Nữ nhà văn Toni Morrison qua cái nhìn của Nguyễn Phương Khánh (Kỳ II)

Toni Morrison

DIỄN NGÔN ÂM NHẠC TRONG TIỂU THUYẾT TONI MORRISON 

Nguyễn Phương Khánh-
Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

“Tại một miền đất chỉ yêu thích những đứa bé tóc vàng, mắt xanh, ai sẽ khóc than cho những giấc mơ của một cô bé da đen?” (Mắt biếc – Toni Morrison)

Toni Morrison đã viết lại huyền thoại về nỗi đau khổ của chủng tộc mình bằng những câu chuyện đầy xúc động, ám ảnh: Mắt biếc (The Bluest Eye), Người yêu dấu (Beloved), Bài ca Solomon (Song of Solomon), Jazz (Jazz), Thiên đường (Paradise)… Những giấc mơ đã bị khước bỏ mà con người nhắc lại không chỉ như di tích hoang tàn của lịch sử, mà còn là ấn tượng về một vùng hồi ức vẫn còn sức khuấy động hiện tại. Mọi sự kiện được gọi về trong dòng hồi tưởng của người kể chuyện cũng giống như hành trình đi tìm cội rễ, tìm bản sắc và giải quyết những vấn đề lịch sử của nhiều nhân vật trong thế giới hư cấu của Toni Morrison – nhà văn nữ da màu đầu tiên của Mỹ đạt giải Nobel Văn chương năm 1993.

Khai thác trí tưởng tượng tràn trề, khả năng sáng tạo nhiều biến hóa, Toni Morrison đưa người đọc lạc bước trong thế giới đa chiều, hỗn độn về mặt thời gian – không gian và phi lý, rạn vỡ những chuẩn mực của hiện thực. Đặc biệt, các diễn ngôn hòa trộn yếu tố thực – ảo, với lối kể mượt mà, đẫm chất thơ và nhạc đã đưa đến cho tác phẩm một cấu trúc truyện kể hết sức độc đáo. Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Toni Morrison dù đóng một vai hay chỉ đứng ngoài cuộc tất cả sự kiện phức tạp kia, dù đáng tin hay không đáng tin, dù người hay ma…, tựu trung vẫn sở hữu giọng kể mượt mà, ngọt ngào và đặc biệt còn có khả năng dẫn dắt người đọc đắm chìm vào lịch sử văn hóa tinh thần của cộng đồng người Mỹ gốc Phi.

Nhiều nhà nghiên cứu gọi diễn ngôn kể chuyện Morrison là những ký hiệu của âm thanh, hoặc là “sounds of words” (orature) và tiểu thuyết Toni Morrison được đánh giá là “aural literature” [1], khẳng định tính ngân vang, giai điệu trong văn xuôi Morrison. Có thể nói, diễn ngôn âm nhạc được sử dụng một mặt tạo nên chất thơ mượt mà đặc trưng của một giọng văn nữ tính; mặt khác, âm nhạc đồng thời cũng là một truyện kể lồng khung trong văn bản, có khả năng kết nối, liên văn bản nhiều tầng bậc. Ở một phương diện nào đó, diễn ngôn âm nhạc đặt trong toàn bộ hệ thống các yếu tố cấu thành tác phẩm mang giá trị biểu tượng cao, là di sản của quá khứ, là những tiếng nói vô thức không thể diễn đạt bằng ngôn ngữ thường ngày.

Diễn ngôn âm nhạc gắn với vai trò người kể chuyện trong tác phẩm của Toni Morrison được vận dụng trên hai phương diện:

Thứ nhất, đó chính là tính nhạc thể hiện trong ngôn từ, hình ảnh, sự biến tấu lối trần thuật và dẫn dắt sự kiện của người trần thuật. Chính những điều thăm thẳm tình người được gieo trên nền một câu chuyện ma quái và hiện thực lịch sử mà chất thơ, tính trữ tình và không khí nhạc Jazz (một phong cách âm nhạc đặc trưng của người da đen, vô cùng độc đáo và nổi tiếng) dễ dàng xâm chiếm văn xuôi Toni Morrison. Trong nhiều tác phẩm của mình, Morrison đã khai thác lối thể hiện đầy nhạc tính và cấu trúc tác phẩm gợi liên tưởng đến những điệu nhạc Jazz quyến rũ và bí ẩn. Nhiều nhà phê bình và người đọc chú ý chất thơ trong văn xuôi Morrison, và nếu chúng ta tìm được cách đề cập đến những yếu tố khác của tiểu thuyết của bà (tính lưỡng nghĩa, mơ hồ, cấu trúc trần thuật “mảnh vỡ”, sự lặp lại không dứt của các chủ đề, hình ảnh, cốt truyện), dường như âm nhạc là cũng là một phương diện nghiên cứu thích hợp. Như chính Morrison từng khẳng định rằng: “Tôi nghĩ bản thân tôi như một nhạc sĩ Jazz”.

Thứ hai, đan lồng trong ngôn ngữ kể chuyện của người trần thuật là văn bản của rất nhiều bài hát dân gian thuộc nền văn hóa Phi châu. Nhân vật nói bằng bài ca, kể chuyện bằng thơ và bài ca, bài thơ có thể xem như siêu văn bản – siêu diễn ngôn. Các ký hiệu bài hát dân gian trong tác phẩm sẽ kết nối với quá khứ, với toàn bộ bí mật của chiếc hộp pandora; khi giải mã các ký hiệu này, chúng ta sẽ thấy chúng hiện hữu với chức năng phù thuật, được sử dụng để kiến tạo mã tâm linh, một ký hiệu văn hóa.

Như vậy, diễn ngôn âm nhạc ở đây không hướng về nội dung tri thức như kiểu diễn ngôn văn học, diễn ngôn khoa học, diễn ngôn tôn giáo… Nói đúng hơn, nó dựa vào nội dung phát ngôn của người kể chuyện. Người kể chuyện mượn hình thức âm nhạc như là một ký hiệu, một mã văn bản; đồng thời, đặc trưng lớn nhất làm nên sự khác biệt trong diễn ngôn của Toni Morrison chính là sự giao cắt với âm nhạc, là sự chú trọng đến lớp vỏ âm thanh của ngôn từ hơn là ý nghĩa được quy chiếu bên trong. Đôi khi sự bất lực đối với các khả năng đi tìm một giá trị cuối cùng hay tính xác lập giả vờ của diễn ngôn truyện kể khiến người ta ở mặt nào đó cần thoát ly câu chữ để lắng nghe giai điệu. Như Baby Suggs (tiểu thuyết Người yêu dấu) trên bãi Clearing bảo mọi người phải khóc, phải cười, phải nhảy múa… chứ không thể bắt đầu bằng lời. Đứng ở góc độ văn hóa, điều đó phản ánh truyền thống truyền miệng của cộng đồng người Mỹ gốc Phi và di sản huyền thoại vốn được tụng ca trên đôi môi người hát rong. Còn dưới góc độ kỹ thuật tiểu thuyết, đây là sự “bẻ gẫy” lớp vỏ ngôn từ để giữa các lớp nứt vỡ ấy, mọi ẩn ức nhân loại, mọi tiếng nói của cơ thể và bao điều huyền bí trên nhân gian sẽ thoát ra, bay bổng như chất thơ đến giữa trang viết ngày nàng Remedios Người đẹp bay về trời.

“Tên gọi của âm thanh và âm thanh của tên gọi”([1])
Trong công trình nghiên cứu về giọng điệu (voice) của Toni Morrison, Barbara Hill Ridney có nhận định rằng:

“Quan tâm đến ngôn ngữ là điều đầu tiên trong sự phát triển các mô hình lý thuyết liên quan đến văn học, đặc biệt đối với những văn bản nữ quyền/có tác giả là nữ Mỹ gốc Phi. Điều này rất chính xác trong tiếp cận phê bình tác phẩm Toni Morrison, bởi như một bà đồng trong huyền thoại, Morrison gieo rắc những ký hiệu của bà, những nhận thức chính trị, và chỉ khi xuyên qua sự phân tích ngôn ngữ chúng ta mới có thể tái lập ý kiến về cuộc cách mạng nghệ thuật và chính trị được thiết lập trong tác phẩm của bà… Toni Morrison như chơi trò ảo thuật ngôn ngữ, sáng tạo nên hình thức diễn ngôn luôn cùng lúc cả tính siêu hình và siêu hư cấu” [7,7].

“Chơi với ngôn ngữ” theo cách của Toni Morrison, đó là việc vượt bờ kia của ngôn ngữ, cái biểu đạt và cái được biểu đạt đều có thể gánh vác sứ mệnh ngang nhau. Và giống như một nhạc sĩ khai thác sức mạnh ngôn từ để làm nên giai điệu, nhà văn của chúng ta cũng hết sức chú trọng đến khả năng âm vang của con chữ và cho đây là yếu tố cực kỳ quan trọng để ngôn ngữ có thể sống và hoàn thành vai trò của nó trong tác phẩm.

Toni Morrison thường “chơi” ngôn ngữ ở việc sử dụng cách viết khác nhau của các từ có âm thanh tương tự. Chẳng hạn: Solomon / Shalimar / Shalleemone / Sugarman / Charlemagne như câu đố thách thức giải mã, và đi trọn hành trình thử thách của Milkman xuất phát từ chính trò chơi bí ẩn của ngôn từ; hay Pilate / Pilot có cách phát âm gần giống nhau, từ đó người đọc liên tưởng giữa nhân vật Pilate với chuyến bay, với khả năng “bay” ma thuật; hoặc cái tên gợi hình ảnh liên tưởng như Sing Byrd (tên bà nội của Milkman, gắn với bài hát mật mã về quá khứ mà anh thường nghe từ thời thơ ấu), tên Violet mang màu hoa Violet thủy chung đồng thời cũng gần âm với violent/violence (bạo lực, khắc nghiệt, dữ dội…), hay Joe Trace (“trace” cũng có nghĩa là dấu vết, khi Joe ám ảnh về chuyện mẹ đẻ ông ta ra rồi bỏ đi không để lại dấu vết, và việc lần theo dấu vết sẽ dẫn Joe về với toàn bộ cội nguồn quá khứ)… Chính Toni Morrison đã viết trong tác phẩm của mình: “Những cái tên đều có ý nghĩa của nó” [2,354], vì vậy “Khi bạn biết tên của mình, bạn nên bám chặt lấy nó, vì nếu nó không được ghi lại và nhắc nhớ, nó sẽ mất đi khi bạn chết” [2,354]. Cái tên, hay bất cứ âm thanh nào, ký hiệu nào đối với người da đen đều trở thành một dấu tích của sự tồn sinh, sự khẳng định cho cá tính, bản sắc. Vì thế trò chơi ngôn ngữ ở đây không đơn thuần là cuộc vui về hình thức mà nhà văn muốn chứng tỏ tiếng nói riêng của bản thân người nghệ sỹ, đại diện cho nền văn học Mỹ gốc Phi trong cuộc đấu tranh cho quyền con người và vị trí văn chương của cộng đồng.

Toni Morrison khám phá các liên kết quan trọng giữa các âm thanh và ý nghĩa của các từ và giữa các ngôn ngữ bằng văn bản và bằng phát ngôn miệng. Bằng cách tập trung vào các âm thanh của lời nói hơn là chính tả của chữ viết, bà nhấn mạnh tính ưu việt của tiếng địa phương người da đen và truyền thống truyền miệng qua ngôn ngữ viết trong đời sống cộng đồng mình.

Chính vì thế, người kể chuyện xưng tôi trong tiểu thuyết Jazz không phải là thành phố, không phải là cuốn sách, cũng không phải là bất cứ ai trong cái bi kịch ấy, mà có thể là đây: “I am the name of the sound and the sound of the name” (đề từ của tác phẩm). Lớp vỏ âm thanh của ngôn từ cũng đồng thời là cái biểu đạt, là cái được quy chiếu, là cái được vọng về. Trong nền văn hóa của người da đen, tiếng nói được cất lên chứa đựng một sức mạnh kết nối mãnh liệt. Đọc văn chương Toni Morrison, người ta nghe một chất thơ bàng bạc âm vang từ lối điệp trùng từ ngữ, từ cấu trúc xoay lặp, từ những hình ảnh mượt mà gợi lên từ con chữ. Nhiều nhà phê bình cho rằng, văn của Morrison dành để đọc, dành để xướng họa, và điều đó phản ánh rõ nét tính chất truyền miệng của văn chương da đen cũng như khả năng khai thác sức mạnh ngôn ngữ của cây bút nữ đầy cá tính này.

Theo Toni Morrison, ngôn ngữ cũng xác định chúng ta là ai. Chúng đảm nhận vai trò là các “mã”, các “ký hiệu” để có thể kiểm tra danh tính một ai đó, để xác nhận bản sắc, cá tính, đặc trưng của một cá nhân hoặc tập thể. Điều đó giống như một câu chuyện trong Kinh thánh, kể về việc cách phát âm của một từ trở thành vấn đề sống và chết. Theo Cựu Ước, có hai bộ lạc người Do Thái chiến tranh. Người Gilead chiến thắng đã nghĩ ra một kế hoạch đơn giản để không cho kẻ thù của họ, người thuộc bộ lạc Ephraim, vượt qua sông Jordan trốn thoát. Sau khi thiết lập rào chắn, người Gileadites ra lệnh cho những ai bị phát hiện bắt về phải phát âm từ “Shibboleth”. Do không thể nói được các âm “sh”, người Ephraim phát âm nó không chính xác, biến thành từ “Sibboleth” và đã bị giết. Âm thanh từ đây là một ký hiệu để nhận diện con người, nhận diện chủng tộc.

Cũng giống như thế, Milkman (tiểu thuyết Bài ca Solomon) muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình và giải mã ý nghĩa của bài hát Solomon, đầu tiên anh phải học cách lắng nghe và từ bỏ sự phụ thuộc duy nhất vào các yếu tố bên ngoài như bản đồ đường bộ và giấy tờ như là nguồn thông tin chính. Trong thời gian ngắn, Milkman phải học cách tập trung vào âm thanh và cách phát âm hơn là biết đọc biết viết (chính tả và định nghĩa). Ví dụ, mặc dù khi Milkman nghe người dân Shalimar hát bài hát của họ, bắt đầu với dòng “Jay – con trai duy nhất của Solomon”, anh ta không quan tâm đến lời lẽ hoặc chú ý đặc biệt trong trò chơi của họ. Thay vào đó, bài hát chỉ phục vụ để nhắc nhở anh về thời thơ ấu và nơi bắt đầu tình bạn với Guitar. Tuy nhiên, ngay sau chương này, trong quá trình đi săn bắn, Milkman dần nhận ra tầm quan trọng của “lời nói”. Anh phân biệt được âm thanh tiếng sủa khác nhau của lũ chó và tiếng các thợ săn trò chuyện với con vật của họ. Những người đàn ông và con chó có thể trò chuyện với nhau bằng một thứ tiếng đặc biệt. Morrison đặc trưng cho mối quan hệ cộng sinh này mang ngọn nguồn nguyên sơ, hiện tồn trước cả ngôn ngữ.

Nhận thức về tính thinh lặng của ngôn ngữ ngày càng tăng khi Milkman được tiết lộ về các nghi lễ địa phương trong buổi đi săn bắn. Ở đó nhân vật phải vận dụng hết khả năng để “lắng nghe bằng đầu ngón tay của mình, để nghe những gì, bất cứ điều gì, đất mẹ đã nói…”, chính điều ấy giúp anh ta cảm nhận được sự hiện diện của Guitar và “mùi” ám sát đang đến gần, giúp anh trở về được với bàn tay người đàn bà đẹp Sweet và linh cảm sẽ dẫn dắt Milkman đến với nơi có thể cất giữ hài cốt cha ông.

Toni Morrison thường sử dụng nhiều cách thức diễn đạt, lối nói địa phương để tái tạo lại cuộc sống, nhận thức của một cộng đồng đặc biệt, đó là người Mỹ gốc Phi trong vùng tái thiết Ohio. Khi nhân vật sử dụng những từ như “ain’t” và “reckon” hay cụm từ “sit down a spell”…, nó thể hiện tính cách của các nhân vật thuộc cộng đồng ấy. Chính điều đó khiến người đọc hình dung một cách rõ ràng và chân thật đời sống người da màu trên đất Mỹ, quá khứ và hiện tại của họ, đồng thời qua đó giúp người đọc tiếp cận gần hơn với một phong cách viết đặc trưng của một cây bút nữ: đầy trữ tình và nhạc tính.

Lắng nghe các diễn ngôn âm nhạc trong tiểu thuyết Toni Morrison, người đọc nhận ra rằng trong giai điệu rất hữu hình, cụ thể mà ngôn từ đôi khi lại mờ đục, mơ hồ. Trong tác phẩm Bài ca Solomon, bài hát dân gian có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nó là một ký hiệu, một mật mã xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, đi qua cuộc đời của các thế hệ gia đình mang họ Dead. Nó như một lá bùa tiên tri, là hồn ma của Jake chỉ đường, là diễn ngôn phù thuật trong đời sống văn hóa người da đen. Giải mã được bài hát mà Pilate đã gìn giữ, đã cất gieo sau bao nhiêu năm, và chính Milkman sau khi lần ra các tín hiệu từ bài hát mới có thể trở về đúng gốc gác của mình.

Jake the only son of Solomon

Come booba yalle, come booba tambee

Whirled about and touched the sun

Come konka yalle, come konka tambee… [3,328]

Ngoài ra, trong tác phẩm còn xuất hiện rải rác rất nhiều bài hát khác của người da đen rất giàu ý nghĩa ẩn dụ và biểu trưng. Có lẽ đặc trưng ấy trong văn chương Morrison xuất phát từ đời sống của người da đen vốn chất chứa cả một truyền thống âm nhạc Phi châu ngàn đời pha lẫn với âm nhạc phương Tây hiện đại. Nền văn hoá sơ khai của châu Phi coi trọng âm nhạc rất nhiều. Âm nhạc là một khía cạnh quan trọng trong những hoạt động hàng ngày của thổ dân châu Phi. Họ rất coi trọng các hoạt động theo nhịp điệu khá phức tạp và tiến bộ dựa trên một ca từ và giai điệu đơn giản. Những nét nhịp điệu này đã gắn liền với nô lệ châu Phi trong suốt thời gian họ bị bắt ép làm nô lệ ở Mỹ. Họ yêu thích âm nhạc và họ tìm tự do trong giai điệu, trong những khúc ca da diết buồn và đầy chất ngẫu hứng. Hơn thế nữa, những bài ca là thông điệp, là ngôn ngữ của riêng họ để tiếng nói từ ngàn đời vẫn còn tỉnh thức, nơi ấy, mọi hồn ma vẫn sống và bao nhiêu quẫy đạp trong cõi vô thức, tiềm thức câm lặng được thốt nên thành lời. Nó thật sống động và diệu kỳ, như nhà thơ của nước Mỹ Walt Whitman đã nói về tiếng thơ:

Qua tôi rất nhiều tiếng nói từ lâu câm lặng

Tiếng nói của thế hệ vô tận những nô lệ và tù nhân

Tiếng nói của thế hệ vô tận những nô lệ và những quân trộm cắp và những người còi cọc…

Qua tôi những tiếng nói bị đời cấm đoán…

(Walt Whitman – Bài hát chính tôi)

Trong bất cứ tác phẩm nào của Toni Morrison, người đọc cũng bắt gặp được vô vàn bài ca dân gian của người da đen. Những bài ca họ thường hát dưới rặng cây Sweet Home mà Paul D vẫn ghi nhớ trong lòng:

Bare feet and chamomile sap.

Took off my shoes; took off my hat

Bare feet and chamomile sap

Gimme back my shoes; gimme back my hat…            [6,310]

Hay trong Mắt biếc:

I got blues in my mealbarrel

Blues up on the shelf

I got blues in my mealbarrel

Blues up on the shelf

Blues in my bedroom

‘Cause I’m sleepin’ by myself  [5,51]…

Những yếu tố âm nhạc ấy thể hiện truyền thống văn nghệ dân gian Phi châu còn lưu giữ trong đời sống tinh thần của người Mỹ da đen. Nhà văn Toni Morrison đã khai thác những nét văn hoá còn tồn tại trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi như một cách làm nổi bật cá tính của những con người ấy trên miền đất này.

Những bài ca dân gian trong tiểu thuyết Toni Morrison trước hết là một ký hiệu tâm linh, gợi nhắc bản chất tôn giáo của âm nhạc (đặc biệt âm nhạc người da đen, như Jazz, bắt nguồn từ loại thánh ca – Spirituals, gắn với các hoạt động tâm linh tôn giáo, ma thuật). Vì thế, trong các tác phẩm, âm nhạc cũng được sử dụng như một phương thức trị liệu (những bài ca trên bãi Clearing; bài hát của Pilate; những bài hát của nhà MacTeer để “gội rửa” nỗi đau Pecola…), đồng thời là một ký hiệu văn hóa để nhận diện bản sắc cộng đồng (như bài ca Solomon đưa Milkman về với cội rễ). Người kể chuyện đã biến đổi các phát ngôn của mình thông qua các văn bản âm nhạc, thơ ca đã mở rộng quan niệm của chúng ta về thực tại, về những điều quen thuộc đã có và những điều bất khả xác tín về mặt nhận thức lý tính nhưng lại rất dễ tiếp nhận ở góc độ niềm tin mang màu sắc “dị đoan”. Diễn ngôn của người kể chuyện như thế đã lồng ghép đan xen nhiều cách thức kể chuyện, nhiều lớp văn bản, nhiều thể loại. Diễn ngôn ấy dù chịu một số quy ước về văn hóa nhưng sức mạnh “giải phóng ta ra khỏi sự chuyên chế của thói quen”, thúc đẩy sự vượt thoát của bạn đọc khỏi biên cương của ngôn ngữ, và của cả thực tại.

Diễn ngôn Jazz
Người ta thường nói đến chất Jazz thâm trầm và náo động trên những trang viết của Toni Morrison. Chính bà cũng đặt tên cho cuốn tiểu thuyết của mình là Jazz. Jazz là một thể loại âm nhạc đặc biệt được sản sinh trên đất Mỹ trong sự hoà quyện âm nhạc Phi châu và phương Tây. Những người Mỹ da đen đã hình thành và phát triển dòng nhạc này trong những năm đầu thế kỷ XX. Với sức hấp dẫn đặc biệt, Jazz đã có mặt trên toàn thế giới và đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong đời sống người da màu, đặc biệt là người Mỹ da đen. Đặc trưng nhạc Jazz là sự ứng tác, ứng tấu đầy ngẫu nhiên, rất sống động và biến hóa. Ở loại âm nhạc này, bản nhạc được đảo phách (syncopation) liên tục và sự sáng tạo là tức thời, như sự lóe sáng của khoảnh khắc, của vô thức khuấy đảo (tính tùy hứng – improvisation). Chính vì thế, một giai điệu, một tiết tấu, một nét nhạc có thể bị lãng quên ngay sau khi người nhạc công trình tấu nó. Với những nhạc cụ rất “mộc” (accoustic), âm nhạc Jazz bao giờ cũng đầy đam mê, sâu sắc và đầy ngẫu hứng như gọi từ vô thức.

Với Mắt biếc, khai thác cấu trúc thời gian phi tuyến