Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 12]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 12]

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI

DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT

(Kỳ thứ mười hai)

Lời người dịch: Trong lịch trình làm quan, hành đạo của đức Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan được thể hiện qua thơ văn của cụ, luôn thấy sáng tỏ một điều sự cẩn trọng, khoan hòa, mực thước trong xuất xử đã trở thành tập quán trong các trước tác. Điều này đã trở thành thuận lợi cho mỗi người dịch hậu sinh. Âu cũng là kiến thức các đời trao truyền cho nhau qua thơ văn vậy.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai

 

Phùng Văn Khai dịch Kỳ 12 -h2

 

行 年 自 述
時 丁 巳 三 十 歲 是 歲 應 清 華 試 中 式

庸 玉 于 成 賴 有 天
春 來 又 畀 我 強 年
道 明 德 立 愧 前 聖
親 顯 名 揚 希 古 賢
客 裏 喜 逢 新 日 月
筆 端 收 得 好 山 川
時 來 幸 際 風 雲 會
香 火 三 生 契 宿 緣

 

Phiên âm:

HÀNH NIÊN TỰ THUẬT
(Thời Đinh Tỵ tam thập tuế.
Thị tuế ứng Thanh Hoa thí trúng thức)

Dung ngọc vu thành lại hữu thiên,
Xuân lai hựu tí ngã cường niên.
Đạo minh đức lập quý tiền thánh,
Thân hiển danh dương hy cổ hiền.
Khách lý hỷ phùng tân nhật nguyệt,
Bút đoan thu đắc hảo sơn xuyên.
Thời lai hạnh tế phong vân hội,
Hương hỏa tam sinh khế túc duyên.

 

Dịch nghĩa:

TỰ THUẬT VIỆC TRONG NĂM(1 )
(Bấy giờ là năm Đinh Tỵ [1557], tôi 30 tuổi.
Năm ấy thi đỗ ở Thanh Hoa)

Nhờ trời, sự nghèo hèn lo buồn rèn giũa cho ta nên người(2 ),
Xuân về, lại thêm cho ta tuổi khỏe mạnh.
Tỏ đạo lập đức, xấu hổ vì kém bậc thánh đời trước,
Hiển thân dương danh, mong được như bậc hiền tài xưa.
Ở nhà trọ, mừng gặp ngày tháng mới,
Nhờ ngòi bút vẽ nên cảnh núi sông đẹp tươi.
Thời vận đến, may được cơ hội như hổ gặp gió, rồng được mây,
Thật là hợp với duyên xưa, vua tôi hương hỏa ba sinh(3 ).

 

Dịch thơ:

TỰ THUẬT VIỆC TRONG NĂM

Ngọc mài năm tháng mà nên
Xuân sang tráng kiện tuổi tên với đời
Hổ mình đạo hãy còn vơi
Dương danh cầu học như người hiền xưa
Tinh tươm ngày tháng thoi đưa
Non sông gấm vóc gió lùa trăng ngân
Ngày sang thời vận đầy sân
Vua hiền, tôi sáng chúng dân thanh bình.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

([1]) Sau bài này có bài cùng tên, tác giả trước tác năm 32 tuổi; tháng chạp năm ấy, đại quân của vua Lê đi đánh phương Bắc, tác giả được cử ở lại giữ dinh Thái phó.

([2]) Bài Tây minh của Trương Tải đời Tống có câu: “Bần tiện ưu thích, dung ngọc nhữ ư thành” (nghèo hèn, lo buồn đều dùng để mài giũa cho ngươi nên người).

([3]) Hương hỏa ba sinh: chỉ sự gắn bó hội hợp ở cả 3 kiếp: kiếp trước, kiếp này và kiếp sau. Câu này dùng chữ nhà Phật.

 

 

 

 

午 過 隴 偶 成

勢 誇 天 隴 古 曾 名
今 日 經 過 此 地 行
錦 水 右 來 通 碧 水
石 城 左 控 壯 金 城
馬 馳 草 徑 晝 無 事
鳥 語 花 枝 春 有 情
風 景 許 多 收 筆 底
此 回 人 世 侈 為 榮

 

Phiên âm:

NGỌ QUÁ LŨNG NGẪU THÀNH

Thế khoa Thiên Lũng cổ tằng danh,
Kim nhật kinh qua thử địa hành.
Cẩm Thủy hữu lai thông bích thủy,
Thạch Thành tả khống tráng kim thành.
Mã trì thảo kính trú vô sự,
Điểu ngữ hoa chi xuân hữu tình.
Phong cảnh hứa đa thâu bút để,
Thử hồi nhân thế xỉ vi vinh.

 

Dịch nghĩa:

GIỮA TRƯA QUA ĐẤT LŨNG
BẤT CHỢT THÀNH THƠ

Địa thế Thiên Lũng từng nổi tiếng từ xưa,
Hôm nay mới đi qua nơi đây.
Sông Cẩm Thủy chảy qua phía phải thông dòng nước biếc(4 ),
Thành Thạch Thành ngăn chặn phía trái vững như thành sắt(5 ).
Ngựa chạy theo đường cỏ, ban ngày vô sự,
Chim hót trên cành cây hoa, trời xuân hữu tình.
Bao nhiêu phong cảnh thu dồn cả vào nơi ngòi bút,
Phen này người đời bao người được vinh quang.

 

Dịch thơ:

ĐỀ THƠ ĐẤT LŨNG

Ta hôm nay mới qua đây
Ngắm nhìn Thiên Lũng trời mây giao hoà
Biếc xanh Cẩm Thủy xa xa
Thạch Thành sừng sững thiên hà góc riêng
Ngựa bon đường cỏ an yên
Chim kêu vượn hót cảnh tiên hữu tình
Thu vào ngọn bút ba sinh
Toả ra bát ngát mông mênh cõi người.

Phùng Văn Khai dịch

——————–

([4]) Cẩm Thủy: tên con sông ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

([5]) Thạch Thành: tên thành ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

 

 

晚 到 廣 地 旅 宿

山 山 高 與 白 雲 齊
晚 聽 山 村 唱 野 雞
風 靜 倚 樓 聞 笛 弄
更 深 傍 砌 響 蛩 啼
梅 傳 驛 使 家 書 近
桂 露 天 香 月 影 低
早 早 長 安 瞻 日 近
指 鄉 關 路 到 山 西

 

Phiên âm:

VÃN ĐÁO QUẢNG ĐỊA LỮ TÚC

Sơn sơn cao dữ bạch vân tề,
Vãn thính sơn thôn xướng dã kê.
Phong tĩnh ỷ lâu văn địch lộng,
Canh thâm bàng xế hưởng cùng đề.
Mai truyền dịch sứ gia thư cận,
Quế lộ thiên hương nguyệt ảnh đê.
Tảo tảo Tràng An chiêm nhật cận,
Chỉ hương qua lộ đáo Sơn Tê (Tây).

 

Dịch nghĩa:

BUỔI CHIỀU ĐẾN ĐẤT QUẢNG(*) NGỦ TRỌ

Ở đây núi cao ngang với mây trắng,
Chiều tối nghe tiếng gà rừng trong xóm núi gáy.
Gió lặng tựa lầu nghe tiếng sáo thổi,
Canh khuya bên thềm nghe tiếng dế kêu.
Như cành mai đưa tin sứ(6 ) trạm, thư nhà sắp đến,
Khi hoa quế nở ngát hương trời(7 ), bóng mặt trăng
thấp xuống.
Mau mau về Tràng An chiêm ngưỡng mặt trời gần(8 ),
Nhằm con đường quê hương thẳng về lộ Sơn Tây.

 

Dịch thơ:

ĐỀ THƠ ĐẤT QUẢNG

Mây ôm núi, núi ôm mây
Tiếng gà xóm nhỏ đâu đây gáy mừng
Lầu thanh sáo thổi ngập ngừng
Chen trong tiếng dế gọi hừng đông lên
Cành mai tin nhạn tới thềm
Trăng tà sắp lặn màn đêm hé dần
Tràng An hiện mặt trời gần
Sơn Tây trực chỉ người thân ngóng chờ.

Phùng Văn Khai dịch

——————

([6]) Cành mai đưa tin sứ: Lục Khải thời Tấn ở Giang Nam, nhớ bạn, nhân gặp sứ chạy trạm liền bẻ một cành mai gửi cho bạn. Trong thơ cổ người ta thường dùng điển này chỉ việc báo tin tức.

([7]) Hoa quế nở ngát hương trời: theo thần thoại Trung Quốc, ở mặt trăng có cây tiên quế, khi cây quế ấy nở hoa, hương trời lan tỏa.

([8]) Câu này ý nói về kinh đô Thăng Long để được gần vua.

 

 

營 中 除 夕
時 在 體 溪

古 云 除 夕 此 由 名
今 在 營 中 酌 禮 行
肅 肅 轅 門 星 布 陣
煌 煌 庭 燎 火 為 城
威 和 並 至 臧 師 律
甘 苦 攸 同 識 士 情
時 節 到 來 天 運 泰
國 家 喜 見 久 安 榮

 

Phiên âm:

DOANH TRUNG TRỪ TỊCH
(Thời tại Thể Khê)

Cổ vân trừ tịch thử do danh,
Kim tại doanh trung chước lễ hành.
Túc túc viên môn tinh bố trận,
Hoàng hoàng đình liệu hỏa vi thành.
Uy hòa tịnh chí tang sư luật,
Cam khổ du đồng thức sĩ tình.
Thời tiết đáo lai thiên vận thái,
Quốc gia hỷ kiến cửu an vinh.

 

Dịch nghĩa:

ĐÊM BA MƯƠI TẾT Ở DOANH TRẠI
(Bấy giờ tôi ở Thể Khê)(*)

Đời cổ gọi đêm ba mươi tết là đêm trừ tịch(9 ), do đó mà thành tên,
Đêm nay ở doanh trại cũng châm chước làm lễ trừ tịch.
Cửa Viên môn(10 ) nghiêm trang như sao bày trận,
Cây đình liệu(11 ) sáng rực tưởng lửa là thành.
Ân uy đủ cả, đúng đắn luật quân,
Cam khổ cùng nhau, biết rõ tình sĩ tốt.
Thời tiết đến rồi, vận trời đến hồi thông thuận,
Quốc gia mừng được thấy yên ổn vẻ vang lâu dài.

 

Dịch thơ:

ĐÊM BA MƯƠI TẾT Ở DOANH TRẠI

Cổ nhân “trừ tịch” gọi tên
Quân doanh làm lễ trong đêm sáng loà
Viên môn nghiêm trận sao sa
Sáng trưng “đình liệu” gần xa bập bùng
Ân uy nghiêm ngắn luật quân
Đồng cam sĩ tốt trăm phần vui thay
Vận trời luân chuyển nước mây
Quốc gia hưng thịnh đầy tay xuân về.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

(*) Thể Khê: địa danh. Chưa rõ ở đâu trên đất Thanh Hoa.

([9]) Trừ tịch: năm cũ đến đêm này là trừ bỏ hết, ngày hôm sau là năm mới, cho nên người ta gọi đêm ba mươi tết là đêm trừ tịch.

([10]) Viên môn: cửa làm bằng càng xe. Xưa vua đi tuần thú hoặc tướng ra quân, khi dừng lại hạ trại thường quây xe làm hàng rào, gác càng xe châu vào nhau làm cửa ra vào. Về sau người ta thường gọi cổng dinh hoặc doanh trại các quan võ là Viên môn.

([11]) Đình liệu: đuốc sáng ở điện đình. Xưa vua coi triều sớm thường bày những hàng đèn sáp hay đuốc soi đường để đi lại trong triều. Đây chỉ đuốc trong quân doanh.

 

 

有 一 介 鱗 居 水 上
非 螺 非 蛤 其 名 蚌
含 珠 帶 甲 武 文 才
吐 霧 吞 波 河 海 量
既 倒 狂 瀾 出 力 扶
方 升 紅 日 傾 心 向
江 河 外 闕 總 知 名
彼 鷺 勢 孤 安 敢 抗

 

Phiên âm:

BẠNG ( 12)

Hữu nhất giới lân cư thủy thượng,
Phi loa phi cáp kỳ danh bang.
Hàm châu đái giáp vũ văn tài,
Thổ vụ thôn ba hà hải lượng.
Ký đảo cuồng lan xuất lực phù,
Phương thăng hồng nhật khuynh tâm hướng.
Giang hà ngoại khuyết tổng tri danh,
Bỉ lộ thế cô an cảm kháng.

 

Dịch nghĩa:

CON TRAI

Có một loài giới lân ở dưới nước,
Không phải ốc, không phải hến, tên gọi là con trai.
Ngậm ngọc châu, mặc áo giáp, đủ cả tài văn võ,
Nhả ra mù, nuốt được sóng, có lượng lớn như sông bể.
Sóng dữ đã lật đổ, trai vẫn chống đỡ được,
Mặt trời đương mọc lên, trai để toàn tâm hướng về.
Khắp sông bể đâu đâu cũng đều biết tiếng,
Con cò kia thế cô, sao dám chống chọi với trai(13 ).

 

Dịch thơ:

TRAI

Thân ngâm trong sóng lênh đênh
Không tên ốc, hến, dập dềnh là trai
Ngậm châu, phun sóng kiêm tài
Thân mang giáp cứng trần ai kém gì
Sóng quăng tự dậy mà đi
Vầng dương vừa mọc hướng về vầng dương
Bể sông vang tiếng cương thường
Cò sao ngốc nghếch tranh cường mà chi.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

([12]) Lại có thuyết nữa cho rằng bài này là của Trần Nguyên Hãn. Xem tác phẩm “Thảm án các công thàn khai quốc đời Lê” của Đinh Công Vĩ.

([13]) Cò là giống hay mổ trai lúc trai há miệng ra.

 

 

題 魚 樵 圖 二 首
其 一

閒 看 名 利 等 浮 雲
智 水 仁 山 樂 此 身
水 火 性 情 都 默 會
相 逢 喜 把 問 漁 薪

 

Phiên âm:

ĐỀ NGƯ TIỀU ĐỒ (NHỊ THỦ)
KỲ NHẤT

Nhàn khan danh lợi đẳng phù vân,
Trí thủy nhân sơn lạc thử thân.
Thủy hỏa tính tình đô mặc hội,
Tương phùng hỷ bả vấn ngư tân.

 

Dịch nghĩa:

ĐỀ TRANH NGƯỜI ĐÁNH CÁ, NGƯỜI KIẾM CỦI (HAI BÀI)

BÀI MỘT

Xem thường danh lợi như đám mây nổi,
Vui cái thân này như người trí thích nước,người nhân thích núi(14 ).
Tính chất của nước của lửa, người đánh cá và người kiếm củi đều am tường cả,
Gặp nhau vui mừng, đem chuyện đánh cá, chuyện kiếm củi ra hỏi han nhau.

 

Dịch thơ:

ĐỀ TRANH NGƯỜI ĐÁNH CÁ, NGƯỜI KIẾM CỦI

BÀI MỘT

Xem thường danh lợi như mây
Chỉ vui riêng tấm thân này thần tiên
Nông sâu cuối biển đầu ghềnh
Hàn huyên tay nắm chuyện mình, chuyện ta.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([14]) Câu này lấy điển ở sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: “Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy.” (người nhân thì thích núi, còn người trí thì thích nước), cũng có người dịch là: người nhân tựa núi còn người trí tựa nước.

 

 

閒 中 偶 興 四 首
其 二

積 善 餘 慶 惡 餘 殃
毫 髮 無 差 理 是 常
陽 長 陰 衰 何 世 道
蒼 蒼 不 是 古 蒼 蒼

 

Phiên âm:

NHÀN TRUNG NGẪU HỨNG (TỨ THỦ)
KỲ NHỊ

Tích thiện dư khương ác dư ương,
Hào phát vô sai lý thị thường.
Dương trưởng âm suy hà thế đạo?
Thương thương bất thị cổ thương thương.

 

Dịch nghĩa:

CHỢT HỨNG LÀM THƠ TRONG LÚC NHÀN
(BỐN BÀI)

BÀI HAI

Làm nhiều điều thiện thì nhiều phúc, làm nhiều điều ác thì bị nhiều tai ương(15 ),
Đó là lẽ thường, chẳng sai tý nào cả.
Thế đạo gì mà lại âm trưởng dương suy(16 )?
Trời xanh (bây giờ) quả không phải là trời xanh thời xưa.

 

Dịch thơ:

LÀM THƠ TRONG LÚC NHÀN

BÀI HAI

Thiện lành phúc đức xiển dương
Tham lam bạc ác tai ương ắt nhiều
Lý đâu thịnh đạt quạ diều
Cao xanh ta dám một điều hỏi ông.

Phùng Văn Khai dịch

——————

([15]) Kinh Dịch, quẻ Khôn có câu: “Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương”. (Nhà tích thiện thì ắt sẽ có dư phúc, nhà tích ác thì ắt sẽ gặp phải nhiều tai ương).

([16]) Âm trưởng dương suy: tức làm ác lại thịnh, làm thiện lại suy. Nguyên văn là “dương trưởng âm suy”. Chúng tôi e rằng “âm trưởng dương suy” mới đúng, nên đã dịch nghĩa câu này như trên.

其 四

貧 吾 樂 窮 吾 堅
貧 富 窮 通 坦 自 然
俗 事 肯 縈 衷 曲 裏
時 乎 未 遇 則 丘 園

 

Phiên âm:

KỲ TỨ

Bần ngô lạc, cùng ngô kiên,
Bần phú cùng thông thản tự nhiên.
Tục sự khẳng oanh trung khúc lý,
Thời hồ vị ngộ tắc khâu viên.

 

Dịch nghĩa:

BÀI BỐN

Nghèo ta lạc đạo, cùng ta bền chí,
Nghèo hay giầu, cùng hay đạt thản nhiên như không.
Sao chịu để cho việc trần tục làm vướng bận lòng ta,
Còn chưa gặp thời thì ta hãy ở ẩn cư nơi vườn ruộng.

 

Dịch thơ:

BÀI BỐN

Nghèo càng tu đạo chí bền
Giàu sang cũng mặc thản nhiên dưới trời
Gạt phăng vướng bận ta cười
Vận trời chưa đến thảnh thơi ruộng vườn.

Phùng Văn Khai dịch

 

Phùng Văn Khai dịch

—————–

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]

 

 

     


     

Bài trướcLan tỏa tri thức từ văn học nữ đạt giải Nobel
Bài tiếp theoCông nhận làng nghề chè Shan tuyết ở Thái Nguyên

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây