Nguyễn Hoàng Thọ, ánh lên những ngọn lửa hồng – Tiến sĩ Huỳnh Văn Hoa

Nguyễn Hoàng Thọ, ánh lên những ngọn lửa hồng - Tiến sĩ Huỳnh Văn Hoa

NGUYỄN HOÀNG THỌ, ÁNH LÊN NHỮNG NGỌN LỬA HỒNG

Nguyễn Hoàng Thọ sinh năm 1949 tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Quê quán: thôn Câu Lâu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Cựu sinh viên trường Đại học sư phạm Huế. Tham gia phong trào đấu tranh yêu nước của sinh viên – học sinh Huế và các đô thị miền Nam trước 1975. Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng.

Trước năm 1975, có thơ đăng trên các tạp chí: Đối Diện (Sài Gòn), Sinh viên Huế, Mặt trận văn hóa dân tộc miền Trung, Thân Hữu, Động Mạch.

Sau 1975, tiếp tục sáng tác, thơ đăng trên các báo, tạp chí: Thanh Niên, Thế Giới Mới, Sông Hương, Non Nước, Đà Nẵng cuối tuần, Giáo dục và Thời đại, Tin Xuân, Khúc giao mùa, Tuyển tập Tiếng hát những người đi tới (thơ, văn, nhạc, họa, báo chí của phong trào sinh viên – học sinh trước 1975), Tuyển tập Chưa mưa đã thấm (tuyển thơ Quảng Nam), Tuyển tập Đà Nẵng yêu thương,

Tác phẩm đã in:

Ngày quật khởi, thơ, in chung
– Phù sa rưng rưng, thơ, NXB Hội Nhà văn, 2014
Ngăn kéo thời gian, thơ, NXB Hội Nhà văn, 2020

Nguyễn Hoàng Thọ là một trong người làm thơ xứ Quảng, có mặt trong phong trào đấu tranh đô thị tại Huế. Cùng với các nhà thơ xứ Huế như Ngô Kha, Thái Ngọc San, Võ Quê, Lê Nhược Thủy, … và các nhà thơ đất Quảng tiêu biểu như Tần Hoài Dạ Vũ, Trần Phá Nhạc, Nguyễn Đông Nhật, Trương Văn Hoàng, Nguyễn Hoàng Thọ đã góp phần hình thành nên dòng thơ yêu nước tại đô thị Huế.

Ngày 12-4-1972, chiến dịch Phượng hoàng, phong trào đô thị Huế bị đánh phá trước. Các nhà giáo, sinh viên tranh đấu như Lê Văn Thuyên, Bửu Chỉ, Nguyễn Duy Hiền, Trần Đình Sơn Cước, Nguyễn Hoàng Thọ bị bắt tại Huế và đưa vào các nhà giam tại Đà Nẵng. Ngày 15-5-1972,  đến phiên Đà Nẵng, chính quyền VNCH bắt tất cả các giáo chức, học sinh, giao liên, các nhân sĩ hỗ trợ phong trào. Vì thế, tại các nhà giam Gia Long, Kho đạn, Thanh Bình, anh em Huế và Đà Nẵng gặp nhau. Sau đó, Tòa án quân sự Vùng I tổ chức phiên tòa và tuyên án nhiều anh em Huế, Đà Nẵng. Một số được thả, cho về học tập. Một số kêu án, đưa vào các nhà giam Chí Hòa, Gò Công, Tân Hiệp, lại gặp anh chị em phong trào đấu tranh Sài Gòn. Một số đày ra Côn Đảo, đến sau 30-4-1975, mới được tự do.

Những bài thơ in trên Ngày quật khởi, Đối diện, Thái Hòa, Sinh viên Huế, Mặt trận văn hóa dân tộc miền Trung, Thân Hữu, Động Mạchtrở thành quen thuộc với anh chị em trong và ngoài phong trào. Đó là: Để thấy trong tim hồng lên dòng lịch sử, Ngày mai tổ quốc hòa bình (Ngày quật khởi), Niềm mơ ước (Đối diện, số 10, tháng 4-1970), Bên nỗi khốn cùng (Đối diện, số 15, tháng 9 -1970), Em gái – Dòng sông (Sinh viên Huế – Xuân Nhâm Tý, 1972), Đốt lửa mừng xuân (Mặt trận Văn hóa Dân tộc miền Trung, số 2), Niềm tin (Tạp chí Đồng Dao – Đối Diện), Sài Gòn, tháng 2 năm 1974, …

Trong bài thơ Niềm tin, tặng cho học sinh Trung học Hiếu Đức, niên khóa 1973-1974 (tức trường THPT Ông Ích khiêm hiện nay), học trò ngày ấy của anh, có người sau này làm lãnh đạo huyện Hòa Vang, lãnh đạo các sở, ngành của thành phố, với mơ ước:

Sáng hôm nay trường ta mở cửa
Chào các em như mừng nắng hòa bình
Những chồi khô mai này tươi lộc mới
Những hố bom cày rồi sẽ hóa cải xanh

Tình ruột thịt không thể nào chia cắt
Bắc – Trung – Nam núi liền núi sông liền sông
Một giống nòi, không hai tổ quốc
Một niềm tin con cháu Lạc – Hồng

Thơ Nguyễn Hoàng Thọ trước 1975, như cách nói của Võ Quê, là thứ thơ “lửa đường phố”, đầy nhiệt huyết, đầy khí thế. Thơ, như tiếng kèn xung trận và nói như Trần Phá Nhạc, thơ ấy, dũng cảm “đi giữa rừng súng máy”, không sợ bạo quyền. Ngày đó, thơ Nguyễn Hoàng Thọ là ngọn lửa hồng, luôn hừng hực, cháy đỏ nhiệt tình. Bây giờ đọc lại, thấy có chỗ như khẩu hiệu, tả quá, thiếu đi cái mềm mại, cái duyên dáng, tuy vậy, anh vẫn có những câu thơ hay, hay đến nao lòng:

Dạy mai lớn lên
Biết yêu người cách mạng
Vắt từng nắm cơm qua cửa ngục
Gửi người tình sa cơ
Dạy biết thêu từng chiếc khăn vàng lụa óng
Mùi châu thổ thơm thơm
Lau vết thương người anh hùng lỡ vận
(Để thấy trong tim hồng lên dòng lịch sử)

Mấy dòng thơ của Nguyễn Hoàng Thọ, mỗi khi đọc lại làm nhớ đến những câu thơ của Trần Quang Long trong Tố Chân:

Tháng tám năm nào anh cùng bạn bè bị bắt
Những lá thư tình em gửi qua cửa ngục
Vo tròn trong gói xôi thơm
Có phải không Tố Chân …
Mùa đông năm nào anh trong lao xá
Tay run run mở gói nhận khăn quàng
Em đan những đêm vội vàng
Từng mũi nhớ thương
Làm sao anh quên được
Chiếc khăn tay run rẩy sau tường
Trời mưa … từ giã
Maria Tố Chân
Anh yêu em vô cùng…

Trong dòng chảy của thơ ca tranh đấu tại các đô thị miền Nam, thơ Nguyễn Hoàng Thọ là tiếng nói thẳng thắn, bức xúc về hiện trạng của xã hội. Bây giờ, qua thời gian, đã năm mươi năm, đọc lại những dòng thơ tranh đấu, xuống đường của những năm tháng cuối 60 đầu 70 của thế kỷ XX, vẫn thấy hực lửa đường phố:

Bởi thời buổi
Ngôn ngữ không đủ diễn tả khốn cùng
Của con người thời đại
Nên phải lấy sức mạnh lương tri
Đập ngã bình phong che khuất mặt trời
Anh em ơi
Chúng ta còn niềm tin trên ánh mắt.
(Bên nỗi khốn cùng, Huế, tháng 7.1970)

Sinh trưởng tại vùng sông nước ven Thu Bồn, lớn lên gắn bó với những dòng sông quê hương, có một con sông quê chảy qua thơ Nguyễn Hoàng Thọ, chảy qua những ruộng vườn xứ Quảng:

-Dòng sông Thu nước vẫn chảy xuôi
Bốn mùa mưa nắng
(Em gái – Dòng sông)
-Giữ lại dòng sông
Con đò
Tiếng hát
Giữ lại buổi chiều có gió thu đưa
(Ngày mai, Tổ quốc hòa bình)

Những câu thơ trữ tình, thấm đẫm tình yêu đối với quê hương đất nước, đối vởi mảnh đất nơi mình sinh ra, trưởng thành:

– Mẹ cấy niềm tin tươi xanh mặt đất
Một sớm con về cho lúa trổ bông
Sương đã xuống trên bờ tre lố nhố
Bếp lửa hồng đơm những ngọn bông …
(Đốt lửa mừng xuân)
-Tổ quốc ơi,
Ngày mai sáng chói
Ngôi đình làng hương khói thơm thơm
Mẹ nâng niu từng sợi tơ tằm…
(Ngày mai, Tổ quốc hòa bình)

Hình ảnh người mẹ, người chị, người em, những con người gần gũi, gắn bó, yêu thương, một nắng hai sương … luôn trở về trong thơ Nguyễn Hoàng Thọ:

-Mỗi lời mẹ dạy
Là tiếng kèn giục giã lòng con
Là tiếng gọi nhau thân thiết trên đồng
(Ngày mai, Tổ quốc hòa bình)
– Có chị về
Mở lớp bình dân năm tháng đợi chờ
Dạy cho người đi cày biết viết
Bày cách tính cho kẻ bán buôn
-Cho cô gái đầu làng
Gặp chàng trai cuối phố
Câu chuyện tình ngọt mật ca dao
(Để thấy trong tim hồng lên dòng lịch sử)

Nguyễn Hoàng Thọ có những dòng thơ cảm động viết về bài học lịch sử của cha ông: Dạy bài lịch sử / Dạy hát dạy nói / Dạy cấy lúa trồng bông / Dạy biết Trường Sơn trùng trùng khí thế / Dạy con đường Hà Nội-Cà Mau

Rợp bóng cờ bay đất trời độc lập / Dạy mai sau biết cầm gậy gộc / Đánh đuổi tham tàn / Giữ nước giữ dân … (Để thấy trong tim hồng lên dòng lịch sử)

Mơ ước hòa bình, thống nhất, hết những ngày gian khổ chiến tranh: Rủ nhau đi thăm từ Nam ra Bắc / Chuyến tàu suốt đầu tiên / Chạy qua cầu Hiền Lương / Ta nghe đôi bờ âm vang hồn dân tộc / Ước mơ ngày mai không còn cô quạnh…

Trước sau, thơ Nguyễn Hoàng Thọ vẫn là tiếng nói thiết tha với quê hương, với dân tộc: Thấy máu chảy lòng đau / Thấy bạo quyền / Không phải thu mình ngồi ngó … (Để thấy trong tim hồng lên dòng lịch sử).

Sau này, trong Phù sa rưng rưngNgăn kéo thời gian, những suy niệm về vũ trụ, về những được-mất, có-không của một đời người, được diễn đạt dưới các câu thơ nhẹ nhàng, đằm thắm và ân nghĩa. Ngọn gió cô đơn thổi qua năm tháng, qua những hạt phù sa rưng rưng, qua những ngăn kéo thời gian với bao sợi chỉ mong manh nhân thế, song, luôn thấm đẫm tình người, tình đời. Đó là những gì ở thơ Nguyễn Hoàng Thọ.

HUỲNH VĂN HOA

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây