Cảm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du – Quyển 1:[Kỳ IX] – Tác giả: Nhà thơ Hồ Văn Chi

Cảm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du - Quyển 1:[Kỳ IX] - Tác giả: Nhà thơ Hồ Văn Chi

Nhà thơ Hồ Văn Chi.

Bài 79: Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành

鳳 凰 路 上 早 行

征 夫 懷 往 路
夜 色 尚 蒙 蒙
月 落 猿 聲 外
人 行 虎 跡 中
力 衰 常 畏 露
髪 短 不 禁 風
野 宿 逢 樵 者
相 憐 不 在 同
阮 攸

 

Phiên âm

PHƯỢNG HOÀNG LỘ
THƯỢNG TẢO HÀNH

Chinh phu hoài vãng lộ
Dạ sắc thượng mông mông
Nguyệt lạc viên thanh ngoại
Nhân hành hổ tích trung
Lực suy thường uý lộ
Phát đoản bất cấm phong
Dã túc phùng tiều giả
Tương liên bất tại đồng.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Khách lữ hành nghĩ đến con đường trước mặt
Sắc trời đêm vẫn còn mờ mờ
Trăng lặn ngoài nơi có tiếng vượn hú
Người đi trong chốn cọp in dấu chân
Sức yếu thường sợ sương móc
Tóc ngắn không ngại gió thổi
Đêm ngủ nơi đồng quê gặp người đốn củi
Thương nhau không vì chỗ giống nhau.

 

Dịch thơ

ĐI SỚM QUA NÚI PHƯỢNG HOÀNG

Nghĩ chặng trước mà lo
Màn đêm vẫn mịt mờ
Dấu hùm hù khách bước
Tiếng vượn tiễn trăng sa
Tóc ngắn chường hơi lạnh
Thân suy ngại móc già
Ngủ cùng ông đốn củi
Khác cảnh vẫn thương ta.

—————
* Từ Hà Tĩnh đi vào có núi Phượng Hoàng. Năm Giáp Tý (1804) Nguyễn Du đương làm tri phủ Thường Tín thì bị bệnh, xin từ chức. Về quê nghỉ được hơn một tháng lại có chỉ gọi vào Kinh đô Huế. Bài này làm trên đường tới Kinh đô và mở đầu cho tập “Nam trung tạp ngâm”.

 

Bài 80: Mộng đắc thái liên kỳ nhất

夢 得 採 蓮 其 一

緊 束 蛺 蝶 裙
採 蓮 棹 小 艇
湖 水 何 浺瀜
水 中 有 人 影
阮 攸.

 

Phiên âm

MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN,
KỲ NHẤT

Khẩn thúc giáp điệp quần
Thái liên trạo tiểu đĩnh
Hồ thủy hà xung dung
Thủy trung hữu nhân ảnh

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Buộc chặt váy cánh bướm
Chèo thuyền con hái sen
Nước hồ sao lai láng
Trong nước có bóng người

 

 

Dịch thơ

NẰM MƠ THẤY HÁI SEN, BÀI I

Buộc váy cho chặt thêm
Chèo thuyền nhỏ hái sen
Mặt hồ sao gợn sóng
Trong nước bóng người in.

——————–

(1): Theo GS Hoàng Xuân Hãn, bài thơ này làm lúc Nguyễn Du đã được phong tước hầu, làm quan to ở Huế, để tưởng nhớ người yêu cũ là nữ sĩ Hồ Xuân Hương. (Nguồn Internet).
(2): “Mộng đắc thái liên”, tạm dịch nghĩa là: “Nằm mơ thấy hái sen”, tựa đề này có 5 bài, được cho là tác giả nằm mơ thấy được hái sen cùng người yêu cũ trong hình tượng cô láng giềng.

Bài 81: Mộng đắc thái liên kỳ nhị

夢 得 採 蓮 其 =

採 採 西 湖 蓮
花 實 俱 上 船
花 以 贈 所 畏
實 以 贈 所 憐
阮 攸

 

Phiên âm

MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN. KỲ NHỊ

Thái thái Tây Hồ liên
Hoa thực câu thướng thuyền
Hoa dĩ tặng sở uý
Thực dĩ tặng sở liên

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Hái, hái sen Hồ Tây
Hoa và gương sen đều để trên thuyền
Hoa để tặng người mình trọng
Gương để tặng người mình thương

 

 

Dịch thơ

NẰM MƠ THẤY HÁI SEN, BÀI II

Hái, hái sen hồ Tây,
Hoa, gương đã chất đầy
Hoa trao người “giận” đấy
Gương tặng bạn thương đây.

——————–

* Chữ “uý” 畏 có các nghĩa: Sợ, kính phục, nể phục, oán ghét, oán hận- giận v.v…Trong bài dịch thơ dùng nghĩa “giận”; phỏng theo “giận mà thương”

Bài 82: Mộng đắc thái liên kỳ tam

夢 得 採 蓮 其 三

今 晨 去 探 蓮
乃 紂 東 鄰 女
不 知 來 不 知
隔 花 聞 笑 語
阮 攸

 

Phiên âm

MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN, KỲ TAM

Kim thần khứ thái liên
Nãi ước đông lân nữ
Bất tri lai bất tri
Cách hoa văn tiếu ngữ

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Sáng nay đi hái sen
Nên hẹn với cô láng giềng
Chẳng biết đến lúc nào không biết
Cách hoa nghe tiếng cười .

 

 

Dịch thơ

NẰM MƠ THẤY HÁI SEN, BÀI III

Sáng nay đi hái sen
Hẹn với cô nhà bên
Đến lúc nào không biết
Cách hoa cười thật hiền.

 

Bài 83: : Mộng đắc thái liên kỳ tứ

夢 得 採 蓮 其 四

共 知 憐 蓮 花
誰 者 憐 蓮 幹
其 中 有 真 絲
牽 連 不 可 斷
阮 攸

 

Phiên âm

MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN, KỲ TỨ

Cộng tri liên liên hoa
Thuỳ giả liên liên cán
Kỳ trung hữu chân ti
Khiên liên bất khả đoạn.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Mọi người đều biết yêu hoa sen
Nhưng ai là kẻ yêu thân sen
Trong thân cây sen thật có tơ sen
Vương vấn không dứt được

 

 

Dịch thơ

NẰM MƠ THẤY HÁI SEN, BÀI IV

Ai cũng thích hoa sen
Thân sen nào kẻ mến
Tơ trong thân thật bền
Khó dứt tình lưu luyến.

Bài 84: Mộng đắc thái liên kỳ ngũ

夢 得 採 蓮 其 五

蓮 葉 何 青 青
蓮 花 嬌 盈 盈
採 之 勿 傷 藕
明 年 不 復 生
阮 攸

 

Phiên âm

MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN, KỲ NGŨ

Liên diệp hà thanh thanh
Liên hoa kiều doanh doanh
Thái chi vật thương ngẫu
Minh niên bất phục sinh.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Lá sen sao mà xanh
Hoa sen đẹp đầy đặn
Hái sen chớ làm tổn thương ngó sen
Sang năm sen không mọc lại được.

 

 

 

Dịch thơ

NẰM MƠ THẤY HÁI SEN, BÀI V

Lá sen mơn mởn xanh
Hoa đẫy đà xinh xinh
Khi hái đừng hư ngó
Mùa sau khó phục sinh.

Bài 85: Thu chí

秋至

香江一片月
今古許多愁
往事悲青塚
新秋到白頭
有形徒役役
無病故拘拘
回首藍江浦
閒心謝白鷗
阮 攸

 

Phiên âm

THU CHÍ

Hương Giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
Vãng sự bi thanh trủng
Tân thu đáo bạch đầu
Hữu hình đồ dịch dịch
Vô bệnh cố câu câu
Hồi thủ Lam Giang phố
Nhàn tâm tạ bạch âu.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Một mảnh trăng trên sông Hương
Mà xưa tới nay đã gợi không biết bao nhiêu mối sầu
Chuyện cũ chạnh thương mồ cỏ xanh
Thu mới tới trên đầu tóc bạc
Có hình nên phải chịu vất vả
Không bệnh mà lưng vẫn khom khom
Ngoảnh đầu trông về bến sông Lam
Lòng nhàn xin tạ từ chim âu trắng.

 

Dịch thơ

THU ĐẾN

Hương giang soi ánh nguyệt
Kim cổ chất tâm sầu
Chuyện cũ mồ xanh cỏ
Thu nay người bạc đầu
Có thân đành khổ mãi
Không bệnh đã còm lâu
Ngoái lại Lam giang nhớ
Tâm nhàn tạ hải âu.

Bài 86: Điệu khuyển

悼 犬

黢 馬 不 老 死
烈 女 無 善 終
凡 生 負 奇 氣
天 地 非 所 容
念 爾 屬 所 畜
與 人 毛 骨 同
貪 進 不 知 止
隕 身 寒 山 中
隕 身 勿 嘆 惋
數 試 無 全 功
阮 攸

 

Phiên âm

ĐIỆU KHUYỂN

Tuấn mã bất lão tử
Liệt nữ vô thiện chung
Phàm sinh phụ kỳ khí
Thiên địa bất sở dung
Niệm nhĩ thuộc sở súc
Dữ nhân mao cốt đồng
Tham tiến bất tri chỉ
Vẫn thân hàn sơn trung
Vẫn thân vật thán uyển
Sổ thí vô toàn công.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Ngựa hay không chết già
Người trinh liệt không chết yên lành
Phàm người sinh ra có khí phách khác thường
Trời đất không có chỗ dung túng
Nghĩ thương mày thuộc giống gia súc
Lông xương cũng đồng với loài người
Ham tiến không biết dừng
Bỏ mình trong núi lạnh
Bỏ mình chớ than tức
Bao lần thử sức không thành công.

 

Dịch thơ

THƯƠNG TIẾC CON CHÓ

Ngựa hay thường chết trẻ
Gái giỏi khó thiện chung
Phàm ỷ mình xuất chúng
Trời đất chẳng có dung
Nghĩ mày loài gia súc
Cùng người xương thịt đồng
Chỉ tiến không biết thoái
Liều thân chốn núi rừng
Bỏ mình đâu oán thán
Thí thố chẳng thành công.

Bài 87: Ngẫu thư công quán bích

偶 書 公 館 壁

朝 餐 一 盂 飯
暮 浴 一 盆 水
閉 門 謝 知 交
開 窗 見 荊 杞
窗 外 荊 杞 蔓 且 長
美 人 悠 悠 隔 高 牆
杜 宇 一 聲 春 去 矣
魂 兮 歸 來 悲 故 鄉
阮 攸

 

Phiên âm

NGẪU THƯ CÔNG QUÁN BÍCH

Triêu xan nhất vu phạn
Mộ dục nhất bồn thủy
Bế môn tạ tri giao
Khai song kiến kinh kỷ
Song ngoại kinh kỷ mạn thả trường
Mỹ nhân du du cách cao tường
Đỗ vũ nhất thanh Xuân khứ hỷ
Hồn hề quy lai bi cố hương.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Sớm ăn một bát cơm
Chiều tắm một bồn nước
Đóng cửa tạ người quen
Mở cửa thấy cây kinh cây kỷ
Ngoài cửa sổ, cây kinh cây kỷ mọc tràn lan
Người đẹp vòi vọi cách tường cao
Cuốc kêu một tiếng xuân đi mất
Hồn ơi về đi thương cố hương.

 

Dịch thơ

ĐỀ THƠ VÁCH CÔNG QUÁN

Sáng cơm ăn một bát
Chiều nước tắm lưng bồn
Mở cửa toàn gai góc
Cài then tạ bạn thân
Bên ngoài gai góc mọc đầy nương
Người đẹp thong dong cách bức tường
Một tiếng quyên kêu, xuân vụt mất
Ơi hồn trở lại nhớ quê hương.

 

 

 

Bài 88: Ngẫu đề công quán bích, kỳ nhất

偶 題 公 館 壁 其 一

閶 闔 門 前 春 色 闌
隔 江 遙 對 御 屏 山
春 從 江 上 來 何 處
人 倚 天 涯 滯 一 官
滿 地 繁 聲 聞 夜 雨
一 床 孤 悶 敵 春 寒
桃 花 莫 仗 東 君 意
傍 有 風 姨 性 最 酸
阮 攸

 

Phiên âm

NGẪU ĐỀ CÔNG QUÁN BÍCH, KỲ NHẤT

Xương hạp môn tiền xuân sắc lan
Cách giang diêu đối Ngự Bình san
Xuân tòng giang thượng lai hà xứ
Nhân ỷ thiên nhai trệ nhất quan
Mãn địa phồn thanh văn dạ vũ
Nhất sàng cô muộn địch xuân hàn
Đào hoa mạc trượng đông quân ý
Bàng hữu phong di tính tối toan.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Trước cửa rồng sắc xuân sắp tàn
Cách sông xa nhìn núi Ngự Bình
Xuân theo dòng sông đi về đâu
Người nương chân trời lụn trệ vì một chức quan
Đêm nghe tiếng mưa ồn ào đầy đất
Trên giường, nỗi buồn cô đơn chống với
khí lạnh của xuân
Hoa đào chớ cậy được chúa xuân yêu
Bên cạnh có dì gió tánh rất chua ngoa

 

Dịch thơ

NGẪU HỨNG ĐỀ THƠ VÁCH CÔNG QUÁN, BÀI I

Trước cửa, thiều quang lại sắp tàn
Ngự Bình xa đối cảnh Hương giang
Xuân theo dòng nước hoà sông biển
Người dựa chân trời trệ chức quan
Nghe tiếng mưa dầm nơi đất ngủ
Cảm mình phận lẻ lúc sương tan
Hoa đào chớ cậy xuân yêu dấu
Ả gió thường hay nổi tính càn

Bài 89: : Ngẫu đề công quán bích, kỳ nhị

偶題公館壁其二

東望江頭望故交
浮雲無定水滔滔
風吹古塚浮榮盡
日落平沙戰骨高
山月江風如有待
岩棲谷飲不辭勞
平生已絕雲霄夢
怕見傍人問羽毛
阮 攸

 

Phiên âm

NGẪU ĐỀ CÔNG QUÁN BÍCH, KỲ NHỊ

Đông vọng giang đầu vọng cố giao
Phù vân vô định thuỷ thao thao
Phong xuy cổ trủng phù vinh tận
Nhật lạc bình sa chiến cốt cao
Sơn nguyệt giang phong như hữu đãi
Nham thê cốc ẩm bất từ lao
Bình sanh dĩ tuyệt vân tiêu mộng
Phạ kiến bàng nhân vấn vũ mao.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Đầu sông trông xuống Đông là đất cũ
Đám mây lang thang, nước cuồn cuộn
Gió thổi nơi mồ xưa, bao nhiêu vinh hoa
hư ảo tan hết
Bóng chiều trên bãi cát, xương chiến sĩ vun cao
Trăng núi gió sông như có lòng chờ đợi
Ở hang uống hố cũng không nề gian lao
Bình sinh đã dứt hẳn mộng lên mây xanh
Sợ thấy có người ở bên hỏi đến lông cánh

 

Dịch thơ

NGẪU HỨNG ĐỀ THƠ VÁCH CÔNG QUÁN, BÀI II

Bảng lảng mây trôi nước cuộn dòng
Nhìn về đất cũ phía trời Đông
Cồn ma gió thổi đời tan tác
Chiến trận xương phơi cát chất chồng
Trăng núi nước sông còn mộng lúc
Nằm hang uống hố chẳng nao lòng
Bình sinh dứt mộng lên mây trắng
Sợ có người làng hỏi cánh lông.

Bài 90: Tống nhân

送 人

香 芹 官 道 柳 青 青
江 北 江 南 無 限 情
上 苑 鶯 嬌 多 妒 色
故 鄉 蒪 老 尚 堪 羹
朝 庭 有 道 成 君 孝
竹 石 多 慚 負 爾 盟
惆 悵 深 宵 孤 對 影
滿 床 滯 雨 不 堪 聽
阮 攸

 

Phiên âm

TỐNG NHÂN

Hương Cần quan đạo liễu thanh thanh
Giang bắc giang nam vô hạn tình
Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc
Cố hương thuần lão thượng kham canh
Triều đình hữu đạo thành quân hiếu
Trúc thạch đa tàm phụ nhĩ minh
Trú trướng thâm tiêu cô đối ảnh
Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Trên đường cái quan Hương Cần liễu xanh xanh
Kẻ phía bắc sông, người phía nam sông tình vô hạn
Những con oanh đẹp trong vườn ghen nhau vì sắc đẹp
Rau thuần già nơi quê cũ vẫn còn nấu canh được
Triều đình có đạo khiến anh tròn chữ hiếu
Rất thẹn cùng trúc đá vì lỗi lời thề
Bồi hồi ảo não đêm sâu một mình đối bóng
Tiếng mưa dầm đầy giường nghe không chịu nổi.

 

Dịch thơ

TIỄN BẠN

Hương Cần đường cái liễu xanh xanh
Kẻ bắc người nam biết mấy tình
Oanh đẹp vườn xinh thường tị sắc
Rau già quê cũ vẫn ngon canh
Anh tròn chữ hiếu triều đình trọng
Tôi lỗi lời thề trúc đá khinh
Ảo não đêm thâu mình đối bóng
Nghe mưa tầm tã giấc khôn thành.

Bài 91: Ngẫu hứng, kỳ nhất

偶興其一

三月春時長豆苗
黃狐肥滿白狐驍
主人在旅不歸去
可惜鴻山屬晚樵
阮 攸

 

Phiên âm

NGẪU HỨNG, KỲ NHẤT

Tam nguyệt xuân thì trưởng đậu miêu
Hoàng hồ phì mãn bạch hồ kiêu
Chủ nhân tại lữ bất quy khứ
Khả tích Hồng Sơn thuộc vãn tiều

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Tháng ba mùa xuân đậu non mọc,
Cáo vàng béo mập, cáo trắng nhanh mạnh.
Chủ nhân đi xa không về,
Đáng tiếc buổi chiều núi Hồng Lĩnh thuộc về bác tiều phu.

 

 

Dịch thơ

NGẪU HỨNG, BÀI I

Tháng Ba, mầm đậu đã lên nhiều
Cáo trắng, cầy vàng béo lại kiêu
Chủ núi đi hoài chưa trở lại
Tiếc thay, Hồng Lĩnh thuộc ông tiều.

Bài 92: Ngẫu hứng, kỳ nhị

偶興其二

蘆花初白菊初黃
千里鄉心夜共長
強起推窗望明月
綠陰重疊不遺光
阮 攸

 

Phiên âm

NGẪU HỨNG, KỲ NHỊ

Lô hoa sơ bạch, cúc sơ hoàng
Thiên lý hương tâm dạ cộng trường
Cưỡng khởi thôi song vọng minh nguyệt
Lục âm trùng điệp bất di quang.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Hoa lau mới trắng, cúc mới vàng,
Vạn dặm lòng quê cùng chung đêm dài.
Cố dậy đẩy song cửa sổ xem trăng sáng,
Bóng xanh trùng điệp không lọt ánh sáng.

 

 

 

Dịch thơ

NGẪU HỨNG, BÀI II

Lau đương trổ trắng, cúc vừa vàng
Vạn dặm, đêm dài nhớ cố hương
Gượng đẩy cửa ra chờ ánh nguyệt
Bóng cây trùng điệp khuất khuôn gương.

Bài 93: : Ngẫu hứng, kỳ tam

偶興其三

一帶芭蕉綠覆階
半間煙火雜塵埃
可憐庭草芟除盡
他日春風何處來
阮 攸

Phiên âm

NGẪU HỨNG, KỲ TAM

Nhất đới ba tiêu lục phúc giai
Bán gian yên hoả tạp trần ai
Khả liên đình thảo sam trừ tận
Tha nhật xuân phong hà xứ lai

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Một dãy chuối xanh phủ kín thềm
Nửa gian bếp lửa khói hỗn tạp bụi bặm
Đáng thương đám cỏ trong sân đã bị cắt trụi
Ngày sau gió xuân tới thổi chỗ nào.

 

 

 

Dịch thơ

NGẪU HỨNG, BÀI III

Dãy chuối xanh xanh phủ kín thềm
Nửa gian bếp nhỏ bụi dày thêm
Thương thay đám cỏ ai trừ tận
Để gió xuân mai khó lối tìm.

Bài 94: Ngẫu hứng, kỳ tứ

偶興其四

故鄉亢旱久妨農
十口孩兒菜色同
譬似蒪鱸最關切
懷歸原不待秋風
阮 攸

 

Phiên âm

NGẪU HỨNG, KỲ TỨ

Cố hương cang hạn cửu phương nông
Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng
Thí tự thuần lô tối quan thiết
Hoài quy nguyên bất đãi thu phong.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Cố hương quá hạn hán từ lâu đã hại nhà nông,
Mười miệng trẻ con cùng mầu với rau.
Ví như quan thiết (ràng buộc chặt chẽ) tới rau thuần (rau nhút) cá lô (cá lò).
Thì muốn về quê không cần chờ tới gió thu.

 

Dịch thơ

NGẪU HỨNG, BÀI IV

Quê nhà nắng hạn hại nông trang
Mười miệng con thơ đói võ vàng
Rau nhút, cá lò như vẫn nhớ
Về quê chẳng đợi tiết thu sang.

——————–
* Rau “thuần” là rau nhút (rút): Là cây thảo nổi trên mặt nước, quanh thân có phao trắng, lá kép lông chim, là loại rau thông dụng, mùa hè nấu canh với khoai sọ, riêu cua.
* Cá “lô” là cá lò: Vào mùa cá lò ở các vùng biển, nhiều người đứng trên bờ để câu. Cá lò kho tiêu, nấu canh rau ngót…bổ và ngon.

Bài 95: Ngẫu hứng, kỳ ngũ

偶興其五

有一人焉良可哀
破衣殘笠色如灰
避人但覓道傍走
知是升龍城裏來
阮 攸

 

Phiên âm

NGẪU HỨNG, KỲ NGŨ

Hữu nhất nhân yên lương khả ai
Phá y tàn lạp sắc như hôi
Tị nhân đản mịch đạo bàng tẩu
Tri thị Thăng Long thành lý lai.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Có một người sao rất đáng thương
Áo rách, nón rách, sắc mặt như tro
Tránh người khác thà tìm vào lề đường mà đi
Biết đó là người từ thành Thăng Long lại

 

 

Dịch thơ

NGẪU HỨNG, BÀI 5

Có kẻ sao nhìn thật đáng thương
Nón cời, áo rách, mặt tro vương
Bên lề lảng tránh người đi tới
Biết khách Thăng Long, vẻ nhún nhường.

Bài 96: Ngẫu đề

偶題

白地庭墀夜色空
深堂悄悄下簾櫳
丁東砧杵千家月
蕭索芭蕉一院風
十口啼饑橫嶺北
一身臥病帝城東
知交怪我愁多夢
天下何人不夢中
阮 攸

 

Phiên âm

NGẪU ĐỀ

Bạch địa đình trì dạ sắc không
Thâm đường tiễu tiễu hạ liêm long
Đinh đông châm xử thiên gia nguyệt
Tiêu tác ba tiêu nhất viện phong
Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc
Nhất thân ngoạ bệnh Đế Thành đông
Tri giao quái ngã sầu đa mộng
Thiên hạ hà nhân bất mộng trung.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Thềm sân trống trơn chỉ có màu đêm bàng bạc
Nhà sâu thăm thẳm, rèm buông xuống
Dưới bóng trăng của nghìn nhà, tiếng chày dập vải
nghe rộn rã
Một viện gió thổi, tàu chuối khua xào xạc tiêu điều
Phía bắc Hoành Sơn, mười miệng kêu đói
Phía đông thành vua, một thân nằm bệnh
Các bạn quen biết lấy làm lạ tại sao ta sầu mộng
Thiên hạ ai là người không ở trong mộng.

 

Dịch thơ

NGẪU NHIÊN ĐỀ VỊNH

Trống trải sân thềm, ánh nguyệt suông
Hiên nhà lặng lẽ mảnh rèm buông
Tiếng chày rộn rã trăng đầy xóm
Tàu chuối lao xao gió ngập phòng
Chục miệng đói cơm ngoài cõi Bắc
Một mình nhuốm bệnh cuối thành Đông
Bạn quen thường trách ta sầu mộng
Thiên hạ ai người khác vậy không!

Bài 97:  Thủy Liên đạo trung tảo hành

水連道中早行

悲莫悲兮行道難
草頭露宿犯衰顏
百年古道皆成壑
一帶平林不見山
多病一身供道路
五更殘夢續鄉關
偶逢歸客向余話
昨歲朝天乍放還
阮 攸

 

Phiên âm

THUỶ LIÊN ĐẠO TRUNG TẢO HÀNH

Bi mạc bi hề hành đạo nan
Thảo đầu lộ túc phạm suy nhan
Bách niên cổ đạo giai thành hác
Nhất đới bình lâm bất kiến san
Đa bệnh nhất thân cung đạo lộ
Ngũ canh tàn mộng tục hương quan
Ngẫu phùng quy khách hướng dư thoại
Tạc tuế triều thiên xạ phóng hoàn.

                    Nguyễn Du.

 

Dịch nghĩa

Không gì buồn hơn là đi đường khó khăn
Gối cỏ ngủ ngoài sương phạm tới sắc mặt suy tàn
Một trăm năm đường cũ đều thành hang vũng
Một dải rừng bằng phẳng mênh mông, không thấy núi
Một thân nhiều bệnh dâng cho đường lộ
Năm canh tàn mộng tiếp tục thấy cổng làng
Tình cờ gặp một người đang trên đường về nói cho ta biết
Năm ngoái triều đình chợt tha cho về nhà.

 

Dịch thơ

ĐI SỚM TRÊN ĐƯỜNG QUA THUỶ LIÊN

Lê bước trên đường dạ héo hon
Nằm sương gối cỏ sức hao mòn
Trăm năm lối cũ thành hang vũng
Một dải rừng bằng chẳng núi non
Lắm bệnh thân dầm nơi đất khách
Nhiều khi mộng thấy cổng làng thôn
Tình cờ gặp bạn đồng hành nói
Năm ngoái vua tha miễn đánh đòn.

———————–

* Thuỷ Liên ở huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, trước kia có tổng Thuỷ Liên, không biết có phải nhà thơ tả chặng đường thuộc tổng ấy không.

H.V.C

 

 

 

 

 

     


     

Bài trướcCảm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du – Quyển 1:[Kỳ VIII] – Tác giả: Nhà thơ Hồ Văn Chi
Bài tiếp theoCảm dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du – Quyển 1:[Kỳ cuối] – Tác giả: Nhà thơ Hồ Văn Chi

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây