Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ mãi còn vang “Tiếng hát quốc ca” – Tác giả: Nhà văn Phùng Văn Khai

Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ mãi còn vang “Tiếng hát quốc ca” - Tác giả: Nhà văn Phùng Văn Khai

“Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ.

Ai về Bắc, ta theo với!
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
(Nhớ Bắc – Huỳnh Văn Nghệ)

tổng tập kỷ yếu

Rất nhiều người thuộc những câu thơ trên của Huỳnh Văn Nghệ, nhưng ít người biết ông từng đảm nhiệm chức Khu trưởng Khu 7, đặc khu Sài Gòn – Chợ lớn với những trận đánh nổi tiếng thời kháng Pháp. Ông nổi danh với tài cầm quân còn nổi tiếng với tài thơ mà quân dân miền Nam đã sớm phong ông làm “thi tướng”. Khi các nhà văn quân đội tìm thơ ông đưa vào tuyển tập lần thứ nhất (năm 2000), lần thứ hai (năm 2023) đã phải sửng sốt trước tác phẩm thơ Tiếng hát Quốc ca – một tuyệt phẩm của “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ sáng tác từ năm 1946.

Ngựa hồng dừng chân
Bên quân y viện
Giật mình nghe tiếng
Quốc ca vang
Xuống ngựa buộc cương
Hỏi ra mới rõ
Bác sĩ đang cưa chân
Một thương binh bằng cưa thợ mộc
Bác sĩ vừa cưa vừa khóc
Chị cứu thương mắt cũng đỏ hoe
Nhìn ảnh Bác Hồ trên tấm vách tre
Người chiến sĩ vẫn mê mải hát…

chương trình nghệ thuật “Những câu thơ viết nên hình đất nước”.Chương trình nghệ thuật “Những câu thơ viết nên hình đất nước”.

Những ngày ấy là những ngày Bác Hồ vừa đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự khẳng định mạnh mẽ “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Hình ảnh người chiến sĩ “cưa chân bằng cưa thợ mộc” là hình ảnh dũng cảm, khí phách can trường quyết chiến đấu, cống hiến máu xương vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Những vần thơ từ tim óc, từ sự thực chiến trường, từ thực tiễn cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân hai miền Nam – Bắc. Tất cả vì Tổ quốc hiến dâng.

Nhà văn Phùng Văn Khai (bìa trái) và nha thơ Nguyễn Khoa Điềm (Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa IX, Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương).Nhà văn Phùng Văn Khai (bìa trái) và nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng khóa IX, Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương).

Cưa cứ cưa, xương cứ đứt
Máu cứ rơi từng giọt đỏ hồng
Hai tay anh xiết chặt đôi hông
Dồn đôi phổi vào trong tiếng hát
“Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc…”
Đã hát đi hát lại bao lần
Vẫn chưa đứt xương chân
Vẫn chưa ngừng máu đỏ…

Hình ảnh vô cùng xúc động trên đã trở thành một trong những biểu tượng sâu sắc của người chiến sĩ ở chiến trường. Biểu tượng ấy trong dấu mốc 80 năm ngày thành lập nước càng trở nên thiêng liêng và sâu lắng. Máu xương của người chiến sĩ đã đổ xuống, đã góp phần tạo nên lũy thép thành đồng mà vô cùng giản dị, sáng trong. Những câu thơ như cứa sâu vào lòng chúng ta, đã tám thập kỷ vẫn còn nhói buốt. Đoàn quân Việt Nam đi – Chung lòng cứu quốc chính là hình ảnh đẹp nhất, còn lại mãi tới hôm nay.

“Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 02 tháng 02 năm 1914 tại xã Mỹ Lộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (cũ) trong một gia đình nông dân. Khi còn nhỏ, Huỳnh Văn Nghệ học tại địa phương, lớn lên học ở Sài Gòn. Tiếp đó, Huỳnh Văn Nghệ làm viên chức Sở Hỏa xa. Sống trong cảnh nước mất nhà tan, ông sớm có ý thức về nỗi nhục mất nước, về cuộc sống khốn cùng của người dân thuộc địa. Hàng ngày, ông phải chứng kiến cảnh áp bức, bóc lột của bộ máy cai trị của đế quốc Pháp đè lên những dân quê hiền lành, mộc mạc quê ông. Huỳnh Văn Nghệ đã biến lòng căm thù thành hành động cách mạng. Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã tác động mạnh đến ông, vạch ra cho ông một hướng đi mà sau này đã quyết định đến cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của ông. Sau khoảng thời gian Huỳnh Văn Nghệ rời quê nhà đi Băng Cốc để tìm con đường hoạt động cách mạng, năm 1944, ông trở lại Sài Gòn. Năm 1945, ông tham gia lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền ỏ Sài Gòn.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Huỳnh Văn Nghệ trở về quê hương tham gia đánh Pháp. Tân Uyên trở thành một chiến khu nổi tiếng – chiến khu Đ – của miền Đông và cho toàn Nam Bộ. Đồng bào ở quê ông biết đến Huỳnh Văn Nghệ như một chiến sĩ tài ba từng làm chỉ huy trưởng Chi đội 10 (tương đương cấp trung đoàn), từng làm Khu trưởng Khu 7, đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn những ngày đầu đặt tại quê hương ông. Từ đó suốt cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ và oai hùng, Huỳnh Văn Nghệ đã cùng sống chết với “miền Đông gian lao và anh dũng”, lập nên nhiều chiến công oanh liệt, làm cho giặc Pháp kinh hoàng.

Chính trong lòng cuộc kháng chiến chống Pháp, Tiếng hát Quốc ca – một thi phẩm nức tiếng ra đời và biệt danh “thi tướng” đã gắn chặt với Huỳnh Văn Nghệ trong các cuộc kháng chiến đến hôm nay.

Nhà văn Phùng Văn Khai (thứ 2 từ trái sang) chụp hình lưu niệm tại đêm thơ “Những câu thơ viết nên hình đất nước”.Nhà văn Phùng Văn Khai (thứ 2 từ trái sang) chụp hình lưu niệm tại đêm thơ “Những câu thơ viết nên hình đất nước”.

Những vần thơ đặc tả người chiến sĩ cũng là đặc tả cuộc kháng chiến của những ngày đầu mới giành độc lập trong chiến khu nơi Quân y viện chiến khu đã cho chúng ta thấy gần hơn, sống động hơn, khẩn trương hơn, báo hiệu sự tất thắng của chính nghĩa, sự lớn mạnh của đội quân anh hùng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu và chiến thắng với những gì bình dị nhất.

Vừa xong băng bó
Anh lịm đi
Hồi hộp cả núi rừng
Tiếng hát mới chịu ngưng
Ảnh Bác Hồ như rưng rưng nước mắt

Bác Hồ của chúng ta, người đã bôn ba khắp bốn biển năm châu tìm đường cứu nước luôn ở bên người chiến sĩ. Tiếng hát Quốc ca của người chiến sĩ cũng là để dành tặng Bác Hồ trong một khung cảnh đặc biệt, một niềm tin đặc biệt.

Trở lên yên, ngựa đi từng bước nhỏ
Cúi đầu nặng nỗi đau thương
Nhưng lửa căm hờn
Bỗng dựng cao đầu ngựa dậy
Cả núi rừng
Như còn lắng nghe lời chiến sĩ
“Tiến mau ra sa trường…
Tiến lên! Cùng tiến lên!…”
Và vang trời ngựa hí
Chí phục thù cháy bỏng tay cương.

Lời thơ tưởng chừng không bao giờ dứt. Tiến lên! Cùng tiến lên! Tiếng hát Quốc ca chính là lời hiệu triệu từ trong trái tim mỗi người chiến sĩ luôn vang lên trong mỗi người chiến sĩ suốt cuộc đời. Từng phần xương thịt anh có thể rời ra “bằng cưa thợ mộc” nhưng ý chí và niềm tin sắt đá của người chiến sĩ với Đảng, với Bác Hồ luôn vẹn nguyên, luôn là một khối thống nhất không thể tách rời.

Nhà văn Phùng Văn Khai (ngoài cùng bìa phải) chụp hình lưu niệm tại đêm thơ “Những câu thơ viết nên hình đất nước”.Nhà văn Phùng Văn Khai (ngoài cùng bìa phải) chụp hình lưu niệm tại đêm thơ “Những câu thơ viết nên hình đất nước”.

Tiếng hát Quốc ca, bởi vì thế, sau tám thập kỷ mãi còn in sâu đậm trong trái tim người chiến sĩ hôm nay.

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, Huỳnh Văn Nghệ tập kết ra Bắc, phụ trách Cục Quân huấn Bộ Tổng tham mưu. Cuối năm 1959, ông chuyển ngành qua Tổng cục Lâm nghiệp.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam ngày càng ác liệt đã thôi thúc Huỳnh Văn Nghệ trở về vùng đất chiến khu xưa cùng quê hương chiến đấu. Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đã có ông trong đoàn quân chiến thẳng trở về Sài Gòn. Ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1977 để lại niềm tiếc thương vô hạn với đồng đội, với quê hương.

Nhà văn Phùng Văn Khai.Nhà văn Phùng Văn Khai.

“Thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ, chỉ riêng với Tiếng hát Quốc ca đã cho thấy tầm vóc của người chiến sĩ cách mạng, sự anh dũng, kiên cường, một tấm lòng kiên trung với đất nước từ buổi đầu độc lập. Đã tám thập kỷ trôi qua, đất nước chúng ta đang mạnh mẽ bước vào kỷ nguyên vươn mình, chúng ta có rất nhiều hình ảnh đẹp, hình tượng đáng tự hào, mà một trong những hình tượng đó chính là Tiếng hát Quốc ca của “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ.

P.V.K

 

 

     


     

Bài trướcGiới thiệu ba tiểu thuyết đặc sắc nhân kỷ niệm 105 năm ngày sinh của nhà văn Tô Hoài
Bài tiếp theoXuất hiện bão BUALOI sẽ đi vào Biển Đông trở thành cơn bão số 10

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây