Liên các thất bối. Thí Trương Hoàng thất bối. Khóa Nguyễn Hoàn thất bối. Khương Mỹ bát phẩm Chu Bằng thất bối. Hào Chu Sa thất bối, Nguyễn Tán, lý Thiều Trinh, Lê Dịch các thất bối. Chu Đình, Chu Chước các nhị thập bối. Khóa Nguyễn Thiệu thập bối. An Tân lý Nguyễn Phiến Cảnh, Nguyễn Luân các thất bối. Khóa Nguyễn Khải thập bối. An Châu lý Lê Bùi thất bối, khóa Lê Khuất nhị thập bối. Hải Châu lý Lê Phương thất bối. Phước Vinh lý Lê Kính thập tứ bối. Phước Nhơn lý Trương Giảng, Trương Mão. An Châu thôn lý Phan Sửu thất bối. Cư Nhơn lý Đỗ Nghị thất bối. Lam Viên lý Mai Vận thất bối. Dương Sơn: lý Thi Lâm thập tứ bối. Thí Lê Trinh tam bối, khóa Vũ Miễn thất bối. La Châu bổn xã tăng cúng công điền nhị mẫu, đông tây xứ sở cụ từ nội. Phước Châu tư thư Doãn Siêu tịnh thê Lôi Thị Đặng phụng cúng diên tiền nhất thiên quan. Tiền công mỗi danh ngũ nhật: La Châu nhị thập cửu. Cẩm Toại thất thập nhật. Phú Sơn. Thúy Loan. Hòa Lam. Bồ Bản tam thập. Đông Phú nhị thập bát. Dương Sơn nhị thập bát. Khương Mỹ thập cửu. An Nhơn thập. Diên Sơn bát. An Tân thập. Phước Châu thất. An Châu thất. An Châu thôn tam. Hải Châu ngũ. Phước Vinh, Phước Nhơn các tam. Lam Viên, Cư Nhơn các nhị.

Dịch nghĩa:

Tổng số [những người phụng] cúng.

Hải Châu Suất đội Đinh Bích, Kì Đinh Tứ, Lý Đinh Sĩ mỗi người 10 quan […] Đinh Lý, Đinh Cương, Đinh Chỉnh, Đinh Bân, Đinh Chiếu, Đinh Trung, Đinh Du, Đinh Hinh. Thí Đỗ Tiệm, Đỗ Thiện, Đỗ Khiết, Đinh Vĩ mỗi người 20 quan. Khóa Đinh […] mỗi người 10 quan. Cẩm Toại thất phẩm Phan Quang 3 quan, bát phẩm Lê Quyển, Nguyễn Chước mỗi người 7 quan, Thư lại Lâm Nhuận, Thừa phái Lâm Bính mỗi người 35 quan. Nguyên chánh tổng Phạm Tài, Phó dụng Phan Tá mỗi người 7 quan. Chế […], Trần Vĩ, Lâm Tuyển mỗi người 14 quan. Thí Chế Thụ, Lâm Quang Tự, Nguyễn Tuyên mỗi người 20 quan. Khóa Lâm Điển, Chế Thắng, Lê Viên, Lê Lập mỗi người 10 quan. Lê […] Suất đội Nguyễn Côn, Nguyên phó tổng Trần Bích Phó, Trần Công 0 mỗi người 14 quan. Trần Huệ, hào Trần […] Nguyễn Trưng, Trần Hiển, Trần Quyền. Thí Phan Kính 20 quan. Khóa Trần Thanh, Phan Côn, Trần Kỳ mỗi người 10 quan. Đặng Nhã, ấm tử Đặng Thu, Nguyên […] Duy. Đặng Tiến 30 quan. Đặng Mậu, Đặng Bật mỗi người 1 quan. Khóa Đặng Khang 14 quan. Đặng Dương 10 quan. Vũ Công 7 quan. Lại Nguyễn Mai, lý Nguyễn Cảnh, Hào Đặng […] mỗi người 14 quan. Hoàng Thắng, Đào Tái, Nguyễn Huyên mỗi người 20 quan. Khóa Đặng Trinh, Đào Thú, Đặng Khải, Ngô Kinh, Lê Quỳ mỗi người 10 quan. Nguyên chánh tổng Trần Kì, thư lại Trần Lập mỗi người 14 quan. Hào Trần Hoàn, Bồ Bản bát phẩm Nguyễn Luyện, thập trưởng Trần Bính, viên tử Cộng Xuân, Cộng Thu mỗi người 7 quan. Phó Trần Đậu, lý Trần Sung, hào Trần Vị, Lâm Tuy mỗi người 20 quan. Dương Cung, Hồ Thiệu, Đào Tâm, Tán Vĩ, Phạm Lễ, Nguyễn Đê, Nguyễn Mậu, Vũ Mai. Thí Nguyễn Lâm, Hoàng Địch 20 quan. Khóa Hoàng Hùng, Tán Địch mỗi người 10 quan. Lý Trần Nghĩa 7 quan, Nguyễn Huy, Trần Kinh mỗi người 7 quan. Phước Châu hào lão sĩ nhân 70 quan, lý Lê Cung, sĩ Lê Tự mỗi người 7 quan. Đông Phú Lý Nguyễn Điềm, hào Trương Ấm, Nguyễn Quýnh, Nguyễn Liên mỗi người 7 quan. Thí Trương Hoàng 7 quan. Khóa Nguyễn Hoàn 7 quan. Khương Mỹ: bát phẩm Chu Bằng 7 quan, hào Chu Sa 7 quan, Nguyễn Tán, Lý Thiều Trinh, Lê Dịch, mỗi người 7 quan, Chu Đình, Chu Chước mỗi người 20 quan, khóa Nguyễn Thiệu 10 quan. An Tân: lý Nguyễn Phiến Cảnh, Nguyễn Luân mỗi người 7 quan. Khóa Nguyễn Khải 10 quan. An Châu: lý Lê Bùi 7 quan, khóa Lê Khuất 20 quan. Hải Châu: lý Lê Phương 7 quan. Phước Vinh: lý Lê Kính 14 quan. Phước Nhơn: lý Trương Giảng, Trương Mão. Thôn An Châu: lý Phan Sửu 7 quan. Cư Nhơn: lý Đỗ Nghị 7 quan. Lam Viên: lý Mai Vận 7 quan. Dương Sơn: lý Thi Lâm 14 quan. Thí Lê Trinh 3 quan, khóa Vũ Miễn 7 quan. Bổn xã La Châu cúng thêm 2 mẫu công điền, đông tây xứ sở đầy đủ như trong giấy tờ. Phước Châu tư thư Doãn Siêu cùng vợ là Lôi Thị Đặng phụng cúng 1000 quan tiền kẽm. Tiền công mỗi người trong năm ngày: La Châu 29. Cẩm Toại 70. Phú Sơn. Thúy Loan. Hòa Lam. Bồ Bản 30. Đông Phú 28. Dương Sơn 28. Khương Mỹ 19. An Nhơn 10. Diên Sơn 8. An Tân 10. Phước Châu 7. An Châu 7. An Châu thôn 3. Hải Châu 5. Phước Vinh, Phước Nhơn mỗi nơi 3. Lam Viên, Cư Nhơn mỗi nơi 2.

Văn bia số 3

Mặt 1:

Chữ Hán:

啟 定 四 年 己 未 季 東 吉 日 安 福 總 會 碑 誌

聖 祠 之 設 自 來 矣 皇 朝 嗣 德 五 年 羅 洲 社 巡 撫 杜 先 公 倡 造 嗣 因 兵 焚 繼 以 分 轄 成 泰 年 间 本 總 绅 豪 供 出 財 力 再 造 名 曰 榮 祿 文 會 前 后 具 有 碑 誌 奉 事 經 年 二 縣 绅 豪 各 执 異 同 之 見 玆 因 修 整 工 役 頗 煩 吾 總 近 在 瞻 仰 豈 容 他 諉 為 此 會 合 總 内 文 武 官 紳 里 豪 士 人 窃 念 先 聖 乃 倫 理 家 之 祖 凡 有 血 氣 莫 不 尊 親 仝 應 增 出 財 力 再 行 崇 修 以 為 倫 理 聖 堂 尊 教 主 義 其 在 此 乎 俾 改 為 安 福 總 會 庶 慰 念 以 符 名 寔 雖 職 用 在 所 當 為 而 同 人 更 多 好 義 寜 不 表 而 出 之 以 為 崇 道 者 劝 所 有 樂 供 又 助 事 員 人 銘 后 計

一 奉 供 銀 錢 各 社 村 號 官 員 人 以 下 羅 洲 本 社 銀 十 元 休 官 領 兵 丁 瑞 玉 六 元 會 司 礼 教 師 杜 潔 二 元 里 長 丁 维 二 元 五 毛 英 名 丁 琰 一 元 教 養 丁 琛 一 元 以 下 兵 丁 焯 員 子 杜 雅 豪 丁 律 丁 偉 錢 弍 百 貫 丁 磬 一 元 以 下 丁 仕 丁 斌 丁 瑤 丁 壯 丁 瑜 什 長 杜 經 副 里 阮 誘 士 人 杜 厚 丁 坦 丁 雷 杜 璠 丁 杜 欣 丁 指 丁 訓 丁 瑚 丁 几[23] 八 毛 以 下 選 生 丁 毓 丁 燦 杜 荐 丁 炘 丁 琨 丁 員 茶 午 茶 桂 潘 仗 六 毛 共 七 十 四 元

富 山 本 社 錢 五 十 貫 六 品 隊 長 范 諄 二 元 八 品 陳 韶 八 毛 阮 伵 一 元 九 品 阮 活 五 毛 賞 副 總 陳 璜 一 元 五 毛 以 下 里 長 陳 鐘 員 子 阮 机 一 元 以 下 什 長 陳 资 豪 潘 新 一 元 五 毛 潘 哲 一 元 陳 竹 一 元 五 毛 潘 坦 五 毛 陳 户 五 毛 潘 敬 一 元 以 下 阮 敦 阮 桐 五 毛 以 下 陳 嵩 陳 趣 陳 端 陳 常 陳 當 八 毛 以 下 陳 留 陳 替[24] 五 毛 以 下 陳 林 陳 員 一 元 士 阮 熙 四 毛 陳 鏡 七 毛 陳 景 四 毛 選 生 陳 強 七 毛 以 下 陳 玕 陳 院 五 毛 以 下 阮 盛 陳 董 阮 桐 陳 歌 蒲 明[25] 社 阮 顯 五 元 阮 绍 五 毛 阮 康 五 毛 共 四 十 元 五 毛

錦 遂 本 社 錢 五 十 貫 管 奇 黄 善 三 元 七 品 隊 長 林 馥 二 元 七 品 隊 長 陳 誼 一 元 三 毛 議 員 林 約 二 元 以 下 供 奉 林 嗣 八 品 黎 卷 一 元 以 下 制 壯 阮 璋 里 長 林 缵 一 元 五 毛 副 里 潘 益 一 元 豪 以 下 黎 對 二 元 陳 雅 五 毛 阮 屺 一 元 以 下 林 炳 黎 用 制 侶 八 毛 以 下 黎 言 林 艮 制 強 七 毛 以 下 黎 携 阮 倡 五 毛 士 人 以 下 阮 宣 五 毛 制 松 八 毛 以 下 林 燎 黎 愛 陳 紀 制 楊 黎 寬 制 忠 潘 璜 一 元 林 煉 五 毛 陳 勝 二 元 黎 修 八 毛 以 下 吳 尹 阮 貞 五 毛 以 下 黎 敦 黎 願 選 生 以 下 林 杏 八 毛 以 下 制 重 陳 猷 制 饶 陳 瓊 一 元 范 惠 八 毛 以 下 黎 品 共 銀 四 十 八 元

香 蓝 本 社 錢 三 十 五 貫 九 品 隊 長 以 下 阮 梅 一 元 以 下 陳 常 陳 楨 里 長 黄 栢 什 長 阮 撰 豪 以 下 阮 缕 鄧 鑑 阮 璜 五 毛 鄧 直 五 毛 陶 誌 一 元 以 下 黎 逵 阮 琇 陳 碩 黄 勝 阮 克 一 元 鄧 磨 一 元 阮 茂 五 毛 阮 塪 五 毛 副 里 潘 用 五 毛 以 下 吳 怀 武 燫 阮 奎 阮 茶 士 人 以 下 陶 敏 五 毛 以 下 吳 釧 陳 浮 阮 瑜 林 池 阮 珠 吳 桂 選 生 以 下 阮 傑 黄 聘 共 成 銀 二 十 七 元 六 毛

翠 峦 本 社 錢 三 十 貫 编 修 鄧 伯 梅 錢 二 十 貝 補 授 正 總 鄧 端 二 元 九 品 隊 長 鄧 爛 一 元 官 員 子 鄧 杭 三 元 正 總 鄧 竨 四 元 原 副 總 鄧 友 一 元 守 敕 鄧 進[26] 二 元 里 長 鄧 廕 教 師 以 下 鄧 逸 一 元 五 毛 鄧 迢 一 元 以 下 鄧 遙 副 里 鄧 聪 鄧 辰 五 毛 以 下 鄧 辣 選 生 鄧 渲 鄧 班 鄧 社 共 成 銀 二 十 八 元 八 毛

蒲 板 本 社 錢 三 十 貫 秀 才 阮 質 二 元 九 品 隊 長 胡 振 一 元 會 司 貨 陳 謂 一 元 以 下 豪 賛 绥 里 長 陳 新 伍 長 范 棧 什 長 賛 璟 五 毛 兵 以 下 胡 效 一 元 以 下 賛 驕 阮 思 試 生 黄 辿 通 事 范 楨 六 毛 試 賛 焯 九 毛 試 賛 銀 九 毛 副 里 丁 衡 五 毛 以 下 黄 閑 賛 鼎 一 元 以 下 從 事 陳 電 陳 述 新 學 課 生 胡 肅 阮 賢 五 毛 以 下 黄 釘 楊 章 陳 寿 吳 撰 陳 客 選 生 黄 其 武 參 貫 明 鄉 李 喬 一 元 共 成 錢 二 十 八 元

Phiên âm:

Khải Định tứ niên Kỷ Mùi quý đông cát nhật, An Phước tổng hội bi chí.

Thánh từ chi thiết tự lai hỹ. Hoàng triều Tự Đức ngũ niên, La Châu xã Tuần phủ Đỗ tiên công xướng tạo. Tự nhân binh phần, kế dĩ phân hạt, Thành Thái niên gian, bổn tổng thân hào cúng xuất tài lực tái tạo danh viết Vinh Lộc văn hội, tiền hậu cụ hữu bi chí, phụng sự kinh niên, nhị huyện thân hào các chấp dị đồng chi kiến. Tư nhân tu chỉnh công dịch phả phiền. Ngô tổng cận tại chiêm ngưỡng khởi dung tha, ủy vi thử hội hợp tổng nội văn võ quan thân, lý hào, sĩ nhân. Thiết niệm tiên thánh nãi luân lý gia chi tổ. Phàm hữu huyết khí, mạc bất tôn thân, đồng ưng tăng xuất tài lực, tái hành sùng tu dĩ vi luân lý thánh đường, tôn giáo chủ nghĩa, kỳ tại thử hồ? Tỉ cải vi An Phước tổng hội, thứ ủy niệm dĩ phù danh thực, tuy chức dụng tại sở đương vi, nhi đồng nhân cánh đa hiếu nghĩa, ninh bất biểu nhi xuất chi, dĩ vi sùng đạo giả khuyến. Sở hữu lạc cúng hựu trợ sự viên nhân minh hậu. Kê:

Nhất phụng cúng ngân tiền các xã thôn hiệu quan viên nhân dĩ hạ: La Châu bổn xã ngân thập nguyên. Hưu quan lãnh binh Đinh Thoại Ngọc lục nguyên. Hội tư lễ giáo sư Đỗ Khiết nhị nguyên. Lý trưởng Đinh Duy nhị nguyên ngũ mao. Anh danh Đinh Diễm nhất nguyên. Giáo dưỡng Đinh Sâm nhất nguyên dĩ hạ: Binh Đinh Trác, viên tử Đỗ Nhã. Hào Đinh Luật, Đinh Vĩ tiền nhị bách quán. Đinh Khánh nhất nguyên dĩ hạ: Đinh Vĩ, Đinh Bân, Đinh Dao, Đinh Tráng, Đinh Du, thập trưởng Đỗ Kinh, phó lý Nguyễn Dụ, sĩ nhân Đỗ Hậu, Đinh Đất, Đinh Lôi, Đỗ Phan, Đỗ Hân, Đinh Chỉ, Đinh Huấn, Đinh Hồ. Đinh Cơ bát mao dĩ hạ: Tuyển sinh Đinh Dục, Đinh Xán, Đỗ Tiến, Đinh Hân, Đinh Côn, Đinh Viên, Trà Ngọ, Trà Quế. Phan Trượng lục mao. Cộng thất thập tứ nguyên.

Phú Sơn bổn xã tiền ngũ thập quán. Lục phẩm đội trưởng Phạm Truân nhị nguyên. Bát phẩm Trần Thiều bát mao. Nguyễn Tứ nhất nguyên. Cửu phẩm Nguyễn Hoạt ngũ mao. Thưởng phó tổng Trần Hoàng nhất nguyên ngũ mao dĩ hạ: lý trưởng Trần Chung. Viên tử Nguyễn Cơ nhất nguyên dĩ hạ: Thập trưởng Trần Tư. Hào Phan Tân nhất nguyên ngũ mao. Phan Triết nhất nguyên. Trần Trúc nhất nguyên ngũ mao. Phan Đất ngũ mao. Trần Hộ ngũ mao. Phan Kính nhất nguyên dĩ hạ: Nguyễn Đôn. Nguyễn Đồng ngũ mao dĩ hạ: Trần Tung, Trần Thú, Trần Đoan, Trần Thường. Trần Đương bát mao dĩ hạ: Trần Lưu. Trần Thế ngũ mao dĩ hạ: Trần Lâm. Trần Viên nhất nguyên. Sĩ Nguyễn Hy tứ mao. Trần Kính thất mao. Trần Cảnh tứ mao. Tuyển sinh Trần Cường thất mao dĩ hạ: Trần Can. Trần Viện ngũ mao dĩ hạ: Nguyễn Thịnh, Trần Đổng, Nguyễn Đồng, Trần Ca. Bồ Mưng xã Nguyễn Hiển ngũ nguyên. Nguyễn Thiệu ngũ mao. Nguyễn Khang ngũ mao. Cộng tứ thập nguyên ngũ mao.

Cẩm Toại bổn xã tiền ngũ thập quán. Quản cơ Hoàng Thiện tam nguyên. Thất phẩm đội trưởng Lâm Phúc nhị nguyên. Thất phẩm đội trưởng Trần Nghị nhất nguyên tam mao. Nghị viên Lâm Ước nhị nguyên dĩ hạ: Cúng phụng Lâm Tự. Bát phẩm Lê Quyển nhất nguyên dĩ hạ. Chế Tráng. Nguyễn Chương. Lý trưởng Lâm Toản nhất nguyên ngũ mao. Phó lý Phan Ích. Hào dĩ hạ: Lê Đối nhị nguyên, Trần Nhã ngũ mao. Nguyễn Kỉ nhất nguyên dĩ hạ: Lâm Bính, Lê Dụng. Chế Lữ bát mao dĩ hạ: Lê Ngôn, Lâm Cấn. Chế Cường thất mao dĩ hạ: Lê Huề. Nguyễn Xướng ngũ mao. Sĩ nhân dĩ hạ: Nguyễn Tuyên ngũ mao. Chế Tùng bát mao dĩ hạ: Lâm Liệu, Lê Ái, Trần Kỉ, Chế Dương, Lê Khoan, Chế Trung. Phan Hoàng nhất nguyên. Lâm Luyện ngũ mao. Trần Thắng nhị nguyên. Lê Tu bát mao dĩ hạ: Ngô Doãn. Nguyễn Trinh ngũ mao dĩ hạ: Lê Đôn, Lê Nguyện. Tuyển sinh dĩ hạ: Lâm Hạnh bát mao dĩ hạ: Chế Trọng, Trần Du, Chế Nhiêu. Trần Quỳnh nhất nguyên. Phạm Huệ bát mao dĩ hạ: Lê Phẩm. Cộng ngân tứ thập bát nguyên.

Hương Lam bổn xã tiền tam thập ngũ quán. Cửu phẩm đội trưởng dĩ hạ: Nguyễn Mai nhất nguyên dĩ hạ: Trần Thường, Trần Trinh, lý trưởng Hoàng Bách, thập trưởng Nguyễn Soạn. Hào dĩ hạ: Nguyễn Lũ, Đặng Giám. Nguyễn Hoàng ngũ mao. Đặng Trực ngũ mao. Đào Chí nhất nguyên dĩ hạ: Lê Quỳ, Nguyễn Tú, Trần Thạc, Hoàng Thắng. Nguyễn Khắc nhất nguyên. Đặng Ma nhất nguyên. Nguyễn Mậu ngũ mao. Nguyễn Yểu ngũ mao. Phó lý Phan Dụng ngũ mao dĩ hạ: Ngô Hoài, Vũ Liêm, Nguyễn Khuê, Nguyễn Trà. Sĩ nhân dĩ hạ: Đào Mẫn ngũ mao dĩ hạ: Ngô Xuyến, Trần Phù, Nguyễn Du, Lâm Trì, Nguyễn Châu, Ngô Quế. Tuyển sinh dĩ hạ: Nguyễn Kiệt, Hoàng Sính. Cộng thành ngân nhị thập thất nguyên lục mao.

Thúy Loan bổn xã tiền tam thập quán. Biên tu Đặng Bá Mai tiền nhị thập bối. Bổ thụ chánh tổng Đặng Đoan nhị nguyên. Cửu phẩm đội trưởng Đặng Lạn nhất nguyên. Quan viên tử Đặng Hàng tam nguyên. Chánh tổng Đặng Trác tứ nguyên. Nguyên phó tổng Đặng Hữu nhất nguyên. Thủ sắc Đặng Tiến nhị nguyên. Lý trưởng Đặng Ấm. Giáo sư dĩ hạ: Đặng Dật nhất nguyên ngũ mao, Đặng Điều nhất nguyên dĩ hạ: Đặng Diêu, Phó lý Đặng Thông. Đặng Thần ngũ mao dĩ hạ: Đặng Lạt, tuyển sinh Đặng Huyên, Đặng Ban, Đặng Xã. Cộng thành ngân nhị thập bát nguyên bát mao.

Bồ Bản bổn xã tiền tam thập quán. Tú tài Nguyễn Chất nhị nguyên. Cửu phẩm đội trưởng Hồ Chấn nhất nguyên. Hội tư hóa Trần Vị nhất nguyên dĩ hạ: Hào Tán Tuy, lý trưởng Trần Tân, ngũ trưởng Phạm Sạn. Thập trưởng Tán Cảnh ngũ mao. Binh dĩ hạ: Hồ Hiệu nhất nguyên dĩ hạ: Tán Kiêu, Nguyễn Tư, thí sinh Hoàng Tiên. Thông sự Phạm Trinh lục mao. Thí Thế Trác cửu mao. Thí Thế Ngân cửu mao. Phó lý Đinh Hành ngũ mao dĩ hạ: Hoàng Lan. Tán Đỉnh nhất nguyên dĩ hạ: Tòng sự Trần Điện, Trần Thuật. Tân học khóa sinh Hồ Túc. Nguyễn Hiền ngũ mao dĩ hạ: Hoàng Đinh, Dương Chương, Trần Thọ, Ngô Soạn, Trần Khách. Tuyển sinh Hoàng Kì Vũ tam quán. Minh Hương Lý Kiều nhất nguyên. Cộng thành ngân nhị thập bát nguyên.

Dịch nghĩa:

Ngày tốt tháng 12 năm Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định thứ 4. Tổng An Phước lập bia.

Việc xây dựng đền thờ thánh đã có từ trước rồi. Năm Tự Đức thứ 5, ngài Tuần phủ người xã La Châu là Đỗ tiên công [Đỗ Thúc Tịnh-ĐTT] là người đề xướng tạo dựng đền thờ. Sau đó bị binh lửa thiêu rụi, kế đến lại phân chia huyện hạt, đến thời Thành Thái, các thân hào bổn tổng xuất tài lực tái tạo gọi là văn hội Vinh Lộc, trước sau đều có ghi trong văn bia. Trải qua nhiều năm phụng sự, thân hào hai huyện có những ý kiến khác nhau. Nay nhân tu chỉnh lại đền, công dịch có chỗ hơi phiền. Tổng chúng ta nằm sát nơi được chiêm ngưỡng, nên không thể để nhìn ngắm mà không có ý nghĩa gì khác. Bèn họp các quan văn võ, thân hào lý dịch và những người có học trong tổng. Thiết nghĩ các bậc tiên thánh là ông tổ sinh ra các nhà luân lý. Phàm là người có khí huyết, chẳng phải là bậc tôn thân mà cùng nhau xuất tài lực sùng tu lại chẳng phải là làm rạng danh thánh đường luân lý tôn giáo chủ nghĩa ở nơi này sao? Bèn sửa lại là tổng hội An Phước, thứ nữa là để giúp những người sau hiểu đúng cái đạo làm người. Tuy chỉ là những kẻ chức thấp hèn mọn nhưng lòng luôn hiếu nghĩa, của ít nhưng sẵn lòng, nhằm khuyến khích những người tôn sùng đạo nghĩa. Những người lạc cúng và trợ giúp để xây dựng thánh đường đều ghi rõ ra sau. Các quan chức, viên nhân ở các xã thôn phụng cúng tiền bạc như sau:

Bổn xã La Châu 10 đồng. Quan lãnh binh đã về hưu Đinh Thoại Ngọc 6 đồng. Hội tư lễ giáo sư Đỗ Khiết 2 đồng. Lý trưởng Đinh Duy 2 đồng 5 hào. Anh danh Đinh Diễm 1 đồng. Giáo dưỡng Đinh Sâm 1 đồng, như những người sau: Binh Đinh Trác, viên tử Đỗ Nhã. Hào Đinh Luật, Đinh Vĩ 200 quan tiền. Đinh Khánh 1 đồng như những người sau: Đinh Vĩ, Đinh Bân, Đinh Dao, Đinh Tráng, Đinh Du, thập trưởng Đỗ Kinh, phó lý Nguyễn Dụ, sĩ nhân Đỗ Hậu, Đinh Đất, Đinh Lôi, Đỗ Phan, Đỗ Hân, Đinh Chỉ, Đinh Huấn, Đinh Hồ. Đinh Cơ 8 hào. Những người sau cúng 8 hào: Tuyển sinh Đinh Dục, Đinh Xán, Đỗ Tiến, Đinh Hân, Đinh Côn, Đinh Viên, Trà Ngọ, Trà Quế. Phan Trượng 6 hào. Tổng cộng 74 đồng.

Bổn xã Phú Sơn 50 quan. Lục phẩm đội trưởng Phạm Truân 2 đồng. Bát phẩm Trần Thiều 8 hào. Nguyễn Tứ 1 đồng. Cửu phẩm Nguyễn Hoạt 5 hào. Thưởng phó tổng Trần Hoàng 1 đồng 5 hào. Phan Tân 1 đồng 5 hào. Phan Triết 1 đồng. Trần Trúc 1 đồng 5 hào. Phan Đất 5 hào. Trần Hộ 5 hào. Phan Kính 1 đồng. Nguyễn Đôn1 đồng. Nguyễn Đồng 5 hào, như những người sau đây: Trần Tung, Trần Thú, Trần Đoan, Trần Thường. Trần Đương 8 hào. Trần Lưu 8 hào. Trần Thế 5 hào. Trần Lâm 5 hào. Trần Viên 1 đồng. Sĩ Nguyễn Hy 4 hào. Trần Kính 7 hào. Trần Cảnh 4 hào. Tuyển sinh Trần Cường 7 hào. Trần Can7 hào. Trần Viện 5 hào, như những người sau: Nguyễn Thịnh, Trần Đổng, Nguyễn Đồng, Trần Ca. Nguyễn Hiển ở xã Bồ Mưng 5 đồng. Nguyễn Thiệu 5 hào. Nguyễn Khang 5 hào. Tổng cộng 40 đồng 5 hào.

Bổn xã Cẩm Toại 50 quan. Quản cơ Hoàng Thiện 3 đồng. Thất phẩm đội trưởng Lâm Phúc 2 đồng. Thất phẩm đội trưởng Trần Nghị 1 đồng 3 hào. Nghị viên Lâm Ước 2 đồng. Cúng phụng Lâm Tự 2 đồng. Bát phẩm Lê Quyển 1 đồng. Chế Tráng 1 đồng. Nguyễn Chương 1 đồng. Lý trưởng Lâm Toản 1 đồng 5 hào. Phó lý Phan Ích. Hào: Lê Đối 2 đồng. Trần Nhã 5 hào. Nguyễn Kỉ 1 đồng. Lâm Bính 1 đồng. Lê Dụng 1 đồng. Chế Lữ 8 hào. Lê Ngôn 8 hào. Lâm Cấn 8 hào. Chế Cường 7 hào. Lê Huề 7 hào. Nguyễn Xướng 5 hào. Sĩ nhân: Nguyễn Tuyên 5 hào. Chế Tùng 8 hào, như những người sau: Lâm Liệu, Lê Ái, Trần Kỉ, Chế Dương, Lê Khoan, Chế Trung. Phan Hoàng 1 đồng. Lâm Luyện 5 hào. Trần Thắng 2 đồng. Lê Tu 8 hào. Ngô Doãn 8 hào. Nguyễn Trinh 5 hào, như những người sau: Lê Đôn, Lê Nguyện. Tuyển sinh: Lâm Hạnh 8 hào, như những người sau: Chế Trọng, Trần Du, Chế Nhiêu. Trần Quỳnh 1 đồng. Phạm Huệ 8 hào. Lê Phẩm 8 hào. Tổng cộng 48 đồng.

Bổn xã Hương Lam 35 quan. Cửu phẩm đội trưởng: Nguyễn Mai 1 đồng, như những người sau: Trần Thường, Trần Trinh, lý trưởng Hoàng Bách, thập trưởng Nguyễn Soạn; hào: Nguyễn Lũ, Đặng Giám. Nguyễn Hoàng 5 hào. Đặng Trực 5 hào. Đào Chí 1 đồng, như những người sau: Lê Quỳ, Nguyễn Tú, Trần Thạc, Hoàng Thắng. Nguyễn Khắc 1 đồng. Đặng Ma 1 đồng. Nguyễn Mậu 5 hào. Nguyễn Yểu 5 hào. Phó lý Phan Dụng 5 hào, như những người sau: Ngô Hoài, Vũ Liêm, Nguyễn Khuê, Nguyễn Trà. Sĩ nhân: Đào Mẫn 5 hào, như những người sau: Ngô Xuyến, Trần Phù, Nguyễn Du, Lâm Trì, Nguyễn Châu, Ngô Quế; Tuyển sinh: Nguyễn Kiệt, Hoàng Sính. Tổng cộng 27 đồng 6 hào.

Bổn xã Thúy Loan 30 quan. Biên tu Đặng Bá Mai 20 quan. Bổ thụ chánh tổng Đặng Đoan 2 đồng. Cửu phẩm đội trưởng Đặng Lạn 1 đồng. Quan viên tử Đặng Hàng 3 đồng. Chánh tổng Đặng Trác 4 đồng. Nguyên phó tổng Đặng Hữu 1 đồng. Thủ sắc Đặng Tiến 2 đồng. Lý trưởng Đặng Ấm. Giáo sư: Đặng Dật 1 đồng 5 hào. Đặng Điều 1 đồng. Đặng Diêu 1 đồng. Phó lý Đặng Thông 1 đồng. Đặng Thần 5 hào. Đặng Lạt 5 hào. Tuyển sinh Đặng Huyên 5 hào. Đặng Ban 5 hào. Đặng Xã 5 hào. Tổng cộng 28 đồng 8 hào.

Bổn xã Bồ Bản 30 quan. Tú tài Nguyễn Chất 2 đồng. Cửu phẩm đội trưởng Hồ Chấn 1 đồng. Hội tư hóa Trần Vị 1 đồng, như những người sau: Hào Tán Tuy, lý trưởng Trần Tân, ngũ trưởng Phạm Sạn. Thập trưởng Tán Cảnh 5 hào. Binh: Hồ Hiệu 1 đồng, như những người sau: Tán Kiêu, Nguyễn Tư, thí sinh Hoàng Tiên. Thông sự Phạm Trinh 6 hào. Thí Tán Trác 9 hào. Thí Tán Ngân 9 hào. Phó lý Đinh Hành 5 hào, như những người sau: Hoàng Lan. Tán Đỉnh 1 đồng, như những người sau: Tòng sự Trần Điện, Trần Thuật. Tân học khóa sinh Hồ Túc, Nguyễn Hiền 5 hào, như những người sau: Hoàng Đinh, Dương Chương, Trần Thọ, Ngô Soạn, Trần Khách. Tuyển sinh Hoàng Kì Vũ 3 quan. Lý Kiều ở Minh Hương 1 đồng. Tổng cộng 28 đồng.

Mặt 2:

Chữ Hán:

楊 山 社 本 社 銀 四 元 七 品 隊 長 黎 光 一 元 五 八 品 隊 長 以 下 阮 積 一 元 阮 少 一 元 原 正 總 施 諒 一 元 里 長 施 讓 一 元 會 司 貨 施 濟 一 元 豪 施 連 一 元 范 科 五 毛 黎 教 五 毛 阮 行 五 毛 選 生 施 樹 五 毛 施 坦 五 毛 茶 諳 五 毛 施 珠 五 毛 施 胡 五 毛 共 銀 十 六 元 東 富 社 本 社 銀 二 元 原 副 總 張 璜 一 元 里 長 張 珠 一 元 共 銀 四 元 三 毛 姜 美 社 本 社 銀 二 元 副 總 朱 焯 三 元 里 長 朱 炬 一 元 豪 以 下 朱 超 一 元 韶 春 八 毛 黎 茂 八 毛 伍 長 阮 選 四 毛 選 阮 連 五 毛 阮 啟 五 毛 共 銀 十 元 福 榮 村 本 村 銀 一 元 豪 以 下 黎 敬 一 元 黎 第 一 元 黎 整 五 毛 黎 頓 五 毛 共 銀 四 元 延 山 村 本 村 銀 二 元 秀 才 陳 遹 二 元 教 師 陳 逐 二 元 里 長 陳 節 一 元 豪 陳 緒 一 元 陳 週 一 元 陳 用 八 毛 共 銀 九 元 六 毛 安 新 社 社 本 社 銀 二 元 六 毛 里 長 阮 继 一 元 豪 以 下 阮 扇 一 元 阮 哲 一元 阮 择 一 元 范 斌 四 毛 吳 珽 五 毛 選 生 阮 珠 二 元 阮 廣 五 毛 阮 弼 五 毛 共 銀 十 元 五 毛 安 仁 社 本 社 銀 二 元 原 副 總 陳 遂 二 元 里 長 阮 绪 一 元 豪 陳 侶 一 元 阮 耀 一 元 陳 聿 一 元 課 陳 遜 一 元 選 阮 璧 五 毛 共 銀 九 元 五 毛 福 洲 社 本 社 銀 二 元 司 書 尹 超 三 元 里 長 張 賢 一 元 豪 尹 起 一 元 張 耀 一 元 課 黎 重 一 元 選 黎 瓊 五 毛 共 銀 九 元 五 毛 安 洲 社 本 社 銀 一 元 五 毛 里 長 黎 璜 一 元 豪 黎 通 六 毛 黎 對 六 毛 張 借 五 毛 選 生 黎 鄧 二 元 共 銀 六 元 居 仁 村 本 村 銀 二 元 里 長 辛 萬 一 元 豪 杜 梅 一 元 杜 竹 一 元 選 杜 耀 五 毛 辛 經 五 毛 共 銀 六 元 福 仁 村 本 村 一 元 五 毛 里 長 張 福 一 元 共 銀 二 元 海 洲 村 本 村 銀 一 元 五 毛 里 長 茶 煥 一 元 共 銀 二 元 五 毛 向  上 總 共 供 銀 參 百 貳 拾 元 準 買 項 料 修 整 並 落 成 春 祭 礼 共 銀 貳 百 捌 拾 元 只 存 銀 肆 拾 元

一 助 事 員 人 以 下 會 佐 議 員 林 灼 督 工 三 賞 副 陳 璜 鋻 守 丁 偉 專 事 丁 馨 司 書 黎 逵 司 貨 二 陳 謂 施 济 承 事 二 陳 員 潘 璜 一 助 役 民 工 以 下 羅 洲 社 四 十 工 富 山 社 二 十 工 錦 遂 社 二 十 工 大 祿 縣 安 福 總 會 本 會 官 員 绅 豪 仝 奉 誌 一 從 前 奉 供 功 私 田 土 除 祠 園 外 存 干 業 已 請 回 現 存 原 和 榮 縣 會 私 田 壹 畝 在 羅 洲 社 芦 益 處 玆 已 許 贖 取 銀 一 百 元 合 與 存 銀 四 十 元 隨 宜 取 利 遰 年 供 祀 另 有 會 籍

Phiên âm:

Dương Sơn xã bổn xã ngân tứ nguyên. Thất phẩm đội trưởng Lê Quang nhất nguyên ngũ. Bát phẩm đội trưởng dĩ hạ Nguyễn Tích nhất nguyên. Nguyễn Thiếu nhất nguyên. Nguyên chánh tổng Thi Lượng nhất nguyên. Lý trưởng Thi Nhượng nhất nguyên. Hội tư hóa Thi Tế nhất nguyên. Hào Thi Liên nhất nguyên. Phạm Khoa ngũ mao. Lê Giáo ngũ mao. Nguyễn Hành ngũ mao. Tuyển sinh Thi Thụ ngũ mao. Thi Đất ngũ mao. Trà Ám ngũ mao. Thi Châu ngũ mao. Thi Hồ ngũ mao. Cộng ngân thập lục nguyên. Đông Phú xã bổn xã ngân nhị nguyên. Nguyên Phó tổng Trương Hoàng nhất nguyên. Lý trưởng Trương Châu nhất nguyên. Cộng ngân tứ nguyên tam mao. Khương Mỹ xã bổn xã ngân nhị nguyên. Phó tổng Chu Trác tam nguyên. Lý trưởng Chu Cự nhất nguyên. Hào dĩ hạ. Chu Siêu nhất nguyên. Thiều Xuân bát mao. Lê Mậu bát mao. Ngũ trưởng Nguyễn Tuyển tứ mao. Tuyển Nguyễn Liên ngũ mao. Nguyễn Khải ngũ mao. Cộng ngân thập nguyên. Phước Vinh thôn bổn thôn ngân nhất nguyên. Hào dĩ hạ Lê Kính nhất nguyên. Lê Đệ nhất nguyên. Lê Chỉnh ngũ mao. Lê Đốn ngũ mao. Cộng ngân tứ nguyên. Diên Sơn thôn bổn thôn ngân nhị nguyên. Tú tài Trần Duật nhị nguyên. Giáo sư Trần Trục nhị nguyên. Lý trưởng Trần Tiết nhất nguyên. Hào Trần Tự nhất nguyên. Trần Chu nhất nguyên. Trần Dụng bát mao. Cộng ngân cửu nguyên lục mao. An Tân xã bổn xã ngân nhị nguyên lục mao. Lý trưởng Nguyễn Kế nhất nguyên. Hào dĩ hạ: Nguyễn Xí nhất nguyên, Nguyễn Chiết nhất nguyên, Nguyễn Trạch nhất nguyên. Phạm Bân tứ mao. Ngô Đĩnh ngũ mao. Tuyển sinh Nguyễn Châu nhị nguyên. Nguyễn Quảng ngũ mao. Nguyễn Bật ngũ mao. Cộng ngân thập nguyên ngũ mao. An Nhơn xã bổn xã ngân nhị nguyên. Nguyên Phó tổng Trần Toại nhị nguyên. Lý trưởng Nguyễn Tự nhất nguyên. Hào Trần Lữ nhất nguyên. Nguyễn Diệu nhất nguyên. Trần Duật nhất nguyên. Khóa Trần Tốn nhất nguyên. Tuyển Nguyễn Bích ngũ mao. Cộng ngân cửu nguyên ngũ mao. Phước Châu xã bổn xã ngân nhị nguyên. Tư thư Doãn Siêu tam nguyên. Lý trưởng Trương Hiền nhất nguyên. Hào Doãn Khởi nhất nguyên. Trương Diệu nhất nguyên. Khóa Lê Trọng nhị nguyên. Tuyển Lê Quỳnh ngũ mao. Cộng ngân cửu nguyên ngũ mao. An Châu xã bổn xã ngân nhất nguyên ngũ mao. Lý trưởng Lê Hoàng nhất nguyên. Hào Lê Thông lục mao. Lê Đối lục mao. Trương Tá ngũ mao. Tuyển sinh Lê Đặng nhị nguyên. Cộng ngân lục nguyên. Cư Nhơn thôn bổn thôn ngân nhị nguyên. Lý trưởng Tân Vạn nhất nguyên. Hào Đỗ Mai nhất nguyên. Đỗ Trúc nhất nguyên. Tuyển Đỗ Diệu ngũ mao. Tân Kinh ngũ mao. Cộng ngân lục nguyên. Phước Nhơn thôn bổn thôn nhất nguyên ngũ mao. Lý trưởng Trương Phước nhất nguyên. Cộng ngân nhị nguyên. Hải Châu thôn bổn thôn ngân nhất nguyên ngũ mao. Lý trưởng Trà Hoán nhất nguyên. Cộng ngân nhị nguyên ngũ mao. Hướng thượng tổng cộng cúng ngân tam bách nhị thập nguyên. Chuẩn mãi hạng liệu tu chỉnh tịnh lạc thành xuân tế lễ cộng ngân nhị bách bát thập nguyên, chỉ tồn ngân tứ thập nguyên.

Nhất trợ sự viên nhân dĩ hạ: Hội tá nghị viên Lâm Chước, đốc công tam: Thưởng phó Trần Hoàng, Giám thủ Đinh Vĩ, Chuyên sự Đinh Hinh. Tư thư Lê Quỳ, Tư hóa nhị: Trần Vị, Thi Tế. Thừa sự nhị: Trần Viên, Phan Hoàng. Nhất trợ dịch dân công dĩ hạ: La Châu xã tứ thập công, Phú Sơn xã nhị thập công, Cẩm Toại xã nhị thập công.

Đại Lộc huyện, An Phước tổng hội bổn hội quan viên thân hào đồng phụng chí.

Nhất tòng tiền phụng cúng công tư điền thổ trừ từ viên ngoại tồn can nghiệp dĩ thỉnh hồi, hiện tồn nguyên Hòa Vang huyện hội tư điền nhất mẫu tại La Châu xã, Lô Ích xứ. Tư dĩ hứa chuộc thủ ngân nhất bách nguyên, hợp dữ tồn ngân tứ thập nguyên, cộng nhất bách tứ thập nguyên, tùy nghi thủ lợi. Đệ niên cúng tự lánh hữu hội tịch.

Dịch nghĩa:

Bổn xã xã Dương Sơn 4 đồng. Thất phẩm đội trưởng Lê Quang 1 đồng 5 hào. Bát phẩm đội trưởng: Nguyễn Tích 1 đồng, Nguyễn Thiếu 1 đồng. Nguyên chánh tổng Thi Lượng 1 đồng. Lý trưởng Thi Nhượng 1 đồng. Hội tư hóa Thi Tế 1 đồng. Hào Thi Liên 1 đồng. Phạm Khoa 5 hào. Lê Giáo 5 hào. Nguyễn Hành 5 hào. Tuyển sinh Thi Thụ 5 hào. Thi Đất 5 hào. Trà Ám 5 hào. Thi Châu 5 hào. Thi Hồ 5 hào. Tổng cộng 16 đồng. Bổn xã xã Đông Phú 2 đồng. Nguyên Phó tổng Trương Hoàng 1 đồng. Lý trưởng Trương Châu 1 đồng. Tổng cộng 4 đồng 3 hào. Bổn xã xã Khương Mỹ 2 đồng. Phó tổng Chu Trác 3 đồng. Lý trưởng Chu Cự 1 đồng. Hào: Chu Siêu 1 đồng. Thiều Xuân 8 hào. Lê Mậu 8 hào. Ngũ trưởng Nguyễn Tuyển 4 hào. Tuyển Nguyễn Liên 5 hào. Nguyễn Khải 5 hào. Tổng cộng 10 đồng. Bổn thôn thôn Phước Vinh 1 đồng. Hào: Lê Kính 1 đồng. Lê Đệ 1 đồng. Lê Chỉnh 5 hào. Lê Đốn 5 hào. Tổng cộng 4 đồng. Bổn thôn thôn Diên Sơn 2 đồng. Tú tài Trần Duật 2 đồng. Giáo sư Trần Trục 2 đồng. Lý trưởng Trần Tiết 1 đồng. Hào Trần Tự 1 đồng. Trần Chu 1 đồng. Trần Dụng 8 hào. Tổng cộng 9 đồng 6 hào. Bổn xã xã An Tân 2 đồng 6 hào. Lý trưởng Nguyễn Kế 1 đồng. Hào: Nguyễn Xí 1 đồng, Nguyễn Chiết 1 đồng, Nguyễn Trạch 1 đồng. Phạm Bân 4 hào. Ngô Đĩnh 5 hào. Tuyển sinh Nguyễn Châu 2 đồng. Nguyễn Quảng 5 hào. Nguyễn Bật 5 hào. Tổng cộng 10 đồng 5 hào. Bổn xã xã An Nhơn 2 đồng. Nguyên Phó tổng Trần Toại 2 đồng. Lý trưởng Nguyễn Tự 1 đồng. Hào Trần Lữ 1 đồng. Nguyễn Diệu 1 đồng. Trần Duật 1 đồng. Khóa Trần Tốn 1 đồng. Tuyển Nguyễn Bích 5 hào. Tổng cộng 9 đồng 5 hào. Bổn xã xã Phước Châu 2 đồng. Tư thư Doãn Siêu 3 đồng. Lý trưởng Trương Hiền 1 đồng. Hào Doãn Khởi 1 đồng. Trương Diệu 1 đồng. Khóa Lê Trọng 2 đồng. Tuyển Lê Quỳnh 5 hào. Tổng cộng 9 đồng 5 hào. Bổn xã xã An Châu 1 đồng 5 hào. Lý trưởng Lê Hoàng 1 đồng. Hào Lê Thông 6 hào. Lê Đối 6 hào. Trương Tá 5 hào. Tuyển sinh Lê Đặng 2 đồng. Tổng cộng 6 đồng. Bổn thôn thôn Cư Nhơn 2 đồng. Lý trưởng Tân Vạn 1 đồng. Hào Đỗ Mai 1 đồng. Đỗ Trúc 1 đồng. Tuyển Đỗ Diệu 5 hào. Tân Kinh 5 hào. Tổng cộng 6 đồng. Bổn thôn thôn Phước Nhơn 1 đồng 5 hào. Lý trưởng Trương Phước 1 đồng. Tổng cộng 2 đồng. Bổn thôn thôn Hải Châu 1 đồng 5 hào. Lý trưởng Trà Hoán 1 đồng. Tổng cộng 2 đồng 5 hào. Trở lên tổng cộng số bạc cúng là 320 đồng. Mua các hạng vật liệu tu chỉnh và làm lễ tế xuân lạc thành tổng cộng 280 đồng, chỉ còn 40 đồng.

Những người sau giúp việc: Hội tá nghị viên Lâm Chước, đốc công 3 người, gồm: Thưởng phó Trần Hoàng, Giám thủ Đinh Vĩ, Chuyên sự Đinh Hinh. Tư thư Lê Quỳ, Tư hóa hai người, gồm: Trần Vị, Thi Tế. Thừa sự 2 người, gồm: Trần Viên, Phan Hoàng. Dân trợ giúp công như sau: Xã La Châu 10 công, xã Phú Sơn 20 công, xã Cẩm Toại 20 công.

Quan viên, thân hào bổn hội hội tổng An Phước, huyện Đại Lộc đồng phụng ghi.

Ruộng đất công tư phụng cúng từ trước, trừ vườn đền thờ ra còn 1 mẫu ruộng tư của nguyên hội huyện Hòa Vang tại xứ Lô Ích, xã La Châu. Nay chuộc lại lấy 100 đồng bạc, cộng với 40 đồng còn lại, tổng cộng là 140 đồng, cho vay lấy lãi, hàng năm cúng phụng, ghi riêng vào sổ sách của hội.

Văn bia số 4

Mặt 1:

Chữ Hán:

保 大 十 七 年 歲 次 壬 午 二 月 吉 日 聖 祠 之 設 經 已 久 矣 嗣 同 分 轄 於 成 泰 年 間 安 福 總 绅 豪 再 造 具 有 碑 誌 玆 伊 總 復 隷 縣 轄 本 縣 各 總 仝 應 会 祀 經 禀 省 座 覆 依 同 出 財 力 修 補 以 便 奉 事 一 端 所 有 官 绅 豪 右 各 社 村 供 田 供 銀 干 並 當 次 治 里 班 計 銘 于 左 計 正 殿 依 舊 補 構 中 堂 拜 堂 增 買 材 木 灰 瓦 石 碑 工 匠 各 項 銀 陸 百 元 零 正 譜 長 鸿 臚 寺 卿 武 如 炬 二 十 元 副 譜 長 侍 讀 黄 伯 錦 五 元 光 禄 寺 少 卿 潘 清 景 五 元 書 記 九 品 鄧 逸 五 元 督 工 九 品 司 礼 林 光 替[27] 二 元

名 舉 譜 長 縣 尹 舉 人 阮 仲 渟 一 百 元 前 蒞 縣 尹 阮 春 蓮 五 元 鸿 臚 寺 少 卿 舉 人 陳 雅 琰 五 元 鄉 表 丁 玉 磬 所 在 里 長 丁 玉 煥 所 在 安 [指] 正 總 待 詔 鄧 端 五 元 青 安 正 總 九 品 陳 献 二 元 平 泰 正 總 檢 簿 翁 叔 弘 五 元 福 祥 正 總 八 品 阮 楨 二 元 安 留 正 總 九 品 董 德 馨 一 元 和 安 正 總 九 品 黎 炕 二 元 副 總 以 下 九 品 陳 節 二 元 九 品 陳 克 绍 二 元 九 品 黎 啟 二 元 九 品 阮 薑 二 元 九 品 吳 青 一 元 五 毛 司 事 以 下 九 品 黎 先[28] 二 元 九 品 阮 澤 二 元 賞 副 總 以 下 黎 修 一 元 黄 聲 一 元 陳 川 一 元 陳 球 一 元 陳 鍾 一 元 林 煉 一 元

安 福 總 羅 洲 三 高 十 元 富 山 五 高 錦 遂 四 高 香 藍 五 高 翠 巒 二 高 蒲 板 一 高 姜 美 二 高 十 二 尺 延 山 二 高 楊 林 二 高 安 洲 土 一 高 福 仁 一 高 寿 山 一 元 侍 講 鄧 竛 五 元 著 作 杜 廣 二 十 元 檢 討 鄧 澄 二 元 檢 簿 陳 胤 五 元 檢 籍 林 光 晫 五 元 編 修 朱 光 詮 五 元 待 詔 林 光 曙 五 元 副 管 阮 彊 二 元 八 品 范 積 二 元 待 詔 鄭 檔 五 元 九 品 陳 双 二 元 九 品 壹 元 以 下 賛 餒 賛 焯 鄧 遙 陳 勝 制 松 韶 光 丁 玉 璣 黎 公 顿 賛 銀 施 賞 施 瑚 制 曉 黎 統 阮 許 陳 端 潘 律 鄧 燫 鄧 連 鄧 顯 杜 枚 丁 玉 訓 五 元 茶 献 一 元 以 下 中 等 林 燕 里 長 范 忠 教 師 以 下 杜 煉 二 元 鄧 午 二 元 朱 光 衡 一 元 鄧 恕 一 元 僧 阮 遂 一 元 潘 正 總 丁 欣 賞 副 總 以 下 黎 璜 陳 篙 陳 語 阮 米 杜 茗 各 一 元 初 等 以 下 林 曉 杜 芝 各 二 元 潘 明 潘 欣 黎 允 倫 杜 寅 各 一 元 林 光 丙

青 安 總 閩 關 四 高 豊 南 一 畝 六 尺 九 寸 麗 山 陸 高 松 林 二 高 二 尺 二 寸 錦 泥 七 高 三 尺 八 寸 銀 參 元 過 涧 一 畝 楊 山 三 高 官 珠 四 高 石 蒲 二 高 燕 南 三 高 苗 芃 三 高 涧 東 三 高 羅 芃 二 高 仁 夀 三 高 侍 讀 陳 玉 琰 五 元 鸿 臚 寺 卿 陳 玉 連[29] 五 元 副 管 吳 三 潘 二 元 以 下 編 修 阮 伯 仲 檢 討 陳 光 顯 率 隊 林 0 正 隊 黎 得 待 詔 秀 才 黎 玟 一 元 水 机 主 陳 玉 璋 五 元 待 詔 武 文 價 二 元 九 品 以 下 黎 燦 一 元 吳 良 荐 一 元 陳 志 一 元 阮 準 一 元 陳 爥 一 元 陳 宣 三 元 阮 化 一 元 吳 詮 一 元 阮 齋 一 元 黎 翏 一 元 阮 晢 一 元 阮 海 一 元 阮 震 一 元 阮 嘉 一 元 阮 釣 一 元 阮 哲 一 元 潘 振 一 元 阮 謙 二 元 舊 民 表 阮 國 枰 一 元 九 品 阮 遂 二 元 阮 欢 一 元 段 義 一 元 阮 端 一 元 黎 0 一 元 翁 蓮 二 元 黎 教 一 元 里 長 潘 練 一 元 試 生 吳 亮 一 元賞 正 總 黎 振 一 元 黎 吉 一 元 鄉 簿 陳 詮 一 元

平 泰 總 以 下 豊 北 二 高 閨 北 二 高 錦 平 一 高 復 旦 五 元 蓮 池 二 元 美 巿 四 元 平 泰 二 元 新 泰 五 元 錦 北 五 元 南 夀 三 元

Phiên âm:

Bảo Đại thập thất niên tuế thứ Nhâm Ngọ nhị nguyệt cát nhật, thánh từ chi thiết kinh dĩ cửu hỹ. Tự đồng phân hạt ư Thành Thái niên gian, An Phước tổng thân hào tái tạo, cụ hữu bi chí. Tư y tổng phục lệ huyện hạt, bổn huyện các tổng đồng ưng hội tự, kinh bẩm tỉnh tòa phúc y đồng xuất tài lực tu bổ, dĩ tiện phụng sự nhất đoan. Sở hữu quan thân hào hữu các xã thôn cúng điền cúng ngân can tịnh đương thứ trị lý ban kê minh vu tả. Kê: Chánh điện y cựu bổ cấu trung đường bái đường, tăng mãi tài mộc hôi ngõa, thạch bi, công tượng các hạng ngân lục bách nguyên linh. Chánh phổ trưởng Hồng lô tự khanh Võ Như Cự nhị thập nguyên. Phó phổ trưởng Thị độc Hoàng Bá Cẩm ngũ nguyên. Quang lộc tự thiếu khanh Phan Thanh Cảnh ngũ nguyên. Thư kí cửu phẩm Đặng Dật ngũ nguyên. Đốc công cửu phẩm tư lễ Lâm Quang Thế nhị nguyên.

Danh cử Phổ trưởng Huyện doãn Cử nhân Nguyễn Trọng Đình nhất bách nguyên. Tiền lị Huyện doãn Nguyễn Xuân Liên ngũ nguyên. Hồng lô tự thiếu khanh Cử nhân Trần Nhã Diễm ngũ nguyên. Hương biểu Đinh Ngọc Khánh. Sở tại Lý trưởng Đinh Ngọc Hoán. Sở tại An [Chỉ] Chánh tổng Đãi chiếu Đặng Đoan ngũ nguyên. Thanh An Chánh tổng Cửu phẩm Trần Hiến nhị nguyên. Bình Thới Chánh tổng Kiểm bạ Ông Thúc Hoằng ngũ nguyên. Phước Tường Chánh tổng Bát phẩm Nguyễn Trinh nhị nguyên. An Lưu Chánh tổng Cửu phẩm Đổng Đức Hinh nhất nguyên. Hòa An Chánh tổng Cửu phẩm Lê Kháng nhị nguyên. Phó tổng dĩ hạ: Cửu phẩm Trần Tiết nhị nguyên, Cửu phẩm Trần Khắc Thiệu nhị nguyên, Cửu phẩm Lê Khải nhị nguyên, Cửu phẩm Nguyễn Khương nhị nguyên, Cửu phẩm Ngô Thanh nhất nguyên ngũ mao. Ti sự dĩ hạ: Cửu phẩm Lê Tiên nhị nguyên, Cửu phẩm Nguyễn Trạch nhị nguyên. Thưởng phó tổng dĩ hạ: Lê Tu nhất nguyên, Hoàng Thanh nhất nguyên, Trần Xuyên nhất nguyên, Trần Cầu nhất nguyên, Trần Chung nhất nguyên, Lâm Luyện nhất nguyên.

An Phước tổng: La Châu tam cao, thập nguyên. Phú Sơn ngũ cao. Cẩm Toại tứ cao. Hương Lam ngũ cao, Thúy Loan nhị cao. Bồ Bản nhất cao. Khương Mỹ nhị cao thập nhị xích. Diên Sơn nhị cao. Dương Lâm nhị cao. An Châu thổ nhất cao. Phước Nhơn nhất cao. Thọ Sơn nhất nguyên. Thị giảng Đặng Lịnh ngũ nguyên. Trước tác Đỗ Quảng nhị thập nguyên. Kiểm thảo Đặng Trừng nhị nguyên. Kiểm bạ Trần Dận ngũ nguyên. Kiểm tịch Lâm Quang Trác ngũ nguyên. Biên tu Chu Quang Thuyên ngũ nguyên. Đãi chiếu Lâm Quang Thự ngũ nguyên. Phó quản Nguyễn Cương nhị nguyên. Bát phẩm Phạm Tích nhị nguyên. Đãi chiếu Trịnh Đương ngũ nguyên. Cửu phẩm Trần Song nhị nguyên. Cửu phẩm nhất nguyên dĩ hạ: Tán Tuy, Tán Trác, Đặng Diêu, Trần Thắng, Chế Tùng, Thiều Quang, Đinh Ngọc Cơ, Lê Công Đốn, Tán Ngân, Thi Thưởng, Thi Hồ, Chế Hiểu, Lê Thống, Nguyễn Hứa, Trần Đoan, Phan Luật, Đặng Liêm, Đặng Liên, Đặng Hiển, Đỗ Mai. Đinh Ngọc Huấn ngũ nguyên. Trà Hiến nhất nguyên dĩ hạ: Trung đẳng Lâm Yến, Lý trưởng Phạm Trung. Giáo sư dĩ hạ: Đỗ Luyện nhị nguyên, Đặng Ngọ nhất nguyên, Chu Quang Hành nhất nguyên, Đặng Thứ nhất nguyên, tăng Nguyễn Toại nhất nguyên, Phan Chánh Tổng, Đinh Hân. Thưởng Phó tổng dĩ hạ: Lê Hoàng, Trần Cao, Trần Ngữ, Nguyễn Mễ, Đỗ Danh các nhất nguyên. Sơ đẳng dĩ hạ: Lâm Hiểu, Đỗ Chi các nhị nguyên. Phan Minh, Phan Hân, Lê Doãn Luân, Đỗ Diễn các nhất nguyên. Lâm Quang Bính.

Thanh An tổng: Mân Quan tứ cao. Phong Nam nhất mẫu lục xích cửu thốn. Lệ Sơn lục cao. Tùng Lâm nhị cao nhị xích nhị thốn. Cẩm Nê thất cao tam xích bát thốn, ngân tam nguyên. Quá Giản nhất mẫu. Dương Sơn tam cao. Quan Châu tứ cao. Thạch Bồ nhị cao. Yến Nam tam cao. Miếu Bông tam cao. Giản Đông tam cao. La Bông nhị cao. Nhơn Thọ tam cao. Thị độc Trần Ngọc Diễm ngũ nguyên. Hồng lô tự khanh Trần Ngọc Liên ngũ nguyên. Phó quản Ngô Tam Phan nhị nguyên dĩ hạ: Biên tu Nguyễn Bá Trọng, Kiểm thảo Trần Quang Hiển, Suất đội Lâm 0, Chánh đội Lê Đắc. Đãi chiếu Tú tài Lê Văn nhất nguyên. Thủy cơ chủ Trần Ngọc Chương ngũ nguyên. Đãi chiếu Võ Văn Giá nhị nguyên. Cửu phẩm dĩ hạ: Lê Xán nhất nguyên, Ngô Lương Tiến nhất nguyên, Trần Chí nhất nguyên, Nguyễn Chuẩn nhất nguyên, Trần Chúc nhất nguyên, Trần Tuyên tam nguyên, Nguyễn Hóa nhất nguyên, Ngô Thuyên nhất nguyên, Nguyễn Trai nhất nguyên, Lê Liêu nhất nguyên, Nguyễn Triết nhất nguyên, Nguyễn Hải nhất nguyên, Nguyễn Chấn nhất nguyên, Nguyễn Gia nhất nguyên, Nguyễn Điếu nhất nguyên, Nguyễn Triết nhất nguyên, Phan Chấn nhất nguyên, Nguyễn Khiêm nhị nguyên. Cựu dân biểu Nguyễn Quốc Bình nhất nguyên. Cửu phẩm Nguyễn Toại nhị nguyên. Nguyễn Hoan nhất nguyên. Đoàn Nghĩa nhất nguyên. Nguyễn Đoan nhất nguyên. Lê 0 nhất nguyên. Ông Liên nhị nguyên. Lê Giáo nhất nguyên. Lý trưởng Phan Luyện nhất nguyên. Thí sinh Ngô Lượng nhất nguyên. Thưởng chánh tổng Lê Chấn nhất nguyên. Lê Cát nhất nguyên. Hương bạ Trần Thuyên nhất nguyên.

Bình Thới tổng dĩ hạ: Phong Bắc nhị cao. Khuê Bắc nhị cao. Cẩm Bình nhất cao. Phục Đán ngũ nguyên. Liên Trì nhị nguyên. Mỹ Thị tứ nguyên. Bình Thới nhị nguyên. Tân Thới ngũ nguyên. Cẩm Bắc ngũ nguyên. Nam Thọ tam nguyên.

Dịch nghĩa:

Ngày tốt tháng 2 năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Bảo Đại thứ 17, đền thánh được xây dựng đã lâu rồi. Kế đó vào giữa đời Thành Thái thì phân chia hạt, thân hào tổng An Phước cho tái tạo, có bia đá ghi chép lại. Nay tổng ấy lại lệ vào huyện hạt, các tổng trong bổn huyện cùng đồng thuận phụng cúng chung, nên đã bẩm lên tỉnh tòa cho phép, lại cùng xuất tài lực tu bổ để tiện phụng sự về một mối. Quan viên, thân hào ở các xã thôn cúng ruộng, cúng bạc kê rõ cùng đương thứ các ban trị lý như sau: Chánh điện giữ nguyên, dựng lại trung đường, bái đường, mua thêm các hạng cột kèo, gạch ngói, bia đá, công thợ hết 600 đồng lẻ. Chánh phổ trưởng Hồng lô tự khanh Võ Như Cự 20 đồng. Phó phổ trưởng Thị độc Hoàng Bá Cẩm 5 đồng. Quang lộc tự thiếu khanh Phan Thanh Cảnh 5 đồng. Thư kí cửu phẩm Đặng Dật 5 đồng. Đốc công cửu phẩm tư lễ Lâm Quang Thế 2 đồng.

Danh cử Phổ trưởng Huyện doãn Cử nhân Nguyễn Trọng Đình 100 đồng. Huyện doãn nhiệm kì cũ Nguyễn Xuân Liên 5 đồng. Hồng lô tự thiếu khanh Cử nhân Trần Nhã Diễm 5 đồng. Hương biểu Đinh Ngọc Khánh. Lý trưởng sở tại Đinh Ngọc Hoán. Chánh tổng An [Chỉ] sở tại Đãi chiếu Đặng Đoan 5 đồng. Chánh tổng Thanh An Cửu phẩm Trần Hiến 2 đồng. Chánh tổng Bình Thới Kiểm bạ Ông Thúc Hoằng 5 đồng. Chánh tổng Phước Tường Bát phẩm Nguyễn Trinh 2 đồng. Chánh tổng An Lưu Cửu phẩm Đổng Đức Hinh 1 đồng. Chánh tổng Hòa An Cửu phẩm Lê Kháng 2 đồng. Phó tổng dĩ hạ: Cửu phẩm Trần Tiết 2 đồng, Cửu phẩm Trần Khắc Thiệu 2 đồng, Cửu phẩm Lê Khải 2 đồng, Cửu phẩm Nguyễn Khương 2 đồng, Cửu phẩm Ngô Thanh 1 đồng 5 hào. Ti sự: Cửu phẩm Lê Tiên 2 đồng, Cửu phẩm Nguyễn Trạch 2 đồng. Thưởng phó tổng: Lê Tu 1 đồng, Hoàng Thanh 1 đồng, Trần Xuyên 1 đồng, Trần Cầu 1 đồng, Trần Chung 1 đồng, Lâm Luyện 1 đồng.

Tổng An Phước: La Châu 3 sào và 10 đồng. Phú Sơn 5 sào. Cẩm Toại 4 sào. Hương Lam 5 sào. Thúy Loan 2 sào. Bồ Bản 1 sào. Khương Mỹ 2 sào 12 thước. Diên Sơn 2 sào. Dương Lâm 2 sào. An Châu 1 sào đất. Phước Nhơn 1 sào. Thọ Sơn 1 đồng. Thị giảng Đặng Nay 5 đồng. Trước tác Đỗ Quảng 20 đồng Kiểm thảo Đặng Trừng 2 đồng. Kiểm bạ Trần Dận 5 đồng. Kiểm tịch Lâm Quang Trác 5 đồng. Biên tu Chu Quang Thuyên 5 đồng. Đãi chiếu Lâm Quang Thự 5 đồng. Phó quản Nguyễn Cương 2 đồng. Bát phẩm Phạm Tích 2 đồng. Đãi chiếu Trịnh Đương 5 đồng. Cửu phẩm Trần Song 2 đồng. Cửu phẩm 1 đồng: Tán Tuy, Tán Trác, Đặng Diêu, Trần Thắng, Chế Tùng, Thiều Quang, Đinh Ngọc Cơ, Lê Công Đốn, Tán Ngân, Thi Thưởng, Thi Hồ, Chế Hiểu, Lê Thống, Nguyễn Hứa, Trần Đoan, Phan Luật, Đặng Liêm, Đặng Liên, Đặng Hiển, Đỗ Mai. Đinh Ngọc Huấn 5 đồng. Trà Hiến 1 đồng như những người sau: Trung đẳng Lâm Yến, Lý trưởng Phạm Trung. Giáo sư: Đỗ Luyện 2 đồng, Đặng Ngọ 1 đồng, Chu Quang Hành 1 đồng, Đặng Thứ 1 đồng, tăng Nguyễn Toại 1 đồng, Phan Chánh Tổng, Đinh Hân. Thưởng Phó tổng: Lê Hoàng, Trần Cao, Trần Ngữ, Nguyễn Mễ, Đỗ Danh mỗi người 1 đồng. Sơ đẳng: Lâm Hiểu, Đỗ Chi mỗi người 2 đồng. Phan Minh, Phan Hân, Lê Doãn Luân, Đỗ Diễn mỗi người 1 đồng. Lâm Quang Bính.

Tổng Thanh An: Mân Quan 4 sào. Phong Nam 1 mẫu 6 thước 9 tấc. Lệ Sơn 6 sào. Tùng Lâm 2 sào 2 thước 2 tấc. Cẩm Nê 7 sào 3 thước 8 tấc và 3 đồng. Quá Giản[30] 1 mẫu. Dương Sơn 3 sào. Quan Châu 4 sào. Thạch Bồ 2 sào. Yến Nam 3 sào. Miếu Bông 3 sào. Giản Đông[31] 3 sào. La Bông 2 sào. Nhơn Thọ 3 sào. Thị độc Trần Ngọc Diễm 5 đồng. Hồng lô tự khanh Trần Ngọc Liên 5 đồng. Phó quản Ngô Tam Phan 2 đồng như những người dưới đây: Biên tu Nguyễn Bá Trọng, Kiểm thảo Trần Quang Hiển, Suất đội Lâm 0, Chánh đội Lê Đắc. Đãi chiếu Tú tài Lê Văn 1 đồng. Chủ thủy cơ Trần Ngọc Chương 5 đồng. Đãi chiếu Võ Văn Giá 2 đồng. Cửu phẩm: Lê Xán 1 đồng, Ngô Lương Tiến 1 đồng, Trần Chí 1 đồng, Nguyễn Chuẩn 1 đồng, Trần Chúc 1 đồng, Trần Tuyên 3 đồng, Nguyễn Hóa 1 đồng, Ngô Thuyên 1 đồng, Nguyễn Trai 1 đồng, Lê Liêu 1 đồng, Nguyễn Triết 1 đồng, Nguyễn Hải 1 đồng, Nguyễn Chấn 1 đồng, Nguyễn Gia 1 đồng, Nguyễn Điếu 1 đồng, Nguyễn Triết 1 đồng, Phan Chấn 1 đồng, Nguyễn Khiêm 2 đồng. Cựu dân biểu Nguyễn Quốc Bình 1 đồng. Cửu phẩm Nguyễn Toại nhị nguyên. Nguyễn Hoan 1 đồng. Đoàn Nghĩa 1 đồng. Nguyễn Đoan 1 đồng. Lê 0 1 đồng. Ông Liên nhị nguyên. Lê Giáo 1 đồng. Lý trưởng Phan Luyện 1 đồng. Thí sinh Ngô Lượng 1 đồng. Thưởng chánh tổng Lê Chấn 1 đồng. Lê Cát 1 đồng. Hương bạ Trần Thuyên 1 đồng.

Tổng Bình Thới: Phong Bắc 2 sào. Khuê Bắc 2 sào. Cẩm Bình 1 sào. Phục Đán 5 đồng. Liên Trì 2 đồng. Mỹ Thị 4 đồng. Bình Thới 2 đồng. Tân Thới 5 đồng. Cẩm Bắc 5 đồng. Nam Thọ 3 đồng.

Mặt 2:

Chữ Hán:

平 泰 光 祿 寺 卿 黎 有 慶 二 元 侍 讀 阮 清 價 二 元 六 品 翁 文 允 二 元 [八] 品 黄 海 巨 二 元 考 官 陳 進 二 元 0 0 陳 蹟 二 元 会 同 黎 太 乙 二 元 高 等 黎 景 瑞 二 元 九 品 以 下 陳 玉 偉 二 元 以 下 阮 德 黎 文 策 黎 錦 繡 楊 文 儀 武 諒 枚 欣 黎 樹 里 長 黄 花 酒 賞 正 總 陳 坚 試 生 丁 逢 峯 翁 益 懋 豪 老 武 廕 会 員 以 下 黎 多 翁 球 鄉 簿 黄 玉 珠 阮 蓮 翁 彬

安 留 總 魯 涧 五 高 溉 西 二 高 閨 東 五 高 溉 東 五 高 柏 涧 參 高 四 尺 五 寸 古 閩 四 高 七 尺 五 寸 視 安 弍 高 三 尺 八 寸 侍 講 黄 伯 湯 五 元 枚 春 荷 二 元 供 奉 胡 瀛 三 元 九 品 正 總 段 呈[32] 二 元 檢 簿 段 玉 禎 一 元 秀 才 胡 琬 一 元 八 品 以 下 黎 文 芷 二 元 以 下 黄 伯 望 黄 彬 九 品 以 下 胡 序 二 元 以 下 范 文 敬 胡 勝 黎 敝 黄 伯 諒 黄 伯 常 黄 彬 黄 燦 黄 光 黄 卷 黄 錦 范 笑 阮 柏 教 師 以 下 阮 富 貴 胡 伍 通 事 枚 登 提 中 等 枚 鄧 沛 医 士 阮 光 琰 五 元 阮 有 忠 五 元 賞 副 總 以 下 胡 沣 黄 鉗 里 長 陳 高 諰 胡 朋 范 渚 枚 文 体 段 班 枚 明 陳 璨 課 生 黄 福 要 畧 必 能 各 一 元

福 祥 總 石 岩 三 元 富 和 三 元 会 域 三 元 泰 来 一 元 竹 泡 一 元 瑶 池 一 元 富 下 一 元 春 祿 一 元 翠 鸾 一 元 供 奉 秀 才 潘 綽 二 元 以 下 待 詔 秀 才 潘 举 九 品 阮 炳 教 師 陳 仲 0 三 元 九 品 以 下 阮 良 二 元 翁 隆 二 元 陳 公 薦 二 元 阮 酒 一 元 以 下 阮 嵩 鄭 绅 武 悟 賞 正 總 蔡 豊 里 長 以 下 蔡 萱 黎 蔭 陳 唱 鄉 簿 阮 潔 潘 川 委 員 范 忺

和 安 總 關 南 一 高 六 尺 五 寸 云 陽 二 高 三 元 和 安 三 元 和 美 二 元 扶 南 二 元 和 富 一 元 和 福 一 元 忠 義 一 元 0 0 一 元 忠 安 一 元 南 定 一 元 南 安 一 元 長 定 一 元 義 忠 一 元 福 履 一 元 東 山 一 元 清 荣 一 元 新 定 一 元 和 玉 一 元 和 山 五 毛 以 下 仁 和 忠 山 檢 簿 陳 玉 煊 一 元 以 下 秀 才 黎 煉 九 品 阮 如 式 阮 如 青 阮 伯 璜 阮 玉 潔 二 元 阮 如 幾 二 元 試 生 枚 春 先 衢 林 何 叔 軒 各 二 元

沱 城 鸿 臚 寺 卿 阮 維 岳 二 元 以 下 阮 文 麵 侍 讀 阮 文 敏 范 太 醫 鄧 春 穆 五 品 阮 文 粉 三 元 六 品 陳 文 武 五 元 檢 討 武 胡 儉 二 元 八 品 阮 作 霖 一 元 待 詔 黎 文 憲 二 元 廕 生 黎 公 深 三 元 安 宅 八 品 以 下 丁 煉 二 元 朱 0 阮 如 瑾 二 元 愛 義 阮 若 一 元 泗 溝 八 品 医 士 阮 敏 一 元

廣 川 供 奉 秀 才 阮 富 義 五 元 维 川 待 詔 秀 才 阮 廷 輝 二 元 明 鄉 官 員 父 李 仗 一 元 九 品 以 下 廣 川 阮 煙 二元 富 貴 黄 操 一 元 和 美 鄧 春 光 一 元 貴 鄉 員 子 阮 有 功 一 元 錦 沙 医 士 范 周 遵 三 元 膠 水 黎 綱 一 元 安 宅 鄉 目 丁 前 二 元 沱 城 里 長 阮 德 誠 二 元 石 匠 主 阮 文 漫 五 元 川 盛 号 二元 福 泰 号 二 元

總 共 田 十 二 畝 四 高 十 尺 銀 陸 百 二 十 元 原 安 福 總 留 下 奉 銀 八 十 元 和 荣 縣 文 譜 官 員 绅 豪 仝 誌

Phiên âm:

Bình Thới: Quang lộc tự khanh Lê Hữu Khánh nhị nguyên. Thị độc Nguyễn Thanh Giá nhị nguyên. Lục phẩm Ông Văn Doãn nhị nguyên. [Bát] phẩm Hoàng Hải Cự nhị nguyên. Khảo quan Trần Tiến nhị nguyên. 0 0 Trần Tích nhị nguyên. Hội đồng Lê Thái Ất nhị nguyên. Cao đẳng Lê Cảnh Thoại nhị nguyên. Cửu phẩm dĩ hạ: Trần Ngọc Vĩ nhị nguyên dĩ hạ: Nguyễn Đức, Lê Văn Sách, Lê Cẩm Tú, Dương Văn Nghi, Võ Lượng, Mai Hân, Lê Thụ, Lý trưởng Hoàng Hoa Tửu, Thưởng chánh tổng Trần Kiên. Thí sinh Đinh Phùng Phong, Ông Ích Mậu. Hào lão Võ Ấm. Hội viên dĩ hạ: Lê Đa, Ông Cầu, Hương bạ Hoàng Ngọc Châu, Nguyễn Liên, Ông Bân.

 An Lưu tổng: Lỗ Giản ngũ cao. Khái Tây nhị cao. Khuê Đông ngũ cao. Khái Đông ngũ cao, Bá Giản tam cao tứ xích ngũ thốn. Cổ Mân tứ cao thất xích ngũ thốn. Thị An nhị cao tam xích bát thốn. Thị giảng Hoàng Bá Thang ngũ nguyên. Mai Xuân Hà nhị nguyên. Cúng phụng Hồ Doanh tam nguyên. Cửu phẩm chánh tổng Đoàn Trình nhị nguyên. Kiểm bạ Đoàn Ngọc Trinh nhất nguyên. Tú tài Hồ Uyển nhất nguyên. Bát phẩm dĩ hạ: Lê Văn Chỉ nhị nguyên dĩ hạ: Hoàng Bá Vọng. Hoàng Bân. Cửu phẩm dĩ hạ: Hồ Tự nhị nguyên dĩ hạ: Phạm Văn Kính, Hồ Thắng, Lê Tệ, Hoàng Bá Lượng, Hoàng Bá Thường, Hoàng Bân, Hoàng Xán, Hoàng Quang, Hoàng Quyển, Hoàng Cẩm, Phạm Tiếu, Nguyễn Bá. Giáo sư dĩ hạ: Nguyễn Phú Quý, Hồ Ngũ. Thông sự Mai Đăng Đề. Trung đẳng Mai Đặng Phái. Y sĩ Nguyễn Quang Diễm ngũ nguyên. Nguyễn Hữu Trung ngũ nguyên. Thưởng phó tổng dĩ hạ: Hồ Phong, Hoàng Kiềm, Lý trưởng Trần Cao Tỉ, Hồ Bằng, Phạm Chử, Mai Văn Thể, Đoàn Ban, Mai Minh, Trần Xán, Khóa sinh Hoàng Phước, Yếu lược Hoàng Tất Năng các nhất nguyên.

Phước Tường tổng: Thạch Nham tam nguyên. Phú Hòa tam nguyên. Hội Vực tam nguyên. Thái Lai nhất nguyên. Trúc Bàu nhất nguyên. Diêu Trì nhất nguyên. Phú Hạ nhất nguyên. Xuân Lộc nhất nguyên. Thúy Loan nhất nguyên. Cúng phụng Tú tài Phan Xước nhị nguyên dĩ hạ: Đãi chiếu Tú tài Phan Cử, Cửu phẩm Nguyễn Bính, Giáo sư Trần Trọng 0 tam nguyên. Cửu phẩm dĩ hạ: Nguyễn Lương nhị nguyên, Ông Long nhị nguyên, Trần Công Tiến nhị nguyên. Nguyễn Tửu nhất nguyên dĩ hạ: Nguyễn Tung, Trịnh Thân, Võ Ngộ, Thưởng chánh tổng Thái Phong. Lý trưởng dĩ hạ: Thái Tuyên, Lê Ấm, Trần Xướng. Hương bạ Nguyễn Khiết, Phan Xuyên. Ủy viên Phạm Hân.

Hòa An tổng: Quan Nam nhất cao lục xích ngũ thốn. Vân Dương nhị cao tam nguyên. Hòa An tam nguyên. Hòa Mỹ nhị nguyên. Phò Nam nhị nguyên. Hòa Phú nhất nguyên. Hòa Phước nhất nguyên. Trung Nghĩa nhất nguyên. 0 0 nhất nguyên. Trung An nhất nguyên. Nam Định nhất nguyên. Nam An nhất nguyên. Trường Định nhất nguyên. Nghĩa Trung nhất nguyên. Phước Lý nhất nguyên. Đông Sơn nhất nguyên. Thanh Vinh nhất nguyên. Tân Định nhất nguyên. Hòa Ngọc nhất nguyên. Hòa Sơn ngũ mao dĩ hạ: Nhơn Hòa, Trung Sơn. Kiểm bạ Trần Ngọc Huyên nhất nguyên dĩ hạ: Tú tài Lê Luyện, Cửu phẩm Nguyễn Như Thức, Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hoàng. Nguyễn Ngọc Khiết nhị nguyên. Nguyễn Như Cơ nhị nguyên. Thí sinh Mai Xuân Tiên, Cù Lâm Hà, Thục Hiên các nhị nguyên.

Đà Thành: Hồng lô tự khánh Nguyễn Duy Nhạc nhị nguyên dĩ hạ: Nguyễn Văn Miến, Thị độc Nguyễn Văn Mẫn, Phạm Thái Y, Đặng Xuân Mục. Ngũ phẩm Nguyễn Văn Phấn tam nguyên. Lục phẩm Trần Văn Võ ngũ nguyên. Kiểm thảo Võ Hồ Kiệm nhị nguyên. Bát phẩm Nguyễn Tác Lâm nhất nguyên. Đãi chiếu Lê Văn Hiến nhị nguyên. Ấm sinh Lê Công Thâm tam nguyên. An Trạch bát phẩm dĩ hạ Đinh Luyện nhị nguyên. Chu 0 Nguyễn Như Cẩn nhị nguyên. Ái Nghĩa Nguyễn Nhược nhất nguyên. Tứ Câu bát phẩm y sĩ Nguyễn Mẫn nhất nguyên. Quảng Xuyên cúng phụng Tú tài Nguyễn Phú Nghĩa ngũ nguyên. Duy Xuyên Đãi chiếu Tú tài Nguyễn Đình Huy nhị nguyên. Minh Hương quan viên phụ Lý Xâm nhất nguyên. Cửu phẩm dĩ hạ: Quảng Xuyên Nguyễn Yên nhị nguyên, Phú Quý Hoàng Thao nhất nguyên, Hòa Mỹ Đặng Xuân Quang nhất nguyên, Quý Hương viên tử Nguyễn Hữu Công nhất nguyên. Cẩm Sa Y sĩ Phạm Chu Tuân tam nguyên. Giao Thủy Lê Cương nhất nguyên. An Trạch Hương mục Đinh Tiền nhị nguyên. Đà Thành Lý trưởng Nguyễn Đức Thành nhị nguyên. Thạch tượng chủ Nguyễn Văn Mạn ngũ nguyên. Xuyên Thịnh hiệu nhị nguyên. Phước Thái hiệu nhị nguyên. Tổng cộng điền thập nhị mẫu tứ cao thập xích, ngân lục bách nhị thập nguyên. Nguyên An Phước tổng lưu hạ phụng ngân bát thập nguyên. Hòa Vang huyện văn phổ quan viên thân hào đồng chí.

Dịch nghĩa:

Bình Thới: Quang lộc tự khanh Lê Hữu Khánh 2 đồng. Thị độc Nguyễn Thanh Giá 2 đồng. Lục phẩm Ông Văn Doãn 2 đồng. Bát phẩm Hoàng Hải Cự 2 đồng. Khảo quan Trần Tiến 2 đồng. 0 0 Trần Tích 2 đồng. Hội đồng Lê Thái Ất 2 đồng. Cao đẳng Lê Cảnh Thoại 2 đồng. Cửu phẩm: Trần Ngọc Vĩ 2 đồng như những người dưới đây: Nguyễn Đức, Lê Văn Sách, Lê Cẩm Tú, Dương Văn Nghi, Võ Lượng, Mai Hân, Lê Thụ, Lý trưởng Hoàng Hoa Tửu, Thưởng chánh tổng Trần Kiên. Thí sinh Đinh Phùng Phong, Ông Ích Mậu. Hào lão Võ Ấm. Hội viên: Lê Đa, Ông Cầu, Hương bạ Hoàng Ngọc Châu, Nguyễn Liên, Ông Bân.

 Tổng An Lưu: Lỗ Giản 5 sào. Khái Tây 2 sào. Khuê Đông 5 sào. Khái Đông 5 sào. Bá Giản 3 sào 4 thước 5 tấc. Cổ Mân 4 sào 7 thước 5 tấc. Thị An 2 sào 3 thước 8 tấc. Thị giảng Hoàng Bá Thang 5 đồng. Mai Xuân Hà 2 đồng. Cúng phụng Hồ Doanh 3 đồng. Cửu phẩm chánh tổng Đoàn Trình 2 đồng. Kiểm bạ Đoàn Ngọc Trinh 1 đồng. Tú tài Hồ Uyển 1 đồng. Bát phẩm: Lê Văn Chỉ  2 đồng như những người dưới đây: Hoàng Bá Vọng, Hoàng Bân. Cửu phẩm: Hồ Tự 2 đồng như những người dưới đây: Phạm Văn Kính, Hồ Thắng, Lê Tệ, Hoàng Bá Lượng, Hoàng Bá Thường, Hoàng Bân, Hoàng Xán, Hoàng Quang, Hoàng Quyển, Hoàng Cẩm, Phạm Tiếu, Nguyễn Bá. Giáo sư: Nguyễn Phú Quý, Hồ Ngũ. Thông sự Mai Đăng Đề. Trung đẳng Mai Đặng Phái. Y sĩ Nguyễn Quang Diễm 5 đồng. Nguyễn Hữu Trung 5 đồng. Thưởng phó tổng: Hồ Phong, Hoàng Kiềm, Lý trưởng Trần Cao Tỉ, Hồ Bằng, Phạm Chử, Mai Văn Thể, Đoàn Ban, Mai Minh, Trần Xán, Khóa sinh Hoàng Phước, Yếu lược Hoàng Tất Năng mỗi người 1 đồng.

Tổng Phước Tường: Thạch Nham 3 đồng. Phú Hòa 3 đồng. Hội Vực 3 đồng. Thái Lai 1 đồng. Trúc Bàu 1 đồng. Diêu Trì 1 đồng. Phú Hạ 1 đồng. Xuân Lộc 1 đồng. Thúy Loan 1 đồng. Phụng cụng Tú tài Phan Trác 2 đồng như những người dưới đây: Đãi chiếu Tú tài Phan Cử, Cửu phẩm Nguyễn Bính, Giáo sư Trần Trọng 0 3 đồng. Cửu phẩm: Nguyễn Lương 2 đồng, Ông Long 2 đồng, Trần Công Tiến 2 đồng. Nguyễn Tửu 1 đồng như những người dưới đây: Nguyễn Tung, Trịnh Thân, Võ Ngộ, Thưởng chánh tổng Thái Phong. Lý trưởng: Thái Tuyên, Lê Ấm, Trần Xướng. Hương bạ Nguyễn Khiết, Phan Xuyên. Ủy viên Phạm Hân.

Tổng Hòa An: Quan Nam 1 sào 6 thước 5 tấc. Vân Dương 2 sào 3 đồng. Hòa An 3 đồng. Hòa Mỹ 2 đồng. Phò Nam 2 đồng. Hòa Phú 1 đồng. Hòa Phước 1 đồng. Trung Nghĩa 1 đồng. 0 0 1 đồng. Trung An 1 đồng. Nam Định 1 đồng. Nam An 1 đồng. Trường Định 1 đồng. Nghĩa Trung 1 đồng. Phước Lý 1 đồng. Đông Sơn 1 đồng. Thanh Vinh 1 đồng. Tân Định 1 đồng. Hòa Ngọc 1 đồng. Hòa Sơn 5 hào như những người dưới đây: Nhơn Hòa, Trung Sơn. Kiểm bạ Trần Ngọc Huyên 1 đồng như những người dưới đây: Tú tài Lê Luyện, Cửu phẩm Nguyễn Như Thức, Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hoàng. Nguyễn Ngọc Khiết 2 đồng. Nguyễn Như Cơ 2 đồng. Thí sinh Mai Xuân Tiên, Cù Lâm Hà, Thục Hiên mỗi người 2 đồng.

Đà Thành: Hồng lô tự khánh Nguyễn Duy Nhạc 2 đồng như những người dưới đây: Nguyễn Văn Miên, Thị độc Nguyễn Văn Mẫn, Phạm Thái Y, Đặng Xuân Mục. Ngũ phẩm Nguyễn Văn Phấn 3 đồng. Lục phẩm Trần Văn Võ 5 đồng. Kiểm thảo Võ Hồ Kiệm 2 đồng. Bát phẩm Nguyễn Tác Lâm 1 đồng. Đãi chiếu Lê Văn Hiến 2 đồng. Ấm sinh Lê Công Thâm 3 đồng. Bát phẩm Đinh Luyện ở An Trạch 2 đồng. Nguyễn Như Cẩn ở Chu 0 2 đồng. Nguyễn Nhược ở Ái Nghĩa 1 đồng. Bát phẩm y sĩ Nguyễn Mẫn ở Tứ Câu 1 đồng. Cúng phụng Tú tài Nguyễn Phú Nghĩa ở Quảng Xuyên 5 đồng. Đãi chiếu Tú tài Nguyễn Đình Huy ở Duy Xuyên 2 đồng. Quan viên phụ Lý Xâm ở Minh Hương 1 đồng. Cửu phẩm: Nguyễn Yên ở Quảng Xuyên 2 đồng, Hoàng Thao ở Phú Quý 1 đồng, Đặng Xuân Quang ở Hòa Mỹ 1 đồng, Viên tử Nguyễn Hữu Công ở Quý Hương 1 đồng. Y sĩ Phạm Chu Tuân ở Cẩm Sa 3 đồng. Lê Cương ở Giao Thủy 1 đồng. Hương mục Đinh Tiền ở An Trạch 2 đồng. Đà Thành Lý trưởng Nguyễn Đức Thành 2 đồng. Chủ thợ đá Nguyễn Văn Mạn 5 đồng. Xuyên Thịnh hiệu 2 đồng. Phước Thái hiệu 2 đồng.

Tổng cộng: 12 mẫu 4 sào 10 thước ruộng, 620 đồng bạc. Trước đó tổng An Phước cúng 80 đồng bạc. Quan viên, thân hào văn phổ huyện Hòa Vang cùng ghi./.

 

[1] Mất 1 đoạn khoảng 10 chữ

[2] Mất và mờ 1 đoạn khoảng 20 chữ

[3] Mất 1 đoạn khoảng 5 chữ

[4] Mất chữ do bia bị hỏng

[5] Mất nhiều chữ

[6] Mất nhiều chữ

[7] Nguyên văn có thêm bộ ngọc 玉ở trước

[8] Mất nhiều chữ

[9] Mất nhiều chữ

[10] Mất nhiều chữ

[11] Nguyên văn có thêm bộ ngọc玉ở trước

[12] Nguyên văn có thêm bộ mộc 木 ở trước

[13] Mất nhiều chữ

[14] Mất nhiều chữ

[15] Nguyên văn có thêm bộ “ngọc” 玉 ở trước.

[16] Mất nhiều chữ

[17] Mất nhiều chữ

[18] Mất nhiều chữ

[19] Mất nhiều chữ

[20] Nguyên văn có thêm bộ ngọc 玉ở trước

[21] Mất nhiều chữ

[22] Nguyên văn có thêm bộ ngọc 玉ở trước

[23] Nguyên văn có thêm bộ “ngọc” 玉ở trước.

[24] Nguyên văn có thêm bộ “ngọc” 玉 ở trước.

[25] Nguyên văn có thêm bộ “mộc” 木ở trước.

[26] Nguyên văn có thêm bộ “ngọc” 玉ở trước.

[27] Nguyên văn có thêm bộ “ngọc” 玉 phía trước.

[28] Nguyên văn có thêm “ngọc” 玉 ở trước

[29] Nguyên văn có thêm “ngọc” 玉 ở trước

[30] Tiếng địa phương đọc là Quá Giáng.

[31] Tiếng địa phương đọc là Giáng Đông.

[32] Nguyên văn có thêm bộ “ngọc” 玉 ở trước.