Tác giả Quế Hương

Quế Hương

QUẾ HƯƠNG

Tên thật: Hoàng Thị Thương. Sinh ngày 19/1/1950. Quê quán: Huế. Hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006. TÁC PHẨM: Đôi chân biết khóc (tập truyện ngắn), NXB Phụ Nữ, 1994. Quán Búp Bê (tập truyện ngắn thiếu nhi), NXB Kim Đồng, 1996. Có Miu trong nhà (truyện vừa), NXB Trẻ, 1997. Thư gửi thời gian (tập truyện), NXB Công an Nhân dân, 1998. Bí Đỏ và… (truyện vừa cho trẻ em), NXB Kim Đồng, 2001. Đám cưới Cỏ (tập truyện ngắn thiếu nhi), NXB Kim Đồng, 2004. 27 truyện ngắn của Quế Hương, NXB Phụ Nữ, 2004. Truyện ngắn Ngân Hoa – Quế Hương – Đỗ Bích Thúy, NXB Phụ Nữ, 2007. Chiếc vé vào cổng Thiên đường xanh, NXB Trẻ, 2009. Ngồi chơi với bụi (thơ), NXB Thuận Hóa, 2009. Đóa hoa không gai và con cừu không rọ mõm, NXB Phụ Nữ, 2010. Gặp lại ấu thơ (tập tản văn), NXB Văn hóa Văn nghệ, 2011. GIẢI THƯỞNG: Giải Nhì (không có giải Nhất) cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Sông Hương, 1993. Giải thưởng truyện ngắn hay Tạp chí Văn nghệ Quân đội, 1996. Giải Nhì cuộc thi sáng tác thơ, truyện cho trẻ em do Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, UNICEF Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức 1996-1997. Giải Nhất cuộc thi sáng tác văn học vì trẻ em do Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, UNICEF Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức 2000-2001. Quán Búp Bê (tập truyện ngắn): Tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, 1997. Giải Nhì cuộc thi “Mối tình đầu của tôi” do Tạp chí Kiến thức Ngày nay và Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức 1999. Giải Nhất cuộc thi viết truyện ngắn cho thanh niên, học sinh, sinh viên do NXB Giáo dục và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức 2004. Giải Tư truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội (2005-2006).

APSARA HOANG DẠI
(Truyện ngắn)

1.
Trở lại Mỹ Sơn nhân ngày hội của đất Quảng, tôi được xe của khu du lịch đổ xuống tận chân tháp. Hoang phế, lãng quên, vùi dập đã lùi vào dĩ vãng. Khu di tích đền tháp ngày nay là viên ngọc quí lấp lánh huyền hoặc. Quần thể kiến trúc độc đáo bằng đất nung và đá trải dài liên tục gần thiên niên kỷ của vương quốc cổ Champa đã được công nhận là di sản văn hoá thế giới dẫu chỉ còn một mảnh hình hài thương tật. Vẫn đầy mê hoặc. Đẹp đến thương tâm.
Xưa chỉ có những con người chay tịnh hằng tháng trời mới được đặt chân lên đất thánh. Giờ thì mọi du khách đều được khu du lịch “chắp cánh” để vào thung lũng thần linh. Thế mà tâm hồn tôi vẫn không chịu “bay”, cứ đau đáu nhọc nhằn men theo kỷ niệm…
– Người Chăm dùng voi kéo gỗ và gạch đá trên con đường này đây! – Một vị đưa tay chỉ con đường đã hiện đại hoá đang bị chiếc xe du lịch nuốt chửng.
– Người ta bảo những vết lõm núi do đục lấy sa thạch, những thửa ruộng lấy đất làm gạch xây tháp vẫn còn.
– Giá mà viếng khu đền tháp bằng xe trâu nhỉ?
– Rõ dại! Thế này hơn chứ. Về quá khứ bằng phương tiện hiện đại.
Người họa sĩ râu tóc man dại chào tôi với nụ cười trắng loá trong nắng. Những trang Nhật ký bằng tranh xé ra từ cõi lòng sâu nặng với văn hoá Chămpa dựng rải rác quanh đó. Sơn dầu, bút sắt hay Acrylic chúng đều có tên Mỹ Sơn. Mỹ Sơn 1, Mỹ Sơn 2, Mỹ Sơn 3… Tôi thích mảng tranh bút sắt của anh – Linga đường bệ trơ trọi, mảnh tháp thương tích lơ phơ ngọn cỏ gió đùa, đôi mắt vời vợi, tít tắp, lung linh ánh lửa u uẩn huyền bí của hậu bối nghệ sĩ Chăm xưa…
– Bán được mấy bức rồi?
– Chỉ mấy lần ba chân bốn cẳng khuân tranh chạy. Dạo này thung lũng cứ mưa chiều – Anh trả lời, nụ cười trong râu an lạc hiền hoà. Dường như ra ai mê Mỹ Sơn cũng phảng phất nụ cười an nhiên của đá.
Tôi rời mắt khỏi những bức tranh bởi tiếng trống bập bùng mời gọi.
– Đến xem đi! Không phải khi nào cũng được coi múa Chăm trên nền tháp cổ. Họ sắp đi rồi – Người họa sĩ giới thiệu.
Trên nền tháp, một vũ nữ đang múa. Chậm rãi và uyển chuyển, dường như cô không dùng sức mà dồn hết tâm ý vào động tác. Nhẹ nhàng tĩnh tại mà cứ khiến tâm hồn người xem bập bùng nhảy múa. Du khách đứng quanh như bị hớp hồn theo pho tượng Chăm biết cử động.
Điệu múa đã chấm dứt nhưng khát vọng hoá thân thành tượng vũ nữ thiên tiên Apsara đã tạc người nghệ sĩ vào nền ngôi tháp cổ đổ nát. Váy áo dát nắng vàng, nét mặt đắm chìm trong hoan lạc tự tại, cô không còn thuộc về thế giới phù hoa hư ảo của trần thế, không còn nghe tiếng vỗ tay rào rào của khách tham quan thánh địa.
Tôi ngắm cô. Sững sờ thấy dưới bờ mi phải giọt nước mắt đen quen thuộc. Phải em đấy không, Apsara hoang dại ngày ấy?
Nữ nghệ sĩ múa Chăm trước mặt tôi không còn trẻ nhưng nõn nà, đầy đặn, gương mặt đẹp phảng phất nỗi buồn lưu lạc. Còn em… Trồi lên từ ký ức tôi là con bé chăn bò gầy đen như que củi, tóc cháy nắng, đói khát quanh năm. Một giọt lệ đen dưới bờ mi phải.
“Vũ nữ thiên tiên” sắp bay về trời. Dàn nhạc đệm cho cô đang thu xếp kèn trống. Không dằn lòng được, tôi buột gọi: “Apsara hoang dại!”.
Cô quay phắt như bị điện giật.
Là em.

2

“Đồ con rắn, hở chút là lủi vô cỏ!” – Lão già nhìn quanh rủa rồi đưa tay lên miệng: “U…u…u….u…”. Tiếng hú vừa dứt, một cái bóng nhỏ nhoi với đuôi tóc đong đưa theo bước chạy xuất hiện. Khi bóng rõ thành con bé gầy đen, lão già vung tay. Cái roi rít lên một tiếng lạnh người. Con bé chỉ kịp đưa tay che mặt. Lằn roi bỏng rát vắt chéo qua sườn để lại một vệt dài rướm máu. Nén đau, nó lủi thủi cầm mấy cái can nhựa ra giếng. Múc đầy nước nó dắt con bò già đến ra hiệu nằm xuống buộc lên lưng.
“Lấy tiền. Cho bò ăn. Kiếm củi và…thứ chi đó đem về”.
Xong mệnh lệnh lão vung roi. Con bò ì ạch bước. Con bé lật đật chạy theo. Lão già vói theo: “Kiếm được thì về ăn cơm, không thì ăn cỏ”.
Con đường mòn ngoằn ngoèo như con rắn khổng lồ men vách núi bò xuống thung lũng Mỹ Sơn dài khoảng 6, 7 cây số. Lội qua khe Thẻ, vạch lau lách cao quá đầu người… Nhưng con bé quen rồi. Bao lần kiếm củi, chăn bò, bao lần trốn lão cụt vào khu đền tháp tràn ngập tiếng chim và gạch đá im lặng. Dọc đường con bé cho vào miệng những thứ có thể ăn được. Từ khi vào thung lũng với nhiệm vụ mới, nó thường bị đói. Lão cụt thấy nó về tay không với con bò bụng no cỏ chở đầy củi là nó bị nhịn. Đêm đói cồn cào không ngủ được, nó như con chuột sục tìm cái ăn mọi xó xỉnh. Gạo sống, sắn khô, những củ khoai non nhổ vội trong bóng tối… Không dễ dàng gì đánh cắp cổ vật đào xới vì họ canh phòng kỹ lưỡng. Nó cũng không muốn lấy của thần linh. Bọn trẻ chăn bò thường kể chuyện ma Hời trừng phạt những kẻ lấy cắp đồ thánh. Sớm muộn gì cũng chết thảm. Để được ăn cơm thỉnh thoảng nó cũng đem về một vài mảnh tượng vỡ nhặt trong đống gạch đá. Lão cụt không hài lòng nhưng cũng để đấy đợi dịp bán cắt cổ khi người ta cần. Vừa nhấm nháp sim chín, đọt mâm xôi nó vừa hái hoa. Nó thích có một bó hoa dại còn lóng lánh sương và đẫm tiếng chim. Khi thung lũng thần linh hiện ra lộng lẫy trong nắng sớm, huyền bí trong sương bạc, con bé dừng chân. Nó không hiểu được vẻ đẹp của những ngôi tháp lở lói rêu phong kia nhưng nó vẫn bị mê hoặc. Cái đống hoang tàn đổ nát bằng gạch đá đó chắc phải giá trị lắm ông Tây to đùng râu ria xồm xoàm như người rừng và bao nhiêu người nữa mới bỏ nhà cửa vào lũng dựng lán nghiên cứu tu sửa. Lão cụt cũng bảo trong đó có nhiều thứ quý giá vì đó là thánh địa ngàn năm của người Hời. Dưới nền tháp cổ có vàng. Những pho tượng đá cũng có thể đổi thành vàng. Gặp dịp là chôm, nhặt. Mày nhỏ không ai để ý.
Lão đã đào nhặt cho đến khi một mảnh mìn cắt cụt một tay như lời cảnh báo mà vẫn không chừa nỗi khát khao đổi đời từ kho báu của ma Hời. Khi khu đền tháp trở thành công trường trùng tu, cấm dân đào xới, lão nghĩ đến nó…
– Con câm đem nước tới!
– Khát quá tui uống nước suối rồi. Chết biết liền.
– Ông kiến trúc sư bảo chỉ tắm rửa, khoan uống. Chất độc hóa học từ những cánh rừng đầu nguồn nước trong chiến tranh có thể làm con suối nhiễm độc.
– Coi nó thồ nước từ làng vào khổ nhọc chưa tề! Ra đỡ cho nó.
Cái lán nhỏ bằng tranh tre và tiếng người ồn ã khiến thung lũng ấm sự sống và hơi người. Từ khi có họ, con bé rất thích vào khu đền tháp. Đám người kia ngại uống nước suối nên nó mới có công việc thồ nước. Nó ngồi đợi lấy tiền và trong thâm tâm nó đợi ông Tây tốt bụng, có nụ cười dễ mến trong râu.
Ông Tây sau khi lội quanh các tháp đang sải những bước dài mạnh mẽ về phía lán. Trước khi chở nước cho đội trùng tu, con bé cũng đã gặp ông một lần trong thung lũng. Ông Tây to lớn rậm râu, da đỏ au ấy rất hiền. Ông ta bập bẹ tiếng Việt với lũ trẻ chăn bò, còn về lán lấy suất cơm trưa của mình cho chúng khi chúng ăn thòm thèm gói cơm ghế sắn chấm muối đem theo. Thấy nó đứng một mình lại chẳng có gì ăn, ông Tây đã cho nó một gói mì ăn liền. Đó là của ngon đầu tiên nó nếm trong đời ngoài cơm độn khoai sắn và quả dại. Hương vị gói mì và ánh mắt ấm áp của người cho đọng mãi trong lòng nó nỗi dịu êm chưa từng thấy.
Ông Tây chào nó với nụ cười nhân hậu trong râu. Nó rụt rè đưa cho ông bó hoa dại giấu sau lưng.
“O! Đep lam! Cam…on!(1)”
“Con câm biết tặng hoa cho thủ trưởng trời ạ!”
“Múc cho nó chén cháo! Nó phải đói lắm, chỉ thấy da với xương”

3

Năm 1978, khu đền tháp Mỹ Sơn được khai quang và tháo gỡ mìn. Bị rừng rậm nuốt chửng 5 thế kỷ rồi bom đạn vùi dập mấy mươi năm, thánh địa ngàn năm rực rỡ huy hoàng của vương quốc Champa ngày ấy giờ hoang vu, đầy mìn và rắn độc. Cả rừng tháp cổ đứng kề nhau trong thung lũng tuyệt đẹp bọc tứ bề núi nay chỉ còn khoảng 20 tháp. Không cái nào nguyên vẹn. Hoặc sụm xuống cả cụm dưới trận mưa bom hoặc tật nguyền, lỗ chỗ thương tích. Đỏ rực trong chiều tà những ngôi tháp lở lói vẫn như những ngọn lửa khát vọng đang cháy – Cháy trong thăng trầm dâu bể. Trong núi thẳm rừng sâu. Trong mịt mù quên lãng. Trong bạo tàn bom đạn. Trong ngưỡng vọng muộn màng…
Hai năm sau, Ba Lan và Việt Nam hợp tác trùng tu. Nhân công lấy tại địa phương. Tôi là một kiến trúc sư làm việc trong công trình ấy.
Thung lũng hoang vu bắt đầu ấm hơi người. Phát quang, dọn dẹp, sắp xếp hàng ngàn mét khối gạch đá được khai quật… Bề bộn, cực nhọc và nguy cơ chạm mặt với tử thần bởi bom mìn còn sót lại nhưng thật vinh dự. Chúng tôi bê lên từ đống đổ nát những mẩu thịt da tươi nguyên của một nền văn hoá, xót xa trước những mẩu vỡ, reo mừng trước một tác phẩm điêu khắc đẹp không tả xiết bởi đôi tay nghệ nhân đã thành cát bụi. Công việc quyến rũ đến nỗi không ai nhớ đến hiểm họa chiến tranh còn lẩn quẩn bên mình. Ông kiến trúc sư người Ba Lan, trưởng dự án trùng tu Mỹ Sơn suốt ngày quần soóc, ở trần, bất chấp muỗi, rắn, nắng thiêu đốt đo chụp, ghi chép, phác họa từng chi tiết vào sổ tay và luôn miệng thán phục: “Très intéressant!”. Để đỡ thì giờ đi lại, ông ở lại Mỹ Sơn ngủ dưới vòm tháp. Đời người dễ gì được ngủ “khách sạn ngàn sao”, được ru bằng nhạc dế, được mơ thấy vũ nữ Chăm ngực trần trong đá bước ra dưới trăng mờ.
Chúng tôi thảy đều bị thế giới gạch đá điêu tàn ấy mê hoặc. Tôi hay lang thang khi xong việc. Trong thinh lặng, tôi có cảm giác hoa lá kỳ ảo nảy nở, bắt gặp ánh mắt phù phép của đạo sĩ trên đài thờ hoặc nụ cười hoan lạc của vũ nữ thiên tiên trên đá. Ông kiến trúc sư thích ghi chép bằng hình vẽ, phác họa mọi thứ vào sổ tay. Duy gạch Chăm thì săm soi từng mạch gạch, nhặt nhạnh từng mảnh vỡ còn nguyên vẹn niềm kiêu hãnh và bí mật mong tìm lời giải đáp: Làm sao người xưa không cần sử dụng vật liệu kết dính mà vẫn dựng nên đền tháp ngất ngưởng với thời gian thế kia?
Hội Những kẻ Chàm ám mới gia nhập thêm hội viên. Một ông già người Chăm từ Phan Rang ra Mỹ Sơn hành hương xin ở lại giữ tháp và một con bé chăn bò. Con bé rất khó đoán tuổi. Hình hài còi cọc, phẳng phiu như đứa trẻ lên 10 nhưng đôi mắt hoang dại mênh mang buồn. Hỏi gì nó cũng không nói, cứ nhìn chăm chắm như sợ người ta cắn. Chúng tôi gọi nó là con câm.
Một bữa khi lang thang cùng ông kiến trúc sư, chúng tôi bắt gặp con câm bỏ mặc bò ăn cỏ, mê mải bắt chước dáng điệu của một vũ nữ chạm khắc trên đá. Hai cánh tay gầy đen đủi của nó dang rộng, mặt ngẩng say sưa. Bộ ngực lép kẹp ưỡn cong phô những rẻ sườn. Nó đắm chìm rất lâu trong tư thế ấy. Ông kiến trúc sư giỏi ký họa ngẩn người xúc động trước giấc mơ vịt con xấu xí biến thành thiên nga, lấy sổ tay hí hoáy vẽ. Khi phát hiện ra chúng tôi, “dải lụa” trên tay con bé lập tức trở nguyên hình cọng cỏ tranh sắc nhọn rơi xuống đất. Nó xấu hổ lùi lũi dắt bò đi. Sau đó ông kiến trúc sư biến bức phác họa thành tranh màu nước treo trên vách lán. Apsara hoang dại trong tranh không có nét tươi tắn duyên dáng và thân thể căng trào sự sống như trên đá. Mảnh như cọng cỏ, áo quần tóc tai tơi tả nhưng vẫn có gì lôi cuốn ở khát vọng hoá thân cháy bỏng.
Sáng hôm sau vào đổ nước, con câm ngẩn người ngắm nó trong tranh. Phải lâu lắm nó mới dời mắt dắt bò đi rồi đột ngột quay lại, đến trước chúng tôi, hết chỉ vào tranh lại chỉ vào nó.
– Hắn muốn đổi bò lấy tờ giấy vẽ hắn! – Một anh chàng đùa rồi đến dắt con bò.
Con câm giằng lấy sợi dây cột bò, tức tối bặm môi, ngửa cổ. Từ cái miệng câm lặng của nó đột ngột vọt ra tiếng: “N…ư…ớ..c…!”.
Rời rạc, choi chói, những âm tiết đẩy nhau ra khỏi cổ họng đang căng như dây đàn nắm tay nhau đứng dậy liêu xiêu ngân rung trong nắng. Con câm như vừa thoát khỏi cơn đau đẻ. Mặt đỏ bừng, mồ hôi rịn đầy trán, lưỡi môi còn rung cong bởi sức nặng của cái tiếng khó nhọc vừa ném ra nhưng mắt nó thì ngời ngợi như nữ thần chiến thắng.
– A, hắn nói được!
– Rứa mà tưởng câm!
– Hắn rặn ra được một tiếng thủ trưởng ơi! – Anh chàng tếu táo chỉ về phía con bé khốn khổ và gập người nhại lại tiếng “N…ư..ơ..c” của nó. Tuy chỉ biết lõm bõm tiếng Việt, con người to lớn có đôi mắt màu biển xanh và bộ râu của ông già Noel vẫn hiểu anh kia nói gì. Ông ta đến trước con câm và chỉ vài động tác tay đã khiến bộ mặt nhăn nhó của con bé gầy nhom giãn dần. Nó gật đầu lia lịa, còn cười bằng mắt. Thì ra nó muốn đổi bức Apsara hoang dại lấy nước. Bao nhiêu nước cũng được.
Apsara hoang dại không còn treo trên vách lán nhưng con bé vẫn được trả tiền chở nước. Nó còn có bạn để chuyện trò bằng ngôn ngữ cử chỉ. Thỉnh thoảng tôi gặp hai người bên thềm tháp. Như tạ gạo bên que củi. Tạ gạo đang ra sức dạy cho que củi phát âm. Ông bảo con bé không câm bẩm sinh, có lẽ chỉ câm sau một biến cố nào đó quá lớn mà thôi. Phải giúp nó nói trở lại.
Con câm có nụ cười tuyệt xinh nhưng hiếm hoi nở trên môi. Chúng tôi cho nó ăn, dạy nó nói. Còn nó cho chúng tôi những trận cười, giò phong lan tuyệt đẹp, nhánh dành dành tim tím, cành lau trắng ngả nghiêng. Con bé giống viên gạch Chăm, nói nhiều điều trong câm lặng.

4

Con câm nói trở lại vào ngày bị rắn cắn. Hồi ấy Mỹ Sơn nhiều rắn lắm. Thường chúng không cắn người. Nhưng con bé say sưa học múa với tượng đã dẫm phải nó. Con bé nhào ra đám người đang làm việc thét lanh lảnh: “Rắn! Rắn!”. Mọi người chẳng ai để ý nó nói trơn tru bởi họ bận nhào vào cứu chữa. Ông kiến trúc sư xé ngay áo cột ga rô, rửa vết cắn. Định bế nó chạy ra bệnh viện huyện thì ông già Chăm xuất hiện. Ông bảo thời gian ra đến bệnh viện đủ nọc độc vô tim. Thấu tim là vô phương cứu chữa. Thà để nó cho ông. Con bé nghe nói trườn ra khỏi tay bế nằm trên thềm tháp mở to đôi mắt khát sống nhìn ông già. Rồi từ cửa miệng nó bật ra cả câu, rõ ràng từng âm tiết: “Đừng để cháu chết!”.
Nó nói lại thế đấy. Trơn tru, mạch lạc như chưa hề câm lặng.
Con bé được uống thuốc gia truyền tẩy nọc của ông già Chăm và đắp chữa vết thương. Nó chịu đựng thật dũng cảm những cơn đau khủng khiếp do nọc rắn gây ra. Đau lắm! Gió thổi bay sợi tóc cũng đau. Quằn quại.
– Lủi vô cỏ thì ráng đỡ – Lão già cụt tay vào bảo.
– Hắn đau dữ rứa mà không thương. Bộ con câm không phải cháu ông hả?
– Cháu nhặt. Tui nhặt hắn trong khu đền tháp, bên cạnh mẹ hắn đã chết nổi dòi rồi. Lúc ấy hắn khoảng 4, 5 tuổi, cứ rúc vào mẹ nó mặc dòi bò trên mặt. Tui đem hắn xuống suối tắm. Cũng không nghe hắn khóc. Đem về nuôi. Cũng chưa hề nghe hắn nói dù cái chi hắn cũng hiểu. Con ni lì lắm! Trời đánh không chết mô!
Con câm quay mặt khi ông già nói. Không hiểu sao, tôi cũng không thích lão. Có lẽ vì những lằn roi lão dành cho con bé thỉnh thoảng lộ qua manh áo rách…
Ông già Chăm trở nên nổi danh vì rắn. Ngoài tài chữa rắn cắn, ông còn có biệt tài chinh phục rắn độc như một nhà ảo thuật Ấn Độ. Chúng tôi đã được xem ông điều khiển một con hổ mang uốn éo theo tiếng sáo của ông. Ông bảo sẽ dạy rắn canh chừng cổ vật quý hiếm của tiền nhân. Con câm được đổi tên vì nó không còn câm nữa. Ông già Chăm, người cho nó sống lần thứ hai đặt tên nó là Tagiglao, một loài hoa nở rộ ở quê ông vào mùa hội Katê. Còn tôi vẫn thích gọi nó là Apsara hoang dại.

5

Bức tượng sư tử đầu voi rất đẹp tìm thấy trong đống gạch đổ nát đột nhiên biến mất. Ông kiến trúc sư tiếc đến đau đầu. Ban chỉ huy dự án họp bàn những biện pháp ngăn chặn – cấm chăn trâu bò trong thung lũng thần linh, không cho kẻ lạ vào công trường, gom cổ vật cử người canh giữ khi chưa kịp chở về Đà Nẵng…
Apsara hoang dại buồn hẳn. Nó vào từ giã chúng tôi. Mắt đỏ hoe, nó vung tay lia lịa như có vẻ bức xúc lắm.
– Con này tụt lưỡi lại rồi, không nói được nữa! Chẳng hiểu nó muốn gì? Thông dịch viên đi vắng.
Ông già Chăm đến trước con bé, vỗ vỗ vào vai nó:
– Tagiglao,con muốn nói là con không lấy cắp tượng phải không?
Con bé gật đầu oà khóc.
Tối hôm sau, chúng tôi quây quần bên đống lửa uống rượu gạo tán gẫu. Xin xỉn, nằm trên nền tháp nghe dế Mỹ Sơn miên man hòa tấu bản nhạc đêm hoang dã. Gió lùa qua cổ tháp âm u mang theo hơi thở của ngàn xưa. Đêm thơm mùi thiêng liêng của lễ thánh tẩy. Tiếng ngựa xe của đoàn quân chiến thắng trở về dâng chiến lợi phẩm cho thần. Giữa lúc mơ màng tỉnh say ấy tôi bỗng nghe tiếng rên. “Hình như có ai rên. Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than” – Duy trả lời bằng câu thơ Chế Lan Viên. Anh chàng khác phụ họa: “Ma Hời cười đó mà! Nửa khuya như có tiếng cười thâu đêm(2)”. Họ bỗng ngừng đùa vì thủ trưởng đã ngồi bật dậy nghe ngóng rồi chụp cây đèn pin sải những bước dài. Khi chúng tôi theo kịp đã thấy ông quỳ bên một hình hài. Đèn pin soi rõ con bé chăn bò quen thuộc! Nó nằm trên cỏ, ôm khư khư một vật gì đó. Thấy ông kiến trúc sư, nó lẳng lặng đưa cho ông. Dưới ánh trăng ngàn chúng tôi nhận ra bức tượng quý bị mất. Ông kiến trúc sư bế con bé về lán. Nến soi rõ hàng chục vết xước, vết roi, đôi chân trần dẫm đá sỏi, gai góc ri rỉ máu. Nó nằm lả vì kiệt sức nhưng mắt lấp lánh cười. Dường như nó mãn nguyện đã đem pho tượng về trả chúng tôi. O nuôi cho nó uống nước đường và làm một tô mì gói. Nhìn con bé ăn mới hiểu nó khốn khổ đến thế nào. Ăn hối hả như sợ người ta giằng lại. Ăn không sót chút nước, chút vụn mì. Ăn đến đâu hồi sinh đến đó. Mắt sáng lên. Môi đỏ ra. Bờ mi phải đọng một nốt ruồi như giọt lệ đen. Dưới ánh đèn cầy leo lét, tôi nhận ra Apsara hoang dại xinh đẹp và đói khổ đến dường nào. Ăn xong, nó nằm vật xuống ngủ ngay không một lời giải thích. Tấm hình hài bé bỏng tả tơi nói thay nó nỗi hãi hùng trải qua trên đoạn đường rừng xuyên bóng đêm.

6

Con bé chăn bò sợ lão cụt đánh không dám về. Nếu chúng tôi không thương tình cho nó ăn có lẽ nó đã chết đói. Mỗi khi lão cụt hùng hổ vào thung lũng tìm giết đứa nuôi ong tay áo, nó lại chui rúc trốn. Nó trốn chui trốn nhủi cho đến một sớm mai người ta phát hiện lão già tham lam nằm chết gần ngôi tháp làm nhà kho trưng bày, người sưng vù, tím ngắt. Ông già Chăm bảo thần linh trị tội lão.
Dù lão cụt đã chết, chúng tôi đã dùng nước suối, con bé vẫn gần như có mặt thường xuyên trong thung lũng suốt mấy mùa trùng tu. Nó lớn lên như cây hoang dã, trơ trọi, khốn khổ mà vẫn như đóa hoa dại của núi rừng. Nó mê gạch đá không thua gì chúng tôi, chăm chút nhặt nhạnh từng mảnh vỡ trong đống đổ nát đem cho ông Tây vì nó đã từng chứng kiến ông khóc trước một bức tượng vỡ.
Tôi biết con bé vẫn âm thầm học múa với các tượng vũ công, vũ nữ. Nó kiên trì tập đứng cho giống tượng. Đứng được lại tập toè chân, nghiêng người, chỉ tay… Nhiều khi tôi không nhận ra con bé chăn bò khốn khổ. Tay chân nó gầy khô đen đủi, ánh mắt u hoài man dại. Thế nhưng khi nó đứng trước tượng và đắm chìm trong khát vọng hoá thân, bỗng khác hẳn. Nó như được tượng nhập. Ánh nhìn bình thản. Gương mặt lai láng niềm hoan lạc thuần khiết. Những ngón tay cáu bẩn đầy uy lực bởi độ mềm dẻo đến kinh ngạc. Tấm thân lau sậy vẽ những đường cong sóng lượn. Ông kiến trúc sư tiên đoán nó sẽ trở thành người múa Chăm giỏi vì nó lĩnh hội nghệ thuật từ thinh lặng của đá.
Ông già Chăm thương nó lắm, bảo sẽ đem về Phan Rang cho học múa, học hát. Tiếng hát nó trong như suối rừng già, không lẫn tạp âm. Có lẽ vì được ấp ủ, chưng cất trong lòng bao nhiêu năm tháng.

7

Người múa Chăm tài sắc vẹn toàn trước mắt tôi bây giờ là Apsara hoang dại ngày ấy.
Chúng tôi ngồi bên thềm tháp nhắc lại chuyện cũ. Đột nhiên cô bảo:
– Bây giờ em biết vì sao những viên gạch Chăm không cần chất kết dính vẫn gắn chặt nhau rồi!
– Hình như người xưa mài chập để kết dính chúng lại.
– Chúng hôn nhau. Nụ hôn ngàn năm vẫn nóng bỏng khát vọng của một dân tộc!
Tôi ngạc nhiên nghe em nói. Con câm hoang dã luôn sợ người ta cắn ngày xưa bây giờ nói năng suy nghĩ như thế đó!
– Anh còn nhớ ông Tây không?
– Ông ấy người Ba Lan, người ta thường gọi là Kazik.
– Nhưng em thích gọi là ông Tây. Ấn tượng thời thơ dại khó phai mờ. Thỉnh thoảng em vẫn ăn ngấu nghiến một tô mì gói. Bức tranh ông Tây vẽ em, em vẫn giữ. Khi ngã lòng, ngọn lửa khát vọng của Apsara hoang dại lại kéo em đứng dậy. Cứ thế khi ông già Chăm mất, em tự nuôi sống mình, học hành và trở thành người múa Chăm trong đoàn ca múa nhạc dân tộc…
Dấu ấn ông Tây vẫn còn quanh đây – những mảng xi măng hiện đại trên nền gạch rêu phong bí ẩn. Những con tiện bổ sung trên ô cửa sổ cố ý làm khang khác con tiện gốc đứng cạnh như muốn thưa tôi thuộc về hậu thế… Kazik quyết định trùng tu tháp Chăm theo quan điểm hiện đại. Giữ nguyên vẹn di tích gốc, không làm giả, chỉ gia cố kỹ thuật để duy trì hiện trạng. Phần gạch thuộc về dĩ vãng còn xi măng thuộc về công trình tu sửa. Rạch ròi mới cũ phân minh.
– Em có gặp Duy gạch Chăm không?
– Ông ấy bây giờ là Duy tháp Chăm đấy! Có thể làm hẳn một cái tháp Chàm, chỉ thiếu rêu phong!
Tôi ngắm những cộng sinh thiên nhiên phất phơ trên đỉnh tháp, thân tháp. Khát vọng tái tạo những ngôi tháp vang bóng một thời vẫn không nguội lạnh trong lòng những người thương tiếc Mỹ Sơn nhưng hẳn tháp Chàm phải trơ trọi lắm khi đứng ngoài dâu bể thời gian.
– Anh có thấy vệt nắng đi qua đỉnh tháp không?
– Không. Trong này tối thui.
– Thế mà ngày nhỏ ngồi thu lu trong lòng tháp trốn lão cụt, em thấy đấy!… Em tin vệt nắng đi qua đỉnh tháp là do thần linh dạo gót trên trời và em cầu nguyện thần cho em nói trở lại…
– Bây giờ em cầu nguyện gì đi! Tôi cũng cầu đây!
– Anh cầu gì?
– Trăm năm sau thung lũng thần linh vẫn còn tháp Chàm.
– Trăm năm thôi à? Em cầu đến nghìn năm lận!
– Thế em không thấy đền tháp tuy đã trở thành di sản thế giới vẫn ở trong tình trạng phế tích, có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào à? Chắc nhất là cầu thần từng mùa mưa khi chưa có biện pháp trùng tu, bảo vệ!
Tôi cười. Em cũng cười. Bỗng nhận ra không phải ai mê Mỹ Sơn cũng phảng phất nụ cười an nhiên của đá!

11/2003

PHỐ HOÀI
(Truyện ngắn)

Đại học Đà Nẵng, nơi mời ông về thỉnh giảng, khi biết ông muốn thăm phố cổ Hội An đã cho tài xế đem xe đến đón nhưng ông từ chối. Ông muốn đi xe đò hay nói đúng hơn thằng Dậu đòi đi xe đò…
Vẫn loại xe buýt cổ lỗ sĩ từ thuở thằng Dậu đi nhưng người thì ép nhau như mắm. Kẹp ông vào giữa là hai cha con. Ông bố tỉnh bơ hút thuốc phả khói vào không khí sặc mùi xăng. Còn con bé khoảng mười một, mười hai trông rất tinh ranh. Nó quan sát ông rồi bảo: Việt kiều mà đi xe đò! – Thế cháu hay đi xe đò không? – Chủ nhật, lễ hội là gâu( ) – Ngày xưa Phố êm đềm lắm không hội hè chi cả. – Chừ tua-rua( ). Kiếm chác được – Kiếm gì? – Mơ-ni( ). Con bé phát ngôn như trộn món hổ lốn.
Thằng Dậu quay đầu nhìn ra ngoài. Hắn từng háo hức ra khỏi phố cổ đến một thành phố hiện đại và náo nhiệt. Bốn mươi năm sau, vẫn cái vẻ hăm hở không nguội lạnh ấy, ông lại mải mê nhìn những đụn rơm ngất nghểu, những nong sắn khoai phơi vô tư trên mặt đường, những con trâu đủng đỉnh bước không hề mang vẻ tất bật sợ hãi của con người… Băng qua con đường gập ghềnh còn nét thôn dã ấy, ông đi tìm lại thời gian đã mất.

*
Bỏ đôi thùng đã múc đầy nước cho mẹ gánh, thằng Dậu chạy một mạch đến Trường Trần Quý Cáp. Chiều nay công bố kết quả thi tuyển vào lớp đệ Thất( ). Bài làm gần như trọn vẹn, hắn vẫn lo. Hỏng là ở nhà đi bán bánh ít lá gai.

_______________________
(4) Lớp đầu tiên của cấp phổ thông cơ sở

Thủ khoa… Nguyễn Văn Dậu, sinh ngày 10/2/1945… Tai hắn lùng bùng. Tiếng xì xào vang lên. Thằng Dậu con bà gánh nước thuê đó! Đúng mình mà! Thằng bé chui ra khỏi đám đông, chạy một mạch về giếng Bá Lễ. Mẹ đang đặt gánh lên vai. Nước òa ra đất. Mẹ òa ra khóc.
Phần thưởng mẹ dành cho thủ khoa là một tờ mười đồng mới toanh, tờ bạc đầu tiên thằng bé sở hữu. Mẹ bảo ăn gì tuỳ thích. Hắn nắm chặt tờ bạc và ra phố. Hắn đi qua gánh lục tào xá, qua tiệm mì Quảng, cao lầu, qua mẹt xôi ngọt, rổ bánh ít lá gai của con bé gần chùa Cầu. Nước bọt ứa qua kẽ răng nhưng thằng bé cứ đi thẳng. Hắn đi ra bến xe.
Cháu có mười đồng… Cháu muốn ra ngó Đà Nẵng cho biết. Chú cho cháu đi với! – Rứa mi có quay vô không? – Có – Đi khứ hồi mà mười đồng thì bèo quá nhưng tau đang ế khách. Cho mi đi nhưng xuống bến cũng ngồi trên xe nghe chưa! Tau quay vô là mi hết về. Đưa tiền đây, quí ông!
Thằng bé đã nhìn thấy Đà Nẵng từ trên xe – một trời náo động! Hắn tự nhủ nhất định sẽ ra đấy học. Hắn sẽ bay đến những thành phố náo nhiệt và to hơn nữa, bay qua cơ cực đói nghèo bằng đôi cánh học vấn.
Vâng, ông đã bay rất xa! Để bất chợt chiều qua, khi khách sạn dọn tráng miệng bằng món bánh ít lá gai của Phố, con chim hải âu lại thèm làm con chim sẻ, chí chát đánh chuyền bằng âm thanh trên một mái cổ thấp lè tè, rêu phong cũ kỹ. Ông đã ăn lại món thèm thời thơ ấu trong nỗi cồn cào khó tả và bỗng nhớ những đốm sáng lập loè trong nhà xe nơi mẹ ông cô đơn khát khao rít từng hơi thuốc Cẩm Lệ.
Đêm ấy ông ngồi vẽ nguệch ngoạc trên giấy khung trời tuổi nhỏ của mình. Hai dãy phố hẹp thân tình chập chùng mái ngói âm dương uốn lượn. Những ngôi nhà sâu hun hút, nối phố nọ với phố kia dễ dàng như nối quá khứ với hiện tại. Chợt nhận ra tâm hồn mình cũng như nếp nhà cổ cất giữ kỷ niệm ở phố Hoài. Ông vẽ con hẻm có cái giếng Chăm tuổi ngót nghìn năm cho nước ngọt ngào trong vắt. Hồi ấy gần như nhà nào cũng uống nước giếng Bá Lễ. Người ở Phố tin thiếu thứ nước ấy, bát cao lầu trở nên nhạt, chén trà sớm vô duyên. Giếng được rào che chắn bốn bề. Người vào gánh nước đi qua một lối nhỏ. Lấy nước sẽ sàng, không vương vãi, không được tắm. Mẹ thuê một góc nhà vừa kê cái chõng và nuôi ông ăn học bằng nghề gánh nước thuê cho Phố. Mười năm trời, giếng là nguồn sống của mẹ con ông. Ông vẽ cái chõng của hai mẹ con bằng một hình chữ nhật bé tí và chất lên đó những chấm tròn – cái thúng đựng đồ linh tinh của mẹ, cái rương nhỏ bằng gỗ đựng sách vở của ông trong đó có quí nhất là xấp giấy khen và bức tranh phác họa chùa Cầu bằng bút chì, phần thưởng của thầy giáo lớp Nhất( )… Hồi ấy ông nổi tiếng nghèo nhưng thông minh học giỏi. Thị xã nhỏ biết cái thằng bé không cha, con chị gánh nước thuê không chồng, quanh năm suốt tháng đi học với cái bị lát, sách toàn mượn chép. Chép xong coi như học xong.

*

Quý khách vui lòng xuống đây. Mọi phương tiện giao thông đều không được đem vào phố cổ trong ngày hội – bác tài thông báo. Con bé ngồi cạnh tỉnh bơ lôi từ trong bị bộ quần áo cũ rách choàng lên bộ cánh đẹp. Tích tắc, hai vị khách ngồi bên ông biến thành hai nhân vật cái bang. “Bye!” – Con bé nheo mắt tinh quái rồi hai cha con biến mất trong dòng người. Ánh mắt và nụ cười nó khiến ông phải đưa tay sờ túi. Cái ví ông để một ít tiền tiêu vặt đã không cánh mà bay!
Chưa bao giờ Phố đông như thế! Con đường nhỏ bề ngang vừa một chiếc xe bốn bánh ngập tràn khách và phóng viên. Những ngôi nhà rêu phong cũ kỹ, thấp lè tè, sâu hun hút bị khuấy động tỉnh giấc thập thò nhìn những vị khách đẫm sắc màu hiện đại.
“Ông có thấy con chó màu đen có hai chấm vàng ở mắt không… hu… hu… đông quá, nó lạc rồi!” – “Cháu ở mô?” – “Đường Nguyễn Huệ” – “Hay quá! Hồi nhỏ ông cũng ở gần đó. Cháu có biết cô Rêu con thầy Toản không?” – “Cháu không biết. Hu… hu… Milou ơi!”. Ông chợt nhận ra ông đang hỏi thằng bé khoảng mười tuổi, trái tim bé bỏng đang tan nát. Thầy Toản mất lâu rồi. Còn Rêu cũng chẳng phải là tên chị. “Chị thích rêu, màu của Phố! Gọi chị là Tường Rêu!” – “Răng không gọi là ngói rêu?” – Chị tủm tỉm cười khoe đôi lúm đồng tiền xinh lắm.
“Đừng khóc. Ông cháu mình đi tìm”. Ông và thằng bé như bị cuốn đi bởi dòng thác người. Thỉnh thoảng ông nghe tiếng nó nức nở khóc gọi con chó. Gần như cả Đà Nẵng đổ về. Từ thời hiện đại, đi có ba chục cây số để trở lại thời quá khứ nên quá đi chứ! Ông đã chứng kiến trên đường về Hội An những chiếc xe máy của đám thanh niên choai choai sốt ruột lội bừa xuống ruộng để vượt lên cái đám đặc kín mặt đường trong đêm thử nghiệm Ngày phố cổ. Càng về đêm càng nhốn nháo. Người khuấy động Phố. Phố bị che khuất bởi người. Ông ghé vào quán cao lầu ông ăn lần đầu cách đây bốn mươi hai năm. Anh chàng phục vụ đóng bộ áo tàu đen cài khuy với quần jeans và giày đinh bưng tới cho ông một bát.
“Mang tiếng ở Phố mà chừ mới ăn cao lầu lần đầu hả? Tội chưa? Ăn từ từ mới thấm cái ngon. Ngó ri chớ không nơi mô bắt chước được. Thiếu nước giếng Bá Lễ, tro củi Cù Lao Chàm, rau sống Trà Quế, cao lầu dở ẹt!”.
Ông húp nuốt vội vã như thằng bé được ăn bát cao lầu đầu tiên. Cổ nghẹn lại vì hồi ức. Sau này cũng vẫn những món ăn đó, không có chị ngồi trước mặt, hương vị Phố nhạt hẳn.
Hân, Phi, Cẩm, Phô… Dậu. Chị Rêu ngân nga xướng ngược thứ tự năm cái tên đứng đầu lớp trong tháng – 5 tên được miễn phí theo thông lệ của thầy Toản. Thầy vốn là một công chức rất giỏi tiếng Pháp không hiểu vì lý do gì lại nghỉ việc ở nhà mở lớp dạy Pháp văn. Giàu nghèo không kể, con ai không biết, hễ xếp từ thứ nhất đến thứ năm thầy không lấy tiền. Hồi hộp nhất vẫn là đứa đứng nhất. Đứa ấy được con gái kiêm phụ tá của thầy thưởng riêng một món đặc sản Phố. Chị Rêu biết thế nên công bố vị thứ như kiểu người ta công bố kết quả hoa hậu, đứa giỏi nhất sau cùng. Có lần thằng Dậu đã khóc nức nở khi bị tước niềm vui lớn đó. Chị Rêu mắng: “Con trai mà mu khóc( ), tham ăn. Mi ăn hoài để cho đứa khác ăn với chứ! Con khỉ!”.
Con khỉ năm ấy mười ba còn chị Rêu mười tám có đôi má lúm đồng tiền và tiếng-cười-bánh-đập. Cười đã xinh mà nghe cười còn mê hơn nữa. Xốn xang rộn ràng. Chị thích những món có bánh tráng còn thằng Dậu thích nhìn chị ngồi ăn bánh tráng nướng ở góc đường. Chị ăn như đứa bé. Tần ngần khi bẻ mảnh đầu chiếc bánh tròn vành vạnh điểm những “vì sao” hột mè sau đó mê mải, giòn tan, say sưa cho đến mẩu cuối cùng. Người Quảng thích bánh tráng. Nhưng hắn chưa thấy ai ăn bánh tráng với ánh mắt long lanh, với niềm vui thơ trẻ giòn tan say đắm như chị.

*

Chị yêu cũng giòn tan say đắm. Chị yêu thầy Tường dạy Văn nổi tiếng thị xã. Chị mê thầy như hầu hết những đứa con gái học thầy nghe thầy dạy Truyện Kiều. Thầy giảng Kiều như kẻ bị Kiều ám. Thầy thuộc Kiều như kẻ ngoan đạo thuộc kinh. Thầy vẽ cả sơ đồ mười lăm năm lưu lạc của nàng Kiều. Cứ nghe thầy thao thao bất tuyệt về tình yêu của Kiều và chàng thư sinh Kim Trọng tụi học trò há hốc miệng. Rồi hết học hết mê. Chị Rêu không thế. Hết học thầy, chị tiếp tục có mặt trong giờ Văn của thầy bằng cách nghe kể lại. Chị thương thằng Dậu vì hắn nghèo mà học giỏi và vì…hắn đang là học trò cưng của thầy Tường! Buổi nào có giờ Văn, chị túm hắn bắt tường thuật. Từ cái áo thầy mặc, đến bài thầy giảng, lời mắng mỏ khen chê học trò… Chị trả công tường thuật bằng sách. Chị cho hắn mượn sách của chị và đôi khi còn cả gan lén cho hắn mượn một đôi quyển trong tủ sách của cha mình. Thầy Toản quý sách hơn cả của cải. Sách được xếp ngay ngắn trong tủ, đánh số, xếp thứ tự theo từng loại nên nhìn vào biết ngay thiếu đủ. Ngôi nhà cổ thâm nghiêm trở nên thân tình và đầy mê hoặc. Hắn thích sờ vào những đồ vật gợi dĩ vãng hào phú sang trọng, ngắm những kèo cột chạm trổ tinh vi, kinh ngạc về vẻ đẹp thách thức thời gian của chúng. Thầy Toản ngoài giờ dạy thường ra hậu viên chăm sóc cây kiểng và hòn non bộ. Vũ trụ được thu nhỏ trong vuông sân, khoảng trời bé bằng manh chiếu. Căn nhà ấy hẳn già cỗi và lặng lẽ lắm nếu không có tiếng cười của chị Rêu. Dường như để át tiếng thì thầm của quá khứ trong mọi góc xó, chị cười to lắm. Tiếng cười không tan ngay mà vang vọng như trò cút bắt trong rường cột, tường vách rồi ẩn trong tâm hồn thằng Dậu. Hắn thích nghe chị cười chị nên giành mẹ đổ nước cho nhà thầy. Trông hắn cõng nước, chị Rêu không thể nín cười được. Hắn còn cố ý ve vẩy như mụ đàn bà để chọc chị cười. Đổ nước xong chị Rêu thường mở vung nồi cơm cho hắn một khoanh khoai Trà Đõa mật vàng ươm, nóng hôi hổi. Hắn ngồi ăn, còn chị ngồi hỏi chuyện thầy Tường. Chị kể hồi ấy, chị ngồi gần cửa sổ. Suốt giờ học chị chống tay lên má say sưa quan sát sự chuyển động của cục yết hầu thầy, nơi phát ra những ngân rung sâu thẳm. Khi giảng bài, ánh mắt thầy thường tìm chỗ đậu như để neo lại nếu thầy đi quá xa. Vô tình đúng chỗ chị Rêu ngồi, bên cửa sổ lớp. “Thầy nhìn chị mà!” – Chị Rêu khăng khăng. Thằng Dậu cũng khăng khăng: “Chừ em ngồi chỗ nớ. Thầy cũng nhìn em”.

*

“Thị xã như sân khấu” – Người khách bước bên cạnh ông nói – “Đêm diễn hoành tráng đấy chứ! Trên cạn, dưới nước, đủ mọi loại hình văn hoá. “Theo tui mọi ngày ở đây đều là ngày phố cổ. Làm ri tuy yêu Phố nhưng lại khuấy động không khí cổ tự nhiên của Phố. Du lịch phát triển, tui sợ Phố không còn là Phố ngày xưa…”. “Rứa xa Phố Hoài bao lâu rồi?”. “Hai mươi sáu năm”. “Còn tui…bốn mươi năm!”.
Bốn mươi năm, đủ để đời người vụt qua, để nước dưới cầu cạn. Dưới mắt các nhà khoa học, sau bốn thế kỷ tồn tại chùa Cầu đang bị lún nghiêng, già rạc nhưng dưới mắt ông, trong ánh sáng huyền ảo dịu dàng của những ngọn đèn lồng, cầu vẫn diễm lệ như mỹ nhân cổ. Chị Rêu đứng bên tê cầu, gần tượng hai chú khuyển. Tóc chị buộc túm bằng khăn mù xoa trắng. Má chị hồng và mắt chị long lanh. Thằng Dậu đứng bên ni cầu, cạnh tượng hai chú hầu. “Mi ngó tề! Hai con khỉ ngó hai con chó mấy trăm năm rồi không chán nhau!”.
Khuya. Hội tàn. Người hăm hở về rồi lũ lượt đi. Còn những ngọn đèn lồng thức trước hiên vỗ về mấy dãy phố cổ chưa kịp hoàn hồn bởi đông đúc náo động bằng thứ ánh sáng mờ ảo xao xuyến. Phố lấy lại vẻ rộn ràng trong yên tĩnh. Nhà thồi thụt, mái lô nhô, những nét lượn mềm mại, nao lòng. Loanh quanh luẩn quẩn cho lòng bớt sóng sánh, ông về lại nhà thầy Toản. Ông nhận ra ngôi nhà bởi vẻ tàn tạ cũ kỹ và bướng bỉnh kiêu hãnh của nó. Vẫn hai cái bát quái lót vải điều tròn xoe như mắt cửa ngoái nhìn quá khứ và canh chừng hiện tại. Vẫn bậc thềm, ngưỡng cửa, vách gỗ tự tại trong cũ càng. Tựa lưng vào quá khứ, ngôi nhà vẫn tạo cho ông cảm giác bí hiểm và cuốn hút như ngày nhỏ. Hồi còn sống, thầy Toản không bao giờ để bàn tay nào chạm vào tu sửa. Thầy theo Tây học nhưng ngọn gió thời đại dường như không lọt qua nổi hai ô cửa nhỏ trên cái gác thấp lè tè, nơi những bức tranh cổ họa về hoa, điểu, tứ thời, bát tiên… của ông cha án ngữ. Mùi xạ thơm dường như vẫn phả ra từ căn gác tối sâu hun hút ấy. Thỉnh thoảng khi thầy vắng nhà, thằng Dậu được chị Rêu cho lên gác thăm lão đầu hói, mặt tròn, cười trong râu mà chị giới thiệu là lão Đạt Lai Lạt Ma. Hắn thích lão lắm. Trông lão thật sống động từ cái liếc mắt đến nụ cười, dáng vẻ đến nếp áo. Cái vẻ hồn nhiên tự tại của lão rất dễ thân thiết.
Ông ngồi tựa vào vách. Còn thằng Dậu nhào qua lần cửa đóng đi tìm chị Rêu, đi thăm lão đầu hói, thăm tủ sách, nơi hắn đã từng ước mình là con mọt để chui vào… Ông vuốt ve những khe gỗ nứt nẻ bởi thời gian và có cảm tưởng nghe chúng đáp trả bằng tiếng thì thầm bí mật của xa xưa.

*

– Trò Dậu, trò lấy ở mô những bài thơ vịnh các nhân vật truyện Kiều rứa? – thầy Tường cầm quyển vở thuyết trình hỏi.
– Dạ… trong sách.
– Cho thầy mượn một hôm được không?
Nghe hắn kể, chị Rêu hối hả bảo hắn đưa sách cho thầy, còn nảy ý tặng luôn cho thầy bản Kiều cổ mà ba chị rất quý. Thằng Dậu được giao nhiệm vụ trao sách với lời dặn: đừng nói tên thật của chị vì hồi học với thầy chị dốt Văn lắm! Hắn mở trang đầu đọc dòng chữ nắn nót: “Thương quí tặng thầy, người dạy Kiều hay nhất. Học trò cũ: Tường Rêu”.
– Học trò của thầy không có đứa mô tên ri cả. Tên ngộ quá hè! – Thầy Tường ngỡ ngàng.
– Thầy khen rứa hả? – Chị đỏ mặt như nhận một lời tỏ tình.
Niềm vui âm thầm nhảy múa suốt mùa đông bởi cứ sau mỗi cơn mưa, chị lại rủ thằng Dậu đi ngắm phố rêu. Màu thời gian không xanh. Màu thời gian tím ngát…( ). Còn với chị, màu thời gian xanh mướt. Từ mái đến tường, từ hẻm đến phố chợ… tất cả được khoác tấm áo nhung rêu óng mượt. Những sắc độ xanh chồng chồng lớp lớp, gối lên nhau như những mảng thời gian được lưu giữ. Chị bảo chị không thể xa Phố được vì chị lỡ say rêu. Chị có thể ngồi lặng cả giờ để ngắm một bức tường rêu phủ. Rêu chảy từ trên mái xuống tường, non nõn đến dại lòng, thăm thẳm đến tê tái. Đôi cây hoa dại cheo leo trên mái hoặc đánh đu nghịch ngợm trên tường, hồn nhiên toét miệng cười. Mái ngói âm dương như những khuôn mặt thời gian đủ màu đủ vẻ, sau mưa chợt bừng sáng bởi vô số nụ hoa rêu li ti rộn ràng. Ấy là lúc Phố đẹp đến mềm lòng.
Tình yêu non dại của chị âm ỉ như lò than nướng bánh tráng. Mỗi buổi học, thằng Dậu lại về kể chuyện thầy Tường, cả chuyện học trò cáp đôi thầy với cô Hoa dạy Sử ở đường Bạch Đằng, chuyện gặp thầy đi ăn chè với cô Hoa, chuyện hai người ra Đà Nẵng xem phim… Chị vẫn cười khi nghe kể, có điều tiếng cười nghe như tiếng thuỷ tinh vỡ.
Đám cưới thầy Tường với cô Hoa diễn ra chóng vánh và độc đáo. Chú rể rước dâu đi bộ qua phố cổ, qua khỏi chùa Cầu mới lên xe về Đà Nẵng. Học trò rồng rắn đi coi. Chị Rêu đứng ở cửa nhìn ra. Chị cười nhiều hơn cả. Khi đám cưới khuất cuối phố, nụ cười vẫn đông cứng trên môi chị. Đôi lúm đồng tiền lún sâu kéo hai khoé miệng căng ra tưởng chừng không thể khép lại được. Cứ thế chị cười đến chảy nước mắt. “Răng chị cười dữ rứa?”. “Tau cười con ranh ngốc nghếch”. Sau đó chị quạt lò nướng bánh tráng, ăn đến sình bụng, bỏ cơm. Năm ấy, chị rớt tú tài vì chỉ học một mình môn Văn. Vỡ luôn tiếng-cười-bánh-đập. Tết, thầy Toản tìm bản sách cũ bói Kiều phát hiện mất sách quí, cái tủ sách chỉ mình thầy và cô con gái được đụng vào. Thầy hỏi, chị im lặng. Im lặng ngay cả khi chịu đòn. Vẻ trơ lì đó càng khiến thầy giận đánh dữ. Thằng Dậu núp bên ngoài chịu không nổi chạy vào nằm sụp xuống tự nhận mình trộm sách. Thầy buông roi nhưng ánh mắt bỏng rát hơn roi quất. Đứa học trò cưng bị cấm cửa từ đó.
Ông đã bước ra khỏi ngôi nhà cổ này năm mười sáu tuổi. Nỗi buồn còn hôi hổi tựa hôm qua. Chị Rêu bắt kịp ở mái hiên ôm chầm thằng Dậu oà khóc. Nước mắt chị mặn hơn nước biển Cửa Đợi. Da chị mịn mướt hơn rêu Phố. Hắn vùi mặt trong tóc chị hít hương thơm dìu dịu, ngai ngái mùi hoa cỏ và cảm thấy dễ chịu đến bàng hoàng. “Thằng ranh, mi làm chi rứa?” – Chị ngạc nhiên xô hắn ra.
Thỉnh thoảng, mái hiên đầy bóng tối và nước mắt ấy lại hiện về trong giấc mơ thằng Dậu. Cả cảm giác đớn đau ngất ngây bàng hoàng chưa hề gặp trong đời ấy. “Thằng ranh, mi làm chi rứa?”. Tuổi mười sáu của hắn chưa kịp xanh đã chớm vàng trong nỗi quay quắt được thành người lớn. Lớn mau, lớn mau, hỡi thằng ranh!
Hết năm, thằng Dậu chuyển ra Đà Nẵng học. Bốn năm sau, một mình quay lại Phố. Bấy giờ hắn cao hơn một mét bảy, đỗ tú tài toàn hạng ưu, vừa được một suất học bổng ở nước ngoài. Hắn đứng trước ngôi nhà đóng kín cửa, cao hơn cửa, choán hết cửa. Hàng xóm bảo chị Rêu lấy một người Hoa gốc Hội An vào lập nghiệp ở Chợ Lớn. Người lớn đứng khóc, nước mắt rỏ ướt thềm.

*

Ông sờ lên những vệt nước mắt. Ông tin Phố lưu lại tất cả bởi thời gian nơi đây không trôi, chỉ quẩn quanh rồi dừng lại. Trăng gầy như nét vẽ. Mái cúi thấp để trời thêm cao. Ai đó ném một tiếng ho khan vào tĩnh lặng.
Thằng Dậu đã ra, theo sau là chị, vừa đi vừa cười. Tiếng-cười-bánh-đập roi rói tươi nguyên như mới lấy ra từ hoài niệm. Họ đi qua ông. Ông đứng dậy theo họ. Ông nghe tiếng chị:
– Lần ni mi ưa ăn chi?
– Bánh tráng đập.
– Mi ưa gặm bắp nướng rưới nước mắm ở bờ sông mà!
– Em ăn ngó. Ngó chị ăn bánh đập đủ ứa nước miếng. Ăn như mở toang cảm giác tận hưởng hương vị.
– Đợi cả tháng để ăn ngó à, thằng ngu! Không chi khổ bằng ăn ngó mi biết không? Nì, thầyTường có thích ăn bánh tráng đập không hỉ?
– Chị làm con ruồi chui vô nhà thầy thì biết.
Tiếng cười đuổi nhau loăng quăng trong phố hẹp rồi mất hút ở một khúc quẹo mềm mại.
Ông lang thang trong phố. Thỉnh thoảng dừng bước trước một căn nhà say ngủ. Nhà thằng Phan hồi ấy ông đến học ké sách bằng cách giải cho hắn chép giờ là ngôi nhà tân thời, màu vôi trắng bệch, mái ngói đỏ tươi. Nhà con Hòa béo, học trò đầu đời của ông còn nguyên cái bảng hiệu bằng gỗ. Con bé dữ tợn ấy ra sao rồi nhỉ? Hồi ấy, đỗ đầu trong kỳ thi tuyển vào đệ Thất Trường Trần Quí Cáp, thằng bé nhà nghèo học giỏi được ngay một chủ tiệm vải thuê kèm đứa con gái học sau hai lớp. Được trả tiền, được cho vải may quần áo chỉ khổ nỗi con học trò mười tuổi coi thằng thầy mười hai tuổi không ra chi. Có gì không vừa ý, bà chằn lập tức thò tay, nghiến răng ngắt véo thằng thầy đến bầm tím da. Thầy bỏ dạy vì trò dọa: “Ba tau nói mi học giỏi, sau gả tau cho mi. Khi nớ ngày mô tau cũng ngắt mi chảy máu”.
Ông về lại xóm giếng, đi qua Trường Nam tiểu học, Trường Trần Quý Cáp… Ánh sáng huyền hoặc của trăng non và đèn lồng soi đường cho ông tìm về dĩ vãng.
Phố hẹp, loanh quanh. Đường ngắn, luẩn quẩn. Khi trời sáng, ông nhận ra mình đang ở trong một con hẻm nhỏ, trước cánh cửa hông nhà chị. Ngày xưa, chị hay tựa cửa chơi trò đố rêu nói gì trên bức tường trước mặt. Mùa rêu, bức tường tựa như tấm thảm kỳ diệu biến đổi từng ngày dưới đôi tay người thợ dệt tài hoa. Chị đọc bao nhiêu điều, tưởng tượng bao nhiêu cái từ nét mực rêu ngẫu hứng trên bức tường loang lổ màu thời gian ấy. Thằng Dậu vắt trí tưởng tượng giải mã ngôn ngữ rêu bí ẩn ấy như chơi cút bắt với tâm hồn chị.
Bức tường ấy đang hiện ra trước mắt ông còn chị hiện ra trên rêu, ngửa cổ cười.

*

Phố thức dậy với tiếng chân, tiếng rao quà. Những cánh cửa lần lượt mở. Những cây dù, tấm bạt lại được căng ra. Cư dân hiện đại trong lòng Phố bắt đầu một ngày mới thong thả, khẽ khàng. Một người đàn ông lam lũ chở bắp luộc bằng xe đạp dừng bên mời ông mua mở hàng. Ông mua hai quả bắp nóng hổi và trả bằng tờ giấy bạc 50.000. “Cháu đã bán chi mô. Bác đợi cháu đi đổi hí!”. Ông gật đầu. Thằng Dậu hối hả lột, gặm nhai bằng những chiếc răng đã mòn của ông. Quả thứ hai hắn gỡ từng hàng, ăn từng hạt như sợ hết. Hắn ăn mê mải không để ý người bán bắp đã quay trở lại với mớ tiền thối. Anh ta mỉm cười nhìn vị khách sang trọng ngồi mút nước ngọt từ cái cùi bắp. “48 ngàn tiền thối đây bác!”. “Hồi nhỏ bác còn nhai cả cùi nữa kia! Ngọt lắm! Còn chỗ tiền thối, cháu bán cho bác trái nữa để hắn ném từng hạt vào miệng”. “Hết rổ bắp của cháu cũng chưa hết chỗ tiền nầy bác ạ!”. “Ăn thương ăn nhớ…giá khác. Cháu cứ cầm đi!”.
Ấm bụng, ấm lòng, ông ngồi ngắm những nụ hoa rêu nhỏ nhắn lấm tấm trên mái cổ. Trên gương mặt chập chùng lô xô những con sóng thời gian kia là màu biển lặng, lặng đến độ soi mình thấy lòng thanh thản. Lâu lắm, ông mới được hưởng một buổi sáng thư thái như thế này. Một niềm bình an kỳ lạ xâm nhập tâm hồn ông khiến ông có cảm giác mình đang đứng dưới bóng râm thời gian đợi chị mở cửa với lời chào quen thuộc: “Mi tới đổ nước hả?”.
12/1999

_____________________________
Truyện đã được tác giả chuyển thành kịch bản văn học, hãng TFS quay thành phim Phố Hoài năm 2002.

ĐÁO BỈ NGẠN(1)
(Truyện ngắn)

Người khách cuối ngày vẫn chưa chịu về dù ông đã từ chối cuộc viếng thăm bằng im lặng. Hắn tới “xin ý kiến anh” nhưng thật ra để thăm dò ông còn bao lâu chết. Mặt hắn phủ đầy bóng mây buồn bã nhưng không che giấu được tia nắng nhảy nhót trong đáy mắt khi sắp được thay ông làm giám đốc.
– Mẹ thằng Nhất!
Ông gọi vợ bằng cái giọng của đứa trẻ buồn ị gọi mẹ khiến hắn phải ngừng lải nhải, đứng dậy:
– Em về! Gắng anh nghe!
Vợ ông tất tả lấy bô nhưng ông mệt nhọc khoát tay bảo đừng và nhắm mắt lại.
Lượng khách đến thăm ông giảm dần theo thời gian. Đầu đông như hội. Sau lác đác. Có người ông tiếp bằng nụ cười héo hắt. Có người ông nhắm mắt lại. Ông nói ít, hầu như chỉ trả lời có – không. Cái nhìn trống rỗng. Bước chân ai ra cửa cũng nhẹ nhõm vì không phải mình sắp chết. Ngay cả bà vợ tận tụy của ông giờ cũng đã quen với chuyện ông sắp ra đi và những đứa con đến thăm đã hồn nhiên nói cười như thể việc ấy chẳng can dự gì đến cuộc sống chúng nó.
Khi mở mắt ra, ông bực mình thấy một vị khách ngồi trên chiếc ghế bên giường. Lão ta trông lạ hoắc, vào khi nào không hay.
– Mẹ thằng Nhất!
– Gì thế mình?
– Mời khách ra!
– Có ai đâu? – Bà ngạc nhiên.
– Đui à?
– Có ai đâu? – Bà lập lại.
Lão ta vẫn ngồi trên ghế, giương mắt nhìn ông. Một gương mặt lạ lẫm, không gian hoạt, đớn hèn khúm núm hay vênh vang tự đắc như những khuôn mặt ông thường gặp mà bình lặng đến phẳng lì.
– Ông là ai?
Im lặng.
Kẻ im lặng là kẻ yếu hoặc mạnh.
Vợ ông hoảng hốt khi thấy ông không bình thường.
– Mình nói với ai thế?
– Không có ai trong phòng thật sao?
– Thật.
Ông quay mặt vào tường. Một luồng khí lạnh phả ra làm lưng ông lạnh buốt. Ông quay ra. Lão vẫn ngồi đó.
– Ông là ai? – Ông hoảng hốt.
– Bạn.
– Tôi không biết ông.
– Ta đồng hành với ngươi từ khi sinh ra. Có khi gần đến nỗi giơ tay là chạm…
– Ông là…?
– Không dám gọi tên ta ư? Có khởi đầu là có kết thúc, không kết thúc mới là bi kịch. Mọi người sinh ra để biết nỗi kinh hoàng khốc liệt này – ai cũng phải chết. Chịu khó thôi!
Lão quét cái nhìn lạnh như nước đá lên người ông khiến ông đông cứng trong sợ hãi. Vẫn biết cái chết sẽ ập đến với mọi cuộc đời nhưng khi người khác chết, điều ấy ở ngoài ông, mơ hồ xa xôi. Giờ đến lượt ta – ông nhắm mắt lại.
Khi mở mắt, ông vẫn còn sống mà lão đã đi. Ghế trống trơn. Ông không nhìn thấy gương mặt trơ lì cảm xúc của lão nữa. Nhưng cảm thấy nó – cơn đau lì lợm, dai dẳng, quen thuộc. Nó đang thong thả dạo bước trong xương thịt ông. Giữa nó và lão, ai dễ chịu hơn?

*

– Đêm bà có nghe thấy gì không?
– Thỉnh thoảng ông rên.
– Tôi mơ chuột gặm ngón chân mình và giọng ai đó hát đều đều bên tai.
– Hát gì?
– Một bài vè tôi nghe ở Đồng Tháp mấy mươi năm trước: “Cái đồ gặm nhấm. Cắn hủy cắn hoài. Mặt dạn mày dày. Cắn hoài cắn hủy…”.
– Tại tâm ông bất an đấy thôi!
Giấc ngủ ông giờ cũng bệnh, đầy ác mộng. Chân dài thơm phức, ngực vun như núi kéo vào lòng là da thịt nõn nường mọc lông mọc lá. Sơn hào hải vị bỏ vào mồm biến thành đất cát. Những tòa nhà lẩy bẩy như âm binh không đủ ngày tháng đổ ập xuống người ông… Không ngủ, càng khổ. Tiếng chuông gọi hồn của lão cứ rõ mồn một dọc hành lang bệnh viện. Gọi ai hôm nay. Gọi ai ngày mai?
Giờ thì ông đã nhận ra lão qua những hồi chuông báo tử vọng từ xa thẳm. Có khi chuông rung khi tiếng cười chưa dứt, cái chết xé gió mang hình nụ cười, không kịp đớn đau, kinh ngạc. Có khi cái chết đến từ mọi phía, dữ dằn gớm ghiếc, chuông gióng giả từng tràng át cả tiếng con chim sắt xé nát bầu trời, tiếng bom nổ, cây đổ, đất đá rào rào… Diện mạo cái chết khác nhau nhưng chuông gọi hồn bao giờ cũng thế. Mồn một và đĩnh đạc. Suốt ngày ông nghe văng vẳng tiếng chuông. Từ quá khứ vọng về. Hiện tại vọng đến. Nhét bông vào tai vẫn nghe.
Tôi muốn về nhà – ông thều thào.
Vợ ông chưng hửng. Rồi chìu. Vả lại, bệnh viện ung bướu trong nước và cả bệnh viện Thái Lan đều đã lắc đầu trước lá gan mục nát. Từ khi thấy lão, ông biết cuộc chiến đấu với thần chết đã vô vọng. Tiền và sự tiến bộ của khoa học không cản được bước chân lạnh lùng của lão. Về thôi!
Kẻ đón ông cuồng nhiệt đến ứa nước mắt ngay từ ngõ là con Vàng. Nó rên ư ử như giận dỗi vì sao ông đi lâu thế, rối rít chạy theo cáng, chui tọt xuống giường đánh đuổi cũng không chịu ra.
Lão cũng có mặt. Áo choàng đen tối hơn huyệt mộ. Cái bị bắt hồn phồng to.
“Người này thế mà đi trước ngươi!” – Lão ngó người em họ hồng hào khỏe mạnh mới trên bốn mươi.
“Còn gã này cũng theo ngươi – vì nhậu!”- Lão chỉ tay trưởng phòng kế hoạch vừa ló mặt.
Lão vuốt con Vàng bằng bàn tay xương xẩu khiến hắn như bị điện giật sủa ổng lên: “Không thể sống thiếu chủ!”.
Căn phòng lạnh và tối hẳn khi có lão. Nắng vàng vọt. Gió lẩy bẩy. Nỗi sợ hãi làm tóc tai ông dựng đứng. Không, ông không muốn chết. Ông có trong tay mọi thứ: quyền lực, tiền bạc, những mảnh đất đẹp như mơ “ăn” từ các dự án, những em chân dài xinh như mộng…
“Ta đi rước 5 thằng nhóc chán sống đèo nhau trên một xe. Sinh tử như hơi thở vào ra của vũ trụ nên lúc nào ta cũng có việc”. Lão vụt ra như làn khói còn ông nhìn tay trưởng phòng kế hoạch đang nói huyên thuyên, hình dung hình hài béo tốt ấy sẽ dán vào giường như mình. Cuối cùng lão chộp được tất. Có ai thoát đâu! Lão đến để kết thúc mọi cuộc đời, chỉ sớm hay muộn. Sợ cũng vô ích. Còn mẩu thời gian bé tẹo này, nó vẫn là của ông, không phải của lão. Ông sẽ mút nó như mút viên kẹo cuối cùng.
Đúng là lão đã đi. Ông cảm thấy đỡ buốt giá. Nghe tiếng thở của con chó dưới gậm giường. Tiếng lá rơi ngoài cửa sổ. Có nhẹ nhàng không nhỉ lá ơi!
Xôn xao một đỗi rồi lặng im. Vợ ông đút cho ông vài muỗng sữa Ensure nhưng ông đẩy ra:
– Tôi muốn ăn bánh nậm bà làm!
Người vợ ngẩn người vì kinh ngạc. Ở bệnh viện về mấy hôm nay ông không ăn được, chỉ uống sữa hoặc chuyền, làm sao ăn bánh nậm? Cũng dễ đã trên 20 năm ông không ăn món ruột của bà. Các món bánh lá, bánh canh ấy đã nuôi sống gia đình những năm khó khăn nhất rồi bị lãng quên không thương tiếc khi cuộc sống thay đổi. Đúng là chồng bà sắp ra đi. Cho ổng ăn, ổng ngửi những gì ổng thích còn hơn sau cúng ruồi.
Bà tất tả đi chợ mua lá, bột gạo, tôm tươi, chuẩn bị tỉ mỉ từng chút như để tặng ông món quà cuối cùng. Đích thân bà chấy tôm, làm chả, dáo bột, gói bánh, sống lại một quãng đời cũ, vừa làm vừa chậm nước mắt. Bà biết ông sắp ra đi. Những kẻ sắp chết thường rất lạ lùng.
Mùi bánh lá hấp chín nhẹ nhàng đưa vào tận phòng người bệnh khiến ông ứa nước bọt. Đã lâu lắm rồi mới ngửi lại mùi hương thanh đạm rưng rưng của quá khứ. Xa xăm như từ kiếp trước, tiếng rao lanh lảnh của bà dội vào tim ông: “Bánh canh, bánh lọc, bánh nậm nóng hổi đây…!”.
Lúc ấy lão đến.
Lão tò mò nhìn chiếc mẹt tre mới toanh còn thơm mùi đồng nội. Trên mẹt để đĩa bánh lá sắp theo hình rẻ quạt, châu đầu vào quả ớt đỏ tỉa hoa. Đầu mỗi chiếc bánh đội một miếng chả tôm hồng nhạt cắt theo hình trăng khuyết trông như chiếc vương miện. Chén nước mắm vàng nhạt trong vắt điểm mấy lát ớt đỏ thắm. Đúng kiểu quà Huế, thanh đạm mà tinh tế. Bà đỡ ông ngồi tựa vào gối, mở lòng lá nóng hổi, xắn đút cho ông từng mẩu nhỏ như đút cho em bé.
– Ăn cái cho biết! Không ai qua mặt bà ấy về món này! – Ông buột miệng mời.
– Mình nói với ai thế?
– Với tôi.
Lão nhón một miếng chả tôm hình trăng khuyết bỏ vào cái mồm tối thui không răng say mê nhóp nhép.
Thấy lão ăn ngon lành ông thều thào:
– Chả…
Kệ. Thích cứ chìu. Bác sĩ bảo không còn hy vọng nữa – Bà tự nhủ rồi xắn đút cho ông mẩu chả tôm nhỏ. Ông ngậm trong miệng nhưng mùi cuộc sống vẫn không đánh dạt vị ốm đau nhàn nhạt. Đắng nghét.
Lão vừa đi. Ông nôn thốc nôn tháo.

*

Ông đối mặt với cái chết đang nhích lại gần với vẻ tò mò. Ông từng chứng kiến nhiều cái chết – nóng hổi, tươi rói, dịu dàng, bạo liệt. Với ông, lão múa lưỡi hái sắc hay cùn?
Một người bạn năm xưa tới thăm khuyên ông tập thở bụng. Phình bụng hít vô. Thóp bụng thở ra. Gác mọi phiền não, chỉ kiểm soát hơi thở vào ra để biết mình đang sống. Khi cơn đau quen thuộc bên sườn trỗi dậy, lì lợm, bướng bỉnh, ông làm theo bạn, chuyên chú vào nhịp thở. Hớp ngụm đầy không khí, đẩy vào tận ngóc ngách, nghe sự sống len lỏi vào tận chỗ đau đối đầu hay đánh dạt. Gần hết thở mới biết thở. Gần chết mới nhận ra vẻ đẹp lạ lùng của trần gian mà mình sắp xa lìa. Cây bàng bên bờ tường đối diện cửa sổ phòng ông ở đấy từ lâu mà tâm hồn hoang mạc của ông có bao giờ thấy? Giờ nằm đợi chết mới có dịp ngắm. Sắc vàng nâu trầm tĩnh chuyển qua đỏ lộng lẫy như trút hết sinh lực đẹp lần cuối rồi nhẹ nhàng lìa cành nhường cho chồi biếc, mầm non. Kết thúc cái này là để bắt đầu cái khác. Không kết thúc mới là bi kịch. Lão đã bảo thế.
Cái chết xâm chiếm ông từng ngày, nhưng cũng theo từng ngày, một mầm sống khác lại quẫy cựa, trồi lên. Dường như có một thằng bé chui ra từ hình hài mục ruỗng của ông, đái lên trái tim khô của ông làm nó ướt đẫm. Hắn dẫm lên tâm hồn băng giá của ông khiến băng tan chảy thành buồn thương, xấu hổ. Hắn nhìn mọi thứ bằng cặp mắt ngạc nhiên và lạ lẫm. Hắn nhảy nhót và hát: “Ta bị nhốt quá lâu. Trong tấm thân máu lộn mỡ. Trong cái đầu ma quái. Đầy mưu ma chước quỷ. Trời xanh trong thế này ư? Hoa đẹp thế này ư?…”.
Ông khước từ thăm viếng, quà cáp. Chiến đấu với đớn đau bằng sự dũng cảm và trầm tĩnh. Trên gương mặt in dấu thần chết, đôi mắt lại sống, da diết thiết tha. Sự bình thản của ông làm bầu không khí nặng nề của ốm đau chết chóc vơi nhẹ. Ngôi biệt thự mang dáng dấp mái nhà bình yên. Không tiếng đóng sập cửa xe, tiếng giày nện quyền uy, tiếng quát tháo, tiếng thì thầm xin xỏ, biếu xén. Cổng đóng. Chuông điện tắt. Cây cỏ im lặng xanh. Con Vàng gần như túc trực trong phòng. Hơi thở của nó hòa với hơi thở người bệnh và ông lắng nghe với sự thương cảm. Gần chết ông mới hiểu tấm lòng của một con chó. Hắt hủi, quát tháo mà vẫn lăn xả vào thương. Gần chết mới biết dịu dàng với người vợ hiền tận tụy. Dịu dàng đến nỗi bà khóc. Đúng là chồng bà sắp ra đi. Bà không còn nhận ra ông trong những ngày này. Ai đó đã nhập vào người chồng độc đoán của bà, người mà mỗi cái liếc mắt, quát tháo, ra lệnh đều thể hiện quyền lực tối thượng của một ông chủ. Người đã chê bà già, không đầu ấp tay gối, không đi cùng, không chia sẻ. Người ấy hôm nay lại cầm tay bà, dịu dàng săm soi bàn tay đầy vết chai sần, lổm ngổm gân xanh. Cái nhìn day dứt, ấm áp.
– Sao bà không sai chúng nó, làm chi cho khổ?
– Người khác làm tôi không yên tâm. Chỉ tôi mới thuộc hết những gì ông thích.
– Bà có oán tôi không?
– Tôi chỉ ước mình đau thay ông. Đàn bà chịu đựng giỏi hơn đàn ông.
– Người ta chỉ được sống một lần, sai không làm lại được.
– Có thể chết và sống lại trong từng khoảnh khắc. Lúc này ông đang sống lại đấy thôi. Ông của ngày xưa và của tôi…
Người đàn ông mạnh mẽ, quyền uy giờ bất lực, yếu ớt như một đứa trẻ và hoàn toàn của bà. Bà bón cho ông từng giọt sống, vỗ về ông khi đau, lau mình mẩy ông nhẹ nhàng như lau em bé – tẩn mẩn từng vết sẹo, từng cái nốt ruồi, nốt ghẻ thân thuộc. Bà nâng niu thằng nhỏ ỉu xìu héo quắt trong tay, hôn lên nó và để rơi những giọt nước mắt tủi thân. Khi nó khỏe, nó không phải của bà.
– Tha lỗi cho cả hai đứa bà ạ! – Ông thì thầm.
– Nó tươi dần trên tay tôi ông ạ! – Bà cũng thì thầm.
– Có bà bên cạnh, cái chết bớt đáng sợ hơn. Da tôi vàng nhưng hồn tôi xanh lại, bà có thấy không?
– Có. Xanh ngăn ngắt – Bà nhìn sắc da vàng nghệ ứa nước mắt.
– Bà lại khóc. Đừng khóc! Từng phút quý giá còn lại không dành cho nước mắt! Này, bà mua cho tôi một con chó cái.
– Làm gì?
– Để con Vàng có bạn, khuây khỏa. Có những con chó chủ chết nhịn ăn chết theo bà ạ! Nó thương tôi lắm đấy!
Nghe nhắc tên, con chó đang nằm dưới chân đứng dậy vẫy đuôi kêu ư ử.

*

Lão tạt qua, ngạc nhiên thấy ông có vẻ nhẹ nhõm, bình tĩnh. Lão bảo:
“Tốt. Chết cũng phải học. Quẳng hết. Về tay trắng. Giờ ngươi như đứa trẻ tập đi, phải tự bước, không ai bước thay. Đừng sợ ngã. Không ngã nữa. Chỉ bay, nếu nhẹ như hạt bụi”.
Và ông đã bay trong những cơn mê. Tấm thân nặng nề khi quẳng hết hỉ nộ ái ố, thoát khỏi những trò chơi khốc liệt của cuộc đời, nhẹ như phù vân. Ông bay vào những đám mây xốp màu sáng bạc, màu của hư vô bát ngát, tắm gội linh hồn thanh sạch bằng tiếng ngân dài bay bổng của sơn ca, giọng rừng nguyên thủy mang theo tiếng suối reo, thác đổ của chích chòe lửa. Bay qua tán rừng xanh lục, nơi ông gửi lại một chặng đời trong trẻo tươi xanh khi lòng còn tinh khôi chưa lốm đốm u sần của tham vọng gian dối. Tuổi trẻ ông nhìn ông xa lạ còn đồng đội không nhận ra ông. Họ nằm lại giữa màu xanh và tiếng chim, linh hồn nhẹ như mây, làm sao nhận ra cái lão bụng phệ ăn đất và sắt thép này là anh chàng thủ kho xanh rớt ngày nào sẵn sàng ăn sắn nhường cơm cho đồng đội?
Ông bay qua nơi mình tạo ra dâu bể – khách sạn, nhà hàng, quán nhậu mọc như nấm sau mưa trên dải đất trước kia là thôn xóm, ruộng vườn yên ả. Những ngọn lúa, ngọn rau bị vùi dưới lớp xi măng cốt thép ngóc dậy nhìn theo. Bay qua hội chợ phù hoa – phòng VIP, rượu ngoại, cờ bạc, chân dài như ngọn lửa dịu êm thiêu đốt nhân cách và làm mục nát lá gan mình. Ông đảo lại lần cuối trên tòa nhà 3 tầng, công ty xây dựng và phát triển nhà ở. Phòng giám đốc, hắn ta đang ngồi. Hắn có ngồi tù thay ông, kẻ hạ cánh an toàn xuống cái chết? Ông cố tìm trong lô xô, bé tẹo dưới kia những mảnh đất mình “ăn” qua các dự án nhưng tất cả như những mảng ghép hình trong thành phố đồ chơi. Người ông chợt sà xuống như diều đứt dây và ông nghe lão quát: “Về thôi!”.
Ông rơi vùn vụt xuống hố thẳm không đáy, muốn mở miệng kêu mà không kêu được. Thân xác này không còn của ông nữa. Nó đã bị cái chết xâm chiếm. Ông nghe vẳng vẳng tiếng khóc gào, tiếng tụng niệm. Thấy mình bị nhấc bổng lên và tiếng lão dõng dạc hô to: Đáo bỉ ngạn!(1)

*

Theo ước nguyện sau cùng của người đã khuất, di chúc mở ra có sự chứng kiến của gia đình và đại diện chính quyền. Trong đó có đoạn:
“Đến cuối đời, tôi mới nhận ra lương tâm là quyền lực lớn nhất.
Dưới quyền lực ấy, tôi xin để lại cho vợ và hai con những gì do sức lực, trí tuệ mình làm ra trong mấy mươi năm gồm…
Xin trả lại những gì do mưu ma chước quỷ tôi chiếm đoạt được gồm…
Xin tha thứ cho tôi…”.
Vừa qua giỗ đầu, thằng Nhất bảo:
– Mẹ bán nhà chia cho tôi! Nhà này tôi cũng có phần.
– Bán rồi ở đâu?
– Ra nghĩa địa hỏi ổng. Trâu chết để da, người ta chết để của. Tự dưng đem khai ra rồi trả. Ngu! Cha mẹ ngu con khổ! Tui còn sống là còn oán ổng. Vì ổng ngu mà con cái xuống đời! Người ta ăn đầy ra đấy có ai tự nguyện trả đâu! Miếng đất ở ngã tư giờ phải mấy tỉ, xây khách sạn 3 sao tui đâu có thành thằng ma cà bông! Còn miếng ở đường…xây nhà hàng cho con Thanh làm chủ, hắn đâu có đi làm cực nhọc mà lương chỉ bạc triệu. Cha mẹ ngu con khổ!… Ngu! Đại ngu!
Rượu vào là cậu quý tử đem mỗi chuyện ấy ra nhấm nháp lai rai.
Bà nuốt nước mắt ngước nhìn trời. Bà tin đám mây trắng nhẹ thênh bay ngang qua nhà là ông. Hình hài tan rã, tham sân gửi lại, chỉ còn linh hồn lãng du theo mây trắng. Từ khi ông mất, bà bỗng sinh chứng nhìn mây, nói với mây, khóc với mây. Chuyện con cái xâu xé nhau của cải. Chuyện chúng đã quen làm cậu ấm cô chiêu, tiêu xài như nước, gì cũng có người lo giờ tự đi không được.
“Bay đi ông ơi! Đừng nhìn! Đừng nghe!”, nhưng giọt nước mắt vô hình vẫn nhỏ xuống tâm hồn bà. Bà thì thào: “Ông khóc đấy ư?”.
Năm sau ngôi nhà vườn tuyệt đẹp biến thành quán Hương Huế chuyên bán bánh nậm, bánh lọc, bánh bèo, bánh canh. Khách ngồi dưới bóng cây râm mát, ăn những thứ dân dã nóng hổi, trình bày tinh tế, đẹp mắt. Bánh nậm xếp theo hình quạt, 10 cái một đĩa. Mở lòng mỏng mảnh, phơi dạ trắng ngần, điểm nhụy tôm hồng, chấm nước chấm ngọt thanh, ăn kèm chả tôm cắt hình thoi, xếp thành đóa hoa vàng, gắp cứ tần ngần vì quá đẹp. Đĩa bánh ướt nhụy tôm cũng 10 cái, uốn cong thành 10 cánh hoa. Bánh bèo chén để trên mẹt tre, rắc nhụy hồng, điểm tóp mỡ giòn, ăn bằng chèo tre vót mảnh… Bắt mắt nhất là tô bánh canh Nam Phổ. Tô nhỏ để vừa say, chưa ngán, hòa quyện tinh tế sắc màu và hương vị. Rẻ, ngon, đẹp mắt, lịch sự, khách vô ra quán nườm nượp, làm không kịp bán. Cuối ngày, khi xong việc, bà lại thắp lên bàn thờ ông một cây nhang thì thầm kể chuyện: “Hôm nay thằng Nhất có phụ tôi đôi chút ở quán! Nó hết đòi bán nhà rồi! Tôi đang tập cho nó đi. Khi nó bước vững vàng trên mặt đất tôi sẽ về với ông, ông ạ! Không có ông, cõi người với tôi thật trống vắng!”.
Tàn hương uốn cong như lời đáp. Đốm lửa như mắt người, lung linh đỏ, đỏ lung linh…
7/10/2006
____________________________
(1) Tới bờ bên kia.
Truyện đạt giải Tư cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2005-2006.

MỘT CUỘC ĐUA
(Truyện ngắn)

Thấy tôi tái xanh tái xám, mồ hôi mồ kê bước vào nằm chuồi ra giường, con Thúy ngừng đọc báo:
– Mất dạy hả?
– Ừ. Thằng quỷ bảo hôm nay em trúng gió, cô cạo gió giùm em rồi hắn cởi áo… Tao dằn lòng lắm mới không cho nó cái tát. Đạp xe đi về gần 15 cây số tốn hao bao calori mà chẳng được gì. Chỗ gặp học trò trời sợ. Chỗ thì phụ huynh cứ giả vờ quên ngày trả tiền, chỉ tặng đồ quá đát…
– Có cái này dành cho mi đây! Coi gặm được không? – Con Thúy chìa tờ báo. Tôi dán mắt vào chỗ hắn chỉ:
“ Cần một giúp việc nữ dưới 25, lý lịch rõ ràng, ngoại hình khá, dễ mến, trình độ phổ thông trung học, có khả năng chăm sóc người bệnh nằm một chỗ. 50.000 đ/2 giờ. Thử việc 3 buổi…”.
– Dạy kèm không ra gì, tiếp thị bia không xong thì giúp việc nhà thời công nghiệp vậy. Tính ra tháng bằng 4 chỗ dạy kèm! Ăn học thoải mái.
– Tiền nào mệt nấy!
– Đồng tiền lương thiện bao giờ cũng nhọc nhằn. Lấy xe máy tao đi!
– Đi giờ?
– Chụp giật liền. Luơng cao khối đứa nhào vô – Con Thúy giục.
– Giúp việc nhà mà làm như tranh suất học bổng đi nước ngoài! Lại còn ngoại hình khá!
Tôi càu nhàu nhưng vẫn nghe theo lời con Thúy đứng dậy. Hắn đáng nể. Tiếp thị bia để ăn học mà tâm hồn, thể xác hai năm rồi còn nguyên xi. Hắn tránh né những thói sàm sỡ bằng thứ dịu dàng bọc thép còn tôi mới làm chưa được một tuần đã tung chưởng bốp vào má một ông thầy tuồn tay vào váy và lập tức bị nghỉ việc. Tôi thay cái quần jeans cũ rồi nhìn mình trong gương. Đứa con gái trong đó nhìn lại tôi. Tóc ngang vai, không trang điểm, không “dễ mến”. Gai nhọn trong ánh nhìn. Môi khép hờ như nụ hồng nhưng mở ra có thể là hai lưỡi dao bén. Tôi nhớ những từ người ta quẳng vào mình: Con mọi cứng đầu. Thứ không mẹ không cha. Nghèo mà chảnh!…
Tôi đến địa chỉ trong báo. Đúng là giàu. Biệt thự mặt tiền. Xe hơi phủ vải ở gara. Béc giê xổ một tràng tiếng cẩu. Một người đàn bà khoảng dưới 40 nhìn tôi qua cửa sắt. Tôi chìa tờ báo có mẩu tìm người. Bà ta gật đầu rồi mở cửa. Cuộc phỏng vấn tiến hành chớp nhoáng:
– Hãy giới thiệu ngắn gọn về mình.
– Tên Phượng, 21 tuổi, sinh viên.
Nghe đến đó,bà ta chìa tay. Tôi hiểu ý rút ví lấy thẻ sinh viên. Bà ta nhìn ảnh rồi nhìn tôi săm soi từ đầu đến chân.
– Cô biết đùa, hát karaoke, nói chuyện phiếm giải buồn không?
– Biết.
– Kiên nhẫn chịu khó không?
– Tôi dễ thương tổn nhưng lì lợm, không dễ đầu hàng.
– Mấy người dội ra đều bảo họ thừa dịu dàng kiên nhẫn. Tôi thấy cô thẳng thắn, cứng cáp. Nếu trụ được, cô có thể được 2 triệu một tháng để ăn học. Còn không, hai trăm ngàn cho 3 buổi rồi đi. Mai cô bắt đầu. Từ 3 đến 5 giờ chiều. Để lại địa chỉ, thẻ sinh viên hoặc chứng minh thư.
– Công việc cụ thể của tôi là gì?
– Trò chuyện, chịu đựng người bệnh, giảm áp lực buốn chán vì nằm một chỗ.
Trên đường về, con Hai Triệu tung tăng chạy trước ngoắc ngoắc tôi. Vì nó tôi sẵn sàng gồng mình chịu đựng 2 giờ cho 22 giờ còn lại, cho cuộc đời tôi tự chọn và đi bằng đôi chân mình. Đêm ấy con Hai Triệu và một người không hình dáng chập chờn quấy nhiễu giấc ngủ tôi. Nam hay nữ, già hay trẻ, người hay quỷ?

Buổi đầu…

Bà quản gia dẫn tôi đến phòng bệnh nhân. Bà thì thào: “Cậu chủ ngủ. Ngồi đợi”.
Phòng rộng, thoáng nhưng bề bộn đồ đạc. Trên giường cũng bề bộn một hình hài. Tóc nhuộm hai màu chỏi nhau. Chăn mỏng đắp hờ ngang bụng. Hai tay giăng ngang như bị đóng đinh. Lũ gối lớn nhỏ vây quanh cả tá. Tôi ngạc nhiên nhìn gương mặt trẻ măng đang ngủ mà mày nhíu lại như vật lộn với nan giải.
– Khi cậu chủ dậy cô giới thiệu cô là người thứ mười ba.
Bà ta đi ra. Tôi cúi nhặt mấy tờ báo trên nền bỗng bị một cái gối ném trúng. Ngẩng lên, tôi chạm phải đôi mắt đầy hận thù trên gương mặt khoảng chừng đôi mươi.
– Mày là con đĩ nào?
Tôi đã hình dung nhiều tình huống nhưng vẫn không phải tình huống này. Máu dồn lên mặt nhưng con Hai Triệu vuốt giận tôi.
– Người thứ mười ba – Tôi đáp.
– Đứng dậy!
Ánh mắt thằng nhãi lướt trên tôi rồi cắm vào đôi chân lành lặn của tôi với vẻ ganh tỵ:
– Mày có cặp giò mặc váy chắc đẹp. Tao… – Hắn bỏ dở câu nói rồi ném vào chân tôi cái gối. Tôi đón lấy. Cái nữa… cái nữa… Tôi cáu:
– Tôi sẽ quẳng lại nếu cậu tiếp tục.
Gối cứ tỉnh bơ nhắm tôi bay tới. Tôi gạt phăng con Hai Triệu qua bên chụp lấy ném trở lại vào mặt thằng chủ. Thấy tôi ném hăng quá thằng nhãi nhà giàu ngạc nhiên:
– Không sợ mất việc hả?
– Mày tưởng có tiền rồi làm cha thiên hạ chắc? – Tôi chống nạnh trừng mắt.
Thằng nhãi trố mắt nhìn tôi rồi bật cười.
– Trông mày cũng hay hay. Đỡ buồn! – Nó chống tay ngồi dậy nhưng không được.
– Giỏi ném nữa đi!
– Đỡ tao ngồi dậy! Tao thuê mày để làm việc đó.
– Nhưng nếu tao không cần làm thuê nữa thì mày gọi đứa thứ mười bốn tới mà đỡ! Tao đi đây! – Tôi quay lưng.
– Này…! – Thằng chủ gọi giật.
Tôi dừng. Đời tôi, tôi chưa đầu hàng cái gì trong vòng mươi lăm phút.
– Tôi cần tiền. Cậu cần người giúp đỡ. Có tôn trọng nhau thì hợp tác. Không thì thôi. Không có màn sỉ nhục. – Tôi đứng ở cửa ra điều kiện.
– Tên gì?
– Phượng.
– Sinh viên hả?
– Ừ.
– Lại đây đỡ tao!
Tôi đến gần. Con Hai Triệu động viên: “Hắn không đứng dậy được. Đừng sợ!”.
– Bế tao ra xe lăn. – Thằng chủ chỉ tay về phía cửa sổ.
Tôi định lật mền nhưng hắn thì thào: “Để thế!”.
Tôi luồn tay qua cổ hắn và cảm nhận cái mền mỏng rủ xuống ở tay kia. Hắn quàng tay qua tôi, mắt lấp lánh ánh tinh quái. Tôi đe:
– Chớ dại! Nếu không sẽ bị quẳng ngay xuống đất.
Thằng nhóc lè lưỡi nép vào tôi. Lần đầu tiên tôi chạm vào một người đàn ông dù hắn ta dường như chỉ còn một nửa!

Buổi thứ hai…

Vừa dựng xe đạp tôi đã nghe tiếng gào, tiếng khóc, tiếng chửi rủa sa sả. Một quý bà sực nức son phấn và nước hoa từ phòng cậu chủ đi ra, vừa đi vừa lau nước mắt. Thấy tôi, bà dừng lại:
– Nghe nói cô đã qua buổi đầu tiên êm thấm với nó. Nếu cô làm dịu những cơn khủng khoảng thần kinh của con tôi, cô sẽ được trả gấp đôi.
– Tôi có thể biết nguyên nhân và tình trạng của cậu ấy được không?
– Đua xe. Bạn gái chết còn nó phải cắt cụt hai chân vì xe tải nghiến nát. Đã hai tháng nay tôi sống trong địa ngục, sợ những âm thanh cuồng nộ của nó đến không dám ở nhà…
Tôi vào phòng, đến bên hình hài tàn phế đang nằm thở dốc và khóc.
– Thứ mười ba đến rồi. – Tôi báo.
– Trả chân cho tao! – Gã gào lên.
– Tôi không lấy chân cậu. Có chân không đi, trời lấy lại.
Gã há miệng như nghẹt thở rồi cầm “con dế” bên gối định ném tôi. Nghĩ sao, gã vứt nó qua cửa sổ.
– Ông không còn chân gọi thằng nào cũng không đến!
– Đúng là ném tiền qua cửa sổ!
– 7 triệu đấy nhưng tiền để làm gì? – Gã thò tay xuống gối lấy gì đó ném vào tôi. Gã luôn ném để khẳng định mình còn đôi tay quyền lực. Tôi nhặt lên, ngỡ ngàng nhìn tờ trăm đô xếp thành hình con hạc giấy. Cảm nhận được sức nặng của con hạc trong tay nhưng tôi vẫn ném trả. Gã lại ném qua… Cả bầy hạc giấy dưới chân tôi…
– Nằm một chỗ bà già vẫn phát lương. Còn mua sẵn chiếc xe hơi an ủi. Nhưng giờ tôi chỉ muốn chết. Hãy chỉ cho tôi cách chết ít đau đớn nhất. Tôi sẽ trả công cho cô.
Tôi nhặt hết 5 con hạc giấy đặt xuống gối gã.
– Cho đấy!
– Tôi làm công nhận lương, không nhận tiền cho không.
– Nghèo mà chảnh nhỉ! – Gã ngạc nhiên.
– Hôm nay có mấy kiểu chết trên báo, cậu chọn kiểu nào? Nhảy từ cà phê 33 tầng vào sinh nhật thứ 21. Hỗn chiến tại quán bia bị đâm. Một nữ sinh 17 tuổi dắt xe đạp băng qua đường sắt bị tàu đụng. Một thanh niên đi xe máy sụp ổ gà bị xe rác cán chết.
– Toàn ghê rợn! – Gã nhăn mặt.
– Làm gì có cái chết dịu dàng! Để tới cái chết phải băng qua đau đớn.
Và bỗng nhiên hình ảnh mẹ tôi nằm chết trên mặt đường hiện ra trong vũng nắng.
– Cô sao thế?
Tôi lau vội giọt nước mắt ứa ra, lắc đầu…
– Cậu chọn cái chết thì cũng chẳng cần người giúp việc nữa! Tôi về đây. Mất thì giờ!
– Đừng để tôi một mình – Gã kéo tay tôi – Ở thêm với tôi, tôi trả cô một con hạc. Đây là tiền công chứ không phải cho không.
– Được. Dại gì không lấy. Giờ cậu muốn tôi làm gì?
– Cô sẽ làm gì nếu mai cô chết? – Gã hỏi lại.
– Tôi sẽ đấu tranh đến cùng để mai tôi vẫn sống. Một ngày là một cuộc chiến.
– Giá nghèo như cô tôi sẽ không bất hạnh thế này. Không có xe để đua, không có tiền để đốt đời mình…
– Tại cậu chưa nếm mùi nghèo khổ đó thôi! Tàn bạo, khốc liệt lắm, cuốn trôi bao ước mơ, đè bẹp bao số phận. Nhưng khi thừa mứa quá, nỗi đau trong tim còn dữ dội hơn cả cái đói. Một nhà văn đã nói thế.
– Cô nói đúng. Tôi thừa tiền mà đầy trống vắng.Nhà tôi ai cũng sống giả dối, mọi thứ bọc tiền mua. Mà này, cô e bằng tuổi tôi sao “già” thế?
– Một chiếc xe chở ba đã cướp mất tuổi thơ của tôi khi tôi lên sáu bởi vậy tôi ghét những đứa giết người rồi bị người giết như cậu. Tôi văng khỏi chiếc xe đạp khóc ré lên còn mẹ tôi nằm trên đường trưa im lặng… Tôi không có cha. Người đàn ông nào đó đã bỏ mẹ tôi khi tôi tượng hình. Ông cậu đem tôi về, lấy hết tiền người ta bồi thường, cho đi học nửa buổi còn nửa buổi sai vặt, bưng bê trong quán cà phê của họ… Mười bốn tuổi, tôi bị bà mợ ép bán trinh cho một doanh nhân. Tôi cầm chai rượu quật vào ông ta…
– Rồi sao?
– Ông ta bưng đầu chạy. Còn tôi từ đó không nhà, lang thang vất vưởng rồi nương thân trong một mái ấm toàn những đứa trẻ không có tuổi thơ như mình. Tôi tự kiếm sống bằng mọi cách, giương vuốt bảo vệ mình và cố đổi thay số phận.
– Đời cô buồn nhỉ!
– Bởi vậy mỗi ngày của tôi là một cuộc chiến, chiến đấu để tồn tại, để biến đời buồn thành vui…

Buổi thứ ba…

Ngày thứ ba gã không la hét cũng không ném thứ gì. Gã nói chuyện, cùng tôi thi hát karaoke. Bà quản gia dường như không tin tiếng hát vọng ra từ phòng gã, sững sờ đứng chôn chân ở cửa. Gã thắng tôi dễ dàng.
– Tôi thích sự thách thức. Chính vì vậy mà tôi lao vào cuộc đua. – Gã thở dài.
– Giờ cậu dám đua nữa không?
– Đua với ai khi thế này…?
– Với tôi. Chúng ta đua ngoi lên dưới ánh mặt trời. Thời hạn 5 năm.
Gã không trả lời tôi, tư lự. Khi tôi bế gã từ xe lăn trở lại giường gã nhìn vào mắt tôi:
– Cô có đôi mắt rất đẹp. Thăm thẳm nỗi buồn nhưng ánh nhìn quyết liệt. Đôi mắt ấy…
– Khóc người một con(1)… – Tôi nhìn gã đáp.

*

Tôi qua trót lọt 3 buổi thử việc nhưng không “có duyên” với con Hai Triệu. Ngày hôm sau, một người đến tận chỗ tôi trọ gửi tiền công 3 buổi và một gói quà. Mở ra tôi thấy một bầy hạc châu đầu vào một đóa hồng. Đóa hồng là một cái thư còn bầy hạc mười con xếp bằng mười tờ trăm đô. Tôi và con Thúy đọc:
“Cô không cần đến buổi thứ tư. Tôi vốn là một đứa sáng dạ chỉ cần ba buổi là ngộ… Tôi nhận lời “đua” với cô, đua ngoi lên dưới ánh mặt trời để còn hai con mắt khóc người một con. Mười con hạc giấy này tôi tặng cô. Nó chỉ bằng chai rượu tôi uống trong những đêm đốt đời mình. Trước khi bay, người ta cũng cần đôi cánh. Đừng chảnh, hãy nhận nó vì tấm lòng thành của tôi. Hẹn gặp lại cuối đường đua”.
– Thằng này chưa phải là đồ bỏ. Hoặc điên hoặc rất lãng mạn. – Con Thúy bảo.
– Không ai là đồ bỏ cả. Đi mua máy tính với tao. Tao khởi đầu cuộc đua đây! Mau lên! – Tôi giục con Thúy.

12/7/2004
_________________________________________
(1) Thơ Bùi Giáng.
Truyện đạt giải Nhất cuộc thi viết truyện ngắn cho thanh niên, học sinh, sinh viên do NXB Giáo dục và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2004.