Chùm thơ Haikư Nhật Bản – Nhà thơ, dịch giả Bằng Việt (dịch)

Chùm thơ Haikư Nhật Bản - Nhà thơ, dịch giả Bằng Việt (dịch)

CHÙM THƠ HAIKƯ NHẬT BẢN

     Thể thơ Haikư Nhật Bản là một thể thơ truyền thống hàm súc, chỉ có 17 âm tiết, thường được viết thành 3 dòng, là thể thơ rất được ưa chuộng tại Nhật từ nhiều thế kỷ trước và hiện nay đã được phát triển ra hơn 40 nước trên thế giới. Câu lạc bộ Thơ Haikư Việt Nam cũng đã được thành lập từ hơn 10 năm nay, do nhà thơ Đinh Nhật Hạnh chủ trì. Cách đây 5 năm, CLB đã tổ chức một cuộc họp mặt giao lưu rất thành công tại Hà Nội, với nhiều nhà thơ thế giới và nhân sĩ trí thức yêu mến thơ Haikư tham dự, trong đó có mặt nhà thơ Nhật Bản nổi tiếng Ban’ya Natsuishi – Chủ tịch Hiệp hội Thơ Haikư quốc tế.

    Chúng tôi xin giới thiệu một chùm thơ của các nhà thơ Haikư tên tuổi ở Nhật Bản (trích từ Tuyển tập Thơ Haikư thế giới, do nhà thơ tên tuổi Ban’ya Natsuishi của Nhật chọn và xuất bản năm 2014, gồm: 553 bài thơ của 188 tác giả trên 40 nước, được dịch ra tiếng Anh và đem sang trao tặng cho các thành viên tham dự tại cuộc họp mặt Thơ Haikư ở Hà Nội ).

Taro Aizu (sinh 1954)

May children in Fukushima
have no cancer
in the future?

Trẻ em ở Fukushima
biết có thoát nổi ung thư
trong tương lai trước mắt?

May my genetic code
Not be polluted
By Caesium radiation!

Còn mã di truyền của tôi
thoát gì khỏi tia bức xạ Xêxium
trong vòng ô nhiễm?

 

Tousen Imokawa (sinh 1948)

A sorrowful old man living in isolation
rices and falls
three times already!

Một ông già tuyệt vọng, sống cách ly
vẫn rướn mình lên, cho dù ngã xuống,
ba lần liền không nguôi!

A cloud resembling you
moves off slowly
carrying your perfume

Một đám mây giống như mình
rời đi chậm rãi
sao vẫn mang mùi hương của mình?

 

Fumiko Kaido (sinh 1968)

A comet has come
thousands of hawk, moth,
woke up all together

Ngôi sao chổi vừa xuất hiện
ngàn ngàn lũ diều hâu, bọ nhậy,
nhao nhao thức dậy theo cùng.

The morning after an erotic dream
the clear emerald green of
a traffic signal.

Ban mai, sau giấc mơ gợi tình
ánh đèn ngọc xanh rũ hết mơ màng
đẩy tín hiệu giao thông ngợp mắt.

 

Keisei Kobashi (sinh 1949)

War anniversary in Okinawa
hourglass with rattling
of bones

Ngày kỷ niệm chiến tranh ở Okinawa
đồng hồ cát có tiếng kêu
răng rắc như xương gẫy

Breath of wind
fanned to soldiers
not returning.

Gió trở thành hơi thở
phả lên những người lính chiến
không bao giờ về.

 

Paul Rossiter ( sinh 1947, người Nhật gốc Anh)

Shopping street music
concerto for flute
and pneumatic drill.

Nhạc trên đường phố bán hàng
tấu bản hòa âm dành cho sáo
hòa cùng máy khoan chạy khí nén vang rền.

Red light quiets
six lanes of traffic
an unseen crow caws.

Đèn đỏ bắt đứng yên
sáu làn xe đều dừng
đàn quạ kêu lên, dẫu không nhìn thấy.

 

Izumi Sato ( sinh 1945)

Damaged by war
a big tree remains unburnt
holding the earth

Bị tổn hại vì chiến tranh
cây đại thụ vẫn bảo toàn không cháy
trụ yên cùng đất đai.

In the twilight
I saw a prismatic rainbow:
God’s signature.

Trong bóng chiều chạng vạng
Tôi thấy chiếc cầu vồng lung linh tán sắc:
Chữ ký của Trời.

 

Jussei Yamazaki ( sinh 1947)

Until the thing is settled
let me be
hazy!

Cho tới lúc mọi thứ bình ổn lại
hãy cho tôi
được lãng đãng với mình!

A nuclear plant
Is stopped by jellyfish.
Sea of Japan!

Một nhà máy hạt nhân
bị bầy sứa buộc ngừng hoạt động.
Biển Nhật Bản đấy mà!

BẰNG VIỆT giới thiệu và dịch.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây