Giới thiệu khái quát huyện Mường Tè

Giới thiệu khái quát huyện Mường Tè

Giới thiệu khái quát huyện Mường Tè

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ DÂN CƯ

       1. Vị trí địa lý

       Mường Tè là huyện vùng cao biên giới của tỉnh Lai Châu, nằm phía Tây bắc Việt Nam. Huyện có tổng diện tích tự nhiên 267.934 ha, chiếm 29,6% diện tích của tỉnh Lai Châu,  đứng đầu 8 huyện, thành phố của tỉnh về diện tích.

        Vị trí Tiếp giáp: – Phía Bắc: giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.

                                 – Phía Nam: giáp huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. 

                                  – Phía Đông: giáp huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

                                  – Phía Tây: giáp huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

        Huyện Mường Tè có 14 đơn vị hành chính gồm thị trấn Mường Tè và 13 xã (Bum Nưa, Bum Tở, Vàng San, Kan Hồ, Pa Vệ Sủ, Mường Tè, Nậm Khao, Tà Tổng, Pa Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm, Mù Cả, Tá Bạ). Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Mường Tè, cách tỉnh Lai Châu hơn 200 Km về phía Tây Bắc theo đường bộ tỉnh lộ 127, quốc lộ 12, quốc lộ 4D; 120km theo đường Pa Tần – Mường Tè.

        Huyện Mường Tè có tổng chiều dài đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài 130,292 km đi qua 6 xã vùng biên (Pa Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm, Mù Cả, Tá Bạ, Pa Vệ Sủ) nên Mường Tè có vị trí đặc biệt quan trọng về ANQP và bảo vệ chủ quyền biên giới Quốc gia.

        2. Dân cư

         Tính đến tháng 12 năm 2018, huyện Mường Tè có dân số khoảng 45.424 nghìn người, tổng số hộ 9.691 hộ; số người bình quân/hộ là: 4,5 người/hộ; mật độ dân số 13,5 người/km2; gồm 10 dân tộc anh em và một số dân tộc khác cùng sinh sống, trong đó: Dân tộc Kinh 2.819 người (7.2%); dân tộc Thái 10.482 người (23.25%); dân tộc Mông 7.176 người (15.92%); dân tộc Dao 283 người (0.649%); dân tộc Giáy 920 người chiếm (2.111%); dân tộc La Hủ 12.027 người (26,68%); Hà Nhì 8.662 người (19,21%); dân tộc Mảng 1.172 người (2,69%); dân tộc Cống 935 người (2,146%); dân tộc Si La 582 người (1,38%); dân tộc Hoa 12 người (0.028%); dân tộc Cao Lan 6 người (0,014%); Dân tộc Mường 152 người (0,349%); dân tộc Tày 57 người (0.131%); dân tộc Nùng 11 người (0.025%); dân tộc Sán Dìu 3 người (0.007%). Phần lớn các dân tộc thiểu số trình độ dân trí chưa cao, không đồng đều, đời sống còn khó khăn. Tỷ lệ tăng dân số là: 1,9%, tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm 92,8% dân số toàn huyện. Tổng số người trong độ tuổi lao động là 27.669 người.

       II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

       1.  Đặc điểm địa hình

        Huyện Mường tè do chịu ảnh hưởng lớn của hoạt động kiến tạo địa chất nên có địa hình rất phức tạp, mức độ chia cắt sâu và ngang rất mạnh bởi các dãy núi cao chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, phổ biến là kiểu địa hình núi cao và núi trung bình xen lẫn thung lũng. Độ cao trung bình từ 900 – 1.500m so với mặt nước biển. Nhiều đỉnh có độ cao trên 2000m: đỉnh Phu Xi Lung (3.076m), Pu Tà Tổng (2.109m). Độ dốc trung bình từ 25– 30 có nơi lên tới 450.

       Nhìn tổng quát huyện Mường Tè được chia thành 2 vùng địa hình khác nhau:

       * Vùng núi cao: Gồm các xã Pa Vệ Sủ, Pa Ủ, Bum Tở, Tá Bạ, Ka Lăng, Thu Lũm, Mù Cả và Tà Tổng với độ cao trung bình từ 1000 – 2000m so với mặt nước biển thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, phát triển kinh tế rừng và trồng các loại cây vùng ôn đới.

       * Vùng đồi núi thấp: Gồm các xã Bum Nưa, Vàng San, thị trấn Mường Tè, Nậm Khao, Mường Tè, Kan Hồ với độ cao trung bình từ 400 – 1000m, thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp như cao su, quế, các cây ăn quả có giá trị kinh tế cao và nuôi trồng thủy sản.

       2.  Đặc điểm khí hậu

        Khí hậu Mường Tè mang đặc điểm của vùng nhiệt đới núi cao Tây Bắc, ít chịu ảnh hưởng của bão, thời tiết quanh năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, mưa ít, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.

        Chế độ mưa: Hàng năm mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 trùng với kỳ thịnh hành của gió Tây Nam: vùng cao lượng mưa lên tới 3000mm/năm, vùng núi trung bình có biến động từ 2000 – 2500mm. Vùng núi thấp và thung lũng từ 1500 – 1800mm. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa ít (316,4mm), trong thời gian này thường có sương mù và suất hiện sương muối vào một số ngày trong tháng 1 và tháng 2. Lượng mưa trung bình năm là 2.531mm, tháng 7 chiếm 87,5% lượng mưa cả năm.

        Chế độ nhiệt: Do chịu ảnh hưởng của địa hình nên chế độ nhiệt cũng phân hóa theo vùng trong đó: Vùng núi cao (Ka Lăng, Tà Tổng, Thu Lũm, Tá Bạ, Mù cả, Pa Vệ Sủ) Nhiệt độ cao trung bình 150C; Vùng núi cao trung bình (Pa Ủ, Nậm Khao, Bum Tở, Mường Tè) nhiệt độ trung bình đạt 20C; Vùng núi thấp  nhiệt độ đạt 23C. Tổng nhiệt độ trung bình toàn huyện là 22.4C.

       Chế độ gió: Từ tháng 3 – tháng 7 thường có gió mùa Tây Nam, gió mùa Đông Nam thổi mạnh từ tháng 4 – tháng 10, gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 – tháng 3.

       3. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

       * Tài Nguyên nước: Huyện Mường Tè có mạng lưới sông, suối khá dày đặc, trong huyện có 1 sông chính là sông Đà, ngoài ra còn có 4 con suối có trữ lượng nước lớn: Nậm Ngà, Nậm Na, Nậm Củm, Nậm Sì Lường. Đặc biệt, huyện là khu vực đầu nguồn xung yếu và cực kỳ quan trọng của Sông Đà, con sông có giá trị lớn về thuỷ điện và cung cấp nước cho vùng đồng bằng Bắc bộ, nên Mường Tè có vị trí quan trọng về phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, vào mùa khô sông suối thường khô cạn, thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất; mùa mưa có lũ lụt, lũ quét, sạt lở gây ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản con người, gây sói mòn mạnh, khả năng sử dụng nước vào sản xuất còn nhiều hạn chế.

        * Tài nguyên Khoáng sản: Trên địa bàn có nhiều loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao: vàng, sắt, đồng chì… Tuy nhiên trữ lượng vừa và nhỏ, phân bố không đều, khó khai thác và sử dụng.

        * Tài nguyên rừng: Huyện Mường Tè có tổng diện tích rừng khá lớn. Năm 2015 diện tích rừng của huyện có khoảng 162.842,98 ha, bảo vệ rừng trên 200.000 lượt ha, khoanh nuôi tái sinh 65.760,2 lượt ha. Diện tích được chi trả dịch vụ môi trường rừng từ năm 2012 đến năm 2015 là 614.884,3 ha. Rừng Mường Tè có hệ động thực vật đa dạng, phong phú với nhiều loại gỗ quý như: giổi, lát, gù hương; nhiều cây dược liệu quý hiếm, nhiều sản vật rừng nổi tiếng như: mật ong rừng, tam thất, nấm hương, thảo quả…. Năm 2015 tỷ lệ che phủ rừng của huyện đạt 61,5%.  Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã trong huyện, nhờ quan tâm phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại rừng đã góp phần đem lại thu nhập cao cho người dân và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực.

       * Tài nguyên Văn hóa – Du lịch:

        Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho huyện Mường Tè những thuận lợi  để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở một số xã vùng cao có khí hậu khá mát mẻ gần như quanh năm như các xã Mù Cả, Tà Tổng, Ka Lăng, Thu Lũm, Tá Bạ.

        Mường Tè có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử, hang động, suối khoáng, núi đá tự nhiên nổi tiếng: Hòn đá trắng, Ruộng bậc thang, Nhà lưu niệm cố luật sư Nguyễn Hữu thọ, di tích 2 đồn Pháp ở bản Nậm Củm – xã Mường Tè và bản Bum – xã Bum nưa. Huyện Mường Tè gần Nhà máy thủy điện Lai Châu thuộc huyện Nậm Nhùn, song chiếm gần như trọn lòng hồ của thủy điện…đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh lòng hồ sông Đà, kết hợp với nghỉ dưỡng.

        Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc sinh sống như dân tộc Thái, Hà Nhì, La Hủ, Si La …với bản sắc văn hoá riêng, có những lời ca, tiếng hát, say sưa trong điệu xòe của người Thái, Hà Nhi…. và kiến trúc xây dựng nhà sàn mang đậm sắc thái.

         Mường Tè còn là nơi nổi tiểng nhiều món ăn ngon được làm cầu kỳ, công phu của người Thái, Hà Nhì, Mông như: rêu đá cộng với lá cây rừng, món cá nướng “Pỉnh tộp”, lạp thịt, gỏi cá đượm vị cay của ớt, thơm nồng của “mắc khén”, hạt tiêu rừng, xả, gừng vị chua của nước măng chua , quả me… sẽ không thể quên sự tài hoa, khéo léo của phụ nữ của vùng Tây bắc  và sẽ thấy trong mỗi món ngon còn thấm đậm chữ tình. Phụ nữ Tây bắc luôn quan niệm, người đàn ông là trụ cột gia đình, gánh vác phần việc nặng nhọc bằng tình yêu thương họ sẽ nấu những món ăn ngon, bồi bổ sức khỏe, bù đắp lại công sức lao động của cánh đàn ông. Do đó các món ăn của người tây bắc thường rất cầu kỳ, nhiều gia vị kích thích vị giác.

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

1. Tài nguyên đất

Mường Tè có tổng diện tích đất tự nhiên là 267.934,15 ha, chiếm 29,54% diện tích của tỉnh Lai Châu. Theo kết quả đánh giá phân hạng đất huyện Mường Tè, đất đai của huyện được chia thành 5 loại chính sau:

– Đất mùn Alít trên núi cao (N1H) diện tích 26.337,90 ha, chiếm 9,83%.

– Đất Feralit mùn trên núi trung bình (N2FH) diện tích 166.574,70 ha, chiếm 62,17% tổng diện tích tự nhiên.

– Đất Feralit đồi núi thấp (N3F) diện tích 73.172,80 ha, chiếm 27,31%.

– Đất núi đá vôi (Fv) diện tích 321,50 ha, chiếm 0,12% tổng diện tích tự nhiên.

– Đất dốc tụ và phù sa sông, suối diện tích 1.527,20 ha, chiếm 0,57% tổng diện tích tự nhiên.

2. Tài nguyên nước

– Về tài nguyên nước mặt: Mường Tè là vùng thượng lưu của Sông Đà, mật độ sông suối khá dày đặc (khoảng 0,6km/km2). Ngoài sông Đà, trên địa bàn huyện có 04 suối lớn là: Suối Nậm Ngoa (bắt đầu từ dãy núi Khoang La Xan huyện Mường Nhé, với chiều dài 1.865 m, lưu lượng dòng chảy kiệt hơn 4 m3/s); Suối Nậm Củm (bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với chiều dài khoảng 45 km. Lưu lượng dòng chảy kiệt hơn 3 m3/s); Suối Nậm Sì Lường (bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với chiều dài khoảng 45 km, lưu lượng dòng chảy kiệt là 4 m3/s); Suối Nậm Nhé (có chiều dài hơn 30 km, lưu lượng dòng chảy kiệt 6 m3/s).

– Về tài nguyên nước ngầm: Nước ngầm không sâu, tuy nhiên trữ lượng nước không lớn, một số nơi có thể khai thác phục vụ cho sinh hoạt thông qua hình thức sử dụng giếng khoan, giếng đào.

3. Tài nguyên rừng

– Năm 2018, huyện có 167.725,98 ha đất lâm nghiệp có rừng, chiếm 62,60% diện tích tự nhiên. Trong đó: đất rừng sản xuất là 72.921,32 ha, chiếm 43,48% diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng đặc dụng là 24.520,63 ha, chiếm 14,62% diện tích đất lâm nghiệp và đất rừng phòng hộ là 70.284,03 ha, chiếm 41,90% diện tích đất lâm nghiệp.

4. Tài nguyên khoáng sản

Theo kết quả điều tra thăm dò chưa đầy đủ của các đoàn khảo sát địa chất cho thấy trên địa bàn huyện Mường Tè có một số loài khoáng sản như sắt Thu Lũm, đồng Kan Hồ, vàng ở Vàng San, Tà Tổng; suối nước nóng ở Pắc Ma; nhiên liệu khoáng ở xã Kan Hồ. Ngoài ra, huyện Mường Tè còn có tiềm năng về sản xuất vật liệu xây dựng như cát, sỏi ở xã Bum Nưa; sét Kaolin ở xã Kan Hồ…, có thể khai thác với quy mô vừa và nhỏ để phục vụ nhu cầu tại chỗ.

5. Tài nguyên nhân văn

Mường Tè là huyện phong phú về bản sắc văn hóa, truyền thống lịch sử, di sản văn hóa. Trên địa bàn huyện có trên 12 dân tộc anh em sinh sống, gồm các dân tộc Thái, La Hủ, Hà Nhì… Trong đó có những dân tộc rất ít người như Cống, Mảng, Si La. Mỗi dân tộc đều có phong tục, lễ hội văn hóa, các điệu múa, các làn điệu hát dân ca đặc sắc riêng.

6. Tài nguyên du lịch:

Rừng sinh thái với độ che phủ và chủng loại phong  phú là điều kiện thu hút khách du lịch.

Hiện huyện có 01 Di tích và được công nhận là Di tích lich sử văn hoá cấp tỉnh: Đồn pháp ở Nậm Củm, xã Mường Tè

Có nhiều Sông, Suối mang giá trị du lịch cao. Mường Tè có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử, hang động, suối khoáng, núi đá tự nhiên nổi tiếng: Hòn đá trắng, Ruộng bậc thang, Nhà lưu niệm cố luật sư Nguyễn Hữu thọ, di tích 2 đồn Pháp ở bản Nậm Củm – xã Mường Tè và bản Bum – xã Bum nưa. Huyện Mường Tè gần Nhà máy thủy điện Lai Châu thuộc huyện Nậm Nhùn, song chiếm gần như trọn lòng hồ của thủy điện…đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh lòng hồ sông Đà, kết hợp với nghỉ dưỡng.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây