Tác giả Vu Gia

Vu Gia

VU GIA

Vu Gia, tên thật là Phạm Ngọc Phúc, sinh năm 1952; quê quán: xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; nguyên cán bộ biên tập Báo Người Lao Động, nghỉ hưu năm 2012.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN

* TIỂU THUYẾT
1- Vùng đất dữ (1988)
2- Khúc dân ca cho người dưới mộ (1989)
3- Có những cuộc tình (1989)
4- Đời ca sĩ (1989)
5- Giọt nước mắt cho tình yêu (1989)
6- Mộng đẹp tàn phai (1990)
7- Niềm say mê của con người (1990)
8- Khi sống họ đã yêu (1990)
9- Người mẹ cô đơn (1990)
10- Trên đỉnh tình sầu (1991)
11- Hoàng hôn tím (1995)
12- Nho tướng Nguyễn Công Trứ (1996, 2001)
13- Phan Châu Trinh – Người khởi xướng dân quyền (2002, 2008)
14- Những người hay cãi (Tản văn, 2014)

* BIÊN KHẢO
15- Địa chí Đại Lộc (Đồng chủ biên với Huỳnh Ngọc Trảng – 1992, 2000)
16- Khái Hưng – Nhà tiểu thuyết (1993)
17- Thạch Lam – Thân thế và sự nghiệp (1994)
18- Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học (1995)
19- Hoàng Đạo – Nhà báo, nhà văn (1997)
20- Hải Triều – Nghệ thuật vị nhân sinh (1998, 2002, 2005)
21- Làm thế nào để viết luận văn, luận án, biên khảo (2000, tái bản nhiều lần)
22- Phan Khôi – Tiếng Việt, Báo chí và Thơ mới (2003)
23- Địa chí Đại Cường (chủ biên, 2005)
24- Trần Tiêu – Nhà văn độc đáo của Tự lực văn đoàn (2006)
25- Địa chí Đại Nghĩa (Viết chung với Huỳnh Ngọc Trảng, 2007)
26- Tú Mỡ – Người gieo tiếng cười (2008)
27- Thế Lữ – Một khách tình si (2009)
28- Khái Hưng – Người đổi mới văn chương (2011)
29- Xuân Diệu – Một đời “gửi hương cho gió” (2014)

* THƠ
30- Ta và em (2000)

Tác giả Vu GiaVu Gia, chân dung tự họa

 

PHONG TRÀO THƠ MỚI VỚI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

Tám mươi năm, nhìn lại

VU GIA (Tham luận Hội thảo Tự lực văn đoàn – 80 năm nhìn lại)

Nói về Phong trào Thơ mới, không có bài nào đầy đủ và chi tiết hơn bài Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh, viết vào tháng 11-1941, và đưa vào cuốn Thi nhân Việt Nam 1932-1941 (xuất bản 1942). Nhưng Tự lực văn đoàn có công gì với Phong trào Thơ mới để phải… Tám mươi năm nhìn lại?

Theo Dương Quảng Hàm, “Công việc của Tự lực văn đoàn đã có ảnh hưởng về đường xã hội và đường văn học.

.A) Về đường xã hội, cái biệt tài trào phúng của các văn gia phái ấy, cả trong thơ văn và trong các bức hí họa, đã làm rõ rệt cái dở, cái rởm, cái buồn cười, cái giả dối trong các hủ tục, thiên kiến của ta.

.B) Về đường văn học, phái ấy đã gây nên cái phong trào “thơ mới” và làm cho thể văn tiểu thuyết được đắc thắng; phái ấy lại có công trong việc làm cho văn quốc ngữ trở nên sáng sủa, bình giảng, khiến cho nhiều người thích đọc”[1].

Tại sao Dương Quảng Hàm, nói “phái ấy (Tự lực văn đoàn – V.G) đã gây nên phong trào “thơ mới”, trong lúc đó thì Hoài Thanh lại viết rằng, “một ngày kia cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy. Ngày ấy là ngày 10 mars 1932. Lần đầu tiên trong thành trì thơ cũ hiện ra một lỗ thủng. Ô. Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận. Ông tự giới thiệu: “Trước kia… ít ra trong một năm tôi cũng có được năm bảy bài, hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm; mà năm bảy bài của tôi, không phải nói phách, đều là năm bảy bài nghe được”. Ấy thế đó mà ông kết án thơ cũ! “Thơ cốt chơn. Thơ cũ bị câu thúc quá nên mất chơn”. Bởi vậy ông bày ra một lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bị bó buộc bởi niêm luật gì hết” và tạm mệnh danh là thơ mới[2]. Từ đó, khắp cả ba kỳ dấy lên cuộc tranh luận sôi nổi về thơ cũ, thơ mới.

Về báo Phong hóa với cuộc tranh luận này, Hoài Thanh cho biết: “Báo Phong hóa tập mới (do Nhất Linh chủ trương – V.G) ra đời ngày 22 septembre 1932. Ngay số đầu đã có bài công kích thơ Đường luật và kết luận rằng: “Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng”. Từ đó cho đến cuối năm 1932, Phong hóa không đăng thơ mới nhưng cũng không đăng thơ cũ. Phong hóa lại còn diễu thơ cũ bằng cách diễu Tản Đà, người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ. Bài “Cảm thu tiễn thu” của Tản Đà đã làm đầu đề cho một bức tranh khôi hài của Đông Sơn và một bài hát nói khôi hài của Tú Mỡ. Họ so sánh cảnh thực với cảnh mộng trong trí tưởng thi nhân. Tú Mỡ viết:

… Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,

Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng!

Trên đường đi nóng dẫy như rang,

Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ!

Vân vân…

Phá hoại rồi họ kiến thiết. Nhận được của Ô. Lưu Trọng Lư bức thư gửi cho ông Phan Khôi mấy tháng trước, họ trịnh trọng đăng lại trên Phong hóa số Tết ra ngày 24 janvier 1933 cùng với ít bài thơ của Lưu Trọng Lư, Tân Việt, Thế Lữ. Tiếp tho đó, Phong hóa luôn đăng thơ mới của Tứ Ly, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông”[3].

Lâu nay, phần lớn đều lấy đó làm ni tấc cho những bài viết, những công trình viết về Thơ mới.

Có phải báo Phong hóa diễu thơ cũ bằng cách diễu Tản Đà?

Đúng là báo Phong hóa, số đầu (số 14, ngày 22-9-1932) do Nhất Linh chủ trương, ở mục Văn học có bài Thơ của Văn Lực. Bài này bàn về những cái không hay của thơ Đường luật, vì sự bó buộc vào trong khuôn sáo. Tác giả kêu gọi người làm thơ “Đừng bắt chước cổ nhân. Thơ là phải mới: mới văn thể, mới ý tưởng”. Trong số này, có tranh biếm của Tứ Ly vẽ Tản Đà đang nốc rượu, chung quanh là những vỏ chai nằm lăn lóc cùng với cuốn Khối tình con. Bên cạnh tranh vẽ là bài thơ Trời đày Nguyễn Khắc Hiếu của Bán Than (tức Khái Hưng). Bài này viết vui, cho rằng Tản Đà là tiên bị đày xuống hạ giới “Để hắn chịu nhục hình”, nhưng “Ai ngờ nó vẫn nhàn/ Ngày tháng ngâm thơ tràn/ Các ngươi ai có cách/ Bắt hắn phải gian nan/ Chư tiên đồng thanh nói: “Tội nặng nhất trần phàm/ Là bắt anh Khắc Hiếu/ Làm chủ báo An Nam[4]. Lúc này, báo An Nam sắp đóng cửa vì không có bạn đọc. Do vậy, làm chủ bút báo An Nam là nỗi khổ cho Tản Đà.

[1] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu, Bộ Giáo dục – Trung tâm Học liệu xb, S, 1968, trg 455.

[2] Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam 1932-1941, NXB Văn học, H, 1988, trg 22-23.

[3] Thi nhân Việt Nam 1932-1941, sđd, trg 24-25.

[4] Tú Mỡ toàn tập, T.1, NXB Văn học, H, 1996, trg 53-54.

Trời đầy

Phong hóa số 16, ngày 6-10-1932, trong mục Giòng nước ngược, Bán Than (tức Khái Hưng – V.G) có bài thơ Cảm thu, viết theo thể thất ngôn bát cú: Ô kìa đã quá nửa thu rồi/ Cảm tác này xin có mấy lời/ Một rặng cây xanh hun gió nóng/ Hai bàn tay trắng đổ mồ hôi/ Nào đâu mặt tuyết, ngô đồng rụng/ Chỉ thấy bên đường đám cỏ tươi/ Trai gái quanh hồ cười khúc khích/ Sầu riêng thi sĩ lệ đầy vơi.

Dòng nước ngược

Phong hóa số 20, trang bìa có tranh biếm Tưởng tượng với sự thực… hay nhà văn sĩ viết tiểu thuyết của Đông Sơn (tức Nhất Linh – V.G). Tranh vẽ người đàn ông ngồi trước bàn viết, một chân bàn kê gạch, một chân bàn được tháp khúc cây mới khỏi đổ; còn “nhà văn sĩ viết tiểu thuyết” thì một chân rút lên ghế, một chân xỏ chiếc guốc mộc, quần có vá một miếng lớn ngay đầu gối. Cái đèn dầu leo lắt trong chiếc bóng vỡ một góc; chuột, nhặng đầy nhà… ấy mà có thể tượng tượng… “Hiện giờ tôi ở một cái nhà cực kỳ sang trọng. Buồng ngủ thì giường Hồng Kông màn the, đệm gấm; bàn ghế đồ trắc khảm xà cừ bóng lộn khác nào động tiên!!

phong hóa số 21

Tiếp tục ý ấy, trên trang bìa báo Phong hóa số 21, ngày 11-11-1932, Đông Sơn vẽ tranh biếm Các nhà văn sĩ ta cảm thu. Một cảnh bên cầu nước chảy lơ thơ, một người đứng… cảm thu. Cạnh đó, mấy gốc cây đang trút những chiếc lá cuối cùng. Trên bầu trời có mấy con chim nhạn bay về. Một cảnh trên trời có máy bay và mặt trời chói chang, rọi xuống nhà máy đang vận hành phun khói đen sì. Dưới gốc cây um tùm lá, người phu quét đường dựng chổi ngồi nghỉ mát; một người đi đường, tay cầm ô, tay cầm quạt, mồ hôi trên mặt đầm đìa…

Nếu quy kết “Bài “Cảm thu tiễn thu” của Tản Đà đã làm đầu đề cho một bức tranh khôi hài của Đông Sơn”, thì tranh biếm ở báo Phong hóa số 20, Đông Sơn muốn ám chỉ đến nhà viết tiểu thuyết nào?

Cũng trên tờ Phong hóa số 21, Tứ Ly có tranh biếm Ông Nguyễn Khắc Hiếu dạy văn chương với lời chú thích: Ông giáo Hiếu:- Các ngài muốn hỏi tôi cách làm thơ ru? Khó gì đâu: tửu nhập thi xuất!

Hai cảnh trong bức tranh biếm ở báo Phong hóa số 21 gợi ý cho thơ và được in lại trên báo Phong hóa số 24, ngày 2-12-1932. Bên dưới bức tranh biếm Các nhà văn sĩ ta cảm thu là mục Giòng nước ngược, có bài thơ Họ cảm thu của Tào Thị và bài hát nói Tả bức tranh cảm thu của Tú Mỡ. Đoạn cuối của bài hát nói này, Tú Mỡ viết: Nhà văn sĩ say mềm thơ cụt hứng/ Nhìn cho kỹ dáng người đi đứng/ Mặt quen quen chắc cũng bạn làng ta/ Phải chăng là bác Tản Đà. Nhưng so với bài Cảm thu, tiễn thu của Tản Đà không có chi tiết nào như bài hát nói của Tú Mỡ mà Hoài Thanh đã dẫn: Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt/ Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng!/ Trên đường đi nóng dẫy như rang/ Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ!…

phong hóa số 22

Nhìn chung, tới lúc này, báo Phong hóa chỉ cười cợt thói uống rượu say bét nhè của Tản Đà chứ chưa có lời nào nói thơ Tản Đà cũ hoặc mới. Báo Phong hóa (bộ mới) muốn làm thay đổi phong tục, tập quan và nếp sống của người đọc đương thời; họ chê tất tật những gì mà họ cho không còn phù hợp với thời đại mới, từ chuyện mượn rượu quên đời đến việc đốt vàng mã, mê tin dị đoan, ăn ở không hợp vệ sinh, v.v. Về chuyện uống rượu, trên báo Phong hóa số 26, ngày 16-12-1932, họ vẽ Bộ tứ bình mới và dòng chú thích cho mỗi bức tranh: 1- Chủ chén no say quên cả chó, 2- Lòng không dạ đói chó ngồi ngây, 3- May thay! Một bãi thừa ơn chủ, 4- Chủ cũng say mà chó cũng say. Trong số này cũng còn có bức tranh biếm nói về sự lý luận cùn của những đệ tử Lưu Linh.

Phong hóa số 31, số đặc biệt về Tết, ngày 24-1-1933, họ mới công khai nói về Thơ mới. Trang đầu, phần trên là bài Tết của Tứ Ly trình bày như hai vế đối, ở giữa là tranh vẽ màu xuân của Đông Sơn (dường như Đông Sơn vẽ theo ý thơ của Việt Sinh – V.G), phần dưới đăng bài thơ Ngày xuân hái hoa của Việt Sinh (tức Thạch Lam – V.G): Ngày xuân, chị em đi hái hoa/ Vườn mai, đứng dưới gốc mai già/ Hoa mai trắng xóa trong xuân tươi/ Một chị, một em xuân mấy mươi!/ Gió xuân! dịu dàng tà áo bay/ Gió xuân! hoa mai tan tác bay!/ Em tay nâng giỏ, chị vin cành/ Bẻ lá hoa mai với lá xanh/ Ngày xuân, cánh hoa đượm hạt móc/ Hái hoa, hoa rơi vương mái tóc/ Tiếc hoa nên hái giỏ hoa đầy/ Một giỏ hoa xuân nặng chĩu tay/ Người về tiếc xuân biết còn ai?/ Còn lại trong vườn xuân với mai.

Ở mục Văn học, báo Phong hóa đăng bức thư của Liên Hương gửi ông Phan Khôi, vì báo Phong hóa thấy “ý tưởng có nhiều chỗ giống với ý tưởng bản báo. Vậy bản báo vui lòng đăng lên mục Văn học và sẽ lục tục đăng các bài thơ mới của các bạn thi nhân”. Và báo Phong hóa  số Tết 1933 dành hẳn một trang đăng bức thư ngỏ cùng ông Phan Khôi của cô Liên Hương (tức Lưu Trọng Lư – V.G) và đăng bài thơ Tình già của Phan Khôi, 4 bài thơ của Lưu Trọng Lư, 2 bài thơ của Tân Việt (tức Nhất Linh – V.G) và 1 bài thơ của Thanh Tâm.

Trong số Tết này, Thế Lữ cũng có bài thơ: Con người vơ vẩn. Đây là bài thơ đầu tiên của Thế Lữ đăng trên báo Phong hóa. Bài thơ này đăng cùng cột với bài Tiễn ông táoCảm xuân của Tú Mỡ.

Phong hóa số 32, ngày 2-3-1933, mục Văn học có ghi thêm chữ “Thơ mới” và đăng bài thơ Trên sông Đáy của Tứ Ly và bài thơ Gửi cho người tình nhân vô tình của Nguyễn Lê Bổng.

Phong hóa số 36, ngày 3-3-1933, Nhất Linh có bài Thế nào là Thơ mới? Nhất Linh dẫn một số bài gọi là thơ mới, nhưng theo ông thì chẳng mới gì. Theo Nhất Linh, “Nó cũng như nhiều bài thơ của cụ Yên Đổ mà lắm người cho là có ý tưởng cao xa, nhưng thành thật chỉ có văn lão luyện mà không có ý tưởng gì, không có cảm giác gì. Nó cũng như nhiều bài thơ của ông Nguyễn Khắc Hiếu, nhiều bài thơ của ông Trần Tuấn Khải, văn luyện lắm, nhưng chỉ có văn luyện mà thôi, còn ngoài ra có gì nữa đâu. Toàn là những thợ thơ cả”. Nhất Linh cho rằng, “Những bài thơ như Trên sông Đáy của Tứ Ly, Con người vơ vẩn của Thế Lữ cũng có thể gọi là thơ mới được”, bởi vì nó có “ý mới, văn thể mới”.

Cũng ở số báo này, họ bỏ mục Văn học, thay vào đó là mục Thơ mới, và từ đây mục Thơ mới chính thức thế chân mục Văn học trên báo Phong hóa. Ở mục Thơ mới này, họ đăng bài Im lặng của Tân Việt, bài Rằm tháng giêng gặp người xưa của Ng. Đức Liễn.

Phong hóa số 37, ngày 10-3-1933, trang bìa, Đông Sơn dựa vào bài thơ Hầu Trời của Tản Đà với những ý: “… Bẩm con không dám man của Trời/ Những áng văn con in cả rồi:/ Hai quyển Khối tình văn thuyết lý/ Hai Khối tình con là văn chơi/ Thần tiên, Giấc mộng văn tiểu thuyết/ Đài gương, Lên sáu văn vị đời/ Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch/ Đến quyển Lên tám nay là mười/ Nhờ trời văn con mà bán được/ Chửa biết con in ra mấy mươi/ Văn đã giàu thay, lại lắm lối/ Trời nghe Trời cũng bật buồn cười/ Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:/ Anh gánh lên đây bán chợ trời[1], và “Thiên tiên ở lại, Trích tiên xuống[2], vẽ bức tranh biếm: Nam Việt kỳ quan- số 3 với dòng chú thích: Trên chợ trời. Bác bán hũ: Nguyễn Khắc Hiếu. Tranh vẽ Tản Đà ngồi giữa đống hũ: Giấc mộng con, Tản Đà văn vận, Giấc mộng lớn, Đàn bà Tàu…, ngực phải đeo bài ngà “Trích tiên”, tay phải đặt trên đùi, tay trái cầm chén rượu, nhìn chư tiên ra chiều hớn hở. Tiên nữ vây quanh. Xa xa có chú tiểu đồng đang bịt mũi.

Phong hóa số 39, ở mục Giòng nước ngược, Tú Mỡ có bài Bác bán hũ với lời dẫn: “Bài thơ này tả một bức tranh hoạt kê của họa sĩ Đông Sơn vẽ đùa ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu nhan đề là “Nam Việt kỳ quan số 3” (đăng Phong hóa số 37). Ông Tản Đà là một nhà thi sĩ kiêm tửu sĩ đã từng nổi danh một thì về lối văn ngông. Ông thường tự kiêu cho mình là “trích tiên”, coi đời tục cả, không ai đáng là tri kỷ hiểu được cái hay ho của văn mình. Tính tự kiêu đó ông đã nhiều lần thổ lộ trong văn thơ, tỏ ý muốn đem văn lên chợ Trời bán cho tiên. Tác phẩm của ông Tản Đà là những quyển: Khối tình, Khối tình con, Giấc mộng con, Còn chơi, Đàn bà Tàu, v.v…”. Bài thơ khá dài kể lại việc Tản Đà rao bán văn trên thiên đình, nhưng tới giờ cuối “Bị thất vọng, bác Tản Đà chán ngán/ Hàng ế thiu chẳng bán được chi chi/ Sực nhớ ra còn hũ rượu ti/ Nhắm với mắm, cứ tì tì ngồi chén khướt/ Tợp, lại tợp, say mềm say lướt/ Chợ tan rồi mà vưỡn cứ ngồi ngây/ Bây giờ dễ cũng còn say…”.

Phong hóa số 51, ngày 16-3-1933, Tú Mỡ có bài thơ Tu tiên, nhạo Nguyễn Khắc Hiếu muốn đi tu tiên, chớ không chê thơ Tản Đà, không nói gì liên quan tới thơ cũ – thơ mới: Văn thơ bác cũng lạ đời/ Toàn là câu chuyện trên Trời, cung Trăng…/ Cô Tiên, chú Cuội, chị Hằng/ Những mơ cùng mộng, không chằng không dây/ Ra công viết chán lại khen hay/ Văn chẳng ai mua, thế mới rầy!/ Tiên đã xuống trần thời phải chén/ Lấy gì rượu thịt bữa no say?

Phong hóa số 56, ngày 21-7-1933, chuyên mục Từ nhỏ đến lớn, có mẩu chuyện Tứ Ly lấy số tử vi ông Nguyễn Khắc Hiếu cũng không đá động gì đến chuyện thơ cũ – thơ mới, chỉ nói ông uống rượu là chính: “Gái đẹp thì không có, hay có cũng không được biết, chớ rượu nồng thì hẳn ông không còn chối vào đâu được!”.

Phong hóa số 58, ngày 4-8-1933, Nhất Linh cũng chỉ viết: Giấc mộng con khéo bất bình/ Bừng con mắt dậy thấy mình còn say.

Chuyện uống rượu của Tản Đà bị báo Phong hóa “warning” liên tục. Phong hóa số 145, ngày 19-4-1935, Tô Tử (tức Tô Ngọc Vân – V.G) vẽ tranh bìa với dòng chữ: Ông Nguyễn Lễ, vẻ mặt trào lộng hăng hái diễn thuyết bài trừ rượu. Trong đám thính giả, ông Nguyễn Khắc Hiếu là người sốt sắng nhất. Bức tranh vẽ diễn giả Nguyễn Lễ đang diễn thuyết trên bục. Bên dưới chỉ có ghế và ghế. Thính giả chỉ có mỗi ông Tản Đà, nhưng ông đang ngủ bên chai rượu uống hơn một nửa với cái ly úp trên miệng chai. Cùng thời điểm ấy, trên báo Tiểu thuyết thứ bảy, Tản Đà có bài Thơ rượu. Tản Đà viết: Đời người như giấc chiêm bao/ Ngày xưa đã mấy ai nào trăm năm/ Một đoàn lao lực, lao tâm/ Quí chi chữ thọ mà lăm sống nhiều!/ Có tiền chưa dễ mà tiêu/ Ham danh lắm kẻ như diều đứt dây/ Thương ai cho bận lòng đây/ Cho vơi hũ rượu, cho đầy túi thơ/ Cảnh đời gió gió, mưa mưa/ Buồn trông, ta phải say sưa đỡ buồn/ Rượu say, thì lại khơi nguồn/ Nên thơ, rượu cũng thêm ngon giọng tình/ Rượu, thơ, mình lại với mình/ Khi vui quên cả cái hình phù du/ Trăm năm, thơ túi rượu vò/ Nghìn năm thi sĩ, tửu đồ là ai?

Đọc bài thơ này, Tú Mỡ có ngay bài Còn say (Nhắn bác Tản Đà), đăng trên báo Phong hóa số 147, ngày 3-5-1935 (kèm bài Thơ rượu): Đã lâu, bác mới ra đời/ Tưởng rằng gột óc theo đời duy tân/ Nào ngờ bác vẫn say lăn/ Lè nhè vẫn giọng thơ văn trái mùa/ Vẫn còn mộng mị, mơ hồ/ Người đời vui sống, bác ngờ chiêm bao/ Người đời hoạt động xôn xao/ Bác vờ triết lý thanh cao: bác lười!/ Ngồi chưng nổi bệnh chán đời/ Bác buồn trời gió, rồi trời lại mưa!/ Giải buồn chén tít say sưa/ Chai con chai bố vẫn chưa hết buồn/ Rượu vào rông rống thơ tuôn/ Miệng ngâm sặc sụa hơi cồn, mùi men/ Bác rằng: khách tục bon chen/ Lao tâm, lao lực, thấp hèn bác thương/ Đời rằng: bác dở, bác ương/ Giả danh ẩn dật là phường bỏ đi/ Bác rằng: chữ thọ quý chi/ Lợi danh, hão cả! tham gì sống dai!/ Đời rằng: thuận với lẽ trời/ Sống mà gánh vác việc đời mới hay/ Còn như sống để mà… say/ Hỏi ai vất vưởng bấy nay làm gì?

Chuyện uống rượu và say sưa của Tản Đà có nhiều giai thoại, nhưng đối với vợ ông thì sao? Trong hồi ký của mình, nữ sĩ Anh Thơ cho biết sau khi nhận được giải khuyến khích Giải thưởng Tự lực văn đoàn (1939), Anh Thơ vào đời, viết cho báo Đông Tây. Trong loạt bài phỏng vấn vợ các văn nghệ sĩ, Anh Thơ cùng cô em đến gặp bà Tản Đà. Anh Thơ viết: “Tôi và Chinh đến bà Tản Đà đầu tiên, vì ông vừa mất. Hai chị em xuống tàu điện, đến một căn nhà. Tôi vừa gõ cửa đã có tiếng gắt gỏng bên trong: “Cứ đẩy cửa mà vào”. Tôi bước vào, chiếc bàn thờ thi sĩ sừng sững giữa nhà, hai bên còn đựng đầy câu đối phúng trắng lập lòa. Một bà dáng cao lớn đang ngồi trước bàn thờ. Dải khăn sô mới, còn bỏ thỏng sau lưng, bà quay bộ mặt đầy son phấn, đôi mắt to sắc, lạnh, nhìn tôi. Tôi rụt rè hỏi:

-Thưa, tôi xin hỏi, có phải bà là bà Tản Đà không ạ?

Bộ mặt đầy son phấn cau có:

-Tôi là vợ ông Tản Đà đây, cô hỏi gì? Ông ấy đã chết rồi, cô không biết sao?

-Có lẽ bà không nhận được thư phỏng vấn của tôi chăng? Tôi liền tự giới thiệu: – Tôi là phóng viên báo Đông Tây, chúng tôi muốn có một phóng sự về đời sống các bà vợ nghệ sĩ. Tôi đã gửi thư đến trước, bà có nhận được không ạ?

-Nhận được, nhưng nhà báo các cô sao cứ thích tò mò, muốn biết chuyện riêng của người ta thế? Cô tưởng làm vợ những người làm thơ thì giàu có, danh giá lắm sao?

Tôi đã thấy khó chịu, nhưng cố gắng bình tĩnh nói:

-Dạ… ít ra thì thi sĩ Tản Đà cũng nổi tiếng, tức là cũng danh giá; suốt từ Bắc chí Nam và có thể nói, cả xứ Đông Dương đều biết tài làm thơ của ông, vậy bà làm vợ ông phải là vinh dự lắm chứ ạ?

-Vinh dự à? Có phải tất cả mọi người đều thích ông ấy đâu? Thích những người làm thơ thì cô phải gần họ, phải ăn đời, ở kiếp với họ, thì mới thấy họ chẳng bao giờ có tiền, mà có tiền cũng không để cho nó nóng túi. Người ta lên xe, xuống ngựa, nhà lầu xe hơi. Còn người làm thơ ấy à? Chỉ thấy rặt những chuyện ăn ăn uống uống. Ai lại người ta có quý mình, người ta mời đến ăn, cơm rượu, cung phụng tử tế, thế mà nhà gạch hoa của người ta, ông ấy dám cuốc lên trồng húng láng để lấy rau thơm ăn gỏi, nhắm rượu. Bố mẹ tôi thật đã làm khổ cả đời tôi”[3].

Qua những gì đã trích dẫn, cụ thể, tới tháng 8-1933, báo Phong hóa đem chuyện uống rượu. mượn rượu quên đời của Tản Đà ra để cười cợt với hàm ý phê phán một thói xấu trong đời sống cộng đồng, chứ không phải “Phong hóa lại còn diễu thơ cũ bằng cách diễu Tản Đà, người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ” như Hoài Thanh đã viết trong Thi nhân Việt Nam 1932-1945. Từ việc báo Phong hóa phê phán quyết liệt thói say sưa của Tản Đà, tôi nghiệm ra rằng, báo Phong hóa muốn đưa ra một thông điệp: Sống có nghĩa là sống với hiện tại, sống vào hiện tại; hay nói cách khác, chỉ có hiện tại là sống. Sống ngay với hiện tại mới là thiết thực. Than thở, tiếc nuối quá khứ, hay mơ ước tương lai chẳng những để mình rơi vào chỗ phi thực, mà còn để mình vướng mắc vào rối loạn tâm lý, khổ đau và đánh mất hiện tại. Hiện tại là vĩnh cửu nếu mình biết xóa tan ý niệm về thời gian. Mượn rượu để quên hiện tại, để mơ tưởng những điều viển vông, xa vời không có thực thì chỉ đánh mất thời gian và năng lượng. Trong lúc đó, thời gian và năng lượng có thể dùng vào các việc đem lại an vui cho mình và người. “Thông điệp” ấy đến nay vẫn chưa lỗi thời, thậm chí còn mang tính thời sự.

Báo Phong hóa có công gì với Thơ mới?

Xin thưa, bước đầu họ có công xiển dương và phát hiện tài năng. Việc xiển dương Thơ mới lúc bấy giờ, báo Phong hóa không phải độc nhất. Nhưng việc phát hiện tài năng để khẳng định Thơ mới đắc thắng trên văn đàn, thì báo Phong hóa là duy nhất.

Thế Lữ đến với báo Phong hóa bằng văn xuôi chứ không phải bằng thơ. Truyện Thây ma xuống thang gác, ký tên Nguyễn Thế Lữ, đăng báo Phong hóa, ngày 23-12-1932. Đây là truyện đầu tiên của Thế Lữ đăng trên báo Phong hóa. Tiếp đến, báo Phong hóa ngày 13-1-1933, Thế Lữ có truyện Con châu chấu ma. Báo Phong hóa, số đặc biệt về Tết năm 1933, Thế Lữ mới đăng bài thơ đầu tiên: Con người vơ vẩn (tặng Trần Bình Lộc). Phong hóa, ngày 10-3-1933, Thế Lữ có bài thơ Lựa tiếng đàn. Báo Phong hóa, ngày 28-4-1933, Thế Lữ có truyện Cô Bụt và bài thơ Tiếng chuông chùa. Đến thời điểm này, báo Phong hóa đã đăng khá nhiều thơ mới, riêng Thế Lữ đã được đăng 4 bài. Những thành viên chính thức của báo Phong hóa cũng có đăng thơ mới trên báo nhà, như: Tân Việt (Nhất Linh), Tứ Ly (Hoàng Đạo), Việt Sinh (Thạch Lam), thế nhưng qua 4 bài thơ của Thế Lữ (số lượng chỉ bằng Lưu Trọng Lư trên báo Phong hóa, số Tết năm 1933, ít hơn Tân Việt) và đọc một số bài thơ của Thế Lữ còn ở dạng bản thảo, Nhất Linh không chút ngần ngại viết bài Nguyễn Thế Lữ – Một nhân vật mới trong làng thơ mới trên báo Phong hóa, ngày 7-7-1933. Nhất Linh viết: “Ta không nên sợ cái mới. Sợ cái mới tức là sợ tương lai, tức là có sẵn tính lười biếng chỉ muốn theo con đường cũ vạch sẵn mà đi. Quả quyết đi tìm cái mới bao giờ cũng gặp nhiều điều nguy hiểm đấy nhưng đã có cái vui vẻ nở nang của một người lúc nào cũng hăng hái muốn tiến, tiến đến một cái tương lai rực rỡ hơn.

Về mặt thi ca, ông Thế Lữ cũng là một người trong bọn người không muốn theo con đường cũ vạch sẵn, ông muốn đi tìm một lối khác, tuy chưa biết chắc đưa đến đâu, nhưng lúc ông lần theo lối đó, ông có cái thú của người đi tìm những sự mới lạ”.

Ở bài này, Nhất Linh trích dẫn rải rác 7 câu trong bài Con người vơ vẩn, 8 câu trong bài  Lựa tiếng đàn, 2 câu trong bài Người phóng lãng, 3 câu trong bài Tiếng chuông chùa. Đó là những bài đã đăng trên báo Phong hóa. Bài còn nằm trong dạng bản thảo mà Nhất Linh trích dẫn nhiều hơn 4 bài đã đăng là bài Một giấc mơ dữ dội (13 câu), bài Nhớ rừng (19 câu). Riêng bài Trước cảnh trời cao rộng, thì Nhất Linh cho đăng cùng số báo với bài viết Nguyễn Thế Lữ – Một nhân vật mới trong làng thơ mới.

Từ những gì đã trích dẫn, Nhất Linh viết tiếp: “Tả cảnh, ông tả khác hẳn các nhà thi sĩ xưa nay, điệu thơ ông dùng khác hẳn các điệu thơ khác, ông bỏ hẳn những ý tưởng cũ rích, ông đặt câu, dùng chữ một cách mạnh bạo. Ông thật hoàn toàn là một nhà thơ quả quyết xoay về lối thơ mới”. Cầm trong tay chưa tới chục bài thơ (mới trình làng 4 bài), nói như người xưa là mới… ngửi thơ, mà đã dám viết: “Có cái linh hồn thơ như ông, thêm được cái tài đặt câu, dùng chữ, lại đi vào con đường thơ mới rộng rãi, phong quang thì lo gì sau này ông không có cái tương lai rực rỡ; và làng thơ mới cũng mừng rằng được một người tiên phong có giá trị”, quả Nhất Linh có cặp mắt tinh đời. Và trong thời điểm này, Thế Lữ là thành viên thứ sáu của Tự lực văn đoàn (Nhất Linh, Tú Mỡ, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ).

Sau này, Nguyễn Lương Ngọc có viết tập hồi tưởng Nhớ bạn. Theo lời Nguyễn Lương Ngọc, thì hai người (Nguyễn Lương Ngọc, Thế Lữ) là bạn bè ở chung phòng trọ, chia nhau từng niềm vui nỗi buồn, kể cả công việc làm ăn, nhưng Nguyễn Lương Ngọc viết rất nhiều chi tiết sai. Riêng về việc Thế Lữ làm thơ, Nguyễn Lương Ngọc viết: “Thơ làm xong, anh đưa lại tòa soạn báo Phong hóa ở 80 Quán Thánh. Ban biên tập cho đăng ngay, lần lượt từ bài này đến bài khác. Giữa chừng họ đăng một bài để giới thiệu anh, gọi anh là nhà thơ của chúng ta”[4]. Như những gì đã dẫn, đã viết thì chi tiết này không đúng. Và đầu năm 1935, tập Mấy vần thơ của Nguyễn Thế Lữ ra mắt bạn đọc đã khẳng định những gì Nhất Linh đã viết, đã giới thiệu với bạn đọc. Nói như Hoài Thanh: “Tác giả Mấy vần thơ liền được tôn làm đương thời đệ nhất thi sĩ và nhờ thế đã lập được công lớn, đã mở đường cho các nhà thơ mới sau này”[5].

Sau Thế Lữ, báo Phong hóa rồi Ngày nay đăng nhiều thơ mới. Nhiều cây bút thơ trẻ thành danh từ đây, như Huy Thông, Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Liên, Thanh Tịnh, Huy Cận…, đặc biệt là Xuân Diệu. Xuân Diệu có bài thơ đầu tiên đăng trên báo Phong hóa là bài Với bàn tay ấy (Phong hóa, ngày 18-10-1935). Báo Ngày nay số mùa xuân 1937, đăng bài thơ Xa cách của Xuân Diệu. Đặc biệt, ở số báo Ngày nay, số mùa xuân 1937, Thế Lữ có bài giới thiệu: Một nhà thi sĩ mới – Xuân Diệu, khẳng định tài thơ của Xuân Diệu và đánh giá Xuân Diệu là “thiên tài”. Cuối năm 1938, Nhà xuất bản Đời nay ấn hành tập thơ đầu tay của Xuân Diệu: Thơ thơ kèm theo lời Tựa của Thế Lữ, họa sĩ Lương Xuân Nhị trình bày mỹ thuật. Qua tập Thơ thơ, Hoài Thanh (sau này có nhiều người nói theo) cho rằng “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới – nên chi những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu, mà đã thích thì phải mê”[6].

Với tôi, Thế Lữ khẳng định Thơ mới đắc thắng trên văn đàn và đến Xuân Diệu là đến đỉnh cao của Thơ mới. Công ấy không gắn với Tự lực văn đoàn, thì gắn vào đâu?

Sau tám mươi năm nhìn lại, tôi thán phục cái tâm và cái tài của những thành viên nhóm Tự lực văn đoàn. Tôi không biết lịch sử văn học Việt Nam đến bao giờ mới có được một văn đoàn như vậy. Nhưng đây cũng là niềm hứng khởi nhất thời, chứ hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta đã có đội ngũ văn nghệ sĩ vừa hồng vừa chuyên từ Trung ương đến địa phương hưởng lương từ tiền thuế của dân để lo cho mấy việc này rồi. Sau ngày giành được độc lập tự do, Tố Hữu đã tin tưởng và khẳng định: “Dưới chế độ tàn khốc trước kia, ta đã có Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, thì chế độ chúng ta, thời đại mới của chúng ta sẽ sinh ra được hàng trăm thiên tài lớn như vậy và lớn hơn như vậy”[7], thế thì cái được gọi là Phong trào Thơ mới ấy có nghĩa lý gì; bảy “ngoe” trong nhóm Tự lực văn đoàn thì có nghĩa gì so với tổ chức Hội Nhà văn các cấp của ta. Do đó, “nhìn lại” chỉ là cách tưởng niệm tiền nhân, nên bài viết của tôi như một nén tâm nhang tưởng nhớ những người đã làm nên Phong trào Thơ mới. Hy vọng họ ở dưới suối vàng cũng như tôi đang sống giữa những tháng ngày sôi động này sẽ vui, rất vui với hàng trăm thiên tài lớn và lớn hơn Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm ồ ạt xuất hiện./

[1] Thơ Tản Đà, NXB Đồng Nai, 2006, trg 82.

[2] Thơ Tản Đà, sđd, trg 85.

[3] Anh Thơ, Hồi ký văn học, NXB Phụ nữ, H, 2002, trg 185-186.

[4] Nguyễn Lương Ngọc, Nhớ bạn, NXB Văn học, H, 1992, trg 69.

[5] Thi nhân Việt Nam 1932-1941, sđd, trg 34.

[6] Thi nhân Việt Nam 1932-1941, sđd, trg 121.

[7] Tố Hữu, Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa, NXB Sự thật, H, 1982, trg 176.

 

Thế Lữ, người góp phần làm rạn vỡ lằn ranh giữa truyền thống và hiện đại

VU GIA (Tham luận Hội thảo Quốc tế Những lằn ranh văn học)

 

          Khoảng nửa thế kỷ đặt nền móng đô hộ tại Việt Nam, từng bước người Pháp mở các trường Pháp – Việt để đào tạo đội ngũ công chức bản xứ. Dần dà, chủ nghĩa cá nhân tư sản và trào lưu văn học lãng mạn xâm nhập vào lớp trẻ xuất thân từ nhà trường Pháp – Việt. Như mưa dần thấm lâu, những thập niên đầu của thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã nảy sinh nhu cầu đòi hỏi giải phóng bản ngã, đòi tự do và đời sống tình cảm riêng tư chống lại sự kiềm hãm, đè nén của xã hội phong kiến có từ ngàn năm qua. Và văn chương nhận ấn tiên phong. Nhiều thể loại văn học mới đã hình thành làm rạn vỡ lằn ranh giữa truyền thống và hiện đại…

Người khẳng định thơ mới đắc thắng

Ở Việt Nam, trước những năm đầu thập niên 30 (thế kỷ XX), người đọc Việt Nam vẫn còn mặn mà với lối văn biền ngẫu, với lối thơ Đường phải đúng niêm đúng luật, phải có đối nhau chan chát, phải có những điển tích ở đâu đâu và càng ít người biết thì mới giỏi, mới gọi là hay… Hoài Thanh cho biết: “Báo Phong hóa tập mới ra đời ngày 22 septembre 1932. Ngay số đầu tiên đã có bài công kích thơ Đường luật và kết luận rằng: “Thơ ta phải mới. Mới văn thể, mới ý tưởng”. Từ đó đến cuối năm 1932, Phong hóa không đăng thơ mới nhưng cũng không đăng thơ cũ. Phong hóa lại còn diễu thơ cũ bằng cách diễu Tản Đà, người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ. Bài “Cảm tiễn thu” của Tản Đà đã làm đầu đề cho một bức tranh khôi hài của Đông Sơn (Nhất Linh – V.G) và một bài hát nói khôi hài của Tú Mỡ. Họ so sánh cảnh thực với cảnh mộng trong trí tưởng thi nhân. Tú Mỡ viết:

Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,

Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng!

Trên đường đi nóng dẫy như rang.

Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ![1].

Ngày 24-1-1933, Thế Lữ có bài thơ đầu tiên được đăng trên báo Phong hóa. Đó là bài Con người vơ vẩn. Sau này, Thế Lữ cho biết: “Bài thơ được đăng ở một tờ báo có uy tín, có thể coi như một đảm bảo về giá trị: Tôi quyết định sẽ gửi những bài tiếp sau (nhưng trước đó, tôi đem đọc cho nhiều bạn tân nghe để thu lượm ý kiến đã)”[2]. Bước sang năm 1933, báo Phong hóa đăng nhiều thơ mới của các cây bút trẻ, như: Tứ Ly, Nguyễn Thế Lữ, Tân Việt, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Huy Thông, Đoàn Phú Tứ, Lưu Trọng Lư… Và từng bước, Thế Lữ qua “cầu nối” của người bạn để đến với Tú Mỡ, rồi từ Tú Mỡ, Thế Lữ đến với ban biên tập tuần báo Phong hóa, trở thành thành viên thứ sáu của Tự lực văn đoàn. Thơ Thế Lữ đăng trên báo Phong hóa chưa phải là nhiều và cũng không phải là những người đầu tiên khởi xướng thơ mới, cũng không phải người tranh luận về thơ mới – thơ cũ,… nhưng qua tập bản thảo, Nhất Linh phát hiện ra tài thơ của Thế Lữ và đã viết bài Nguyễn Thế Lữ – Một nhân vật mới trong làng thơ mới, đăng trên báo Phong hóa, ngày 7-7-1933. Về đại thể, Nhất Linh viết: “Sợ cái mới tức là sợ tương lai (…) Về thơ ca, ông Thế Lữ cũng là một người trong bọn người không muốn theo con đường cũ vạch sẵn, ông muốn đi tìm một lối khác, tuy chưa biết chắc đưa đến đâu, nhưng lúc ông lần theo lối đó, ông có cái thú của người đi tìm những sự mới lạ.

Không những về lối thơ của ông, đến cả ý tưởng và cách dùng chữ cũng khác hẳn với các bài thơ từ xưa tới nay. Ông chịu khó tìm tòi những điệu thơ riêng, chịu khó cân nhắc chữ dùng để tỏ ra rằng câu thơ An nam cũng mềm mại, uyển chuyển, có thể tả nổi được những ý tưởng mới, những sự rung động của một tấm linh hồn thi sĩ. Ta đã chán những bài thơ vịnh cái điếu, vịnh con cóc, mừng làm nhà mới, những bài thơ tự vịnh, tự trào bao giờ cũng theo một khuôn sáo, trăm nghìn bài đều giống nhau, chán quá, chán lắm rồi. Vì thế ta khát khao muốn có một nhà chân thi sĩ, gẩy cho ta nghe những tiếng mới, những điều lạ.

Ông Thế Lữ là một người trong bọn đó (…) Tả cảnh, ông tả khác hẳn các điệu thơ khác, ông bỏ hẳn những ý tưởng cũ rích, ông đặt câu, dùng chữ một cách mạnh bạo. Ông thật hoàn toàn là một nhà làm thơ quả quyết xoay về lối thơ mới”[3]. Và Nhất Linh rất tin vào tài thơ của Thế Lữ, chứ chưa thể nói gì nhiều vì thơ Thế Lữ chưa ra mắt bạn đọc được bao nhiêu. Cuối năm 1934, Tự lực văn đoàn đã gom 28 bài thơ của Thế Lữ để in thành sách. Tháng giêng năm 1935, nhà xuất bản Đời nay của Tự lực văn đoàn đã cho ra mắt bạn đọc gần xa tập thơ Mấy vần thơ của Nguyễn Thế Lữ. Tập thơ này thuộc về loại sách mỹ thuật của nhà xuất bản; tranh phụ bản do họa sĩ Trần Bình Lộc vẽ và khắc. Hai mươi tám bài thơ cho một tập thơ quả là quá mỏng so với nhiều tập thơ khác, nhất là những tập thơ của những ngày hôm nay. Tập thơ Mấy vần thơ của Nguyễn Thế Lữ mỏng thì có mỏng mà không hề “nhẹ” chút nào. Hoài Thanh cho biết: “Thế Lữ không bàn về thơ mới, không bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết. Thế Lữ chỉ lặng lẽ, chỉ điềm nhiên bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ”[4].

Vậy thơ của Nguyễn Thế Lữ như thế nào mà chỉ có mấy bài đã khiến cho “hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ” trong “khoảnh khắc” sau một thời gian dài cả hai phái thơ cũ và thơ mới đấu tranh quyết liệt “giành quyền sống” trên thi đàn?

Bài thơ mở đầu tập thơ Mấy vần thơ là bài Nhờ rừng (Lời con hổ ở vườn Bách thú) – Tặng Nguyễn Tường Tam.

Bài thơ gồm 5 khổ (khổ 1 có 8 dòng, khổ 2 có 12 dòng, khổ 3 có 10 dòng, khổ 4 có 9 dòng và khổ 5 có 8 dòng). Tổng cộng bài thơ Nhớ rừng có 47 dòng, trong đó khổ 4 lẻ 1 dòng (9 dòng); 2 dòng 7 tiếng, 36 dòng 8 tiếng, 7 dòng 9 tiếng và 2 dòng 10 tiếng. Năm 1941, Mấy vần thơ, tập mới, ra mắt bạn đọc, bài Nhớ rừng, được Thế Lữ thêm bớt một số chữ, nhưng vẫn còn 3 dòng 9 tiếng, 1 dòng 10 tiếng. Và hơn 70 năm qua, bài thơ Nhớ rừng được nhiều nhà nghiên cứu nói đến nhất.

Bên cạnh những cuộc tranh luận về thơ giữa hai phái cũ – mới, thì những bài thơ làm theo “lối thơ mới” của lớp người trẻ ảnh hưởng văn hóa phương Tây – lớp người xa cách hoàn toàn với những “chi, hồ, dã, giả” – được đăng đều đặn trên những tờ báo đang có uy tín ở hai miền Nam Bắc, như Phụ nữ tân văn, Phong hóa… Và qua những bài thơ ấy, “Thế Lữ như vừng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam”[5]. Theo Hoài Thanh, “thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần, cho đến tiết tấu âm thanh”[6]. Khi đọc những câu: “Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già/ Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi/ Với khi thét khúc trường ca dữ dội/ Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng/ Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng/ Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc”, Hoài Thanh cho rằng, “không ai có quyền bĩu môi trước cuộc cách mệnh thi ca đương nổi dậy. Cho đến những bài thất ngôn, ngũ ngôn, lục bát, song thất lục bát của Thế Lữ cũng khác hẳn xưa. Thế Lữ đã làm rạn vỡ những khuôn khổ ngàn năm không di dịch. Chữ dùng lại rất táo bạo. Đọc đôi bài, nhất là bài “Nhớ rừng”, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được”[7].

Hơn sáu mươi năm sau, Phạm Đình Ân cũng thấy… bài thơ Nhớ rừng có nhạc điệu “cuồn cuộn, trào dâng”[8]. Với Nguyễn Đăng Điệp, thì “Nhờ rừng chính là điệu thơ nổi bật nhất. Giọng điệu bao trùm thi phẩm là giọng điệu bi tráng, là “khúc trường ca dữ dội” cất lên từ “niềm uất hận ngàn thâu””[9]. Những năm cuối đời, Xuân Diệu nhìn lại và cho rằng: “Nhớ rừng là trứ tác của Thế Lữ”[10]. “Bước vững vàng” của Thế Lữ làm cho hàng ngũ thơ xưa tan rã trong khoảnh khắc như Hoài Thanh nhận xét, thì Xuân Diệu cũng cho đó là bài Nhớ rừng. Là người cùng thời, cùng là thành viên của Tự lực văn đoàn, Xuân Diệu khẳng định như thế và cho biết, “bài Nhớ rừng, thu hút được sự hoan nghênh của mọi người. Bài thơ về một con mãnh thú, mà có cái không khí của anh hùng ca, thật là dõng dạc, đường hoàng, thật là một “khúc trường ca dữ dội”; vì người ta chỉ nhớ nhất cái thần của bài thơ, khi con hổ “tung hoành, hống hách”; cái không khí sơn lâm là do Thế Lữ hồi nhỏ sống ở Lạng Sơn; câu thơ 8 tiếng mở rộng ra đến 9 tiếng, 10 tiếng, rất phù hợp ở đây, thành ưu điểm: hơi thơ, chất thơ, hình thức thơ đều mới”[11].

Nhưng nào đâu chỉ có thế. Chỉ vỏn vẹn 28 bài thơ, nhưng thời nào, thơ Thế Lữ cũng được nhiều nhà nghiên cứu văn học quan tâm. Theo Xuân Diệu, “Tiếng sáo Thiên Thai có 18 câu, là một bài thơ nghệ thuật thật hoàn chỉnh, không lọt một kẽ hở non tay nào. Những câu không có chữ “tiên”, không có Kim Đồng, Ngọc Nữ còn hay hơn những câu có chữ đó. Câu mở đầu Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi, viết thời ấy, chỉ mới có thế, mà đã mới, đã trẻ rồi. Chúng ta mở các truyện thơ lục bát truyền thống, bao gồm cả Truyện Kiều, xem có câu nào tả xuân như vậy không? Cành lê trắng điểm một vài bông hoa, câu thơ rất đẹp, nhưng vẫn tĩnh; Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi, một số câu thơ nói như cảnh thật, viết gần với văn xuôi, lúc đó lại là đưa đến cái mới, bài thơ cũ ước lệ nhiều quá, cách điệu hóa nhiều quá và lâu quá, trở thành khô cứng, và gò gẫm quá, văn hóa quá, hóa thành giả tạo”[12]. Với Lê Quang Hưng, thì “Tiếng sáo Thiên Thai dẫn ta vào một thế giới du dương, cao siêu, trong đó nỗi buồn cũng dìu dịu, trong sáng”[13]. Hoàng Như Mai cũng khá thích thú khi đọc Tiếng sáo Thiên Thai, và cho rằng đó là “Bài thơ thật đẹp, Thế Lữ yêu tha thiết cái đẹp, cảm thụ, nhận thức, phân tích cái đẹp và thể hiện cái đẹp thật tinh tế”[14], v.v.

Xuân Diệu rất thích thú khi đọc câu “Trời cao xanh ngắt. Ô kìa/ Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai”. Với Xuân Diệu, nếu 8 câu đầu quá tĩnh, thì đến đây “bức tranh giật mình, trở lại với sự sống. Thế Lữ có lần viết: “Suốt đêm thức để trông ai – Ơ kìa ánh lửa đỏ ngời phương Đông”, thì “ơ kìa” đứng ở đầu câu, và lại là ơ kìa chứ không phải “ô kìa”. Ô kìa ngạc nhiên hơn và thanh tú hơn nhiều: “ô kìa! xem đẹp quá”, “ơ kìa, sao lại thế này?”. Một lần khác, nhà thơ cũng kêu lên: “Sau trúc, ô kìa! xiêm áo ai?”. “Ô kìa” trong Tiếng sáo Thiên Thai đứng lẩy hẳn ở cuối câu, và là bắt đầu cho một câu khác; trong thơ Việt Nam có Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ! Của Hồ Xuân Hương, và có Trời cao xanh ngắt! Ô kìa của Thế Lữ; câu thứ hai sáng tạo về nghệ thuật hơn”[15]. Cách bình này nghe cũng mới, cũng có tìm tòi và cho thấy lớp người trẻ xuất thân từ nhà trường Pháp – Việt đã tiếp thu và đưa vào thơ Việt cách thể hiện tâm tư, tình cảm không còn giống như ông cha ảnh hưởng Tứ thư, Ngũ kinh. Nhưng tôi tin Thế Lữ không chủ tâm lựa vần, sắp chữ như thế, bởi người nghệ sĩ là người sáng tạo theo tài năng, sở trường của mình chứ không ai thử tính toán giá trị tới đâu, thế nào… Một khi người nghệ sĩ mãi suy nghĩ như thế thì khó có thể có được tác phẩm để đời. Nhờ vậy mà hơn 70 năm qua, người yêu thơ không chỉ nhớ bài Nhớ rừng, Tiếng sáo Thiên Thai mà còn những bài khác, như: Vẻ đẹp thoáng qua, Giây phút chạnh lòng, Hoài xuân, Thức giấc, Tiếng trúc tuyệt vời, Ngày xưa còn nhỏ, Sáng, Trưa, Chiều, Tối… Có lẽ vì vậy mà ngay từ những năm đầu thập niên 40 (thế kỷ XX), Vũ Ngọc Phan đã không ngần ngại nói như định đóng cột: “Ông là một thi sĩ có công đầu trong việc xây dựng nền thơ mới. Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là làm cho người ta chú ý đến thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai của thơ mới”[16].

Thời tuổi trẻ, thơ Thế Lữ đã góp phần “nuôi sống” tâm hồn chúng tôi. Những lúc ngồi tán chuyện thời thế, thì không thiếu người nhún vai rất kịch, lên giọng kiêu bạc và không thiếu phần tuyệt vọng: “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”. Hồi trước ở đô thị miền Nam, câu thơ này Thế Lữ được lớp trẻ chúng tôi áp dụng vào thực tế cuộc sống khá nhiều, trở thành câu nói đầu môi mỗi khi chấp nhận số phận, chấp nhận cuộc sống hiện hữu không đúng với ước nguyện ban đầu. Thơ Thế Lữ có nhiều câu trở thành gan ruột với lớp trẻ chúng tôi lúc bấy giờ. Những năm học xa nhà, ngày tết không sum họp gia đình được, có khi vì thiếu tiền, có khi vì đường sá không mấy an toàn, nên đành nằm gác trọ đọc truyện kiếm hiệp Kim Dung. Lúc tiếng pháo giao thừa nổ ran, nhà trên xóm dưới cúng giao thừa, chúng tôi cũng tủi lòng và câu thơ của Thế Lữ thường vụt hiện: “Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan/ Trong lúc gần xa pháo nổ ran/ Rũ áo phong sương trên gác trọ/ Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang”. Và có lúc, chúng tôi khóc ngon lành dù trước đó mấy phút không ai nghĩ mình sẽ khóc. Thế Lữ còn có những câu thơ mà ngày đó lớp trẻ chúng tôi, cả nam lẫn nữ không ai không thuộc, ít ra cũng có một lần vận vào cuộc đời mình: “Anh đi đường anh, tôi đường tôi/ Tình nghĩa đôi ta có thế thôi/ Đã quyết không mong sum họp mãi/ Bận lòng chi nữa phút chia phôi”; “Cái buổi ban đầu lưu luyến ấy/ Ngàn năm chưa dễ đã ai quên”

Bây giờ, tôi vẫn yêu thơ Thế Lữ, cho thấy thơ Thế Lữ đã đi vào lòng người đọc nhiều thế hệ. Và không ai khác, chính Thế Lữ đã khẳng định thơ mới đắc thắng trên thi đàn, đồng nghĩa với việc thơ Thế Lữ làm rạn vỡ lằn ranh giữa truyền thống và hiện đại trong lịch sử văn học Việt Nam.

Người mở đầu loại truyện trinh thám

Khi tham gia Tự lực văn đoàn, ngoài việc làm thơ, viết báo, Thế Lữ còn viết loại truyện quái dị, rùng rợn nhưng giải thích sự việc bí hiểm bằng lý luận và phân tích khoa học… Đó là truyện trinh thám, một thể loại văn học rất mới với bạn đọc Việt Nam lúc bấy giờ. Ở thể loại này, Thế Lữ ảnh hưởng Conan Doyle[17] khá rõ qua nhân vật Lê Phong. Lê Phong chính là Sherlock Holmes của Thế Lữ. Báo Ngày nay, ngày 2-4-1935, khởi đăng Lê Phong, phóng viên trinh thám của Thế Lữ, kéo dài đến ngày 21-5-1935. Khi in thành sách, Thế Lữ lấy nhan đề gọn hơn: Lê Phong phóng viên. Được độc giả ủng hộ, ông viết tiếp những truyện trinh thám khác trên báo Ngày nay, như: Mai Hương và Lê Phong, Gói thuốc lá, Đòn hẹn, Thuốc bả chuột, Những nét chữ, Cái chết ghê gớm của Lê Phong,v.v.

Ảnh hưởng Conan Doyle trong cách dựng truyện, cách xây dựng nhân vật cùng những tình tiết…, nhưng không xa lạ với bạn đọc nước nhà là Thế Lữ có đầu tư công sức và chọn lọc khá kỹ trong “rừng” tác giả phương Tây viết truyện trinh thám lúc bấy giờ. Tôi nói điều này, vì đầu năm 2008, tờ Daily Telegraph “bình chọn top 50 cây bút trinh thám mà độc giả cần đọc trước khi chết”[18], thì tác giả Connan Doyle được xếp thứ hai với tác phẩm The Hound of the Baskervilles, sau K. Chesterton với tác phẩm The Complete Father Brown. Trên trang mạng về Sir Arthur Conan Doyle, tôi thấy nhân vật Sherlock Holmes của Conan Doyle đã xuất hiện trong 4 tiểu thuyết (A Study in Scalet, 1887; The Sign of the Four, 1890; The Hound of the Baskervilles, 1901; The Valley of Fear, 1915), và 56 truyện ngắn. Những truyện ngắn này được Conan Doyle đăng trên các báo, tạp chí, sau đó dồn vào 5 tập truyện (The Adventures of Sherlock Holmes, The Memoirs of Sherlock Holmes, The Return of Sherlock Holmes, His Last Bow, The Case-Book of Sherlock Holmes).

Với số lượng như vậy, tôi không có thì giờ và cũng không muốn đọc hết, vì chưa có ý định nghiên cứu về Conan Doyle. Nhưng chuyện chữ nghĩa cứ như có ma. Lướt qua những dòng chữ: “When Conan Doyle decided that he had written enough Sherlock Holmes stories, he wrote once in which Moriary killed the great detective. There was a public outcry. Doyle’s readers were quite angry, and he had to write a story in which Holmes appeared again – he hadn’t died, after all!” (Khi Conan Doyle quyết định rằng ông đã viết đủ nhiều về truyện Sherlock Holmes, ông đã viết một truyện trong đó Moriary giết chết nhà thám tử tài ba. Công chúng đã lên tiếng phản đối kịch liệt. Bạn đọc của Doyle vô cùng tức giận và vì vậy ông phải viết một truyện khác trong đó Holmes lại xuất hiện – sau cùng Holmes vẫn chưa chết!), tôi nhớ đến truyện Cái chết ghê gớm của Lê Phong của Thế Lữ, đăng trên báo Ngày nay, ngày 25-4-1937. Cái chết của Lê Phong không gây xôn xao dư luận như cái chết của Sherlock Holmes, bởi cuộc sống của phần lớn nhân dân Việt Nam ngày đó đâu cho phép bạn đọc làm mình làm mẩy với nhà văn như bạn đọc Vương quốc Anh. Cha chết không bằng hết ăn, huống chi cái chết của nhân vật tiểu thuyết Lê Phong. Biết vậy, nên cuối truyện, Thế Lữ cho đó là “trò chơi” của Lê Phong. Đọc lời ghi chú của bác sĩ Watson (A note from Dr Watson), tôi thấy có đoạn: “Sherlock Holmes was one of the cleverest and most important detectives in all England some years ago. The police often asked him to help them. My name is Dr Watson, and I helped Holmes with many of his cases” (Sherlock Holmes là một trong những nhà thám tử quan trọng nhất và thông minh nhất trên toàn nước Anh cách đây vài năm. Cảnh sát thường nhờ anh ta giúp đỡ. Tôi là bác sĩ Watson, đã giúp Holmes trong rất nhiều vụ), và Watson đã kể lại những vụ phá án của Sherlock Holmes.

Ngày đó, Việt Nam làm gì có thám tử tư nên Thế Lữ cho phóng viên Lê Phong làm thám tử để phục vụ bạn đọc qua những bài điều tra của mình. Và chủ bút Văn Bình làm nhiệm vụ kể lại cho bạn đọc nghe về công việc của phóng viên Lê Phong. Báo Thời Thế – nơi Lê Phong làm việc – là tờ báo có số lượng bạn đọc đông nhất so với thị trường báo chí ở Bắc kỳ lúc bấy giờ, và Lê Phong là phóng viên thông minh nhất, nhạy bén nhất, chuyên viết về những vụ án ly kỳ nhất của báo. Do đó, chúng ta dễ dàng nhận ra nhân vật Lê Phong của Thế Lữ chính là nhân vật Sherlock Holmes của Conan Doyle, còn bác sĩ Watson chính là chủ bút báo Thời Thế Văn Bình.

Nếu ở truyện The Six Napoleons, Conan Doyle có tình bạn giữa thám tử sở cảnh sát Lestrade với thám tử tư Sherlock Holmes: “Mr Lestrade, a detective from Scotland Yard, often visited my friend Sherlock Holmes and me in the evening. Holmes enjoyed talking to Lestrade because he learned useful facts about what was happening at London’s most important police station. Lestrade liked these visits too, because Holmes was a good detective and always listened carefully if Lestrade had a difficult case. Holmes could often help Lestrade” (Lestrade, viên thám tử của sở cảnh sát Hoàng gia Anh (Scotland Yard), thường ghé đến thăm Sherlock Holmes và tôi vào buổi tối. Holmes rất thích trò chuyện với Lestrade vì ông có thể biết được nhiều điều bổ ích đang xảy ra tại một đồn cảnh sát nổi tiếng nhất ở London. Lestrade cũng thích những cuộc viếng thăm này vì Holmes là một thám tử tài ba và luôn biết lắng nghe khi Lestra gặp khó khăn. Holmes thường có thể giúp đỡ Lestrade), thì trong truyện Mai Hương và Lê Phong, Thế Lữ cũng xây dựng một tình bạn như vậy: “Ông T. Phụng đứng lại, ông này vào trạc hăm chín, ba mươi tuổi, mặc đồ xám, gọn ghẽ, lịch sự, người nhỏ nhắn nghiêm nghị, nhưng dễ thương, khuôn mặt xương xương, vẻ mặt thông minh và thành thực. Ông T. Phụng làm ở sở liêm phóng Hà Nội, một người thiếu niên làm việc rất cẩn thận và minh mẫn, thường gặp Lê Phong trong các vụ bí mật mà ông ta khám phá được rất chóng ít khi chịu trái ý kiến Lê Phong. Lê Phong không bao giờ giấu những “bí thuật” của mình. Anh khéo bày diễn những điều xét đoán của anh một cách khiêm tốn, khiến cho nhà trinh thám của sở liêm phóng bao giờ cũng không bị tổn đến lòng tự ái, và thường nhất nhất theo lời chỉ dẫn của người phóng viên. Tuy hai bên nhiều khi cũng không ăn ý nhau, tuy thỉnh thoảng sự ganh cạnh nhà nghề có làm cho họ coi nhau như hai địch thủ, và tuy một đôi khi Lê Phong có trêu tức “nhà liêm phóng” vì bài tường thuật lý thú hóm hỉnh, nhưng bao giờ gặp mặt, hai người cũng chào hỏi nhau một cách thực như hai người bạn thân”[19].

Ở truyện The Golden Glasses, Conan Doyle có một thám tử khác: “It was Stanley Hopkins, a young detective from Scotland Yard. Holmes and I had helped him with a few cases in the past” (Đó là Stanley Hopkins, nhà thám tử trẻ của sở cảnh sát Hoàng gia (Scotland Yard). Holmes và tôi trước đây đã từng giúp anh ta vài vụ), thì ở truyện Gói thuốc lá, Thế Lữ có “Mai Trung làm Thanh tra mật thám ở sở liêm phóng. Ông ta là người rất mẫn cán, thường lập nhiều công trạng trong mấy năm gần đây. Ông thành công vì kiên tâm, vì chịu đem hết mưu mẹo “kinh điển” trong khoa do thám ra thực hành, nhưng cũng vì nhờ có những tai mắt của ông ở khắp nơi, tức là những người “điểm chỉ” rất lanh lợi (…) Phong lại hay khám phá “giúp” ông những cái bí mật”[20]

Nếu ở truyện The Norwood Builder, Sherlock Holmes than: ““There seem to be no interresting cases any more, Watson”, Sherlock Holmes said to me. “London isn’t interesting now”” (““Dường như chẳng còn vụ nào hấp dẫn nữa, Watson ạ”, Sherlock Holmes nói với tôi. “London bây giờ chẳng còn thú vị tí nào””), thì ý này ta cũng gặp trong một số truyện trinh thám của Thế Lữ. Cụ thể trong truyện Gói thuốc lá, Văn Bình trên đường đến báo cho Lê Phong biết Đường đã chết, “Anh biết chắc Lê Phong sẽ ngạc nhiên, sẽ kinh dị nữa cũng nên. Mà có kinh ngạc thì Lê Phong mới thấy cuộc đời có đủ ý vị. Người phóng viên trinh thám ấy ít lâu nay buồn vì phải nghỉ ngơi nhiều quá”[21]. Hoặc ở truyện Những nét chữ: “Vẻ mặt rất nghiêm trang trầm mặc, Phong như đang để hết tinh thần vào cả bức thư. Cái bản năng của con nhà nghề lại thấy rõ rệt phát lộ ra, tuy rằng ít lâu nay anh không có việc gì bí mật phải khám phá hết.

Lê Phong không được dịp làm phóng viên như trước vẫn lấy làm bực dọc”[22]. Hoặc ở truyện Cái chết ghê gớm của Lê Phong: “Đã lâu nay anh phàn nàn rằng chẳng gặp một chuyện nào ly kỳ để bắt anh ta phải bận trí”[23]. Hoặc ở truyện Thuốc bả chuột: “Đối với chàng, đời không có án mạng ly kỳ là đời không đáng kể, cũng như đối với Lý Bạch, đời không có rượu là đời vứt đi!”[24]

Bác sĩ Watson là người bạn, người giúp việc tận tụy của Sherlock Holmes, nhưng Sherlock Holmes hay coi thường cách suy nghĩ, cách phân tích sự việc của Watson. Ví dụ, trong truyện The Norwood Buider, Sherlock Holmes trả lời đề nghị của Watson: “No, it isn’t necessary; you can’t help me” (Không, không cần thiết; anh không giúp gì được cho tôi đâu). Trong một số truyện trinh thám của Thế Lữ cũng có những ý tương tự. Chẳng hạn, trong truyện Gói thuốc lá, Lê Phong nói với Văn Bình: “Anh hay vô ý lắm, hỏng việc của tôi mất…”[25], hoặc ngăn không cho Văn Bình đến nhà Đường nữa, “vì anh đến thì nguy cho việc của tôi. Vì… vì anh hay hớ hênh lắm”[26]… Hoặc trong truyện Thuốc bả chuột, Lê Phong nói với Văn Bình: “Anh đã không có tài, không có trí lại không chịu tra cứu, đã thế lại còn không chân thực”[27]; lại còn nói: “Nghĩa là, điều thứ nhất, anh là đồ dốt, điều thứ hai anh là đồ tồi, người ta chưa nói xong đã hỏi dớ dẩn”[28]

Ở truyện The Norwood Builder có đoạn: “Holmes showed me a plan he had made of Oldacre’s house and garden” (Holmes cho tôi xem sơ đồ căn nhà và vườn của Oldacre mà anh ta đã vẽ), thì ở truyện  Lê Phong – phóng viên trinh thám, Thế Lữ cũng vẽ trực tiếp bản đồ nhà Lường Duỳn để minh họa (dĩ nhiên cũng có phần lấp chỗ trống, song không thể không nghĩ tới gợi ý này)[29].

Nếu ở truyện The Six Napoleons, Sherlock Holmes lợi dụng báo chí để lừa thủ phạm: “What Mr Harker wrote in the newspaper helped us. He made Beppo think that the police had the wrong idea” (Những điều ông Harker viết trên báo chí đã giúp chúng ta. Ông ấy đã khiến cho Beppo nghĩ rằng cảnh sát đã sai lầm), thì ở truyện Gói thuốc lá, Lê Phong cũng có hành động tương tự: “Thạc chết rồi, tôi biết. Có lẽ họ đã cho vào nhà xác và đợi giờ mổ tử thi nữa cũng chưa biết chừng. Nhưng anh cứ đăng báo là Thạc chưa chết, anh nghe không?”[30], vân vân và vân vân.

#

Chúng ta đang sống trong “Thế giới phẳng”, người biết chữ nhiều hơn thời của Thế Lữ, nói đúng hơn, gần 100% người Việt Nam biết chữ; trình độ học vấn của rất nhiều người Việt Nam cũng cao gấp bội lần so với hầu hết lớp nhà văn thời Thế Lữ; thế nhưng đến nay trên văn đàn chưa có tác phẩm nào có “độ rung” cần thiết để làm nên cuộc cách mạng văn học như thời của Thế Lữ, dù từ lâu, Tố Hữu đã nói chắc như bắp rằng: “Dưới chế độ tàn khốc trước kia, ta đã có Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm thì dưới chế độ chúng ta, thời đại mới của chúng ta sẽ sinh ra được hàng trăm thiên tài lớn như vậy và lớn hơn như vậy”[31]. Chúng ta cần phải suy nghĩ!

[1] Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam 1932-1941, NXB Văn học, H, 1988, trg 24-25.

[2] Đề cương hồi ký của Thế Lữ, báo Văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam, ngày 30-5-1992.

[3] Nhất Linh, Nguyễn Thế Lữ – Một nhân vật mới trong làng thơ mới, báo Phong hóa, ngày 7-7-1933.

[4] Thi nhân Việt Nam 1932-1941, sđd, trg 58.

[5] Thi nhân Việt Nam 1932-1941, sđd, trg 57.

[6] Thi nhân Việt Nam 1932-1941, sđd, trg 58.

[7][7] Thi nhân Việt Nam 1932-1941, sđd, trg 58.

[8] Phạm Đình Ân, Thế Lữ với những đóng góp vào tiến trình hiện đại hóa văn học, nghệ thuật Việt Nam.- Dẫn theo Thế Lữ – Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, H, 2006, trg 32.

[9] Nguyễn Đăng Điệp, Nhớ rừng, điệu thơ nổi bật nhất của cây đàn muôn điệu.- Dẫn theo Thế Lữ – Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, H, 2006, trg 343.

[10] Xuân Diệu, Đọc thơ Thế Lữ.- Dẫn theo Tuyển tập Thế Lữ, NXB Văn học, H, 1983, trg 591.

[11] Đọc thơ Thế Lữ, sđd, trg 591.

[12] Đọc thơ Thế Lữ, sđd, trg 583-584.

[13] Lê Quang Hưng, Một lần trở về.- Dẫn theo Thế Lữ – Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, H, 2006, trg 388.

[14] Hoàng Như Nai, Tiếng sáo Thiên Thai.- Dẫn theo Tủ sách văn học trong nàh trường: Vũ Đình Liên – Nguyễn Nhược Pháp – Phạm Huy Thông – Thế Lữ, NXB Văn nghệ, TPHCM, 1998, trg 69.

[15] Đọc thơ Thế Lữ, sđd, trg 584-585.

[16] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, T. 2, NXB KHXH, H, 1989, trg 691.

[17] Sir Arthur Conan Doyle (1859-1930), nhà văn Anh xứ Scotland.

[18] 50 nhà văn trinh thám giỏi nhất mọi thời, website VnExpress.net, ngày 25-2-2008.

[19] Thế Lữ, Mai Hương và Lê Phong, NXB Văn nghệ, TPHCM, 1996, trg 28-29.

[20] Thế Lữ, Gói thuốc lá, NXB Đời nay, S, 1963, trg 42-43.

[21] Gói thuốc lá, sđd, trg 18.

[22] Những nét chữ.- Dẫn theo Thế Lữ truyển tập – Truyện trinh thám, NXB Thanh niên, H, 2006, trg 87.

[23] Thế Lữ, Cái chết ghê gớm của Lê Phong, báo Ngày nay, ngày 25-4-1937.

[24] Thế Lữ, Thuốc bả chuột, báo Ngày nay, ngày 25-7-1937.

[25] Gói thuốc lá, sđd, trg 42.

[26] Gói thuốc lá, sđd, trg 97.

[27] Thế Lữ, Thuốc bả chuột, báo Ngày nay, ngày 25-7-1937.

[28] Thế Lữ, Thuốc bả chuột, báo Ngày nay, ngày 25-7-1937.

[29] Thế Lữ,  Lê Phong – phóng viên trinh thám, báo Ngày nay, ngày 30-4-1935.

[30] Thế Lữ, Gói thuốc lá, NXB Đời nay, S, 1963, trg 107.

[31] Tố Hữu, Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa, NXB Sự thật, H, 1982, trg 176.

XUÂN DIỆU 

ẤN TƯỢNG CỦA MỘT THỜI TUỔI TRẺ

Xuân Diệu là thành viên duy nhất trong Tự lực văn đoàn mà tôi có dịp gặp, trò chuyện không chỉ một lần mà rất nhiều lần. Hồi cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, vợ tôi làm chung cơ quan với bác Tịnh Hà[1] – người em duy nhất cùng cha cùng mẹ với Xuân Diệu. Đây là cơ quan đại diện của Tuần báo Văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam, ở phía Nam, nên không có mấy người. Ngày đó cuộc sống còn khó khăn, nên tôi phải đưa rước vợ và hay nói chuyện tào lao với bác Tịnh Hà, lắm lúc cả hai cùng kéo ra vỉa hè làm cái “xây chừng” (cà phê đen), tán chuyện bao đồng cả tiếng đồng hồ chưa dứt. Cuộc đời của bác Tịnh Hà rất phong phú, nghe hoài không biết chán. Lần nào nhà thơ Xuân Diệu vào Sài Gòn, thì việc trước tiên là tới cơ quan thăm em. Nhiều lần có cả nhà thơ Huy Cận. Lắm lúc, nhà thơ Xuân Diệu nhờ tôi chở đi đây đi đó, khi thì đi mua xoài, khi thì đi thăm bạn, khi thì đi nhận nhuận bút ở các báo xuất bản tại TPHCM… Những lúc ấy thì nói chuyện không nhiều, chủ yếu là nghe – nghe ông chỉ dẫn thế nào là xoài ngon, thế nào là tình bạn, làm thế nào để tạo tên tuổi, v.v.

Những lúc nói chuyện nhiều với nhà thơ Xuân Diệu là những lúc phải thực hiện “kịch bản” do bác Tịnh Hà dàn dựng. Mỗi lần vào gặp bác Tịnh Hà ở cơ quan, lời đầu tiên của Xuân Diệu là “Quà của em đây!”. Bác Tịnh Hà thương kính anh lắm, nên luôn đứng thẳng người, cúi đầu, đưa hai tay ra nhận. Nếu thấy gói quà lớn lớn là biết có Huy Cận vào, vì trong giấy gói chắc chắn có hai mẩu bánh mì và hai điếu thuốc lá đầu lọc Hàng không. Còn thấy gói giấy nhỏ hơn, thì bác Tịnh Hà biết không có nhà thơ Huy Cận. Và sau đó, chúng tôi thường chia nhau phần quà ấy.

Lần nào cũng như lần nào, hễ thấy bác Tịnh Hà nháy mắt, là tôi lẳng lặng xuống bếp, tháo vòi, xì nhè nhẹ lốp xe đạp, và lên tiếng: “Bánh trước (hoặc bánh sau) xe của bác xẹp rồi, bác Tịnh Hà ơi!”. Câu trả lời tôi đã biết trước: “Chắc hở vá đó. Tí xíu nữa ứng tiền vợ ông mới đi vá được”. Thế là, Xuân Diệu vội vã móc tiền đưa cho bác Tịnh Hà: “Thôi ứng làm gì; em cầm tiền này ra vá nhanh để có xe mà đi. Thấy cần thiết thì em thay xăm luôn. Em nhớ thay loại xăm tốt tốt để đi cho bền”. Khi thì tôi thấy dây thun chằn quấn vào bánh xe rồi hô hoán lên như một phát hiện mới, và Xuân Diệu cho tiền em “thay cả xăm lẫn lốp”… Những lần như vậy, tôi có bổn phận tiếp chuyện với nhà thơ Xuân Diệu, chờ bác Tịnh Hà đi “vá” xe, hoặc đi thay “cả xăm lẫn lốp” về.

Bác Tịnh Hà sống rất hào sảng, kiểu “chơi xả láng sáng về sớm” của những “anh Hai Nam Bộ”, nên biết tính tiết kiệm quá mức của anh, bèn phải nhờ tôi phối hợp làm những trò mèo ấy nhằm “kiếm chút tiền còm uống cà phê” – cách nói của bác Tịnh Hà, chứ thật lòng Xuân Diệu thương em lắm. Và bác Tịnh Hà cũng biết đó là tình cảm quan tâm của người anh đối với em. Loại tình cảm này thật khó diễn tả bằng lời, nặng tựa như Thái Sơn và sâu như biển cả… Chứng kiến những lần Xuân Diệu ghé thăm bác Tịnh Hà ở Văn phòng Thường trực các tỉnh phía Nam Tuần báo Văn nghệ, tôi thấy bác Tịnh Hà dù lớn bao nhiêu, dưới mắt ông, Tịnh Hà cũng chỉ là người em bé bỏng, phải được quan tâm và chiếu cố. Theo bác Tịnh Hà kể hồi Sài Gòn giải phóng (30-4-1975), bác sống trong nghèo khổ với người bạn đời có hai đứa con trai riêng còn nhỏ. Lúc đó, bác đang bệnh, nằm nhà nhìn qua vách lá đã mục coi ké T.V bên nhà hàng xóm và thấy nhà thơ Huy Cận đang nói chuyện với văn nghệ sĩ miền Nam. Đêm đó, bác Tịnh Hà viết lá thư báo cho Huy Cận biết mình còn sống và đang bị bệnh. Sáng ra, ông giao lá thư cho đứa con trai lớn, dặn cứ đến Dinh Độc Lập (nay là Dinh Thống Nhất) xin gặp nhà thơ Huy Cận và đưa lá thư ấy. Cậu con ông đi theo lời dặn, và các chú bộ đội chỉ dẫn đến Tòa Đô chính (nay là Ủy ban nhân dân TPHCM), rồi tiếp tục được hướng dẫn đến khách sạn Majectic (số 1 đường Đồng Khởi, quận 1, hiện nay), và gặp được nhà thơ Huy Cận. Huy Cận vội vã điện báo cho Xuân Diệu biết, rồi cùng đứa con trai bác Tịnh Hà (con riêng của vợ, chứ bác Tịnh Hà không có con) và chiếc xe đạp lên xe U-oát, chạy thẳng về nơi Tịnh Hà sống, đưa Tịnh Hà đi bệnh viện…

Mấy ngày sau, Xuân Diệu vào, mua cho em cái nhà ở chỗ Cầu Bông (quận Bình Thạnh, giáp ranh với quận 1) những 3.000 đồng. Xuân Diệu còn xin cho em vào làm việc ở Tuần báo Văn nghệ giải phóng, sau đó là Văn phòng Thường trực các tỉnh phía Nam Tuần báo Văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam. Nhờ vậy, bác Tịnh Hà mới có được căn nhà đàng hoàng để ở, có công ăn việc làm ổn định cho đến cuối đời. Một lần, bác Tịnh Hà khoe vừa được anh trai dẫn tới giới thiệu với sui gia (bố mẹ vợ của Cù Huy Hà Vũ), và nói rõ khi nào bác cần số vốn làm ăn từ 10 cây vàng đổ lại, thì bố mẹ vợ Cù Huy Hà Vũ mạnh dạn giao rồi tính lại với Xuân Diệu. Bác Tịnh Hà cười hể hả, rồi hỏi tôi nên làm gì. Tôi thú thật chẳng biết làm gì, nếu có được một số vốn như vậy. Bác Tịnh Hà suy nghĩ một hồi, nói: “Kiếm ít tiền còm uống cà phê thì được, chứ nhiều quá như vậy là hổng nên. Nhưng biết đâu… nhất dạ sinh bá kế. Tối nay, tôi nghĩ ra cách làm giàu…”. Bác cười rất chi là thú vị, nói tiếp: “Lúc đó, tôi sẽ không quên ông”. Tôi chỉ biết cười trừ, chứ góp bàn được gì. Chuyện tính toán làm ăn để lãi mẹ đẻ lãi con, tôi là kẻ dại khờ, và ông cũng chẳng hơn gì tôi. Ông đã lăn lộn vào đời từ tuổi thiếu niên, rồi tham gia cách mạng, từng có tác phẩm in chung với Tế Hanh hồi còn ở Liên khu IV; rồi vì tiếng gọi của con tim mà bỏ về thành. Chuyện này ông kể rất vui, nhưng cũng thấy ông rất thương Xuân Diệu: “Mình làm gì thì làm nhưng phải nghĩ tới anh em. Đời tôi chỉ thương má tôi và anh Diệu. Tôi mà dinh-tê về thành là ảnh hưởng tới bước đường công tác của anh Diệu, nên tôi suy nghĩ lung lắm. Một hôm trên đường công tác, tôi gặp xác một chiến sĩ của ta hy sinh, tôi đổi giấy tờ. Vậy là tôi dinh-tê”. Nhưng như Xuân Diệu đã nói: “Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt/ Cơm áo không đùa với khách thơ”, sau ngày dinh-tê, Tịnh Hà phải làm đủ nghề để kiếm sống, từ viết báo, làm báo, viết văn, kể cả làm sở Mỹ, rồi đạp xe ba bánh đi bán than dạo.

Tình đến tình đi chẳng có gì níu giữ. Một đêm mưa lạnh, ông tấp chiếc xe ba bánh vào quán cóc ven đường tìm ly cà phê nóng cho ấm lòng. Và người mẹ của hai đứa con nhỏ dại sau khi mang ra ly cà phê đen nóng mời khách đã đem lòng thương ông, chăm sóc cuộc đời ông cho đến ngày giã từ cõi tạm.

Qua ông, tôi mới gặp và trò chuyện với nhà thơ Xuân Diệu nhiều lần, song tôi thấy ít có người nào như ông. Mỗi lần Xuân Diệu dặn dò điều gì, ông đều vòng tay, cúi đầu, kính cẩn lắng nghe, mặc dầu lúc đó ông cũng đã cận kề một vòng hoa giáp rồi chứ còn trẻ dại đâu. Những lúc phải trò chuyện với Xuân Diệu để ông “kiếm chút tiền còm uống cà phê”, tôi chẳng biết nói gì ngoài việc nói về thơ Xuân Diệu với lớp trẻ đô thị miền Nam (thông qua thực tế một thời từ bản thân tôi và bạn bè tôi), và chút hiểu biết về văn chương Tự lực văn đoàn qua những trích đoạn trong sách giáo khoa mà lớp trẻ chúng tôi phải học, thậm chí còn học thuộc lòng. Dường như những chuyện tôi kể cũng lạ, nên Xuân Diệu thích lắm. Hễ chỗ nào tôi nói không đúng, thì ông sửa lại, thậm chí đọc lại cả bài thơ cho tôi nghe, khiến tôi phục lăn về trí nhớ tuyệt vời của ông.

Vợ chồng tôi gọi Tịnh Hà bằng bác, nên cũng gọi Xuân Diệu bằng bác. Nhưng ngay từ đầu, Xuân Diệu dặn: “Bác của miền Bắc chứ không phải bác của miền Trung, miền Nam đâu nhé. Nhà thơ không có tuổi bao giờ”. Vậy là tôi cứ gọi bác, xưng em với Xuân Diệu. Ngày đó, tôi mới viết được đôi ba bài báo vặt và cũng chưa hề có chút ý định gì về việc viết truyện để in thành sách, viết biên khảo, nhất là viết về các thành viên Tự lực văn đoàn, nên chẳng khai thác được gì ngoài những câu chuyện chắp vá hơi có chút tào lao để “được việc” cho bác Tịnh Hà.

Qua mấy đợt chuyện trò, tôi bạo gan hỏi: “Vừa rồi, anh Huy Đức (nay hơn 70 tuổi), cán bộ biên tập báo Sài Gòn giải phóng; trước giải phóng, anh ở ngoài Bắc và công tác bên ngành giáo dục. Anh kể, một lần được ban giám hiệu phân công tới nhà mời bác đến trường nói chuyện thơ. Bác hỏi có bia không, có thịt gà không. Có hai khoản ấy, bác mới đến nói chuyện. Em không tin, nên… hỏi bác”. Xuân Diệu lắc lắc cái đầu với mái tóc quăn bồng bềnh rất nghệ sĩ, khẳng định đó là chuyện thật và ngày ấy, hầu như bất kỳ cơ quan nào muốn mời Xuân Diệu đến nói chuyện thơ đều biết “thủ tục” đó. Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên, Xuân Diệu nói: “Em không biết đâu. Hồi đó để mua được một két bia Trúc Bạch, phải có chữ ký phê duyệt của ngành thương nghiệp cấp tỉnh, thành. Vì thế, nếu người ta thật tâm muốn mời mình đến nói chuyện, chứ không phải vì thành tích, hay vì cần có mấy dòng trong báo cáo tổng kết cuối năm cho sang, cho thấy có văn hóa thì họ phải có chút công sức để tìm cho được chữ ký ấy. Mình làm vậy là để giữ chút thể diện không chỉ cho mình mà còn cho anh em văn nghệ sĩ nói chung, nhà thơ nói riêng, chứ bia mình chỉ uống một vài cốc; thịt gà thì gắp một vài miếng. Cái chính là để biết họ có thật lòng với nhà thơ không và cũng là dịp bồi dưỡng cho anh em chút đạm. Cái thời toàn miền Bắc tập trung “lúa không thiếu một cân, quân không thiếu một người” để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thì một cốc bia Trúc Bạch, một vài lát thịt gà là cả một vấn đề, em ạ. Sau này, một vài anh em có kể, họ dựa vào tên Xuân Diệu mà duyệt được bia để liên hoan đấy. Thế là vui chứ!”. Ông nói tiếp: “Mình hay đi với Huy Cận vì vừa là hai tâm hồn đồng điệu, vừa là tình bạn lâu ngày, vừa là anh em (mẹ của Cù Huy Hà Vũ là cô Xuân Như, em cùng cha khác mẹ với Xuân Diệu – V.G), vừa ở chung một nhà. Đi với Huy Cận thì mình khỏi cần đòi hỏi khoản gì cả, bởi ta có chế độ tiếp thứ trưởng, bộ trưởng chứ không có chế độ tiếp nhà thơ. Huy Cận là thứ trưởng, nên mình được ăn theo”.

Nghe ông nói, tôi thấy được phần nào khó khăn của một thời, muốn mời ông đi uống mấy chai bia song không dám mở miệng. Từ đó, khi nghe những câu chuyện vui về ông trong lúc trà dư tửu hậu, tôi không để tâm nữa. Và thơ Xuân Diệu thật sự để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lớp trẻ chúng tôi ở miền Nam trước ngày giải phóng. Những gì tôi đã kể với ông là thật, dù phải giúp bác Tịnh Hà “kiếm chút tiền còm uống cà phê”.

Khi bước chân vào trường trung học, tôi bắt đầu làm quen với thơ Xuân Diệu qua những anh lớn tuổi trọ học trong nhà. Các anh nói về thơ Xuân Diệu không phải vì chuyện học hành thi cử, mà vì chuyện… tán gái. Tính tôi hay chú ý người lớn nói chuyện, nên qua thời gian cũng thuộc lõm bõm mấy câu thơ Xuân Diệu. Cái tên Xuân Diệu như “đóng đinh” trong đầu óc non trẻ của tôi lúc bấy giờ. Sau đó, nghe ai đọc đến câu thơ nào hay hay về tình yêu, và ghi được trong trí, thì tôi cứ gán phứa cho Xuân Diệu, không thiếu người tin sái cổ. Mấy anh trọ học ở nhà tôi tuy lắm lúc có bàn chuyện gái gú, song cũng quyết tâm học lắm. Một anh ghi trước bàn học của mình câu: Muốn có người yêu phải đỗ tú tài. Một anh thì ghi: Mùa thi sắp tới!- em thơ/ Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau! Tôi thích câu sau hơn. Bạn bè tôi cũng thế. Đến khi tôi thật sự biết yêu, được yêu và cũng đang tập trung dồn sức cho kỳ thi tú tài phần thứ nhất, tôi mới ngộ ra rằng “em thơ” của Xuân Diệu là “em thơ” tưởng tượng, chứ không có thật. Nhưng cái giỏi của Xuân Diệu là nghĩ và viết ra được những lời thơ nhẹ nhàng ấy đã đánh đúng và đánh trúng vào khoảnh khắc rung động đầu đời của lớp trẻ học đường.

Kỳ nghỉ phép năm 2010, tôi về quê và cùng với vài người bạn của thời trung học vào huyện Thăng Bình thăm “anh nông dân gin” – như lời người bạn đã có một thời “quậy phá” trong lớp, trong trường với chúng tôi.

Gần nửa thế kỷ gặp lại, chúng tôi vui mừng hết biết. Anh lấy cái giỏ bội (giỏ lớn dùng để gánh bắp/ ngô, sắn/ củ mì, khoai… khi thu hoạch) và cây sào cùng một nhúm gạo. Chỉ một nhoáng, con gà mái nhà anh sập bẫy. Và cũng chỉ một nhoáng, nước trong nồi chưa sôi, chúng tôi đã được thưởng thức món lòng gà xào với mấy bụi hành tươi gần ảng nước. Chai rượu gạo đục như nước cơm có sẵn trong nhà, anh đảm bảo rượu “xịn” uống bao nhiêu cũng không hề nhức đầu. Thế là chúng tôi “mi mi tau tau” ầm nhà, khi nhắc lại thời đi học. Người bạn nông dân của tôi buồn vì thời tuổi trẻ lo chơi, lo đi nghể (đi ngắm gái, tán gái – từ dùng hồi thập niên 60 ở miền Nam), để bị rớt tú tài. Anh đổi giấy tờ những vài lần mà vẫn không vượt qua cửa ải tú tài phần thứ hai. Sau mấy lần thi hỏng, chúng tôi vừa thương nhưng cũng vừa bực nên đã từng mượn thơ Xuân Diệu chọc anh: Tôi không biết, không biết gì nữa cả/ Chỉ yêu nhiều là tôi biết mà thôi. Sau ngày giải phóng, anh về quê làm ruộng, cưới vợ, sinh con. Bây giờ, anh đã có cháu nội, cháu ngoại đầy đàn. Trong bạn bè cùng lớp, dường như chỉ có tôi là người chưa được cái vinh dự ngồi sui… Sau vài chén rượu, anh lớn tiếng đọc thơ: Ta là thằng ôm hận tú tài đôi/ Không biết tìm ai mà kể lể/ Chí lớn thôi đành cam rớt lệ/ Ngày ta buồn, thần thánh cũng thôi linh. Một người bạn khác cho rằng chỉ có tôi không những có chữ nghĩa, mà còn có chút danh, chứ trong anh em của thời trung học chẳng ai ra gì. Có đứa mang tiếng thầy giáo dạy cấp ba, nhưng lắm lúc cũng phải “tháo giày đi chợ Tết”, nên đành chấp nhận chuyện… mất dạy, ra ngoài chạy chợ, rồi cũng lùi xùi lụi xụi, giao trọng trách “chí nam nhi” lại cho lớp con cháu. Có đứa về hưu đóng cấp hàm đại tá, tiền bạc rủng rỉnh, nhưng… không oai!? Nói xong, anh lớn giọng đọc: Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương/ Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường. Và chúng tôi tiếp tục cạn chén… hồ trường. Tôi hỏi, đọc vanh vách như vậy, có biết thơ của ai không. Anh bạn nông dân gin của tôi bảo là tôi vẽ chuyện. Thơ hay thì nhớ, thơ đúng với tâm trạng của mình thì thuộc, cần gì phải biết thơ ai. Nếu cần thì cứ cho đó là thơ Xuân Diệu, thơ Thế Lữ, thơ Vũ Hoàng Chương… giống như lớp ông cha thường gán phứa nào là cổ nhân nói, thánh hiền nói, Không Tử viết, Lão Tử viết… mà chắc chi đã đúng. Anh đứng dậy, ra hè vác vào cái thang tre rồi trèo lên chồ (khoảng giữa hai cây trính được chủ nhà gác mấy cây đà rồi lót ván, hoặc trục trịch (nan tre dày, đan sít lại) để cất nông sản, tránh lụt). Chúng tôi nhìn nhau không biết người bạn của mình làm gì, thì một chặp anh mang xuống một cuốn sổ nhật ký bìa cứng đã cũ, thảy lên bàn, nói: “Kỷ niệm của một thời đó. Trong ni, hình như cũng có chữ viết của tụi bay”. Thì ra, đó là cuốn sổ mà thời trẻ tuổi chúng tôi đều có để chép những câu thơ mình thích được đọc qua sách, qua những lời dạy của thầy, qua bạn bè, hoặc qua ai đó. Ngày ấy, nhớ thì chép chứ có bài nào, câu nào chép kèm tên tác giả đâu. Và nói thật, trong chúng tôi không một ai thuộc trọn một bài thơ.

Chúng tôi khen anh còn giữ được cuốn sổ này là giỏi lắm. Anh cười rất chi là sung sướng và cho biết lâu lâu đọc lại thấy mình… trẻ ra! Rượu chưa hết chai, chúng tôi đều lăn ra ngủ. Thức dậy, trời đã về chiều, và chúng tôi chia tay. Anh đưa chúng tôi ra tận đường cái, không quên mang theo cuốn sổ để photocopy cho tôi một bản làm kỷ niệm.

Tôi đọc đi đọc lại cuốn sổ ấy nhiều lần, thấy nhiều câu thơ quen lắm mà không biết của tác giả nào. Trong cuốn sổ này, thường được chúng tôi chọn những câu phù hợp với tâm trạng của mình ngày ấy, chứ không phải chép nguyên một bài thơ. Và đây là công sức của bạn tôi tập trung suốt một thời trung học. Có những câu thơ, tôi biết chắc là của Xuân Diệu, bởi nó đã từng là những câu nói đầu môi của chúng tôi ngày ấy, nhưng có những câu, những đoạn tôi biết “giả Xuân Diệu” song… khó nhận ra.

Sở dĩ, có những câu thơ, đoạn thơ “giả Xuân Diệu” này, vì ngày đó lớp trẻ chúng tôi rất thích thơ. Trong trường, trong lớp thời chúng tôi có nhiều người muốn làm ra vẻ thi sĩ. Giờ chơi, hoặc những lần đi cắm trại, thì họ tách riêng ra, ngồi một mình ngắm mây trời, hoặc thơ thẩn một mình như muốn tìm vần, tìm ý. Đôi lúc, chúng tôi giả đò rượt đuổi nhau để đụng vào người họ, rồi lớn tiếng: “Chết cha, mi làm tau rớt mất vần rồi!”, rồi vội vàng cúi xuống đất tìm… vần. Quậy như thế, nhưng mấy anh làm thơ không dám có ý kiến, vì họ sống tách biệt, sức học cũng xoàng ngoài mấy bài thơ trên báo tường trong dịp Tết, hoặc trên đặc san của lớp vào dịp nghỉ hè; trong lúc đó, mấy anh em chúng tôi là những học sinh khá giỏi, được thầy cô và bạn bè ủng hộ. Những người say thơ ấy thường trao đổi thơ cho nhau. Những lần sinh hoạt hoặc liên hoan lớp, họ thường giới thiệu nhau lên đọc thơ. Bọn tôi thường hay nói: “Chúng nó đặt ống đu đủ vô hậu môn thổi cho nhau”. Anh bạn nông dân gin của tôi ngày ấy cũng thích thơ và… làm thơ. Để nhận chân một bài thơ hay đâu phải là chuyện dễ. Thơ của bạn tôi đều bị cái hội thơ ấy chê dở, nhất là chê trước mặt mấy bạn gái trong lớp. Một hôm, tôi đưa cho anh một bài thơ. Anh khen hay và xung phong lên đọc. Quả nhiên, bài thơ ấy bị chê tàn chê mạt. Anh đưa mắt nhìn tôi cầu cứu. Tôi giơ tay xin phát biểu khi thấy giáo sư cố vấn (bây giờ gọi là giáo viên chủ nhiệm) muốn có ý kiến can thiệp. Được thầy cho phép, tôi chê ngược trở lại và khẳng định mấy bạn ấy không biết thơ là gì. Tại sao tôi nói vậy, vì bài thơ đó được tôi chép từ tập thơ Thơ thơ của Xuân Diệu. Tôi đưa tập thơ được in rất trang trọng, khổ lớn hơn cuốn vở học, và nói tiếp: “Nếu các bạn chê thơ Xuân Diệu dở, còn thơ mình hay, thì các bạn là thánh thơ, cần chi phải ngồi đây học nữa”.

Cả lớp vỗ tay ầm ầm. Ra về, ai cũng bu lại mượn, tôi không cho, vì tôi “mượn tạm” của một anh trọ học ở trong nhà. Từ đó, hội thơ của lớp tôi cũng bớt phần kênh kiệu.

Mấy ngày sau, anh bạn tôi muốn lên nhà chép lại tập thơ Thơ thơ. Tôi đồng ý, nhưng nếu có mấy anh trọ học đang ở nhà là không được. Anh bạn tôi bỏ công cả tháng mà có khi chép được có khi không, vì muốn đọc cho hết trước, và thích câu nào bài nào mới chép lại. Lật lướt qua tập thơ, anh bạn biết tôi xạo, bởi bài thơ hôm ấy không phải của Xuân Diệu vì không có trong tập thơ Thơ thơ như tôi đã “trình làng”. Tôi nói thật, đó là thứ thơ “giả Xuân Diệu” mà tôi được nghe các anh trọ học ở nhà tôi trò chuyện. Và hôm ấy tôi làm liều, vì biết các bạn say thơ có mộng làm thi sĩ ấy chưa chắc đã đọc được tập thơ Thơ thơ, mà nếu có đọc cũng không dễ chi nhớ. Thấy tôi đưa tập thơ thiệt ra, là các bạn trong lớp phải tin và các thi sĩ tương lai ấy đã run, sức mấy mà dám kiểm tra. Nếu có bạn nào muốn kiểm tra, tôi sẽ bảo về nhà mua mà đọc, chứ sách của tôi không cho đọc lung tung, thì làm gì nhau. Anh bạn khen tôi “cao tay ấn”. Ngày đó, hầu hết chúng tôi là con nhà nghèo, tiền sách vở, tiền học phí đã khiến cha mẹ toát mồ hôi, lấy đâu tiền để mua thơ. Do đó, những câu thơ mà chúng tôi có được để chép cho nhau, hoặc để nói dóc cho có điệu có vần là qua học lóm, nghe lóm cả.

Bây giờ, đọc lại những gì mà bạn tôi đã nghe, đã nhớ mà chép lại, hoặc nhờ người đọc thơ chép lại, rồi đọc kỹ hai tập thơ được xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám của Xuân Diệu: Thơ thơ Gửi hương cho gió. Từ đó, tôi lọc ra được những câu thơ, đoạn thơ “giả Xuân Diệu”. Thơ “giả Xuân Diệu” có mấy cách: dựa vào vần, âm điệu đoạn thơ nào đó để viết lại theo tâm trạng của mình, hoặc dựa vào một vài câu thơ của Xuân Diệu rồi viết thêm ý mình vào cho đúng những gì mình đang nghĩ, hoặc sửa một đôi chữ trong câu thơ để lái câu thơ ấy đúng như những gì mình muốn nói, v.v. Với chúng tôi ngày đó, dù nặn óc ra mấy câu có vần có điệu chẳng ra gì, nhưng gán phứa cho Xuân Diệu là không ai dám chê dở, và cứ thế mà “nổ”.

Nói thì mù mờ lắm, nay tôi đọc và so sánh những bài thơ của Xuân Diệu trong hai tập thơ: Thơ thơ Gửi hương cho gió. Từ đó, tôi mới có thể phát hiện và xin dẫn lại một số câu thơ, đoạn thơ “giả Xuân Diệu” còn lưu trong tập nhật ký được bạn tôi gìn giữ cẩn thận gần nửa thế kỷ qua:

1-

Là thi sĩ nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây/ Vì yêu em nên viết mấy lời đây/ Đừng từ chối hãy nói lời yêu mến.

Xin em hãy đừng cản anh bước đến/ Nói lời yêu để đời mãi dậy hương/ Để lòng anh cất tiếng dậy muôn phương/ Để đôi lứa chúng mình không cô độc.

2-

Giữa vườn vang động tiếng chim vui/ Ánh mắt nhìn ai như biết cười/ Ánh mắt em nhìn êm ái thế/ Cả trời như ngập nụ cười tươi.

Mặt trời mới sáng đã lên cao/ Chờ đợi, lòng anh mãi nôn nao/ Anh qua vườn vắng như vô ý/ Len lén nhìn em dưới cội đào.

Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều/ Bên màu hoa mới thắm như kêu/ Nói gì âu yếm qua không khí/ Như thấy đưa mùi hương mới yêu…

3-

Em đã từ đâu, em mới đến/ Trong tôi, em đã đến lâu rồi/ Hãy nhận tình tôi, đừng lỗi hẹn/ ÁNH HỒNG thơm ngát của hồn tôi. (Chữ Ánh Hồng được viết hoa, vì là tên riêng. Tôi còn nhớ cô bạn này từ Trường Khiết Tâm chuyển đến – V.G)

4-

Em đã khóc thầm lúc biệt ly/ Anh đi, em tưởng bỏ em đi/ Sau làn nước mắt là chi nữa?/ Không biết anh đi có nghĩ gì.

5-

Như thế em xa mấy dặm trường/ Đêm về nằm nhớ lại mùi hương/ Em đi mà tưởng còn đâu đó/ Anh khóc tình buồn giữa gió sương.

6-

Trăng vừa đủ sáng để anh mơ/ Em đến em đi chẳng vội vàng/ Anh cứ nhìn em mà chẳng nói/ Tỉnh rồi anh nhớ lại làm thơ.

Trong mơ anh tưởng Đường Minh Hoàng/ Mãi ngắm hình hài Dương Quý Phi/ Tỉnh ra, anh chỉ học trò nghèo/ Chẳng giận, chẳng buồn khi em đi.

7-

Ánh mắt em làm đời anh sóng gió/ Suốt ngày đêm, anh chỉ biết yêu thôi/ Và trong anh, em là của anh rồi/ Em mắc nợ, anh đòi em cho được.

8-

Trốn nỗi buồn vô cớ/ Vì em đã ra đi/ Anh tìm đâu hạnh phúc?/ Em đâu? Biết nói gì?

Xa xăm, ru mộng tưởng/ Anh có thể phiêu lưu…/ Tạo hóa không tình cảm/ Sinh ra tôi đã nghèo.

Anh không là thi nhân/ Ôm nỗi buồn vô cớ/ Anh không biết làm thơ/ Thơ không làm bớt khổ.

Nghĩ ngợi đến tình em/ Anh thấy buồn rất nhiều/ Mình nghèo và nhút nhát/ Và chưa từng được yêu.

9-

Trời cao bỡn cợt chút tình êm/ Sáng nắng chiều mưa chuyện khát thèm/ Chỉ lúc trong mơ nhìn mới được/ Trời ơi, ta muốn uống hồn em.

10-

Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại/ Cho hương đừng bay đi/ Tôi muốn và tôi muốn/ Giữ mãi mối tình si.

11-

Hãy ngó sâu vào tận mắt anh/ Đọc bài thơ mới chưa làm thành/ Lòng anh rạo rực không duyên cớ/ Khi nắng chiều tơ giỡn với cành.

Nhưng nói làm chi chuyện chẳng lành/ Hãy kề đôi má gọi em – anh/ Hãy cầm tay nhẹ nghe run rẩy/ Bỏ mặc bài thơ viết chửa thành.

Từ đấy bài thơ phải dở dang/ Em đi trong dáng vẻ huy hoàng/ Để người lặng chết trong nhung nhớ/ Xác pháo đầy sân chẳng tiếng vang.

Từ độ yêu em, anh say thơ/ Kẻ thì say rượu, người say mơ/ Anh say đủ thứ, say đủ thứ/ Nay biết tình em – chỉ tình vờ.

12-

Hoàng hôn như muốn trốn/ Khỏi phải nhìn em đi/ Nước đượm màu ly biệt/ Trời vương hương biệt ly.

Em gần mà xa xôi/ Nhớ thương lời trách móc/ Mây ôi và gió ôi/ Giữ gìn ta tiếng khóc.

Ngày em đi như thể/ Trời sụp xuống đời tôi/ Ôm mặt rưng rưng khóc/ Em đi là hết rồi.

13-

Hoa nở để mà tàn/ Trăng tròn rồi lại khuyết/ Bèo hợp để mà tan/ Người gần để ly biệt.

Trong tình yêu chắc em nào có biết/ Anh muốn gần em mà có được gần đâu/ Muốn thật gần để nói lời ly biệt/ Muốn thật gần để làm… vợ chồng ngâu.

14-

Mắt ướt trông nhau lệ muốn tuôn/ Giọng cười anh phải khóc thầm luôn/ Em là người của ai ai đấy/ Để lại trong anh một nỗi buồn.

15-

Ngày muốn hết buồn như đời muốn hết/ Chiều bị thương ráng sức kéo mình đi/ Lũ mây già, nghìn vạn khối lâm ly/ Đứng giữa lưới bủa vây trời nhỏ hẹp.

Em đâu biết cửa đời như muốn khép/ Không cho anh bước tới để gần em/ Cái chữ nghèo giống như cái màn đêm/ Anh quờ quạng trong tương lai mờ mịt.

Em chớ nghĩ anh chơi trò trẻ nít/ Mấy ai yêu thấy mình lớn bao giờ/ Ngày muốn hết buồn như đời muốn hết/ Cuộc tình này anh gói lại trong mơ.

16-

Mưa dầm – thu dưới nguyệt/ Máng chảy – suối trên nhà/ Yêu em – Ta khờ dại/ Vắng em – buồn mình ta.

17-

Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt/ Mắt run mờ, trời đất cũng mông lung/ Em đã đi – Thật sự đã đi rồi.

18-

Người ta khổ vì thương không phải cách/ Yêu sai duyên, và mến chẳng nhầm người/ Có kho vàng nhưng tặng chẳng tùy nơi/ Người ta khổ vì xin không phải chỗ.

Đường êm quá, ai đi mà nhớ ngó/ Đến khi hay, gai nhọn đã vào xương/ Vì thả lòng không kiềm chế dây cương/ Người ta khổ vì lui không được nữa.

Ta trót dại, mong em đừng trót dại/ Đường chông gai em đừng vướng chông gai/ Dưới đóa hồng luôn có những mắt gai/ Chút hào nhoáng – Mong em đừng lỡ dại.

19-

Gió tuy nhiu nhíu chỉ đưa hơi/ Nhưng thấy lòng tôi lạnh lắm rồi/ Không biết bây chừ em có nhớ/ Hay là… cứ để mặc thằng tôi?

20-

Như một chiêm bao rất mộng thơ/ Bâng khuâng, tôi nghĩ chuyện tình cờ/ Phải chi người ấy… Vâng, người ấy/ Rồi sẽ cùng ta dệt ước mơ.

21-

Em đã về đâu? Sao vội đi?/ Bao giờ gặp lại? Tội tình chi?/ Em đâu có biết lòng anh khổ/ Ngày dõi đêm mong… sẽ trở về.

22-

Gió mưa, mưa gió âm u/ Ở đây anh đã nghe thu lạnh rồi/ Ngày xưa, ngày ấy… chao ôi/ Bây giờ xanh vắng lạnh thôi mấy chừng!

23-

Mùa cúc năm nay sắc đã già/ Ai tìm ta hộ dáng thu qua/ Đâu rồi? Em đã sang thuyền khác/ Ôi! PHƯỢNG bao giờ lại nở hoa. (Chữ Phượng viết hoa, chắc người viết muốn gửi cho người con gái mang tên Phượng – V.G)

24-

Trời xanh thế, hàng cây thơ biết mấy/ Vườn non sao, đường cỏ mộng bao nhiêu/ Khi Phạm Thái gặp Quỳnh Như thuở ấy/ Khi chàng Kim vừa được thấy Thúy Kiều.

Đã đôi lúc anh muốn làm Phạm Thái/ Hoặc chàng Kim để được chút nuông chiều/ Nhưng nhìn lại, anh giật mình kinh hãi/ Anh quá nghèo đâu thể xứng với em.

25-

Hôm ấy, trong tôi đã vướng tình/ Rào trường không giữ được lòng trinh/ Chàng trai nhỏ nhẻ, tôi khi ấy/ Lén lút thầy cô kiếm bóng hình.

Ai trả cho tôi những mộng đầu/ Người con gái nhỏ, mắt thâm nâu/ Phất phơ tà áo cười trong gió/ Để mặc mình tôi đón vạn sầu.

26-

Em bảo: đừng nên gặp gỡ gì/ Chuyện mình thôi cứ để trôi đi/ Anh đừng luyến tiếc làm chi nữa/ Anh cứ mặc em: gái lỡ thì.

27-

Muôn nghìn thương nhớ tới bên tôi/ Nên đến bên cây nhấp nhỏm ngồi/ Chờ tiếng chuông trường reo vãn lớp/ Đón bước em về được chung đôi.

Phượng đã rung rinh trước cổng trường/ Mà tôi chưa dám nói lời thương/ Bên em tôi cứ như người mộng…/ Khi về tôi thấy vấn cùng vương.

28-

Hết ngày, hết tháng, hết! em ôi!/ Hớt hãi chờ em hết đứng, ngồi/ Anh ngóng tìm em, tuy thấy đó/ Sắp xa thôi cũng tựa xa rồi!

Muốn nói sao mà chẳng nói ra/ Dù lời thương nhớ gọi chăng là…/ Anh ngu như thế mà yêu được/ Chẳng trách em cười… Cứ mặc ta.

Chiều góa không em lạnh lẽo sao/ Một mình anh lạc dưới thu cao/ Sắc trời: sương đọng; non: mây tỏa/ Không biết lòng đi tới chốn nào…

29-

Trời lạnh quá mà em thì xa ngái/ Tấm chăn đơn không đủ ấm hình hài/ Thương với nhớ là nỗi buồn thất bại/ Rót lạnh về đóng hộp một đời trai.

Chẳng mong ai ta thắp đèn chi nữa/ Hững hờ trông ngày tranh thở với đêm/ Chiều xa vắng một mình ta ở giữa/ Nỗi buồn này sao cứ kéo dài thêm.

Nhớ hương xưa tưởng chừng chia chút lửa/ Rét căm căm đã xây xác ta nằm/ Thao thức mãi, ai xẻ giùm ta nửa/ Ngủ đi, ngủ đi, sầu muộn của muôn năm.

30-

Em cứ mặc, cứ giận hờn trách mắng/ Nếu em thương thì tôi rất cám ơn/ Em có ghét, tôi cũng cười mãn nguyện/ Tôi có gì đâu mà dám giận với hờn.

Em cứ mặc, để mình tôi đơn độc/ Đếm thời gian qua khói thuốc ưu phiền/ Em cứ mặc, để tôi làm thằng ngốc/ Nhặt cánh phượng rơi tưởng má lúm đồng tiền.

31-

Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im/ Em hãy lắng nghe nhịp trái tim/ Sao cứ run hoài như chiếc lá/ Ngày qua tháng lại vẫn im lìm.

32-

Xin hãy yêu tôi, một giờ cũng đủ/ Một giây cũng cam, một phút cũng đành/ Chớ ngúng nguẩy, xin em đừng ngúng nguẩy/ Hãy quay nhìn dù một cái liếc nhanh.

33-

Em bước điềm nhiên không vướng chân/ Anh rụt rè theo chẳng dám gần/ Xin được làm hài nâng gót ngọc/ Ai cười mặc kệ chẳng phân vân.

Lẽ ra, tôi cho in nghiêng những câu, những chữ của Xuân Diệu và ghi chú những câu, những chữ ấy ở trong bài thơ nào của Xuân Diệu để bạn đọc dễ phân biệt. Nhưng như trên đã viết là “khó nhận ra”, nên tôi muốn để cùng kiểu chữ nhằm cho thấy những người yêu thơ Xuân Diệu ngày ấy cũng… không tệ. Bây giờ đọc lại, nhớ lại, nghĩ lại cái thời ôm vở tới trường, tôi thấy thế hệ của chúng tôi quả già trước tuổi. Bạn gái cùng lớp chúng tôi, nhiều cô mới học lớp 8, lớp 9 đã lên xe hoa. Nhiều bạn trong lớp chúng tôi đã biết mùi tù, vì dám xuống đường chống Mỹ, góp phần tạo nên phong trào học sinh, sinh viên rộng khắp miền Nam. Ngày đi thi tú tài, có bạn được xe cảnh sát đưa đi đưa về và chỉ được tháo còng tay khi bước vào phòng thi, vì còn đang ở trong lao tù. Nhiều bạn mới tuổi đôi mươi đã trở thành phó quận, hoặc là sĩ quan của quân đội Sài Gòn… Do đó, những thứ “giả Xuân Diệu” vừa dẫn trên cũng là thứ nước cam lồ rưới trên đất hạn của một thời tuổi trẻ chúng tôi. Họ sửa thơ Xuân Diệu cho phù hợp với tâm trạng để lén nhét vào cặp vở của cô bạn nào đó, hoặc như vô tình bỏ quên lại trong hộc bàn, hoặc ghi vào trang đầu cuốn sách tặng bạn gái nhân ngày sinh, ngày Tết, ngày hè, hoặc thông qua ai đó để “người ấy” biết nỗi niềm của mình, vân vân và vân vân… chứ không phải như bây giờ muối mặt đưa đi đăng báo để mong kiếm chút danh hờ danh hão, dẫu bị báo chí phát hiện, kết luận là đạo văn.

Thế hệ sau này trẻ lâu. Học sinh cấp 3, thậm chí sinh viên ở nhiều trường đại học vẫn còn cha mẹ đưa đón và vẫn được xem là lứa tuổi trẻ người non dạ chẳng làm được tích sự gì. Chính vì vậy mà Chủ tịch Hội Sinh viên ở các trường đại học, của các tỉnh/ thành, kể cả ở cấp Trung ương là những người đã giã từ đời sinh viên hàng chục năm hơn, chứ không phải như thời chín háp của chúng tôi là những người hằng ngày mình gặp mặt ở lớp, ở khoa. Một anh đã quá tuổi “tam thập nhi lập” được bổ nhiệm làm phó chủ tịch ủy ban nhân dân cấp thành đã là người trẻ nhất nước giữ chức vụ ấy. Lắm lúc tôi trộm nghĩ, phải chăng bọn tư bản giãy chết vì không có người nên phải sử dụng những thế hệ chín háp như thời của chúng tôi chăng? Cụ thể, dân Vương quốc Anh bầu Tony Blair vào chức vụ Thủ tướng lúc 44 tuổi (trước đó, Tony Blair đã đảm nhiệm vị trí Bộ trưởng Ngân khố, Bộ trưởng Dân chính); còn dân Mỹ thì gần đây bầu hai đời tổng thống ở tuổi 47 (Bill Clinton và Barack Obama). Bill Clinton trước khi làm tổng thống nước Mỹ đã phục vụ hai nhiệm kỳ Thống đốc tiểu bang Arkansas. Barack Obama trước khi vào Nhà trắng là Thượng nghị sĩ đại diện cho tiểu bang Illinois. Hoặc “Ông Matteo Renzi, 39 tuổi, chính thức chấp nhận đề cử làm thủ tướng trẻ tuổi nhất từ trước đến nay của nước Ý” [209], và “Nội các mới sẽ bắt tay ngay vào làm việc sau lễ tuyên thệ ở dinh tổng thống ngày 22-2-2014” [209]… Nói chung, đó là lứa tuổi vào hàng con cái của các cụ lãnh đạo nhà ta, thì biết gì mà đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc được. Không rối, không giãy chết mới là chuyện lạ. Ta nên mừng cho lớp con cháu chúng ta trẻ mãi không già. Xuân Diệu thành danh và đã từng là quan tham tá thời Pháp thuộc, ấy mà sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, ông cũng thấy mình tự dưng trẻ ra: “Tôi như đứa trẻ con đôi mắt khép/ Sờ mặt mẹ trên ngón tay tha thiết/ Tôi hiểu đêm hôm nay thôn xóm nghĩ gì/ Đằng chân trời ấp ủ những điều chi…” (Những đêm hành quân). Và cái độ trẻ ấy được giữ gìn cho tới hôm nay quả là chuyện thần kỳ. Chuyện này mà tôi “ngộ” ra sớm để làm đề tài trao đổi với Xuân Diệu, thì chắc còn lắm điều hay.

Thật lòng, tôi biết ơn nhà thơ Xuân Diệu và một số nhà thơ cùng thời với ông. Hồi thập niên 60 của thế kỷ trước, bà con ở Đà Nẵng nghe nói đi tiệm là oai lắm, dù là đi tiệm chỉ uống một ly xi rô có lềnh bềnh mấy lát thơm/ dứa và mấy sợi dừa bào, hoặc một ly chè đậu có đá bào. Ngày đó, nhân dân còn nghèo, người ta phải tính toán chi li từng đồng, không có thói quen đi ăn quán. Sáng sáng, mỗi gia đình nấu nồi cơm hoặc nồi cháo trắng ăn với cá phèn, cá bống kho khô là sướng rồi chứ chẳng mấy ai đi ăn tiệm. Tới bữa, cả nhà quay quanh mâm cơm. Muốn ăn bún giò, thì mua bún, mua giò về nấu. Muốn ăn chè, thì mua đậu mua đường về nấu. Tiền vào tiệm ăn vài ba ly chè, đủ mua nguyên vật liệu nấu một nồi chè to đùng cả nhà ăn tới ăn lui… Vì thế, ngày đó nói đến đi tiệm là sang, là có tiền. Mấy người đi làm có lương, có đồng ra đồng vào, cuối tuần rủ bạn bè đi uống vài ba chai la-ve (bia), thì gọi là đi kéo ghế. Và mấy câu thơ của Xuân Diệu được nhớ lõm bõm từ câu chuyện của mấy anh trọ học trong nhà đã giúp tôi có nhiều niềm vui trong cuộc sống.

Lúc còn học những năm đầu trung học, thì tôi được nhiều lần đi tiệm là nhờ… viết giúp thư tình cho mấy anh, mấy chị lớn tuổi ở trong xóm. Viết như ý mấy anh, mấy chị muốn tỏ bày, thỉnh thoảng tôi lại thêm mấy câu thơ của Xuân Diệu vào, chẳng hạn: Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh/ Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi!, hoặc gán cho Xuân Diệu, như: Anh (Em) biết em (anh) đi chẳng trở về/ Dặm ngàn liễu khuất với sương che/ Anh (Em) đừng quay lại nhìn em (anh) nữa/ Anh (Em) biết em (anh) chẳng trở về., v.v…

Nghe đọc tới chỗ đó, ai nấy đều thấy “đã” quá chừng và không sớm thì chầy cũng dẫn tôi đi tiệm hoặc đi kéo ghế (khi tôi lớn lên một chút). Cái nhớ lõm bõm và gán ghép tùm lum ấy đã được những anh chị nhờ tôi viết thư đều khen tôi giỏi, văn tôi hay!? Một số anh chị nhờ những lá thư ấy mà thành vợ thành chồng, nhưng nếu không nợ chẳng duyên thì cũng thương quý tôi. Bây giờ, không thiếu người đã về với đất, song ai còn sống gặp lại tôi thì cũng mừng rơi nước mắt, hối con cháu làm gà, làm vịt hoặc đi chợ sắm gì đó ngon ngon cho chú, cho ông, cho cậu bay ăn, hoặc cho anh em tau vui một bữa; có chị đích thân xách giỏ đi chợ về nấu một vài món mà chị nhớ hồi xưa tôi thích. Nghĩ lại mà thương mà quý cái tình của một thời.

Vào năm học đệ ngũ (lớp 8), người bạn của một anh trọ học nhà tôi bỏ quên tập thơ Thơ thơ của Xuân Diệu trên bàn. Tôi đang đọc say sưa, thì anh ta đã quay trở lại, lấy về. Rồi có anh lại mượn về nói là để học, tôi cũng thò thò thụt thụt đọc vụng trộm… Thơ Xuân Diệu đến với tôi từ dạo ấy, và như đã nói, hễ nghe ai nói chuyện có dẫn câu thơ tình nào hay, đoạn thơ tình nào thú vị, mà tôi nhớ được là… của Xuân Diệu chứ không phải của ai khác (khi nói, có ai nhắc tới tên tác giả đâu. Nếu có nhắc, tôi cũng không kịp nhớ, vì phải lo tập trung nhớ thơ là chính. Nếu nhớ không hết thì cố mà “chế” cho có vần có điệu để bốc phét với bạn bè). Thời trung học cũng như đại học, tôi thích các môn khoa học tự nhiên hơn, song có thuộc thơ (chủ yếu mấy câu thơ về tình yêu), thuộc văn (chủ yếu là mấy bài kim văn ở mấy năm trung học đệ nhất cấp, tức bậc trung học cơ sở ngày nay) và biết “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa”, nên được nhiều người thích trò chuyện. Riêng về thơ Xuân Diệu, thì lớp trẻ chúng tôi ngày đó, hầu như không ai không thuộc một số câu thơ để “dằn túi”. Tôi vững tin, ngày đó, những nữ sinh có chút… xinh xinh thì ít ra cũng được một đôi lần tìm thấy trong hộc bàn của mình có “ai đó đánh rơi” vài ba câu thơ của Xuân Diệu hoặc “giả Xuân Diệu” (chỉ có người viết mới biết). Một số nữ sinh cũng có những “bài thơ đánh rơi một cách vô tình” như thế, chứ không chỉ là cánh nam sinh chúng tôi. Bản thân tôi có lần nhặt được trong hộc bàn mấy câu: Anh giết tình em nữa phải không/ Anh đem sương tuyết lấp hoa hồng/ Anh đem hờ hững vùi thương nhớ/ Anh giết tình em trong lạnh lùng. Tôi không biết ai đó gửi cho tôi hay gửi cho bạn nam sinh nào đó học khác buổi với tôi, nhưng tôi cũng… xúc động lắm. Về sau, dường như mấy câu thơ này được phổ nhạc, nhưng tới bây giờ tôi cũng không biết tác giả bài thơ, tên bài thơ và người nào gửi, gửi cho tôi hay gửi cho ai.

Hồi kể cho Xuân Diệu nghe, tôi nhớ đâu nói đấy. Bây giờ, đọc lại cẩn thận hai tập thơ: Thơ thơ Gửi hương cho gió mới biết mấy câu thơ ấy ở trong bài nào. Ngày đó, ngoài các bạn học ban C (Văn chương), thì có đọc kỹ hơn bọn học ban A (Vạn vật), ban B (Toán) chúng tôi, nhưng trong chúng tôi không mấy người thuộc trọn vẹn một đôi bài. Và điều chắc chắn nếu có thuộc là thuộc những bài phù hợp với nỗi niềm của mình, còn không thì chẳng bạn nào quan tâm, dù có nghe qua. Lớp trẻ chúng tôi ngày đó, không ai thuộc nằm lòng câu thơ nào của Xuân Diệu mới là chuyện lạ. Ngày ngày đến trường, chúng tôi đi bộ là chính. Ai có chiếc xe đạp là “oách” lắm. Hầu như không mấy ai được người nhà đưa đón, nên việc nam sinh, nữ sinh gặp nhau trên đường, cùng nhau đi một đoạn đường là chuyện bình thường. Rồi đón. Rồi đưa. Rồi đợi. Rồi chờ. Và mấy câu thơ Xuân Diệu bày tỏ tình cảm hộ mình bằng cách nhét vào cặp, vào sách vở cho mượn hoặc giả vờ mượn rồi trả… Nếu học cùng lớp hoặc cùng trường thì coi thử “người ấy” ngồi chỗ nào để tìm cách bỏ mấy câu thơ của Xuân Diệu vào hộc bàn, v.v.

Tại sao chọn thơ Xuân Diệu mà không chọn thơ của ai khác? Xin thưa, phần lớn những bài thơ tình Xuân Diệu có một số câu, một số đoạn gần với tâm trạng lớp trẻ chớm yêu hơn so với thơ của một số nhà thơ cùng thời, và có hiệu ứng dây chuyền. Thấy lớp đàn anh nói hay thì mình ghi nhớ; khi con tim biết “loạn nhịp”, vận vào thấy đúng với tâm tư, tình cảm sâu kín của mình thì càng thấy thơ Xuân Diệu hay. Thế thôi!

Nếu qua lại mấy lần mà “người ấy” cứ vờ, hoặc né tránh với một nghìn lẻ một lý do, thì chúng tôi sẽ nhờ những câu thơ của Xuân Diệu với hy vọng vớt vát được chút gì để nhớ để thương: Vì sao giáp mặt buổi đầu tiên/ Tôi đã đày thân giữa xứ phiền/ Không thể vô tình qua trước cửa/ Biết rằng gặp gỡ đã vô duyên (“Vì sao”), hoặc làm ra vẻ buồn hơn và có chút gì đó hờn trách: Ai đẩy lòng ta vào cõi lạnh/ Cho thôi hôm muộn, đến đêm sầu (Kẻ đi đày). Khi biết “người ấy” không ngoảnh mặt làm ngơ và gặp lúc gặp thời, thì mạnh dạn cho “họ” biết tình cảm của mình: Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm/ Anh nhớ em, em hỡi! anh nhớ em/ Không gì buồn bằng những buổi chiều êm/ Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối (Tương tư chiều). Nếu người ấy đã tiếp nhận thông tin mà khi gặp thấy gương mặt vẫn tươi roi rói, thì tiếp tục rấn thêm bước nữa: Cho lòng xin chút hương/ Cho lòng xin chút lửa/ Cho lòng xin chút thương/ Cho lòng xin chút nữa… (Chiều đợi chờ). Đây là “trận cuối cùng”, nếu bị từ chối, quyết liệt từ chối chứ không phải giả vờ từ chối, thì câu thơ của Xuân Diệu sẽ giúp chúng tôi “rút lui trong danh dự”: Đấy, ai bảo em làm anh mơ ước/ Lúc đầu tiên, anh có mộng gì đâu/ Tưởng có nhau ai ngờ vẫn xa nhau/ Em ác quá! Lòng anh như tự xé… (Hẹn hò); còn ngược lại thì… trên cả tuyệt vời, và câu thơ của Xuân Diệu giúp chúng tôi mạnh dạn hơn để “nổ” chút chút: Anh đã nói, từ khi vừa gặp gỡ/ Anh rất ngoan, anh không dám mong nhiều/ Em bằng lòng cho anh được phép yêu/ Anh sung sướng với chút tình vụn ấy (Hẹn hò). Với chúng tôi ngày ấy, để hâm nóng tình yêu tuổi học trò, không có câu thơ nào hay hơn câu này: Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh/ Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi! (Tương tư chiều). Tôi nhớ không lầm, câu thơ này cũng được một số bạn gái thường xuyên sử dụng, chứ không chỉ lớp “gà trống te te” (gà mới tập gáy) chúng tôi. Họ chỉ cần đổi chữ “anh” sang chữ “em” là người nhận sung sướng cả ngày, những cos, những sin, những định lý, định đề… đều bay tuốt tuột.

Nếu “người ấy” đã xác định mình có “đối tượng”, thì câu thơ của Xuân Diệu không chỉ giải vây, mà còn có thể gieo vào lòng “người ấy” một chút thương nhớ khôn nguôi: Anh biết yêu em đã muộn màng/ Nhưng mà ai cưỡng được tình thương/ Ngậm ngùi tặng trái tim lưu lạc/ Anh chỉ xin về một chút hương (Muộn màng). Thông thường, khi xác định rõ ràng như thế thì “người ấy” vẫn xem trọng tình bạn, vẫn cười nói, chuyện trò chứ không thể hiện sự ghét cay ghét đắng, và mình cũng… nhiều đêm tưởng nhớ, thì cũng có thể “vô tình để thơ rơi” những mong ăn mày được chút tình cảm: Lòng ta trống lắm, lòng ta sụp/ Như túp nhà không bốn vách xiêu/ Em chẳng cứu giùm, em bỏ mặc/ Mưa đưa ta đến bến đìu hiu (Bên ấy bên này). Nếu họ không giận, không cương quyết thì cũng không nên “tấn công” mạnh, mà tiếp tục thả quả bóng thăm dò: Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi… (Nhị Hồ). Thấy đối tượng giãy nãy, giận hờn đòi í chơi, thì phải mượn thơ Xuân Diệu giải thích giùm: Yêu ngẩn ngơ rồi đau xót xa/ Số anh là khổ, phận anh là/ Suốt đời nuốt lệ vào trong ngực/ Đem ái tình dâng kẻ phụ ta (Muộn màng). Nhận được “thông điệp” ấy mà đối tượng sầm mặt, trách hờn, thì đành phải… xuống nước: Tôi là một kẻ điên cuồng/ Yêu những ái tình ngây dại/ Tôi cứ bắt lòng tôi đau đớn mãi/ Đau vô duyên, đau không để làm gì (Thở than)…

Thứ tình yêu học trò ấy, giờ nghĩ lại thấy vui, thấy muốn làm học trò mãi, bởi nó hồn nhiên quá. Thời của chúng tôi, ai đã từng ôm vở tới trường, lại không nhớ câu thơ này: Ôi ngắn ngủi là những giờ họp mặt/ Ôi vội vàng là những phút trao yêu/ Vừa nắng mai sao đã đến sương chiều?/ Em hờ hững, để cho lòng anh lạnh (Kỷ niệm). Những lúc mất thời gian rình rập ở cổng trường, hoặc ở đầu hẻm nào đó, thấy em ra, vội vàng hít một hơi thật sâu rồi rảo bước tới, làm như vô tình gặp mặt với một câu chào rất chi là vô duyên. Cứ thế mà song hành cho đến khi em vào trường hoặc vào nhà. Những lúc ấy, câu thơ của Xuân Diệu cứ như là gan ruột của mình: Tôi với người yêu đi nhẹ nhẹ…/ Im lìm, không dám nói năng chi (Trăng). Ở đây, Xuân Diệu cũng “nổ” giống như tâm trạng của những chú gà trống te te chúng tôi. Đã là “người yêu” mà “Im lìm, không dám nói năng chi”, quả thật thú vị! Vâng, rất chi là thú vị, bởi Xuân Diệu đã dặn trước rồi: Yêu, là chết ở trong lòng một ít/ Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu/ Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu/ Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết (Yêu). Từng bước, chúng tôi học làm người lớn, ngồi bên cốc cà phê phin đếm từng giọt rơi rơi, hoặc ghé vào quán cóc ven đường gọi một ly chè, ly xi rô… chờ em tan trường, nhưng giả đò như không thấy. Khi em đã khuất xa rồi mới tính tiền đứng dậy, thờ thẫn ra về. Lúc ấy, câu thơ của Xuân Diệu như liều thuốc giảm đau: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu/ Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều/ Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu (“Vì sao”).

Thời đi học với những rung động đầu đời, ai không gặp hoàn cảnh này: Một phút gặp thôi là muôn buổi nhớ/ Vài giây trông khơi mối vạn ngày theo/ Mộng bay chơi nhằm một buổi trời chiều/ Gặp tóc biếc; tưởng sắc ngày xưa nở/ Nửa câu nói, một chút cười, đôi tiếng thở/ Tình cờ qua trên miệng mở quá xinh/ Ta ngây thơ vội tưởng họ yêu mình/ Về dâng vội cả ân tình thứ nhất/ Đương vương chủ ta bỗng thành hành khất (Yêu mến). Ăn mày tình cảm chẳng có gì phải xấu hổ, song không thể không xấu hổ khi học kém hơn “người ấy”, nhất là người đang chung lớp chung trường. Ai gặp phải hoàn cảnh này, Xuân Diệu cũng có thể gỡ giúp: Hãy biết rằng anh lúc ở trường/ Rất tồi toán pháp, khá văn chương/ Chàng trai đi học nghe chim giảng/ Không thuộc bài đâu; ấy sự thường (Giới thiệu), dẫu điểm môn Việt văn chẳng khá hơn ai. Nếu “người ấy” chân thành khuyên lo tập trung học hành đừng nghĩ ngợi lung tung, thì chẳng có chàng trai nào không mạnh dạn rấn tới: Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ, không thương một kẻ nào?/ Hãy đốt đôi ta muôn thứ lửa/ Cho bừng tia mắt đọ tia sao (Bài thơ tuổi nhỏ), và… hối thúc: Mau với chứ, vội vàng lên đi chứ/ Em, em ơi, tình non sắp già rồi (Giục giã). Nếu bị “nẹt”, thì… hạ giọng đầy thương cảm: Vừa mới khi mai tôi cảm thấy/ Trong tay ôm một bó hoa cười/ Ngọn gió thời gian không ngớt thổi/ Giờ tàn như những cánh hoa rơi (Giờ tàn), và có người đành phải chuyển trường, nhưng không quên mượn mấy câu thơ của Xuân Diệu để gửi gắm tâm sự mình: Hôm nay tôi đã chết trong người/ Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi/ Với bóng hình xưa, tăm tiếng cũ/ Cách xa chôn hết nhớ thương rồi (Ý thu).

Một số bạn vì hoàn cảnh mà học trễ, nên xong đệ tứ (lớp 9) hoặc rớt tú tài phải vào quân trường mà chưa một lần dám nói lời yêu, hoặc đã nói mà chưa có được câu trả lời dứt khoát, thì cũng mượn câu thơ của Xuân Diệu mà nhắn gửi: Rồi một ngày mai, tôi sẽ đi/ Vì sao, ai nỡ hỏi làm chi/ Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá/ Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì (“Vì sao”). Nếu “ai đó” mủi lòng đến động viên suông mà không thể hiện chút tình cảm nào, thì đem thơ Xuân Diệu ra nói giùm để thấy mình bớt trơ trẽn: Có đến mà yêu thì hãy đến/ Xem đầu mây gợn, mắt mây qua… (Giới thiệu), rồi xen chút giận hờn vô cớ: Một chút hương phai của ái tình/ Mà em không thể gửi cùng anh/ Để lòng ướp với tình phai ấy/ Anh tưởng từ đây bớt một mình (Muộn màng).

Lớp trẻ chúng tôi ngày đó, càng lớn càng lo sợ cánh cổng quân trường khóa kín đời trai (rất chi là sáo, song ngày đó lại là câu nói đầu môi của lớp trẻ chúng tôi), nên ai tới tuổi vào lính hoặc thấy sức học mình khó vượt qua những kỳ thi để tìm tấm thẻ hoãn dịch vì lý do học vấn là lo lắng, đôi lúc thẫn thờ như người mất hồn. Những lúc như vậy, có một số bạn gái trong lớp, cùng lớp động viên. Nhiều cô ngại nói thẳng, nên viết vào giấy kẹp vào cuốn sách hoặc cuốn vở trao tận tay, đề nghị về đọc thêm. Dù đó là đối tượng trong tầm ngắm hay chỉ là tình bạn bình thường, họ thường giấu sự lo lắng chính của mình mà giả bộ… lệch về phía tình cảm: Thôi hãy để anh đi thất thơ/ Mặc luồng gió mạnh, mặc mưa to/ Đánh vào thân thể run như sậy/ Tôi chẳng cần ai thương hại cho (Muộn màng). Có cô bạn cũng thương hại thiệt, ra sức động viên. Nhưng không ai biết sức học của mình bằng chính bản thân mình, nên càng làm ra vẻ bất cần đời và làm ra vẻ… người mơ mộng: Và đêm nay, lòng tôi lạnh lẽo/ Như sáng trăng trên mặt nước thu lờ/ Tôi là một kẻ bơ vơ/ Yêu những ái tình quạnh quẽ (Thở than), hoặc Cứ nhìn nhau rồi lại vẫn nhìn nhau/ Hạnh phúc ngừng giữa đôi trái tim đau (Biệt ly êm ái).

Đau hơn là thấy người mình yêu (trong mộng) lên xe hoa bỏ lại sau lưng bạn bè, trường lớp: Họ sẽ ôm em với cánh tay/ Và em yêu họ đến muôn ngày/ Thôi rồi! em chẳng thờ ơ nữa/ Như đối cùng ta tự bấy nay (Bên ấy bên này).

Thơ Xuân Diệu có nói đến chuyện thi cử, nhưng không hay hơn Tú Xương, nên trong chúng tôi ít người chú ý, mặc dù có câu rất thú vị khi những người hỏng thi gặp lại bạn bè cũ như anh bạn nông dân gin của tôi: Lần này lại sắp đi thi nữa/ Chắc hỏng mười phân; khấn nguyện giùm (Giới thiệu). Trong chuyện học hành thi cử, mình không giúp được mình thì không ai giúp được mình cả.

Có khi nay đã lớn tuổi nên những kỷ niệm của thời “gà trống te te” có dịp là ùa về, nhất là khi gặp lại những bạn bè ngày cũ – cái lứa tuổi mà nói như Huy Cận: “Chân non dại ngập ngừng từng bước nhẹ/ Tim run run trăm tình cảm rụt rè/ Tuổi mười lăm gấp sách lại, đứng nghe/ Lòng mới mở giữa tay đời ấm áp” [73]… Bạn bè bây giờ người còn người mất, nhưng những bạn trai nào còn sống thì tôi vẫn thấy còn chút gì đó gọi là phong độ, chứ phần lớn bạn gái thì… không thể tin được. Một cô bạn gái đã có chắt vẫn nhắc với bạn bè, tôi là học sinh giỏi toán mà cũng… giỏi thơ!? Nhắc lại chuyện này, tôi nhớ hồi học đệ tứ, chúng tôi hay đi lại trên chuyến phà qua sông Hàn. Trời rét căm căm, cô thường nép sát vào tôi. Những lúc như thế, tôi cũng thấy mình ấm hẳn lên, nhưng bốc phét là chính chứ mọi chuyện thì vẫn ngu ngơ chẳng biết gì. Một hôm, cô bị bệnh phải nhờ người chị chặn đường mượn vở của tôi để chép bài. Bữa sau, tôi không quên “thả thơ rơi”: Đã nghe rét mướt luồn trong gió/ Đã vắng người sang những chuyến đò (Đây mùa thu tới). Cô ấy còn kể, trước khi chuyển trường (vì tôi thi đỗ vào lớp đệ tam trường công lập), tôi còn ghi cho cô ấy câu thơ hay lắm: Lạnh lùng trong khoảng vô minh/ Lòng ta muôn kiếp ôm tình, lặng im. Lúc ấy, tôi không biết câu thơ đó của ai, và cũng không hiểu sao mình viết cho cô ấy câu thơ đó, bởi vào học kỳ hai năm đệ tứ, cả lớp đồn ầm cô ấy đã nhận lễ hỏi và mùa thu sẽ làm lễ cưới. Nghịch ngợm chăng? Chẳng biết. Yêu đương chăng? Chằng hề. Tuổi học trò của tôi và bạn bè tôi cơ bản là như thế. Gần đây, tôi mới biết câu thơ ấy trong bài thơ Im lặng của Xuân Diệu.

Khi tìm thêm tư liệu để viết cuốn sách này, tôi mua cuốn Mưa xuân của Lan Khai in trên giấy dó vào tháng 12-1944, chỉ vì người mua sách (hoặc tặng sách) có chép câu thơ, tôi nghi của Xuân Diệu, chứ không phải vì chơi sách cũ như một số người hiện nay. Câu thơ được chép ở trang bìa lót của cuốn Mưa xuân như vầy: Ngừng hơi thở lại, xem trong ấy/ Hiển hiện hoa và phảng phất hương… Bên dưới chữ ký có ghi: Trọng Xuân Đinh Dậu 1957. Vừa rồi, tôi kiểm tra lại, quả đúng đó là câu thơ trong bài thơ Huyền diệu của Xuân Diệu. Tôi chưa đọc cuốn Mưa xuân để biết trong ấy Lan Khai viết những gì mà người mua sách/ tặng sách chép câu thơ của Xuân Diệu vào, nhưng phần nào đã cho tôi biết thêm rằng thơ Xuân Diệu đã được lớp trẻ học đường thế hệ trước tôi cũng say mê lắm lắm. Việc mượn câu thơ của Xuân Diệu ghi vào trang bìa lót của cuốn sách để tặng bạn bè, nhất là bạn khác phái, thì thời của tôi có rất nhiều người, nam có, nữ có. Bản thân tôi cũng đã đôi lần làm thế. Cuộc sống vật chất bây giờ cao quá, nên lớp trẻ không còn mấy người nghĩ đến bạn mình với những món quà mọn như thời tuổi trẻ chúng tôi. Ngày đó, chúng tôi rất thích đọc sách và quý sách. Nhìn vào tủ sách gia đình là có thể đoán biết gia đình đó như thế nào; các thành viên trong gia đình ấy ra sao. Khi nhận được cuốn sách biếu, mà có những câu thơ như: Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn