Bảo vật Quốc gia – Tượng nữ thánh Tara (Bồ tát Tara)

Bảo vật Quốc gia - Tượng nữ thánh Tara
Tượng Tara và một phần tấm bia ghi chữ Phạn (Sanscrite) khai quật được ở Đồng Dương

Bảo vật Quốc gia – Tượng nữ thánh Tara

Trong các di sản được Nhà nước ta chính thức “vinh phong” Bảo vật Việt Nam năm 2012 tôi thích nhất bức tượng thánh Tara hiện trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Theo hồ sơ Di sản, bức tượng được đúc bằng đồng, cao 129,3cm, khảm thêm đá quý ở mắt, trán. Khi mới khai quật từ lòng đất, màu xanh gỉ đồng khiến bức tượng như được làm bằng một loại đá ngọc xanh lá cây nào đó. Nhưng điều đáng hấp dẫn nhất đối với mọi người người chiêm ngưỡng là ở phong cách tạo hình vô cùng xuất sắc, với nét mặt vừa nghiêm trang, thánh thiện vừa hoang sơ, trần tục, đôi vai bằng ngang khỏe khắn đỡ hai cánh tay trần không nhiều cơ bắp, nhưng tràn đày sức lực đang đưa nâng hai tay bàn tay xòe ra đỡ hai vật đã bị bẻ gãy1, toàn thân toát lên một phong cách mỹ thuật rất hiện đại.

Lần lại hồ sơ, nơi phát hiện bức tượng là một phế tích lớn của vương triều Chăm Pa, nay thuộc làng Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phế tích này đã từng được chuyên gia khảo cổ học Mỹ thuật người Pháp là Parmentier khai quật từ đầu thế kỷ XX và nhận ra đây là một Phật Viện lớn được xây dựng vào khoảng thế kỷ IX bởi một phong cách nghệ thuật rất độc đáo. Ông đã đặt tên phong cách đó là Đồng Dương (Dong Duong style). Nội dung một tấm bia phát hiện được ở đây đã thông báo rằng Phật Viện được nhà vua Indravaman II cho xây dựng vào năm 875 nhằm tôn vinh Phật giáo Đại thừa, một tôn giáo Ấn Độ được ngưỡng mộ hơn trong thời vương quốc Indrapura. Tại đây, Phật Viện và Vương triều tôn thờ và cầu mong được bảo trợ bởi một nữ thánh bồ tát (Buhdasattiva) có tên là Laksmindra-Lokesvara – một biến thân của Quan thế âm bồ tát. Tương truyền trong Phật giáo, đó là nữ thánh Tara tiêu biểu với tấm lòng cứu độ đại từ bi đày quyền lực. Truyện kể rằng, xúc động trước nỗi khổ cực của trần thế, có một lần vị Phật quyền uy Quan thế âm Bồ tát rỏ những giọt lệ nóng hổi. Những giọt lệ đó đã quện luyện hóa thành một biến thân mới của Quan Âm có tên là Tara.

Tuy nhiên, trong cuộc khai quật của Parmentier hồi đầu thế kỷ XX tại Phật viện Đồng Dương, ông đã không phát hiện được bức tượng đồng báu vật quốc gia mà chúng ta nói ở bài viết này. Phải đến năm 1978, do một phát hiện ngẫu nhiên, bức tượng đồng thần bí, vô giá mới xuất lộ từ độ sâu hơn 3 mét dưới các phế tích mà vẫn còn nguyên vẹn không hề hư hỏng sau hàng ngàn năm yên vị trong lòng đất. Người dân làng Đồng Dương đã bảo vệ và chăm nom bức tượng như một vị thần của quê hương mình cho đến khi bức tượng được đưa về đúng nơi cần có, đó là Bảo tàng Điêu khắc Chăm Pa ở Đà Nẵng vào năm 1981.

Bức tượng thoạt đầu còn mang lớp áo patin màu xanh gỉ đồng như ngọc, hiện đã được tảy rỉ làm lộ ra lớp da đồng màu nâu ánh kim chắc nịch. Cả ba phần chính của bức tượng (đầu – mặt – cổ / thân – vai – ngực / hông – thắt lưng – chân ) đều được thể hiên bằng những thủ pháp nghệ thuật điêu khắc riêng biệt nhưng rất điêu luyện.

Tượng Tara: Phần đầu - mặt - cổ

Tượng Tara: Phần đầu – mặt – cổ

Tượng Tara: Phần vai - ngực và eo

Tượng Tara: Phần vai – ngực và eo

Tượng Tara: Đôi bàn chân trần

Tượng Tara: Đôi bàn chân trần

Nhìn vào bức tượng, cái đập ngay vào mắt người xem là đôi ngực trần với cặp vú tròn căng đày sức sống phồn thực. Hình khối của cặp vú gắn bó hài hòa với đôi vai trần bằng ngang, khỏe khoắn mà vẫn đày nữ tính, đặt trên phần thân eo thu nhỏ, tạo ngấn cho ta thấy phảng phất một phong cách tạo hình rất hiện đại. Đôi cánh tay thả tự nhiên với phần cẳng tay dưới nâng nhẹ nhằm phô diễn hai vật gì đó được cầm một cách khéo léo, tinh tế bởi hai ngón cái và trỏ. Phần cánh tay phía trên hơi kéo về phía sau như có ý đảy dướn phô bày cặp vú nở. Dưới cách nhìn bị nhuốm màu Nho giáo, bộ ngực trần có gì đó dung tục, nhưng nếu đặt trong khung cảnh tư duy Chăm Pa cách nay hàng ngàn năm, tương tự tư duy của đồng bào Tây Nguyên hiện nay, thì cặp vú cân xứng, căng phồng đó hứa hẹn một sự bình yên, no đủ và tràn đày hạnh phúc. Đó là điều được hoàng tộc và thần dân Indrapura thờ phụng, mong chờ từ thánh mẹ Bồ tát Quan âm Tara.

Sự nghiêm trang, quyền uy của thánh mẹ Tara toát ra đày đủ từ khuôn mặt đặt trên ba tầng ngấn cổ cao, to với chiếc mũi nở to nhô cao cân đối, với cặp mắt cũng mở to đang nhìn xuống chúng dân, tròng mắt, con ngươi được chạm cẩn đá quý rất sống động và cặp môi dày khép lại một cách nghiêm nghị. Hai bên là đôi tai phật có phần “dái tai” đục lỗ khá dài. Trán của nữ thánh được tạo hình vuông vức, bất thường với hàng lông mày dày kết liền tạo ranh giới dưới và hai bờ tóc tạo khung thẳng hai bên để hình thành một không gian khá vuông vức cho vị trí của chiếc mắt thần thứ ba hình quả trám dọc đặt chính giữa. Kiểu tạo hình trán vuông vức và bất thường như vậy đã có tác dụng đưa những nét “người” trần tục của bức tượng vào một thế giới của thánh thần. Sự khẳng định uy quyền của bức tượng thánh nữ chính là bộ tóc dày với những đụn xoắn tròn vấn thành hai tầng vương miện có hàng chục đầu rắn vươn lên phía trước và búi bện tôn cao tạo thành một đỉnh kén có hốc hướng tiền như một ngôi đền – nơi ngự trị vĩnh hằng của đức Phật Thích ca mầu ni. Đây chính là phần đặc trưng rõ nhất để gắn bức tượng với Quan âm Bồ tát.

Tương phản với phần thân trên để trần, phần dưới bức tượng được che vấn rất kín đáo bằng hai lớp váy quấn kiểu saron ôm sát hông đùi đến tận mắt cá. Ở phần thân dưới này có một chi tiết rất đáng lưu ý trong nghệ thuật tạo hình. Nhìn toàn cảnh bức tượng thánh được đặt trong quy chuẩn nghiêm trang, cân đối. Tuy nhiên rõ ràng nghệ nhân đã cố ý đánh vỡ thế cân xứng mà vì nó có thể sẽ tạo ra vẻ cứng nhắc cho bức tượng, bằng cách để các vạt saron hơi bay lệch nhẹ về phía tay trái nữ thánh, nơi đầu bên trên của cạp saron nhô ra một góc nhọn. Chi tiết “lệch” này phối hợp với sự “kéo lại” của các đường vạch viền vải saron ở phía đối trọng đã gây cảm giác “cân” lại cho bức tượng.

Đôi bàn chân trần của bức tượng được thể hiện như các kiểu “bàn chân Siva” truyền thống, nhưng ở đây nó chân thực xiết bao, như thể nghệ nhân mượn từ hình ảnh của bàn chân các bà mẹ Tây Nguyên vậy. Các ngón chân thon dài và phần móng được cắt gọt gọn gang, nhưng đơn sơ, chân thực và toát lên phong cách tạo tượng phóng khoáng, hiện đại.

Xưa nay, khi nghiên cứu về nghệ thuật Chăm Pa, đa số các học giả chỉ chú tâm đến hệ thống di tích, di vật bằng gạch, đất nung và đá. Di vật bằng kim loại, trong đó di vật vàng đã bắt đầu được thu thập và nghiên cứu2, nhưng di vật bằng đồng vẫn còn chưa được chú ý đúng mức, nhất là tượng thần bằng đồng. Những bức tượng đồng Chăm Pa nổi tiếng khai quật từ thời Pháp, như tượng Phật đứng cũng ở Bình Dương và tượng Tara cho thấy một mảng sáng lớn trong nghệ thuật Chăm Pa, đó là nghệ thuật tượng đúc bằng kim loại. Khuôn đúc đầu tượng thần Siva làm bằng đất nung có niên đại dự đoán khoảng thế kỷ 13 vừa phát hiện ở Bình Định3 khẳng định nhu cầu tập trung nghiên cứu các tác phẩm nghệ thuật Chăm Pa bằng đồng.

Nữ thánh Tara – một dạng Bồ tát Quan âm đặc biệt phát triển trong giáo phái Phật vùng  nam Hymalaya, nơi các bộ tộc nguyên thủy bản địa tôn sùng các lễ nghi phồn thực và đa phần sống theo chế độ mẫu hệ. Việt Nam cũng nằm trong vùng văn hóa nguyên thủy này cho đến trước khi chịu ảnh hưởng của văn hóa, tôn giáo Ấn Độ – Trung Hoa. Phật Giáo  đã du nhập từ khá sớm vào Việt Nam. Trong đó, từ những thế kỷ trước sau Công nguyên  đã có bằng chứng về một trung tâm Phật giáo ở Giao Châu mà tâm điểm là vùng Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh). Điều hấp dẫn nhất của Phật Giáo khi du nhập vào các bộ tộc Đông Dương nói riêng và Đông Nam Á nói chung chính là ở tính cứu khổ, cứu nạn, ở một niềm tin được che trở, cứu dỗi và một tương lai yên bình, trong sạch. Sự tiếp nhận đức Phật cứu khổ cứu nạn đó gần gũi và có phần trùng lặp với truyền thống tôn thờ nữ thần, đức thánh Mẹ bản địa. Đây được coi như nguyên nhân căn bản cho xu hướng tiếp nhận những biến thái nữ tính của vị chân Nam thần Quan thế âm Bồ tát (Avalokitesvara)4 vào hệ tôn giáo tín ngưỡng truyền thống ở khu vực miền núi đông bắc và đông nam khối Hymalaya5.

Tượng thờ Tara xuất hiện khá nhiều trong phật giáo Tây Tạng, Nam Chiếu, Đại Lý với nhiều biến thái khác nhau, tùy vai trò và lĩnh vực trong cứu khổ cứu nạn, phù hộ độ trì, ví dụ Tara xanh lá cây, xanh da trời, đỏ, đen, vàng, trắng… trong đó Tara xanh lá cây được coi như Bồ tát có nhiều quyền năng và hiệu ứng nhất. Con đường Phật giáo Đại thừa du nhập vào vương triều Chăm Pa Indrapura thế nào còn đang tiếp tục được các nhà khoa học nghiên cứu và thảo luận, nhưng dựa vào phân bố của tượng Bồ tát Tara có thể dự đoán đó là con đường đi qua Miến Điện thẩm thấu và vùng văn hóa bắc Chân Lạp – Nam Chiếu, từ đó ảnh hưởng từ phía tây tới triều đình Indrapura6. 

                N.V