Khi nhà văn thành nhân vật của nhà văn – Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Khi nhà văn thành nhân vật của nhà văn - Tác giả: Nhà thơ Hoàng Liên Sơn

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn.

Trong nghiệp viết, có người đọc ít viết nhiều; có người đọc nhiều viết ít; lại có người đọc nhiều viết cũng nhiều.

Cuốn tùy bút về “Văn học Việt Nam từ dấu mốc Đổi mới 1986 chuyển động, thành tựu và bản sắc” của nhà văn Phùng Văn KhaiCuốn tùy bút về “Văn học Việt Nam từ dấu mốc Đổi mới 1986 chuyển động, thành tựu và bản sắc” của nhà văn Phùng Văn Khai.

Tôi thấy Phùng Văn Khai thuộc nhóm thứ ba. Sự đọc của ông không chỉ ở tác phẩm mà ở cả đời sống của các tác giả. Nó dầy dặn đến độ tôi thấy riêng phần chân dung các nhà văn trong cuốn sách mới xuất bản của ông, Văn học Việt Nam từ dấu mốc đổi mới 1986 chuyển động thành tựu và bản sắc, cần được tách riêng ra hẳn thành một bài viết đầy đặn.

Chuyện về các nhà văn nhà thơ rải rác đây đó cũng nhiều và thường ở trong những chuyên mục có tên chuyện làng văn chẳng hạn, nên phương châm của tôi vẫn là chú mục vào những gì mới mẻ ít nhất là đối với tôi. Cũng từ những bài chân dung này, mỗi bạn đọc có thể sẽ tự lên được danh sách tác giả tác phẩm đáng quan tâm của mình trong cả rừng văn chương nước nhà.

Tùy bút về “Văn học Việt Nam từ dấu mốc Đổi mới 1986 chuyển động, thành tựu và bản sắc” của Phùng Văn KhaiCuốn tùy bút về “Văn học Việt Nam từ dấu mốc Đổi mới 1986 chuyển động, thành tựu và bản sắc” của nhà văn Phùng Văn Khai.

Mỗi nhà văn, nhà thơ là tác giả trong mối quan hệ với độc giả; nhưng ở đây họ lại là nhân vật của Khai, và tôi thấy ông khá “thuộc” nhân vật của mình.

Đầu tiên là ông thuộc bản thân ông. Trong bài Những người đốt gạch, nhân vật chính đã đi xa, ông tua lại kỷ niệm bộ đội làm kinh tế cùng với cái truyện ngắn sau đó trở nên rất nổi tiếng ít nhất là trong binh đoàn khiến tác giả cũng nổi tiếng theo. Khoảng thời gian ngất ngây qua đi và những truyện ngắn khác của ông còn khá hơn nhưng lại không gây được ấn tượng tương tự nữa. Trấn tĩnh lại rồi ông hiểu ra rằng truyện ngắn ấy nổi tiếng không phải vì nó thật hay mà vì tính đắc thời. Dù sao câu chuyện cũng toát lên một cái ý rằng bộ đội còn có nhiều cái cần giỏi và không nhất thiết phải giỏi đóng gạch, đốt gạch.

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn -h2Nhà thơ Hoàng Liên Sơn.

Nhân vật – nhà văn tất nhiên cá tính, và khi phân nhóm ra thì mỗi nhóm cũng quá phong phú rồi. Chẳng hạn nhóm ít lời như nhà văn Trung Trung Đỉnh trong bài Anh Đỉnh và Bảo Ninh trong Bảo Ninh, người không tranh cãi.

Một trong những giá trị của văn xuôi là các chi tiết ấn tượng. Trong bài Anh Đỉnh, chi tiết binh nhì Khai thấy ông râu ria xồm xoàm hất hàm bảo “Lên xe tao đèo ra bến” thì tưởng đó là xe ôm, bèn cũng cộc lốc trả lời “Long Biên!”. Cơn sợ bị làm thịt vì không mặc cả giá trước chưa tan ông ấy đã phanh két và bảo: “Xuống”. Dù không phải trả tiền xe nhưng Khai vẫn lẩm bẩm “Đồ điên”, tất nhiên là khi ông râu ria đã đi xa rồi.

Chi tiết ấy cho thấy chất nhà văn mặc áo lính, tốt nhưng không rườm rà; lại bộc lộ cả cái chưa thèm biết giời cao đất dày là gì của tay mới binh nhì nhưng đã được đi dự trại viết.

Sau đó là chi tiết anh Đỉnh rất ít khi đả động đến chuyện văn chương hay dở ở các cuộc ngồi với bạn văn hay đàn em, như thể chúng không thú vị bằng chuyện trai gái. Dần dà tôi cũng nhận ra trong thời lượng đôi ba giờ bia rượu, nếu có nói chuyện văn thơ thì đôi câu đưa đẩy mang tính xã giao với người mới lạ là đủ vui chứ đi sâu vào trong cái hơi men sẽ vừa chẳng tới đâu vừa hàm chứa rủi ro của xưng hùng xưng bá. Ấy là bài học quí mà tiền bối Trung Trung Đỉnh cho chúng tôi miễn phí.

Sau khi ví đời sống và viết của nhân vật “như con trâu kéo cày”, Khai đã tinh tế kết luận: “rời bàn mổ lại nguyên sừng nhập vào cuộc đời sôi động”. Nói nguyên sừng tức là nói cả cái chất “chiến” cũng còn nguyên.

Nhân vật Bảo Ninh có phần “thách thức” hơn đối với Khai, nhưng đồng thời cũng tạo ra một “truyện ngắn” hấp dẫn hơn.

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (thứ 2 từ phải sang).Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (thứ 2 từ phải sang).

Khai tạm thời mở đầu bằng cái sự im lặng của Bảo Ninh, khi người ta xếp chiếu trên dưới, khi nghe khen đáng nhận giải Nobel, khi bị chê phản động. Và cũng đẩy kịch tính tới cao trào bằng suy đoán rằng Bảo Ninh đã tự coi “ta là một, là riêng, là thứ nhất”; rồi cao hơn nữa là im lặng cả về người khác, chỉ luôn dừng ở mức “ông này tốt tốt. Văn ông kia hay hay”, còn hay hay tốt tốt như thế nào anh tuyệt không nói ra.

Và nút thắt ấy được cởi ra khi chúng ta biết rằng Bảo Ninh đã đọc Lỗ Tấn, Lão Xá… từ năm 7-8 tuổi.

Khai đưa ra niềm im lặng của Bảo Ninh như một đối sánh với “những ông bà phát biểu rất to nhưng chất lượng sáng tác lại rất mèng”.

Dù sao, đó cũng là lựa chọn của mỗi người; chứ khí chất của tôi thì vẫn là sẵn sàng có ý kiến về chuyện hay thế nào, hay ở đâu bằng văn bản hẳn hoi chứ không nói suông ở bàn rượu, nếu tự thấy có khả năng. Nếu ý kiến có sai tôi cũng coi là chuyện bình thường, kiểu “sai thì sửa chửa thì đẻ” mà thôi.

*

*       *

Tôi vốn không ham xếp chiếu sự nghiệp của các cây bút, bởi cũng cẩn trọng với hiệu ứng đắc thời mà Phùng Văn Khai đã đề cập khi viết về truyện Những người đốt gạch. Hiệu ứng ấy chỉ qua đi sau thời gian thanh lọc đủ dài. Tuy nhiên khi gặp bài Nguyễn Xuân Khánh, một đẳng cấp khác thì tôi rất phấn khích, bởi là văn sĩ phục tài nhau đã khó, phục tài chính cái ngài cũng viết tiểu thuyết lịch sử là món của nhà làm ra với mình càng khó hơn!

Nhưng dù chưa có duyên được đọc tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, tôi hiểu Phùng Văn Khai chân tình khi ngưỡng mộ ông, bởi nhận ra “Những trang văn bề mặt tươi non giễu nhại đậm chất uy mua của bác Khánh dường như đều thẫm máu và nước mắt của muôn dân Đại Việt”.

Khai còn dẫn lời nhận xét của Hoàng Quốc Hải, một lão tiền bối tiểu thuyết lịch sử khác: “giới phê bình dường như chưa hiểu biết gì nhiều về văn chương Nguyễn Xuân Khánh”.

Và Khai cho rằng cái chưa hiểu biết gì nhiều ấy cụ thể là ở chỗ “Thông qua câu chuyện (lịch sử) đó, nhà văn muốn nói tới câu chuyện đương thời nhưng giới phê bình dường như không nhận ra được, có thể nào là mũ ni che tai?”.

Liên tài, nhưng Khai lại rất tỉnh táo ở chỗ “tôi tự hiểu rằng mình phải viết khác ông”.

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn -h6Nhà thơ Hoàng Liên Sơn (thứ 2 từ phải sang).

Và ông cũng rất thành thật “phản quan tự kỷ” (quay lại soi bản thân mình về cả ba mặt ý nghĩ, lời nói và hành động) rằng “Như cá nhân tôi viết thường sa vào giọng điệu tuyên huấn, tuyên truyền, lúc nào cũng sợ nước mất nhà tan…”.

Lối viết lấy các “nhà” làm nhân vật này có cái thuận lợi là ê hề các chi tiết, sự kiện sống động và hấp dẫn; nhưng nếu bút lực không đủ tầm sẽ thành ra như chỉ chạm vào cái vảy rồng mà không ra con rồng đang bay lượn!

Tôi thấy Khai, với sự tận tâm và cẩn trọng, đã “đọc vị” tương đối tốt, chẳng hạn trường hợp nhà văn Ma Văn Kháng cũng là thầy của ông ở trường Viết văn Nguyễn Du: “Càng nghĩ càng thấy lạ, ông vừa như một lão nông tri điền vừa như một triết nhân”.

Bằng chứng ở đâu? “Ông là nhà văn đáp ứng tất tần tật các tầng lớp độc giả. Họ đều tìm được một cái gì đó trong văn chương chữ nghĩa của ông. Một cái gì thực chất, hữu ích, cho riêng họ. Ngay ở các trại giam, nhà tù, đều thấy sách của Ma Văn Kháng”.

Có được kết quả ấy bởi vì như nhà văn thành thực: “Giữa các dòng chữ, ta nghe thấy tiếng đập bồi hồi của con tim bệnh tật…”.

Và Khai nắm bắt được những chi tiết hồn nhiên này: “Nhiều lúc ông bảo, thôi viết xong cuốn này là tớ thôi, chỉ vài tháng sau đã thấy ông ra cuốn tiểu thuyết mới”.

Cũng từ đó Khai rút ra bài học cho bản thân: “Nhà văn là phải viết. Hay dở anh cứ trình ra trên mặt giấy tự nhiên sẽ định vị mình trong làng văn”. Tất nhiên, tôi cũng vinh hạnh tiếp nhận bài học ấy cho chính mình, bởi nguy cơ sa đà vào những tranh cãi “khẩu thiệt vô bằng” rồi quên mất nhiệm vụ chính cũng rất cao.

Dù vậy, có một chi tiết đặc biệt thu hút tôi, thầy La Khắc Hòa nói: “Kháng ý mà, kết luận từ lâu rồi. Cái chất của Kháng, cái tạng văn, nội lực và đặc biệt là ý thức công dân nhất quán lắm”.

Việc có thể “kết luận từ lâu rồi”, kể cả có mặt tích cực như trong trích đoạn trên, thì cũng hạn chế ở chỗ có thể khiến bạn đọc trầm trồ nhưng khó khiến họ sửng sốt.

*

*       *

Bên cạnh những chân dung lừng lững, Phùng Văn Khai còn góp nhặt được nhiều chi tiết thú vị. Chẳng hạn trong bài Nhà văn Chu Lai, thong dong hai phía chân trời , bên cạnh những đặc điểm đã nhiều người biết như “Chu Lai ở đâu ở đó liền ồn ào náo nhiệt nhiều lúc sôi lên sùng sục”, thì ông để ý “thấy các bà, các mẹ đi ngang ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế đã dừng lại chắp hai tay vái lạy trước mái tam quan cong vút hình hài ngôi chùa cổ”.

Ngôn ngữ giao tiếp của Khai nhiều lúc cũng khá hầm hố, riết róng; trong bài tùy bút phê bình về bốn tiểu thuyết nhà Tiền Lý của ông; tôi đã “đọc vị” rằng có lúc nó như chạy ra từ chính những trang văn ông vừa viết trước khi chạy tới cuộc nhậu. Tuy nhiên vào những lúc tự nhiên, nét khiêm nhường chân chất của ông lại bộc lộ kiểu “chúng tôi tự nhủ mình phải phấn đấu nhiều hơn trong cuộc sống hôm nay”.

Một chi tiết đem lại nhiều ngẫm ngợi nữa, là trong bài Nhà văn Dũng Hà – sông cạn mây bay, qua rất nhiều nhà xuất bản mới được in và khi in ra thì đã khác đi rất nhiều khiến ông phải thốt lên: “Bản thảo của tớ là con hổ trên rừng thì nay sách các cậu cho ra chỉ là con mèo trong bếp”. Và họ Phùng đã thẳng thắn: “Chúng ta nhiều khi đã tự làm nhỏ mình đi, sợ hãi những thứ vớ vẩn mà vẫn luôn miệng đòi nhà văn phải viết đến tận cùng sự thực”.

Qua câu chuyện này, cá nhân tôi cho rằng nếu tác phẩm vì lý do nào đó chưa được chấp nhận thì cũng đừng vì thế mà nản chí lơi lỏng cây bút; thơ John Donne phải mất 160 năm từ khi ông mất thì nước Anh mới xác lập giá trị cơ mà.

*

*       *

Trong tập sách của Khai, có một chân dung mà tôi chịu ảnh hưởng rất lớn, không phải vì nội dung văn ông mà là cái tiêu đề cuốn tiểu thuyết tôi cũng chưa đọc: Hãy đi xa hơn nữa! Ông ở trong bài Nguyễn Khải – “năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương”.

Thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ đến cái thức mệnh lệnh ấy, nó nằm trong tàng thức của tôi; dù những câu hỏi như là đi xa về phía nào, đi xa trong lĩnh vực gì, bộ môn nào… tận tới khi gõ những dòng này mới tự dưng bật ra.

Nhà thơ Hoàng Liên Sơn Nhà thơ Hoàng Liên Sơn. 

Lại chợt nhận ra con đường viết của tôi nó nghiêng về chất tài tử nhiều quá: Khi nhà văn Hòa Vang xui hãy ghi nhật ký đi và một ngày nào đó như dòng nước đang chảy từ tốn gặp sự thay đổi độ cao đột ngột là sẽ tạo ra thác, sẽ có truyện ngắn đấy – thế là viết truyện; Khi được nhà thơ Trần Hưng nhắc hãy viết bài về tập Quá một như không đi, tôi bắt đầu thành “nhà” phê bình thơ; khi được Phùng Văn Khai nhắc hãy viết bài về Nam Đế Vạn Xuân đi, tôi bèn thành “nhà” phê bình tiểu thuyết. Tài tử mà lại vẫn tính “đi xa hơn nữa” thì mục đích và phương pháp kém nhất quán chăng?

Nhưng lại cũng nghĩ, lão tiền bối Ma Văn Kháng bảo đây sẽ là cuốn tiểu thuyết cuối, rồi chả mấy lại có cuốn sau của cuốn đã gọi là cuối. Vậy thì, đặc điểm chung của nghề viết là rất khó “kế hoạch hóa”, và cứ tùy duyên thuận pháp mà tiếp tục chăng? Vẻ như, tôi cũng chẳng quá lạc loài!

Thế rồi, bất chấp quá trình lao động miệt mài với nhiều tôn vinh, ghi nhận; cuối đời ông đã tỉnh táo: “Tôi là người của một thời mà”. Thế nên, lại cũng như Khai đã xới xáo xung quanh truyện ngắn Những người đốt gạch, ta cứ viết thôi, còn là chỉ của một thời hay của nhiều thời; bạn đọc nắm quyền quyết định. Diễn đạt một cách bay bổng thì như thơ Trần Hưng:

“Ta cứ gõ vuông tròn không dám chắc

Những cạnh bàn nhân thế sắc như dao”.

Cảm ơn Khai đã giúp tôi được chiêm ngưỡng bấy nhiêu chân dung nhà văn, mà nếu tiếp cận bằng những con đường khác chứ không phải qua cuốn sách này, lượng cồn nạp vào hẳn khiến lá gan làm việc cật lực nhiều năm.

Hà Nội, 25/07/2024

H.L.S

 

 

     


     

Bài trướcNguồn gốc và ý nghĩa ngày Quốc tế Đàn ông
Bài tiếp theoBảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng mang diện mạo mới

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây