
CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI
DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT
(Kỳ thứ mười bốn)
Lời người dịch: Trong các kỳ dịch thơ sang thể lục bát đối với các khu vực thơ của Danh nhân văn hóa lịch sử Phùng Khắc Khoan, người dịch hậu sinh như tôi đã thêm nhiều lần nếm trải các cung bậc cảm xúc, tư duy sâu sắc, mạch lạc, nhất quán, luôn hướng về những điều tốt đẹp của đức quan Trạng. Điều đó chính là nguồn động viên rất lớn với người dịch, với người hôm nay. Ngay như dấu mốc 500 ngày sinh của Phùng Khắc Khoan (1528-2028) cũng thêm phần thôi thúc kẻ hậu sinh hãy làm điều hữu ích không chỉ với tiền nhân mà còn với văn hóa lịch sử. Chính vì vậy, tôi đã dồn mọi thời gian, trí tuệ, sự đồng cảm và nhất là tấm lòng kính ngưỡng trước tầng tầng bản thảo của đức Trạng Bùng.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
奉 差 往 天 關 撫 集
道 過 玉 樓 即 事
臣 子 寧 辭 王 事 難
欽 承 威 命 往 天 關
澗 溪 歷 徧 千 回 水
草 樹 經 餘 萬 疊 山
靡 憚 險 夷 堅 一 節
好 將 忠 信 服 諸 蠻
安 民 全 賴 皇 王 德
投 筆 何 功 敢 說 班
Phiên âm:
PHỤNG SAI VÃNG THIÊN QUANG PHỦ TẬP,
ĐẠO QUÁ NGỌC LÂU TỨC SỰ
Thần tử ninh từ vương sự nan,
Khâm thừa uy mệnh vãng Thiên Quan.
Giản khê lịch biến thiên hồi thủy,
Thảo thụ kinh dư vạn điệp san (sơn).
Mỵ đạn hiểm di kiên nhất tiết,
Hảo tương trung tín phục chư man.
An dân toàn lại hoàng vương đức,
Đầu bút hà công cảm thuyết Ban.
Dịch nghĩa:
PHỤNG MỆNH VUA ĐẾN THIÊN QUAN(1 ) VỖ VỀ TRIỆU TẬP DÂN CHÚNG LY TÁN, ĐƯỜNG QUA NGỌC LÂU(2 ), TỨC SỰ LÀM THƠ
Phận làm tôi đâu dám từ nan công việc của nhà vua,
Kính cẩn vâng mệnh đi đến Thiên Quan.
Suối khe lội khắp, ngàn dòng nước chảy,
Núi non trùng điệp vượt qua, len lỏi cỏ cây.
Chẳng sợ hiểm nghèo, bền giữ một khí tiết,
Vui đem trung tín thần phục các man di.
Yên được dân, toàn nhờ đức tốt của nhà vua,
Ném bút theo việc quân, lập công gì mà dám nói như Ban Siêu thuở xưa(3 ).
Dịch thơ:
THƠ ĐỀ Ở THIÊN QUAN
Bề tôi mệnh lệnh vua ban
Kính vâng đến đất Thiên Quan vỗ về
Suối khe nước chảy tràn trề
Núi non trùng điệp bốn bề xa trông
Sợ chi gian hiểm trùng trùng
Đem lòng trung tín phục thần man di
Đức vua còn sáng văn bia
Bút nghiên chắp nối nhớ về Ban Siêu.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
([1]) Thiên Quan: tên đất. Theo Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí: Thiên Quan trước là Tràng An, Hoa Lư, Ninh Bình. Đến đời Trần Thuận Tông, đổi tên thành Thiên Quan, tức Nho Quan, Ninh Bình ngày nay.
([2]) Ngọc Lâu: tên đất, chưa rõ ở đâu…
([3]) Ban Siêu: người đời Hán, có chí lớn, song nhà nghèo phải viết thuê kiếm ăn. Một lần, ông ném bút xuống đất nói: “Tài trai nên bắt chước Trương Khiên, Phó Giới Tử lập công ngoài chiến địa để được phong hầu, há lại cứ giữ mãi cái nghề viết thuê này?” Sau đầu quân đi đánh dẹp, lập nhiều võ công, được vua phong thưởng.
乞 長 生 藥
見 說 仙 家 藥 品 靈
客 來 意 以 道 長 生
量 升 斗 用 加 無 減
等 兩 錢 分 重 勿 輕
味 合 不 拘 通 口 服
心 安 可 驗 養 身 榮
十 全 功 在 四 君 子
文 武 調 和 大 效 成
Phiên âm:
KHẤT TRƯỜNG SINH DƯỢC
Kiến thuyết tiên gia dược phẩm linh,
Khách lai ý dĩ đạo trường sinh.
Lượng thăng đẩu dụng gia vô giảm,
Đẳng lạng tiền phân trọng vật khinh.
Vị hợp bất câu thông khẩu phục,
Tâm an khả nghiệm dưỡng thân vinh.
Thập toàn công tại tứ quân tử,
Văn vũ điều hòa đại hiệu thành.
Dịch nghĩa:
XIN THUỐC TRƯỜNG SINH
Nghe nói tiên gia có thứ thuốc thần diệu,
Khách đến, ý muốn xin thuốc trường sinh.
Lượng dùng từng đấu từng thăng, có gia không giảm,
Cân tính từng đồng từng lạng, nên trọng chớ khinh.
Vị thuốc ưa có thể uống luôn miệng,
Tâm an tĩnh có thể làm mạnh thân một cách hiệu nghiệm.
Công thập toàn cốt ở tứ quân tử,
Thuốc này khi sắc, lửa văn lửa vũ điều hòa sẽ có công hiệu lớn.
Dịch thơ:
XIN THUỐC TRƯỜNG SINH
Nghe tiên có vị thuốc thần
Khách qua ngỏ ý xin phần trường sinh
Lượng dùng từng đấu phân minh
Cân không khinh trọng diệu linh mới gồm
Thuốc dùng ngay buổi tinh sương
Tâm an trí tĩnh tráng cường bách thân
Trượng phu bốn vị xa gần
Lửa thiêng văn vũ châu tuần thì nên.
Phùng Văn Khai dịch
行 年
時 蓋 庚 辰 之 五 十 三 歲 也
是 歲 登 第 後 作
今 年 半 百 又 加 三
自 喜 人 情 造 物 堪
宋 榜 聯 名 知 是 幸
虞 官 典 禮 愧 非 諳
寵 榮 頓 覺 君 恩 異
謀 議 奚 禪 國 論 參
但 願 皇 天 扶 社 稷
庶 功 名 顯 越 天 南
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
(Thời cái Canh Thìn chi ngũ thập tam tuế dã.
Thị tuế đăng đệ hậu tác)
Kim niên bán bách hựu gia tam,
Tự hỷ nhân tình tạo vật kham.
Tống bảng liên danh tri thị hạnh,
Ngu quan điển lễ quý phi am.
Sủng vinh đốn giác quân ân dị,
Mưu nghị hề thiền quốc luận tham.
Đãn nguyện hoàng thiên phù xã tắc,
Thứ công danh hiển Việt thiên Nam.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA(*)
(Bấy giờ là năm Canh Thìn [1580] tôi 53 tuổi.
Năm ấy sau khi thi đỗ thì làm bài thơ này)
Năm nay ta năm mươi ba tuổi,
Tự mừng tình người thắng được tạo vật.
Bảng đề danh những người thi đỗ, may có tên ta(4 ),
Chức quan chủ về tế lễ, ta thẹn chưa am tường(5 ).
Được sủng vinh mới hay ơn vua thật lạ,
Nay mưu tính luận bàn việc nước đâu dám ngại ngùng.
Chỉ mong hoàng thiên phù trì xã tắc,
May ra công danh được hiển đạt ở cõi trời Việt Nam.
Dịch thơ:
NĂM TRẢI QUA
Ta nay tròn tuổi năm ba
Việc nước trung chính việc nhà an yên
Bảng vàng may đã có tên
Chức quan cao trọng càng nên sửa mình
Ơn vua ban tặng hiển vinh
Chăm siêng việc nước nghĩa tình vun cao
Ân trên sáng tựa ngàn sao
Vì đâu hiển đạt ta nào dám quên.
Phùng Văn Khai dịch
——————
(*) Sau bài này, tác giả còn có thơ Hành niên trước tác vào các năm 54, 55 tuổi.
([4]) Nguyên văn là “Tống bảng liên danh”, tức bảng vàng đề tên những người đỗ đạt ở đời Tống. Ở đây chỉ bảng vàng đề tên những người thi đỗ ở nước ta, trong đó có tên Phùng Khắc Khoan. Ông thi đỗ Tiến sĩ năm Canh Thìn (1580), niên hiệu Quang Hưng thứ 3 đời Lê Thế Tông (1573-1600).
([5]) Nguyên văn là “Ngu quan điển lễ”, chỉ ông Bá Di đời nhà Ngu giữ chức Trật tôn chủ về tế lễ. Ở đây dùng điển này để nói tác giả giữ chức quan chủ việc lễ.
官 回 因 火 遷 居 戲 作
五 月 九 日 辭 官 回 萬 賴 至 二 十 五 日 遭 火
官 居 第 愧 乏 循 良
遙 向 楓 宸 上 巽 章
馬 舞 一 徵 符 吉 兆
鶯 遷 重 慶 有 高 堂
人 言 佑 德 由 回 祿
我 效 為 文 逐 畢 方
從 此 居 安 家 道 泰
兒 孫 預 卜 熾 而 昌
Phiên âm:
QUAN HỒI NHÂN HỎA THIÊN CƯ HÝ TÁC
(Ngũ nguyệt cửu nhật từ quan hồi Vạn Lại,
chí nhị thập ngũ nhật tao hỏa)
Quan cư đệ quý phạp tuần lương,
Dao hướng phong thần thướng tốn chương.
Mã vũ nhất trưng phù cát triệu,
Oanh thiên trùng khánh hữu cao đường.
Nhân ngôn hựu đức do Hồi Lộc,
Ngã hiệu vi văn trục tất phương.
Tòng thử cư an gia đạo thái,
Nhi tôn dự bốc xí nhi xương.
Dịch nghĩa:
CÁO QUAN VỀ, NHÂN NHÀ CHÁY, DỜI ĐI CHỖ KHÁC, VIẾT CHƠI BÀI THƠ NÀY
(Ngày 9 tháng 5 [1582], cáo quan về ở Vạn Lại(6 ),
đến ngày 25 thì nhà bị cháy)
Làm quan những thẹn chưa được thuần lương,
Từ xa hướng về triều đình dâng sớ xin cáo lui.
Con ngựa múa(7 ) nghiệm ra là điềm lành,
Chim oanh dời, mừng lại có nhà cao.
Người ta nói thần Hồi Lộc(8 ) thường giúp kẻ có đức,
Ta cũng bắt chước làm bài văn đuổi chim tất phương(9 ).
Từ đây ở yên, đạo nhà thông thuận,
Tin chắc con cháu rạng rỡ và thịnh vượng lâu dài.
Dịch thơ:
CÁO QUAN ĐỀ THƠ
Làm quan còn thẹn xin về
Dâng triều đình những bộn bề lo toan
Trước sân “ngựa múa” tất an
Nơi vườn “oanh chuyển” sương tan tất mừng
Làm bài văn đuổi ác ưng
Đợi thần Hồi Lộc tin mừng cầm tay
Đạo nhà thông thuận xưa nay
Cháu con đông đúc như cây trên rừng.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
([6]) Vạn Lại: địa danh, nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.
([7]) Con ngựa múa: theo điển, xưa có người tên là Hoàng Bình hỏi một người tên là Sách Đảm rằng: “Đêm qua ta chiêm bao thấy trong nhà ngựa múa, vài mươi người hướng vào con ngựa vỗ tay. Thế là điềm gì?” Sách Đảm đáp: “Con ngựa thuộc hỏa, múa là lửa bốc lên, hướng vào con ngựa vỗ tay là người cứu hỏa”. Hoàng Bình về đến nhà thì thấy lửa đã bốc, nhà đương cháy.
([8]) Hồi Lộc: tên thần lửa. Người đời nhân thế gọi hỏa tai là Hồi Lộc.
([9]) Tất phương: tên một loài chim, người xưa cho loài chim này là loài ác điểu, nó đến đâu là mang điềm hỏa tai tới đó.
行 年
時 蓋 癸 未 之 五 十 六 歲 也
是 歲 退 官 為 鴻 臚 寺 卿
今 我 行 年 五 十 六
詩 書 萬 卷 生 涯 足
曆 推 甲 子 數 枝 梅
春 長 兒 孫 千 箇 竹
節 到 祥 開 日 色 華
朝 回 袖 惹 天 香 郁
不 嫌 更 後 飲 屠 蘇
惟 喜 年 年 增 五 福
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
(Thời cái Quý Mùi chi ngũ thập lục tuế dã.
Thị tuế thoái quan vi Hồng lô Tự khanh)
Kim ngã hành niên ngũ thập lục,
Thi thư vạn quyển sinh nhai túc.
Lịch suy Giáp tý sổ chi mai,
Xuân trưởng nhi tôn thiên cá trúc.
Tiết đáo tường khai nhật sắc hoa,
Triều hồi tụ nhạ thiên hương úc.
Bất hiềm cánh hậu ẩm đồ tô,
Duy hỷ niên niên tăng ngũ phúc.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA(*)
(Bấy giờ là năm Quý Mùi [1583], tôi 56 tuổi.
Năm đó lui xuống làm chức Hồng lô Tự khanh)
Năm nay ta năm mươi sáu tuổi,
Sách vở muôn ngàn quyển, đủ sinh nhai.
Lịch suy tính từ năm Giáp Tý, thấy mấy cành mai nở(10 ),
Mùa xuân về làm hàng ngàn măng trúc mọc.
Thời tiết đến, điềm lành hiện, sắc mặt trời quang hoa(11 ),
Đi chầu về, tay áo đầy hương nhà vua thơm phức.
Chả hiềm gì, uống rượu đồ tô, ta uống sau cùng(12 ),
Chỉ mừng hàng năm được thêm ngũ phúc(13 ).
Dịch thơ:
NĂM TRẢI QUA
Ta năm mươi sáu tuổi đời
Sách chừng ngàn quyển, cơ trời vài ba
Kể từ Giáp Tý nở hoa
Xuân về trúc mọc sao sa giữa rừng
Sắc lành hiện mặt trời hồng
Hương thơm quyến luyến sân rồng chầu vua
Rượu đồ tô rót chén vừa
Mong tròn ngũ phúc lời thưa đất trời.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
(*) Sau bài này, còn có một số bài Hành niên tác giả trước tác vào các năm 57, 58, 59, 60 tuổi. Thơ Hành niên tự thuật làm sau năm 60 tuổi hiện không lưu giữ được.
([10]) Hoa mai nở báo xuân về, cứ tính lịch từ Giáp Tý mà suy thì sắp đến năm mới.
([11]) Bài phú Nhật sắc hoa của Lý Trình có câu: “Đức động thiên giám, tường khai nhật hoa” (Đức rung động cả trời, điềm lành hiện ra ở tia sáng rực rỡ của mặt trời).
([12]) Rượu đồ tô: thứ rượu uống vào ngày mồng một tết để trừ tà khí. Khi uống, trẻ em được thêm tuổi uống trước, người lớn uống sau.
([13]) Ngũ phúc: thiên Hồng phạm trong Kinh Thư cho ngũ phúc gồm: sống lâu, đủ ăn đủ tiêu, mạnh khỏe bình an, thích làm điều thiện và hưởng hết tuổi trời.
自 賀 生 男
六 旬 老 叟 鬢 鬢 鬖
喜 有 祥 來 帝 賜 男
骨 相 瑰 奇 珠 出 合
精 神 秀 異 玉 生 藍
詩 書 澤 及 知 予 幸
忠 孝 名 成 望 汝 堪
兼 有 乃 兄 和 乃 侄
共 聯 桂 五 並 槐 三
Phiên âm:
TỰ HẠ SINH NAM
Lục tuần lão tẩu mấn lam xam,
Hỷ hữu tường lai đế tứ nam.
Cốt tướng khôi kỳ châu xuất Hợp,
Tinh thần tú dị ngọc sinh Lam.
Thi thư trạch cập tri dư hạnh,
Trung hiếu danh thành vọng nhữ kham.
Kiêm hữu nãi huynh hòa nãi điệt,
Cộng liên quế ngũ tịnh hòe tam.
Dịch nghĩa:
TỰ MỪNG SINH CON TRAI
Ông già sáu mươi tuổi tóc tai dài rối, đốm bạc,
Mừng điềm lành đến, trời ban cho con trai.
Cốt tướng khôi kỳ như châu lấy ra từ Hợp Phố,
Tinh thần tú dị(14 ) tựa ngọc sản sinh ở Lam Điền(15 ).
Thi thư ân kịp đến, biết ta may mắn,
Trung hiếu danh sẽ thành, mong con gánh vác.
Gồm cả anh (con bác) em (con chú) của con(16 ),
Cùng hợp nhau thành đám con trai tài giỏi thành đạt(17 ).
Dịch thơ:
TỰ MỪNG SINH CON TRAI
Sáu mươi tóc bạc râu dài
Bỗng sinh quý tử phúc đài trời ban
Châu từ Hợp Phố hân hoan
Nam Điền cốt ngọc vẻ sang vẹn mười
Ân cao riêng tạ ông trời
Hậu sinh hiếu thuận theo lời tổ tông
Anh em cành nhánh hanh thông
Liên tài giúp nước mới không thẹn tài.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([14]) Tú dị: tuấn tú và khác thường.
([15]) Lam Điền: tên huyện và tên núi ở Thiểm Tây, Trung Quốc, có tiếng là nhiều ngọc quý.
([16]) Câu này chỉ chung anh em con chú con bác của người con mới sinh. Vì theo gia phả họ Phùng Khắc thì trước khi sinh con trai đặt tên là Phùng Khắc Trung, Phùng Khắc Khoan chỉ sinh một con gái đầu lòng là Phùng Thị Phượng, lúc ấy ông 57 tuổi.
([17]) Năm chữ trong nguyên văn “Quế ngũ tịnh hòe tam” nghĩa là năm cây quế và ba cây hòe. Theo Tống sử, Đậu Vũ Quân hiệu là Yên Sơn có năm con trai đều thi đỗ và làm quan. Đời bấy giờ gọi là Yên Sơn ngũ quế (năm cây quế ở Yên Sơn). Cũng theo Tống sử thì Vương Hựu vì có công lớn mà không được làm Tể tướng, liền trồng ba cây hòe ở trước sân, nguyện rằng: con ta sẽ làm đến chức Tam công. Sau quả nhiên con trai thứ là Vương Đán làm đến chức Tể tướng. Do hai tích trên, người ta thường dùng chữ “quế hòe”, “ngũ quế”, “tam hòe”… để chỉ việc sinh con trai tài giỏi, thành đạt.

生 年 自 述
戊 子 重 逢 戊 子 生
春 正 月 紀 甲 寅 正
天 心 聖 德 相 符 驗
物 理 人 情 自 著 明
小 往 大 來 知 泰 長
尊 光 卑 裕 保 謙 亨
新 年 再 喜 迎 新 福
好 好 優 游 樂 太 平
Phiên âm:
SINH NIÊN TỰ THUẬT
Mậu Tý trùng phùng Mậu Tý sinh,
Xuân chinh nguyệt kỷ Giáp Dần chinh.
Thiên tâm thánh đức tương phù nghiệm,
Vật lý nhân tình tự trứ minh.
Tiểu vãng đại lai trí Thái trưởng,
Tôn quang ty dụ bảo Khiêm hanh.
Tân niên tái hỷ nghênh tân phúc,
Hảo hảo ưu du lạc thái bình.

Dịch nghĩa:
TỰ THUẬT NHÂN NĂM SINH
Ta sinh năm Mậu Tý, năm nay lại là năm Mậu Tý,
Mùa xuân tháng Giêng lại đúng là tháng Giáp Dần.
Đức vua hợp với lòng trời đã có chứng nghiệm,
Tình người lý vật tự tỏ rõ.
Nhỏ đi, lớn lại, biết rằng đạo Thái đang phát triển(18),
Cao mà sáng, thấp mà đủ đầy, giữ lấy đức hanh quẻ Khiêm(19).
Năm mới lại mừng đón phúc mới,
Thong dong thư thái vui cảnh thái bình.
Dịch thơ:
TỰ THUẬT NHÂN NĂM SINH
Năm nay Mậu Tý trùng phùng
Mùa xuân vừa tháng Giáp Dần đương qua
Đức vua sáng láng cỏ hoa
Tình người thấu đạt chan hòa như mây
Nhỏ đi, lớn lại phúc dày
Khiêm cung mực thước cỏ cây đều mừng.
Xuân sang đón phúc theo cùng
Thong dong, thư thái dưới tầng hoa xuân.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([18]) Nhỏ đi, lớn lại: đây dùng chữ trong quẻ Thái, Kinh Dịch. Lời Thoán của quẻ Thái viết rằng: Tiểu vãng đại lai cát hanh (nhỏ đi, lớn lại, tốt, hanh thông). Quẻ Thái ba hào dương ở dưới, ba hào âm ở trên là tượng dương đang phát triển, âm dần tiêu hao. Nhỏ tức là âm, lớn tức là dương, nhỏ đi lớn lại tức là dương trưởng âm tiêu, đạo quân tử lớn lên, tiểu nhân tiêu đi vậy.
([19]) Cao mà sáng, thấp mà đủ đầy: quẻ Khiêm trong Kinh Dịch, lời Thoán viết rằng: “Khiêm hanh, quân tử hữu chung” (Quẻ khiêm hanh thông, người quân tử có kết cục tốt). Thoán truyện lại viết: “Khiêm tôn nhi quang, ty nhi bất khả du, quân tử chi chung dã” (Đức khiêm cao mà sáng, thấp mà không thể vượt qua, đó là kết cục tốt của đấng quân tử).
Phùng Văn Khai dịch
—————–
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 12]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 13]
![Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 14] Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 14]](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/03/ky-thu-14-tho-PKK-696x1134.jpg)

























