Tập thơ ‘Bầy chim lạc’ của Rabindranath Tagore – Kỳ 1

Tập thơ ‘Bầy chim lạc’ của Rabindranath Tagore - Kỳ 1

Tập thơ ‘Bầy chim lạc’ của Rabindranath Tagore – Kỳ 1

Tác giả: Rabindranath Tagore

Người dịch: Bùi Xuân
(Theo bản dịch từ tiếng Begal sang tiếng Anh của Rabindranath Tagore do The MacMillan Company xuất bản năm 1916.)

Lời tựa

Tập thơ Bầy chim lạc (Stray Birds) mà bạn đang cầm trên tay cũng do chính Rabindranath Tagore chuyển ngữ từ tiếng Bengal sang tiếng Anh và được xuất bản vào năm 1916, gồm 326 bài thơ ngắn; lời thơ đẹp đẽ, ý thơ sâu sắc, chắt lọc, cô đọng, làm toát lên những tư tưởng lớn của tác giả về sự hòa điệu giữa con người với thiên nhiên, con người với Thượng đế, đặc biệt là về tình yêu cuộc sống và sự tin tưởng mãnh liệt vào tình yêu thương của con người.

Có thể nói Bầy chim lạc như một “file nén”, chứa đựng những tinh hoa tư tưởng và nghệ thuật văn chương của Rabindranath Tagore. Nhiều bài thơ trong tập thơ này như được rút tỉa, cô đặc từ hiện thực sinh động của cuộc sống, làm nên một nét riêng, khá độc đáo so với các danh phẩm khác của ông như: Thơ Dâng (Gitanjali), Người làm vườn (The Gardener), Mùa hái quả (Fruit – Gathering), Mảnh trăng non (The Crescent moon)…

Chuyển ngữ tập thơ này từ tiếng Anh sang tiếng Việt, chúng tôi chú trọng cả về nội dung và hình thức, tư tưởng và nghệ thuật, vừa dịch sát nghĩa, theo thể thơ văn xuôi, vừa cố gắng không làm mất đi vẻ đẹp lung linh, giản dị và trong sáng rất đặc trưng trong nghệ thuật ngôn từ của Tagore.

Song dù có nhiều cố gắng và được sự giúp đỡ tận tình của những người Thầy, người bạn trong quá trình chuyển ngữ tập thơ này, chúng tôi cũng không thể tránh khỏi những sai sót, hạn chế. Rất mong bạn đọc lượng thứ và góp ý, phê bình để chúng tôi có thể tiếp tục chỉnh sửa cho những lần tái bản được tốt hơn.

Người dịch

 

Bầy chim lạc – Stray Birds

1
Những cánh chim mùa hè bay lạc đến cửa sổ nhà tôi cất tiếng hót rồi bay đi.

Còn những chiếc lá thu vàng, không tiếng hát, chỉ run rẩy và rụng xuống trong tiếng thở dài.

1
Stray birds of summer come to my window to sing and fly away.

And yellow leaves of autumn, which have no songs, flutter and fall there with a sigh.

2
Hỡi những nghệ sĩ lang thang bé nhỏ trên cõi đời này, xin hãy lưu lại dấu chân trong lời nói của tôi.

2
O troupe of little vagrants of the world, leave your footprints in my words.

3
Thế giới gỡ bỏ chiếc mặt nạ bao la trước người tình.

Nó trở nên bé nhỏ như một bài hát, một nụ hôn vĩnh cửu.

3

The world puts off its mask of vastness to its lover.
It becomes small as one song, as one kiss of the eternal.

4
Chính những giọt nước mắt của đất đã giữ cho những nụ cười nàng thắm tươi.

4
It is the tears of the earth that keep her smiles in bloom.

5
Sa mạc hùng vĩ cháy bỏng tình yêu dành cho một ngọn cỏ đã lắc đầu bay đi trong tiếng cười.

5
The mighty desert is burning for the love of a blade of grass who shake her head and laughs and flies away.

6
Nếu bạn rơi nước mắt khi bỏ lỡ ánh mặt trời, bạn cũng sẽ bỏ lỡ những vì sao.

6
If you shed tears when you miss the sun, you also miss the stars.

7
Này những ngọn nước đang múa, những hạt cát dưới chân bạn đang cầu xin lời hát và điệu nhảy của bạn. Liệu bạn có mang đi gánh nặng tật nguyền thay cho chúng hay không?

7
The sands in your way beg for your song and your movement, dancing water. Will you carry the burden of their lameness?

8
Khuôn mặt tiếc nuối của nàng ám ảnh giấc mơ tôi như cơn mưa đêm.

8
Her wistful face haunts my dreams like the rain at night.

9
Có lần nằm mơ thấy chúng ta là những người xa lạ.

Thức dậy thì thấy chúng mình thân thiết với nhau.

9
Once we dreamt that we were strangers.

We wake up to find that we were dear to each other.

10
Sầu muộn là sự che đậy khoan hòa trong trái tim ta giống như bóng đêm trong rừng cây im lặng.

10
Sorrow is hushed into peace in my heart like the evening among the silent trees.

11
Những ngón tay vô hình giống như làn gió nhàn rỗi, đang chơi điệu nhạc của những con sóng lăn tăn trên trái tim ta.

11
Some unseen fingers, like idle breeze, are playing upon my heart the music of the ripples.

12
“Ngôn ngữ của ngươi là gì, hỡi biển?”

“Ngôn ngữ của câu hỏi vĩnh cửu.”

“Ngôn ngữ là câu trả lời của ngươi là gì, hỡi bầu trời?

“Ngôn ngữ của sự im lặng đời đời.”

12
‘What language is thine, O sea?’

‘The language of eternal question.’

‘What language is thy answer, O sky?’

‘The language of eternal silence.’

13
Hãy lắng nghe, trái tim tôi, những lời thì thầm của thế giới mà lòng mình đã yêu thương.

13
Listen. my heart, to the whispers of the world with which it makes love to you.

14
Sự huyền nhiệm của sáng tạo giống như bóng tối ban đêm – vô cùng vĩ đại. Ảo vọng của kiến thức giống như sương mù buổi sớm mai.

14
The mystery of creation is like the darkness of nightit is great. Delusions of knowledge are like the fog of the morning.

15
Xin đừng đặt tình yêu của bạn lên vách núi vì tình yêu cao vút.

15
Do not seat your love upon a precipice because it is high.

16
Sáng nay, tôi ngồi bên ô cửa sổ, nơi thế giới như một người qua đường, dừng lại trong chốc lát, gật đầu rồi đi.

16
I sit at my window this morning where the world like a passer-by stops for a moment, nods to me and goes.

17
Những suy nghĩ tựa như tiếng xào xạc của lá; chúng là niềm vui đang thì thầm trong tâm trí tôi.

17
These little thoughts are the rustle of leaves; they have their whisper of joy in my mind.

18
Những gì là của bạn, bạn không nhìn thấy, những gì bạn thấy là cái bóng của mình.

18
What you are you do not see, what you see is your shadow.

19
Mong muốn của con là những tên khùng, chúng la hét qua những bài hát, Thầy ơi.

Hãy để cho con lắng nghe.

19
My wishes are fools, they shout across thy songs, my Master.

Let me but listen.

20
Tôi không thể lựa chọn cái tốt nhất.

Cái tốt nhất lựa chọn tôi.

20
I cannot choose the best

The best chooses me.

21
Người mang đèn lồng sau lưng ném chiếc bóng của họ về phía trước.

21
They throw their shadows before them who carry their lantern on their back.

22
Sự tồn tại của tôi là một bất ngờ vĩnh viễn và đó chính là cuộc sống con người.

22
That I exist is a perpetual surprise which is life.

23
“Chúng tôi, những chiếc lá xào xạc, lên tiếng trả lời các cơn bão, nhưng vì đâu các bạn lại im lặng?”

“Tôi chỉ là một bông hoa đơn thuần.”

23
‘We, the rustling leaves, have a voice that answers the storms, but who are you so silent?’

‘I am a mere flower.’

24
Sự nghỉ ngơi gắn liền với công việc như mi gắn liền với mắt.

24
Rest belongs to the work as the eyelids to the eyes.

25
Con người là một đứa trẻ được sinh ra, năng lực của con người là sức lớn.

25
Man is a born child, his power is the power of growth.

26
Thượng đế mong đợi câu trả lời của những bông hoa mà Người gởi cho con người, không phải cho mặt trời và trái đất.

26
God expects answers for the flowers he sends us, not for the sun and the earth.

27

Ánh sáng như đứa trẻ trần truồng vui đùa hạnh phúc giữa màu xanh cây lá; có biết đâu rằng con người có thể dối lừa.

27
The light that plays, like a naked child, among the green leaves happily knows not that man can lie.

28
Này sắc đẹp, hãy tìm hình ảnh ngươi trong tình yêu, chứ không phải trong sự tán tỉnh của chiếc gương soi.

28
O beauty, find thyself in love, not in the flattery of thy mirror.

29
Nơi bờ biển của thế giới, trái tim tôi sóng vỗ và viết trong nước mắt dòng chữ, “Tôi yêu người .”

29
My heart beats her waves at the shore of the world and writes upon it her signature in tears with the words, ‘I love thee.’

30
“Mặt trăng, bạn chờ đợi điều gì?”

“Để chào đón mặt trời mà tôi phải nhường lối”

30
‘Moon, for what do you wait?’

‘To salute the sun for whom I must make way.’

31
Cây cối đến bên cửa sổ của tôi như tiếng nói khát vọng của trái đất câm.

31
The trees come up to my window like the yearning voice of the dumb earth.

32
Buổi sáng của riêng mình là điều ngạc nhiên mới với Thượng đế.

32
His own mornings are new surprises to God.

33
Cuộc sống đòi hỏi sự giàu có của mình bằng sự khẳng định của thế giới, và tìm thấy giá trị của mình bằng sự khẳng định của tình yêu.

33
Life finds its wealth by the claims of the world, and its worth by the claims of love.

34
Lòng sông khô cạn thấy không phải cám ơn quá khứ của mình.

34
The dry river-bed finds no thanks for its past.

35
Chim muốn mình là mây.

Mây muốn mình là chim.

35
The bird wishes it were a cloud.

The cloud wishes it were a bird.

36
Thác nước hát, “Tôi tìm thấy bài hát của mình, khi tìm thấy tự do.”

36
The waterfall sings, ‘I find my song, when I find my freedom.’

37
Tôi không thể nói tại sao trái tim này mòn mỏi trong im lặng.

Đó là những nhu cầu nhỏ nhoi mà nó không hề đòi hỏi, cũng chẳng biết chẳng nhớ bao giờ.

37
I cannot tell why this heart languishes in silence.

It is for small needs it never asks, or knows or remembers.

38
Phụ nữ, khi họ chăm lo cho gia đình, chân tay của họ hát như dòng suối chảy theo triền đồi róc rách giữa các viên đá sỏi.

38
Woman, when you move about in your household service your limbs sing like a hill stream among its pebbles.

39
Mặt trời đi qua biển phía Tây, để lại lời chào cuối cùng của nó ở phía Đông.

39
The sun goes to cross the Western sea, leaving its last salutation to the East.

40
Đừng vì ăn không ngon miệng mà đổ lỗi cho thức ăn của bạn.

40
Do not blame your food because you have no appetite.

41
Cây cối giống như khát vọng của trái đất, muốn đứng cao lên để ngó bầu trời.

41
The trees, like the longings of the earth, stand a-tiptoe to peep at the heaven.

42
Bạn mỉm cười và trò chuyện với tôi về những điều không đâu nhưng tôi cảm thấy đó lại là điều tôi chờ đợi từ lâu.

42
You smiled and talked to me of nothing and I felt that for this I had been waiting long.

43
Cá trong nước thì im lặng, thú trên mặt đất thì ồn ào, chim trên trời thì ca hát,

Nhưng Con Người có sẵn sự im lặng của biển, tiếng ồn ào của đất và âm nhạc của trời.

43
The fish in the water is silent, the animal on the earth is noisy, the bird in the air is singing,

But Man has in him the silence of the sea, the noise of the earth and the music of the air.

44
Thế giới rượt đuổi trên những sợi dây của trái tim lần lữa làm nên âm nhạc của nỗi buồn.

44
The world rushes on over the strings of the lingering heart making the music of sadness.

45
Ngươi xem vũ khí là thần thánh của mình.

Khi vũ khí của ngươi giành chiến thắng thì chính ngươi là kẻ chiến bại.

45
He has made his weapons his gods.

When his weapons win he is defeated himself.

46
Thượng đế tìm thấy mình trong sáng tạo.

46
God finds himself by creating.

47
Bỏ tấm mạng che mặt, Bóng tối kín đáo và ngoan ngoãn theo sau Ánh sáng, với những bước chân lặng lẽ của tình yêu.

47
Shadow, with her veil drawn, follows Light in secret meekness, with her silent steps of love.

48
Các vì sao không ngại xuất hiện giống như những con đom đóm.

48
The stars are riot afraid to appear like fireflies.

49
Cảm ơn người rằng tôi không có các bánh xe của sức mạnh nhưng tôi là một trong các sinh vật sống bị bánh xe nghiền nát.

49
I thank thee that I am none of the wheels of power but I am one with the living creatures that are crushed by it.

50
Trí tuệ, sắc nhưng không rộng, gắn chặt mọi điểm nhưng không dịch chuyển.

50
The mind, sharp but not broad, sticks at every point but does not move.

51
Thần tượng của bạn tan vỡ trong bụi đất để chứng minh rằng bụi đất của Thượng đế lớn hơn thần tượng của bạn.

51
Your idol is shattered in the dust to prove that God’s dust is greater than your idol.

52
Con người không bộc lộ mình trong lịch sử, họ vật lộn để tồn tại trong lịch sử.

52
Man does not reveal himself in his history, he struggles up through it.

53
Khi chiếc đèn thủy tinh hắt hủi chiếc đèn đất nung dám nhận mình là thân thuộc, đó là lúc mặt trăng lên cao, và chiếc đèn thủy tinh cười nhạt nhẽo mở lời, “Này cô em gái thân yêu ơi.”

53
While the glass lamp rebukes the earthen for calling it cousin, the moon rises, and the glass lamp, with a bland smile, calls her,’My dear, dear sister.’

54
Giống như cuộc gặp gỡ giữa các con hải âu và những con sóng, chúng ta gặp nhau và xích lại gần.

Hải âu bay, những con sóng lăn đi và chúng ta rời xa nhau.

54
Like the meeting of the seagulls and the waves we meet and come near.

The seagulls fly off, the waves roll away and we depart.

55
Một ngày trôi qua, tôi giống như con thuyền nằm trên bãi biển, lắng nghe trong đêm điệu nhạc khiêu vũ của thủy triều

55
My day is done, and I am like a boat drawn on the beach, listening to the dance-music of the tide in the evening.

56
Cuộc sống được ban cho chúng ta, chúng ta có được nó bằng cách cho nó đi.

56
Life is given to us, we earn it by giving it

57
Chúng ta đến gần nhất sự tuyệt vời khi chúng ta có được sự khiêm nhường to lớn.

57
We come nearest to the great when we are great in humility.

58
Chim sẻ lấy làm tiếc cho chim công phải mang cái đuôi nặng nề.

58
The sparrow is sorry for the peacock at the burden of its tail.

59
Đừng sợ hãi những khoảnh khắc – hãy hát tiếng muôn đời.

59
Never be afraid of the moments-thus sings the voice of the everlasting.

60
Bão tìm kiếm con đường ngắn nhất ở chỗ không có con đường, rồi đột nhiên kết thúc việc tìm kiếm của mình trong Thinh không.

60
The hurricane seeks the shortest road by the no-road, and suddenly ends its search in the Nowhere.

61
Bạn ơi, hãy rót rượu của tôi vào chiếc cốc của tôi.

Nó sẽ không còn hương vị khi rót vào chiếc cốc của người khác.

61
Take my wine in my own cup, friend.

It loses its wreath of foam when poured into that of others.

62
Cái hoàn hảo khoe vẻ đẹp của mình trong tình yêu của Cái không hoàn hảo.

62
The perfect decks itself in beauty for the love of the Imperfect.

63
Chúa nói với con người, “ Để chữa lành cho ngươi nên ta làm thương tổn; vì yêu thương ngươi mà ta trừng phạt.”

63
God says to man, ‘I heal you therefore I hurt, love you therefore punish.’

64
Hãy cảm ơn ngọn đèn cho ánh sáng, nhưng đừng quên cái chân đèn nhẫn nại đứng trong bóng tối.
64
Thank the flame for its light, but do not forget the lampholder standing in the shade with constancy of patience.

65
Hỡi ngọn cỏ non, bước chân của bạn bé nhỏ, nhưng bạn có cả mặt đất dưới chân mình.

65
Tiny grass, your steps are small, but you possess the earth under your tread.

66
Bông hoa non nớt nở ra và cất tiếng khóc, ” Cuộc sống thân yêu ơi, chớ vội tàn phai.”

66
The infant flower opens its bud and cries, ‘Dear World, please do not fade.’

67
Thượng đế mệt mỏi với những vương quốc rộng lớn, nhưng không bao giờ chán nản những bông hoa bé nhỏ.

67
God grows weary of great kingdoms, but never of little flowers.

68
Cái Sai không thể chịu thất bại nhưng Cái Đúng có thể.

68
Wrong cannot afford defeat but Right can.

69
Thác nước hát, “Tôi dâng hiến toàn bộ nguồn nước với niềm vui, mặc dù chỉ một ít nước thôi cũng đủ cho người hết khát.”

69
I give my whole water in joy,’ sings the waterfall, ‘though little of it is enough for the thirsty.’

70
Từ suối nguồn nào đã tung lên những bông hoa này trong sự bùng phát không ngừng nghỉ của niềm sung sướng diệu kì?

70
Where is the fountain that throws up these flowers in a ceaseless outbreak of ecstasy?

71
Lưỡi rìu của tiều phu tìm đến cây để xin cái cán.

Cây đã cho nó.

71
The woodcutter’s axe begged for its handle from the tree.

The tree gave it.

72
Trong sự cô độc của trái tim, tôi cảm nhận được tiếng thở dài của buổi tối góa bụa bao trùm trong sương mù và mưa.

72
In my solitude of heart I feel the sigh of this widowed evening veiled with mist and rain.

73
Khiết tịnh là sự giàu có đến từ tình yêu tràn đầy.

73
Chastity is a wealth that comes from abundance of love.

74
Sương mù, giống như tình yêu, rong chơi nơi trung tâm những ngọn đồi và mang đến vẻ đẹp bất ngờ.

74
The mist, like love, plays upon the heart of the hills and brings out surprises of beauty.

75
Chúng ta nhận thức sai lầm về cuộc đời và cho rằng cuộc đời lừa dối chúng ta.

75
We read the world wrong and say that it deceives us.

76
Ngọn gió của nhà thơ băng qua biển, qua rừng để tìm giọng điệu của riêng mình.

76
The poet wind is out over the sea and the forest to seek his own voice.

77
Mỗi đứa trẻ được sinh ra mang đến thông điệp rằng Thượng đế chưa mất lòng tin ở con người.

77
Every child comes with the message that God is not yet discouraged of man.

78
Cỏ tìm bạn bè dưới đất.
Cây tìm cô đơn trên trời.

78
The grass seeks her crowd in the earth.

The tree seeks his solitude of the sky.

79
Con người lập rào chắn để ngăn cản chính mình.

79
Man barricades against himself.

80
Bạn của tôi ơi, giọng nói của bạn lang thang trong trái tim tôi, giống như âm thanh bị bóp nghẹt của biển giữa rừng thông đang lắng nghe.

80
Your voice, my friend, wanders in my heart, like the muffled sound of the sea among these listening pines.

81
Ngọn lửa vô hình trong bóng tối đã khạc ra những vì sao sáng ngời?

81
What is this unseen flame of darkness whose sparks are the stars?

82
Hãy để cuộc sống đẹp như hoa mùa hè và cái chết như lá mùa thu.

82
Let life be beautiful like summer flowers and death like autumn leaves.

83
Ai muốn làm điều tốt hãy gõ cửa, ai yêu thương thấy cửa đã mở rồi.

83
He who wants to do good knocks at the gate; he who loves finds the gate open.

84
Trong cái chết nhiều trở thành một, trong sự sống một trở nên nhiều.

Tôn giáo sẽ chỉ là một khi Thượng đế chết.

84
In death the many becomes one; in life the one becomes many.

Religion will be one when God is dead.

85
Nghệ sĩ là người tình của Thiên nhiên, do đó họ vừa là nô lệ lại vừa là người làm chủ thiên nhiên.

85
The artist is the lover of Nature, therefore he is her slave and her master.

86
“Trái ơi, bạn ở đâu xa xôi ?”

“Hoa ơi, tôi đang ẩn trong trái tim của bạn.”

86
‘How far are you from me, O Fruit?’

‘I am hidden in your heart, O Flower.’

87
Niềm khao khát này dành cho những ai cảm nhận được trong bóng tối nhưng không nhìn thấy vào ban ngày.

87
This longing is for the one who is felt in the dark, but not seen in the day.

88
Giọt sương nói với mặt hồ, “Bạn là giọt sương lớn dưới lá sen, tôi là giọt sương nhỏ trên mặt lá.”

88
‘You are the big drop of dew under the lotus leaf, I am the smaller one on its upper side,’ said the dewdrop to the lake.

89
Vỏ kiếm sẵn sàng bị mòn vẹt khi nó bảo vệ cái sắc bén của lưỡi kiếm.

89
The scabbard is content to be dull when it protects the keenness of the sword.

90
Trong bóng tối Một xuất hiện như thống nhất, trong ánh sáng Một xuất hiện như đa dạng.

90
In darkness the One appears as uniform; in the light the One appears as manifold.

91
Mặt đất rộng lớn trở nên hiếu khách là nhờ cỏ.

91
The great earth makes herself hospitable with the help of the grass.

92
Sự chào đời và cái chết của lá là những dòng xoay nhanh của một cơn xoáy lớn hơn đang dịch chuyển chậm rãi giữa các vì sao.

92
The birth and death of the leaves are the rapid whirls of the eddy whose wider circles move slowly among stars.

93
Quyền uy nói với thế giới, “Ngươi là của ta.”

Thế giới đã cầm tù quyền uy trong ngai vàng của nó.

Tình yêu nói với thế giới,” Tôi là của Người.”

Thế giới đã cho tình yêu được tự do trong ngôi nhà của mình.

93
Power said to the world, ‘You are mine.’

The world kept it prisoner on her throne.

Love said to the world, ‘I am thine.’

The world gave it the freedom of her house.

94
Sương mù giống như sự thèm muốn của trái đất.

Nó che phủ mặt trời dù phải rơi nước mắt.

94
The mist is like the earth’s desire.

It hides the sun for whom she cries.

95
Lặng yên, trái tim tôi, những cây đại thụ đang cầu nguyện.

95
Be still my heart, these great trees are prayers.

96
Tiếng ồn ào nhất thời đã chế giễu âm nhạc của Vĩnh Cửu.

96
The noise of the moment scoffs at the music of the Eternal.

97
Tôi nghĩ đến bao thế hệ đã nổi trôi theo dòng đời; yêu đương, chết chóc và bị lãng quên, và tôi cảm nhận sự tự do lúc ra đi.

97
I think of other ages that floated upon the stream of life and love and death and are forgotten, and I feel the freedom of passing away.

98
Nỗi buồn của linh hồn tôi là mạng che mặt của cô dâu.

Nó chờ đợi để được gỡ ra trong đêm tối.

98
The sadness of my soul is her bride’s veil.

It waits to be lifted in the night.

99
Dấu ấn của cái chết tạo giá trị vật chất cho cuộc sống; làm cho nó có thể mua được ở cuộc sống những gì thực sự là quý giá.

99
Death’s stamp gives value to the coin of life; making it possible to buy with life what is truly precious.

100
Những đám mây đứng khiêm tốn ở một góc trời.

Ban mai quàng lên nó ánh hào quang.

100
The cloud stood humbly in a corner of the sky.

The morning crowned it with splendour.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây